Tài liệu này được hội đồng đánh giá sáng kiến Huyện Phú Vang, nơi tôi đang công tác đánh giá cao trong đợt thi Giáo viên chủ nhiệm giỏi vừa qua, hi vọng sẽ giúp ích cho giáo viên Tiểu học nói chung và giáo viên lớp 1 nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt. Ưu điểm: Lí luận chặt chẽ, bố cục rõ ràng, cấu trúc khoa học. Nêu bật những biện pháp sát hợp với thực tiễn học sinh, giúp học sinh đọc đúng, nhanh, chữ viết đẹp Lời mở đầu:Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều quan tâm, bởi vì “ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”, để ngày mai thế giới có những chủ nhân tốt, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay chúng ta phải đào tạo Thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về tự nhiên xã hội và có phẩm chất đạo đức của con người để các em được học lên các cấp học trên dễ dàng. Nhiệm vụ giáo dục học sinh luôn luôn được xã hội quan tâm nhưng quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học.Có thể nói, bậc tiểu học là bậc học nền tảng nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về tri thức, trí tuệ thẩm mĩ, tạo tiền đề cho việc học tập tiếp theo và phát triển toàn diện.Đứa trẻ ngày hôm nay và mai sau trở thành những người như thế nào là tuỳ thuộc rất nhiều vào cấp tiểu học các em được học những gì. Và chắc chắn rằng sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá.Ở lớp 1, mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành năng lực, nhân cáchcủa học sinh. Trong đó môn Tiếng Việt hết sức quan trọng, bởi biết đọc, biết viết là nhiệm vụ hàng đầu ở lớp 1;Nghe, nói, đọc, viết là những kĩ năng cơ bản nhất ở tiểu học.Tiếng Việt là công cụ số một, quan trọng bậc nhất ở tiểu học; là chìa khoá để đi vào các môn học khác. Môn . Hiện nay, chương trình Tiếng Việt đòi hỏi cao ở học sinh đạt được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các nhiệm vụ. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh không đồng đều, cóhọc sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên. Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp 1, chất lượng môn Tiếng Việtđược nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.Là một giáo viên công tác năm năm, tuy nhiên chỉ mới trực tiếp giảng dạy lớp một một năm. Do vậy, bản thân còn lúng túng và cũng hết sức trăn trở và không khỏi suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải có chất lượng, những lí do trên đã thôi thúc tôi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể góp phần đưa chất lượng học sinh trong lớp đạt hiệu quả tốt. Bằng những đam mê, nhiệt huyết với nghề, những kinh nghiệm mà tôi được chứng thực và học hỏi từ các đồng nghiệp, tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng hai môn Tiếng Việt lớp 1 ”.Do giới hạn về thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ xin dừng lại ở ba phân môn Học Vần, và Tập Viết.
Trang 1PHÒNG GD&ĐT PHÚ VANG
TRƯỜNG TH SỐ 2 THUẬN AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Thuận An, ngày 18 tháng 05 năm 2016
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN
TIẾNG VIỆT LỚP 1
***
SƠ YẾU LÝ LỊCH
Họ và tên: Tôn Nữ Kim Nhật
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học số 2 Thuận An
Chức vụ: Tổ trưởng -Giáo viên chủ nhiệm lớp 1/1
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Đại học Sư Phạm
Trang 2MỤC LỤC Nội dung Trang
PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 2
PHẦN 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
2.1 Những vấn đề lý luận chung 3
2.1.1 Tổng quan phân môn Học Vần 3
2.1.2 Tổng quan phân môn Tập Viết 1 7
2.1.2.1 Cơ sở lý luận của dạy tập Viết 7
2.1.2.2 Chương trình phân môn Tập Viết 1 9
2.2.Thực trạng của vấn đề 12
2.2.1 Các lỗi phổ biến của học sinh trong Học vần 12
2.2.2 Các lỗi phổ biến của học sinh khi học Tập Viết 13
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 13
2.3.1 Các biện pháp nâng cao chất lượng phân môn Học Vần 13
2.3.2 Các biện pháp nâng cao chất lượng phân môn Tập Viết 21
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 37
PHẦN 3:KẾT LUẬN 40
PHỤ LỤC I 40
Một số bài viết của học sinh lớp 1/1 42
Trang 3PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều quan tâm, bởi vì “ Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai”, để ngày mai thế giới có những chủ nhân tốt, xã hội có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay chúng ta phải đào tạo Thế hệ trẻ có kiến thức cơ bản về tự nhiên xã hội và có phẩm chất đạo đức của con người để các em được học lên các cấp học trên dễ dàng Nhiệm vụ giáo dục học sinh luôn luôn được xã hội quan tâm nhưng quