1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép ở lớp 5

19 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,34 MB
File đính kèm Bien phap.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục Tiểu học có vai trò hết sức quan trọng. Đây là bậc học nền tảng trong hệ thống Giáo dục phổ thông, do đó cần rất nhiều sự quan tâm của xã hội. Bằng chứng là đã có nhiều sự đổi mới, cải cách đặc biệt về nội dung lẫn phương pháp dạy học nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng giáo dục ở Tiểu học, tiêu biểu là việc thay đổi chương trình sách giáo khoa mới đã bắt đầu được triển khai từ năm học 20202021. Ở bậc Tiểu học, cùng với Toán, môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, giúp học sinh (HS) có cơ sở tiếp thu kiến thức các lớp trên. Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về Tiếng Việt trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu, bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp. Qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan và phỏng vấn các giáo viên khối 5, chúng tôi nhận thấy một số thực trạng dạy và học câu ghép ở lớp 5 như sau: Trong giờ học Tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lý thuyết về câu ghép, giáo viên thường chú trọng đến hình thành khái niệm về câu ghép, cách nối các vế câu trong câu ghép mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp. Nhiều giáo viên thường chỉ chú trọng việc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa nắm vững mục đích dạy cho học sinh kỹ năng để giao tiếp. Ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK chưa gây được hứng thú với HS, một số lệnh bài tập còn mơ hồ, không phù hợp với trình độ của HS. Đặc biệt hệ thống các bài học câu ghép được bố trí xen kẽ giữa các tuần nên việc hệ thống hóa kiến thức còn gặp nhiều khó khăn Trong các tiết học, nhiều GV dự kiến trước các câu trả lời của HS, nhưng chủ yếu theo sách giáo viên (SGV), chưa sinh động như thực tế giao tiếp của HS nên gặp trở ngại khi các em trả lời hoặc trả lời không đúng dự kiến của mình. Rất ít GV nghiên cứu các tài liệu khác ngoài SGV khi chuẩn bị giáo án do phải dạy nhiều môn, không đủ thời gian nghiên cứu sâu từng bài cũng như chưa chú ý nhiều đến việc phân loại đối tượng học sinh, chú trọng dạy câu ghép theo hướng phát triển năng lực của học sinh. Đa phần các GV chủ yếu dạy học theo phương pháp truyền thống, thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, một số sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Đó là chưa kể những giáo viên ở các trường không có điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo thì chủ yếu chỉ ghi chép lên bảng.Việc sử dụng trò chơi còn ở mức đơn giản, GV chưa ứng dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy “mindmap” hay mô hình graph để hệ thống hóa kiến thức, ... dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao, chưa phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh. Về học sinh, rất nhiều em phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào những dấu hiệu hình thức như dấu câu, các quan hệ từ trong câu, trong khi đó cần phải dựa vào nội dung, mục đích giao tiếp để phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép. Nhiều HS cũng chưa xác định đúng các vế câu ghép và chưa tạo lập được câu ghép đúng mục đích theo yêu cầu bài tập. Đặc biệt nhiều em còn nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng thành phần có các bộ phận song song với câu ghép.Xuất phát từ những lí do trên, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép lớp 5”, nhằm giúp việc dạy câu ghép nói riêng và dạy học Luyện từ và câu lớp 5 nói chung có hiệu quả và chất lượng theo hướng đổi mới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục theo hướng “lấy người học là trung tâm” dựa trên định hướng dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp.

Trang 1

PHÒNG GD&ĐT TP HUẾ

Trường Tiểu học Thuận Thành

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Thuận Thành, ngày 12 tháng 05 năm 2021

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

- Họ và tên: TÔN NỮ KIM NHẬT Nam/ nữ: Nữ

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học Sư phạm, Đại học Ngoại ngữ

- Chức vụ ( Đảng, Chính quyền, đoàn thể): Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam,

Giáo viên

-Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Thuận Thành

- Tên sáng kiến: Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép

ở lớp 5

1/ Lý do chọn sáng kiến

Giáo dục Tiểu học có vai trò hết sức quan trọng Đây là bậc học nền tảng trong hệ thống Giáo dục phổ thông, do đó cần rất nhiều sự quan tâm của xã hội Bằng chứng là đã

có nhiều sự đổi mới, cải cách đặc biệt về nội dung lẫn phương pháp dạy học nhằm ngày càng hoàn thiện và nâng cao chất lượng giáo dục ở Tiểu học, tiêu biểu là việc thay đổi chương trình sách giáo khoa mới đã bắt đầu được triển khai từ năm học 2020-2021

Ở bậc Tiểu học, cùng với Toán, môn Tiếng Việt có vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, giúp học sinh (HS) có cơ sở tiếp thu kiến thức các lớp trên Trong môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có nhiệm

vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về Tiếng Việt trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng dùng từ, đặt câu, sử dụng dấu câu, bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ, nói và viết thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt có văn hóa trong giao tiếp

Qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan và phỏng vấn các giáo viên khối 5, chúng

tôi nhận thấy một số thực trạng dạy và học câu ghép ở lớp 5 như sau:

Trong giờ học Tiếng Việt, đặc biệt trong giờ dạy lý thuyết về câu ghép, giáo viên thường chú trọng đến hình thành khái niệm về câu ghép, cách nối các vế câu trong câu ghép mà chưa quan tâm đến việc dạy học sinh kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những

Trang 2

chỉ chú trọng việc truyền tải nội dung kiến thức mà chưa nắm vững mục đích dạy cho học sinh kỹ năng để giao tiếp

Ngữ liệu dạy câu ghép trong SGK chưa gây được hứng thú với HS, một số lệnh bài tập còn mơ hồ, không phù hợp với trình độ của HS Đặc biệt hệ thống các bài học câu ghép được bố trí xen kẽ giữa các tuần nên việc hệ thống hóa kiến thức còn gặp nhiều khó khăn

Trong các tiết học, nhiều GV dự kiến trước các câu trả lời của HS, nhưng chủ yếu theo sách giáo viên (SGV), chưa sinh động như thực tế giao tiếp của HS nên gặp trở ngại khi các em trả lời hoặc trả lời không đúng dự kiến của mình

Rất ít GV nghiên cứu các tài liệu khác ngoài SGV khi chuẩn bị giáo án do phải dạy nhiều môn, không đủ thời gian nghiên cứu sâu từng bài cũng như chưa chú ý nhiều đến việc phân loại đối tượng học sinh, chú trọng dạy câu ghép theo hướng phát triển năng lực của học sinh

Đa phần các GV chủ yếu dạy học theo phương pháp truyền thống, thuyết trình, vấn đáp, thảo luận nhóm, một số sử dụng công nghệ thông tin vào dạy học Đó là chưa kể những giáo viên ở các trường không có điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo thì chủ yếu chỉ ghi chép lên bảng.Việc sử dụng trò chơi còn ở mức đơn giản, GV chưa ứng dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật mảnh ghép, sơ đồ tư duy “mindmap” hay mô hình graph để hệ thống hóa kiến thức, dẫn đến hiệu quả dạy học chưa cao, chưa phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh

Về học sinh, rất nhiều em phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép căn cứ vào những dấu hiệu hình thức như dấu câu, các quan hệ từ trong câu, trong khi đó cần phải dựa vào nội dung, mục đích giao tiếp để phân biệt mục đích diễn đạt của câu ghép Nhiều HS cũng chưa xác định đúng các vế câu ghép và chưa tạo lập được câu ghép đúng mục đích theo yêu cầu bài tập Đặc biệt nhiều em còn nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng thành phần có các bộ phận song song với câu ghép

Xuất phát từ những lí do trên, bản thân tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Một số biện

pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép lớp 5”, nhằm giúp việc dạy câu

ghép nói riêng và dạy học Luyện từ và câu lớp 5 nói chung có hiệu quả và chất lượng theo hướng đổi mới, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục theo hướng “lấy người học là trung tâm” dựa trên định hướng dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp

Trang 3

2 Giải quyết vấn đề- Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép lớp 5

2.1 Dạy câu ghép theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học theo quan điểm giao tiếp

Dựa vào mục tiêu, nội dung và đặc điểm tâm sinh lý của HS, GV cần lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp Cần sử dụng những PPDH phát huy tính tích cực của HS, các PP đặc trưng của môn tiếng Việt: PP phân tích ngôn ngữ, PP luyện tập theo mẫu, PP giao tiếp (đọc, viết, nghe, nói trong các tình huống giao tiếp cụ thể), PP thảo luận nhóm,…Ngoài ra, có thể lựa chọn nhiều PPDH khác gây được hứng thú học tập của các em như: PP đóng vai, phương pháp diễn giảng, phương pháp sử dụng phương tiện trực quan,…

Để dạy câu ghép theo quan điểm giao tiếp đúng mục đích, đúng định hướng, giáo viên cần trang bị cho HS cách thức sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp Dạy câu ghép phải đảm bảo tính hành dụng, đặt HS trong từng tình huống, hoàn cảnh giao tiếp khác nhau để rèn luyện kỹ năng tạo lập câu ghép và sử dụng câu ghép phù hợp với tình huống, văn hóa giao tiếp, hình thành và phát triển các kĩ năng tiếng Việt HS dễ xác định, nhận biết câu ghép khi nghe, đọc, nói, viết, các em có thể đặt câu ghép rõ nội dung, thể hiện đúng mối quan hệ giữa những sự vật nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp Cụ thể dạy câu ghép ở Tiểu học phải giúp học sinh phát triển các kĩ

năng sau:

- Kỹ năng nhận biết các kiểu câu ghép

- Kỹ năng thể hiện mối quan hệ giữa những sự việc nêu ở các vế câu bằng phương tiện ngôn ngữ thích hợp

-Kỹ năng tạo lập câu ghép đúng ngữ pháp

- Kỹ năng sử dụng câu ghép đúng mục đích giao tiếp ngoài thực tiễn

2.2 Sử dụng bản đồ tư duy giúp HS nắm vững kiến thức về câu ghép

Sử dụng Bản đồ tư duy (BĐTD) dưới dạng bản đồ hóa kiến thức mang lại hiệu quả cao, đơn giản, dễ hiểu, giúp HS nhớ lâu, phát huy tính tích cực của HS, phù hợp với tâm

lý HS; đồng thời giúp HS hiểu sâu bản chất của vấn đề, phát triển tư duy logic, khả năng phân tích tổng hợp GV phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi HS và

Trang 4

ngay từ bậc tiểu học, giúp HS biết cách ghi chép có hiệu quả và nắm vững ý chính.

2.2.1 Các bước để tạo bản đồ tư duy bằng phần mềm Mindmap Mindmanager 21

Có thể thiết kế BĐTD bằng nhiều phần mềm (PM) như Mindjet Mindmanager, Freemind ,

Microsoft Office PowerPoint , Căn cứ những ưu điểm vượt trội của từng PM, tôi

quyết định lựa chọn và thiết kế bằng PM Mindmanager 21

Bước 1: Tìm hiểu mục tiêu và lựa chọn nội dung

* Tìm hiểu mục tiêu bài học và xác định mục tiêu thiết kế

* Lựa chọn nội dung: Lựa chọn các thông tin có mối liên hệ cấp bậc với nhau, cần

tổng hợp, hệ thống hoá Trong phần câu ghép lớp 5 có thể thiết kế BĐTD ở tất cả các bài, tùy nội dung mà lựa chọn thời điểm phù hợp: hình thành kiến thức mới, luyện tập, thực hành hay hỗ trợ HS hệ thống hóa kiến thức

Bước 2: Thiết kế bản đồ tư duy

* Hình thành ý tưởng: Tiến hành tìm hiểu, đưa ra các bước thực hiện thích hợp

* Sưu tầm và xử lí các tài liệu liên quan: xây dựng hoặc tìm kiếm hình ảnh, biểu tượng dùng để thiết kế lưu ở thư mục

* Thiết kế: Gõ google, download phần mềm (PM) về máy tính với đường dẫn an toàn

sau: https://download.com.vn/mindjet-mindmanager-5923

-Vào File/ New/ xuất hiện cửa sổ, chọn 1 bố cục trong nhiều bố cục phong phú (thuận tiện cho ý đồ dạy) Ở đây nên chọn Right map

-Chọn tạo biểu đồ create map/ central topic/ gõ tên chủ đề trung tâm

-Kích vào dấu + bên phải central topic/ sẽ xuất hiện nhánh chính(main topic), gõ tên tiêu

đề nhánh chính

-Kích tiếp vào dấu + bên phải tiêu đề nhánh chính (main topic) sẽ xuất hiện subtopic (nhánh phụ), gõ tên tiêu đề nhánh phụ

-Muốn tạo thêm nhánh phụ từ nhánh chính nào, ta lại tiếp tục kích vào dấu + bên phải tên nhánh chính chứa nhánh phụ cần tạo; thực hiện tương tự với các nhánh còn lại -Để tạo các nhánh con nhỏ hơn, kích vào dấu cộng ở nhánh phụ (subtopic) Tiếp tục thao tác tương tự với các nhánh cấp thấp hơn

-Để chỉnh sửa nội dung nhánh nào, chỉ cần kích vào nhánh đó, xuất hiện 4 dấu + và thay đổi

- Thay đổi kích cỡ các nhánh, kích tên nhánh, xuất hiện 4 dấu + hoặc ↔ để điều chỉnh -Để xóa nhánh cũ, kích phải nhánh/ chọn delete Topic and subtopics (Xóa tên tiêu đề và nhánh phụ)

- Chèn biểu tượng hoặc hình ảnh: Insert/ Icon hoặc Insert/ image

Trang 5

*Định dạng khác tương tự trong Word: Vào Format

+ chọn màu chữ : kích A

+ Màu nền: Fill color

+ Đường viền: Line color

+ Chọn hình dạng chủ đề: chọn Topic shape

Bước 3: Lưu file: vào menu File > Save, chọn một trong những định dạng lưu mà chương

trình hỗ trợ

Bước 4: Xuất BĐTD : có 2 dạng

+ Xuất BDTD thành ảnh: File/ export/ image: có thể in cho HS học

+ Xuất BĐTD thành Word dễ dàng, chuyển sang dạng ảnh và trình bày như văn bản phân cấp thành các đề mục như bản đồ tư duy đã soạn thảo

2.2.2 Vận dụng bản đồ tư duy vào tiết dạy câu ghép

Hình thành kiến thức mới

Thông qua hệ thống câu hỏi mà GV đã chuẩn bị, GV có thể sử dụng BĐTD để triển khai dần thứ tự nội dung của bài học Theo đó mạch kiến thức của bài học sẽ dần được

hé mở cho đến hết bài

Ví dụ: Dạy bài “ Nối các vế bằng quan hệ từ” trang 32 GV sau khi cho HS tìm hiểu phần nhận xét và gọi 1 HS đọc ghi nhớ, chiếu BĐTD sau:

-Yêu cầu 1-2 HS dựa vào BĐTD đọc lại ghi nhớ

-Gọi 1-2 HS đặt câu ghép có sử dụng 1 QHT

- Tương tự cho HS đặt câu ghép có sử dụng các cặp QHT còn lại Gv có thể gợi ý nội dung giao tiếp để H đặt hay hơn

-GV chốt lại toàn bộ kiến thức và mở rộng thêm kiến thức cho HS bằng phần lưu ý phân biệt ý nghĩa biểu thị cũng như cách dung 3 quan hệ từ “do, tại, nhờ” để HS đặt câu phù hợp

Tương tự, để dạy kiến thức mới phần ghi nhớ hoặc củng cố kiến thức các bài “Nối các

vế câu ghép bằng quan hệ từ” trang 38,44, 54, hay “Nối các vế câu ghép bằng cặp từ hô ứng” trang 64, ta chỉ việc kích vào các nút tròn sau mỗi nhánh thì các nhánh con sẽ xuất

hiện Dưới đây là hình ảnh BĐTD tôi đã thiết kế hoàn chỉnh để dạy bài Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ (trang 32)

Trang 7

Luyện tập, thực hành: GV có thể sử dụng BĐTD trong quá trình luyện tập, củng

cố nhằm giúp các em nhớ lại lí thuyết đã học nhanh chóng, hoặc hướng dẫn HS trong

quá trình làm bài hiệu quả hơn

Hệ thống hoá kiến thức

Thay vì phải đọc thuộc những ghi nhớ từ dòng này qua dòng khác, GV tận dụng sức mạnh của BĐTD để thể hiện tổng quát, đầy đủ nội dung kiến thức muốn truyền đạt, giúp

HS tiết kiệm nhiều thời gian học ở nhà, nắm chắc kiến thức BĐTD không chỉ áp dụng được sau từng bài học riêng lẻ, mà còn hệ thống hoá lượng lớn kiến thức, một nhóm các bài học liên quan

Chẳng hạn, sử dụng BĐTD để luyện tập, củng cố hoặc hệ thống toàn bộ kiến thức đã học về câu ghép vào các tiết tăng hoặc ôn thi giữa kì, cuối kì II Cần ôn mục nào, ta chỉ cần kích vào nút hình tròn của mỗi nhánh tương tự như phần hình thành kiến thức mới

Bất kì GV dạy lớp 5 nào cũng có thể sử dụng BĐTD mà tôi đã thiết kế để vận dụng vào dạy học 8 bài liên quan nội dung câu ghép, chỉ cần lưu file về Tất cả hướng dẫn

sử dụng và sản phẩm BĐTD tôi đã thiết kế đều lưu tại đĩa CD đi kèm sáng kiến

Dưới đây là BĐTD hệ thống kiến thức toàn bộ câu ghép lớp 5 ở dạng cô đọng và

hay, mang tính giáo d ục, gần gũi thực tiễn giao ti ếp của các em

Trang 9

Lưu ý về dạy BĐTD theo hướng phân hóa đối tượng:

Đối với HS trung bình: Tập cho HS có thói quen tự ghi chép, tổng kết sau mỗi phần

ghi nhớ trong các tiết học về câu ghép Ban đầu, GV cho các em làm quen với một số BĐTD

có sẵn, sau đó tập cho các em vẽ các từ khóa trung tâm, thông qua việc đặt ra các câu hỏi gợi ý để các em tiếp tục vẽ ra các nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3… Hướng dẫn, gợi ý để các em

vẽ BĐTD vào một trang giấy kèm theo các biểu tượng giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần

Đối với HS khá giỏi: Sử dụng BĐTD để cả nhóm tìm cách giải quyết vấn đề hoặc

hệ thống hóa toàn bộ kiến thức về câu ghép Sau khi mỗi nhóm “vẽ” xong, đại diện mỗi nhóm hoặc một số thành viên trong mỗi nhóm “thuyết trình” BĐTD cho cả lớp nghe để thảo luận, góp ý, bổ sung

2.3 Hướng dẫn học sinh phân biệt các kiểu cấu trúc của câu đơn mở rộng thành phần với câu ghép để tránh nhầm lẫn

Việc HS nhầm lẫn giữa câu đơn mở rộng các thành phần với câu ghép diễn ra khá phổ biến ở Tiểu học Để giúp HS khắc phục điều này, GV cần giới thiệu các kiểu câu đơn trong các tiết ôn Tiếng Việt, từ đó nhắc lại các kiến thức liên quan khi gặp phải những câu đơn mở rộng xuất hiện trong sách giáo khoa, đồng thời cần tăng cường hệ thống bài tập giúp HS phân biệt hiệu quả

2.3.1 Giúp HS nắm vững cấu trúc các kiểu câu đơn dễ nhầm với câu ghép

Câu đơn : gồm một nòng cốt câu (bao gồm 2 bộ phận chính là chủ ngữ (CN) và vị ngữ

(VN)

Ngoài ra có 3 kiểu câu đơn mở rộng thành phần khá dài mà HS dễ nhầm với câu ghép

và một số trường hợp khác cần chú ý gồm:

a/ Câu đơn có nhiều bộ phận song song (BPSS) cùng giữ chức vụ CN

CN + CN + … + VN

VD1: Hoa lá, quả chín, những vạt nấm ẩm ướt và con suối chảy thầm dưới chân / đua

nhau tỏa hương (CN,CN,CN,CN +VN)

VD2: Ngoài suối, trên mấy cành cây cao, tiếng chim, tiếng ve/ cất lên inh ỏi, râm ran.

(TN, TN, CN, CN, VN)

VD3: Buổi sáng, núi đồi, thung lũng, làng bản / chìm trong biển mây mù

(TN, CN, CN, CN+ VN)

Trang 10

b/ Câu đơn có nhiều BPSS cùng giữ chức vụ VN

CN + VN + VN + …

VD1: Ánh nắng ban mai/ trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu

đông (CN + VN, VN)

VD2: Xuân về, những chồi non /choàng tỉnh giấc, ngỡ ngàng nhìn khung trời mới

lạ.(CN + VN , VN)

VD3: Đến cuối thu, bàng / cởi bỏ chiếc áo choàng, hiên ngang vươn cao những cánh

tay gầy guộc, đón chào cái lạnh đầu đông ( TN, CN + VN,VN, VN)

c/ Câu đơn có nhiều BPSS vừa giữ năng CN, vừa giữ chức năng VN

CN + CN + … + VN + VN + …

VD1: Vườn bà ngoại, vườn nhà chị Út lúc nào cũng xanh tươi bốn mùa và có nhiều hoa

thơm quả ngọt (CN, CN + VN, VN)

VD2:Nam , anh Tư ,chị Sáu, những người trong xóm/ la to, cố gắng chạy khỏi đám cháy một cách nhanh nhất (CN, CN, CN, CN + VN, VN)

d/ Một số câu tuy ngắn tưởng là câu đơn nhưng lại là câu ghép:

VD: Đêm/xuống, mặt trăng/ tròn vành vạnh (CN + VN , CN + V N)

e/ Câu ghép tỉnh lược chủ ngữ với câu đơn:

Ví dụ: 1.Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng

2.Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương

3Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm

4.Là người, tôi sẽ chết cho quê hương

(Bài 1 b, Luyện tập, Nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ, trang 39)

Ở câu 1,2,3 bộ phận CN “tôi” bị tỉnh lược nhưng đó đều là câu ghép, đủ 2 vế giả thiết,

vế kết quả Riêng câu 4 được coi là câu đơn, “là người” là trạng ngữ

2.3.2 Tăng cường hệ thống bài tập chất lượng để phân biệt câu đơn, câu ghép

Dưới đây là một số bài tập mẫu giúp HS rèn luyện kĩ năng phân biệt câu đơn, câu ghép

Câu 1: Hãy cho biết những câu văn sau là câu đơn hay câu ghép Tìm CN, VN của chúng

a/ Ánh nắng ban mai trải xuống cánh đồng vàng óng, xua tan dần hơi lạnh đầu đông.

b/ Làn gió nhẹ chạy qua, những chiếc lá lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ bập bùng cháy

Ngày đăng: 23/11/2021, 03:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tăng cường thảo luận nhóm tạo điều kiện hình thành và phát triển ở HS kỹ năng làm việc, giao tiếp, HS học hỏi lẫn nhau, hợp tác giải quyết vấn đề, phát huy khả năng độc  lập suy nghĩ và sáng tạo - Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép ở lớp 5
ng cường thảo luận nhóm tạo điều kiện hình thành và phát triển ở HS kỹ năng làm việc, giao tiếp, HS học hỏi lẫn nhau, hợp tác giải quyết vấn đề, phát huy khả năng độc lập suy nghĩ và sáng tạo (Trang 11)
Bảng số liệu cho thấy, tỷ lệ học sinh thích nội dung học tập câu ghép đạt tỉ lệ trên 89 %, qua đó  khẳng định sáng kiến đã phát huy hiệu quả - Một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học câu ghép ở lớp 5
Bảng s ố liệu cho thấy, tỷ lệ học sinh thích nội dung học tập câu ghép đạt tỉ lệ trên 89 %, qua đó khẳng định sáng kiến đã phát huy hiệu quả (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w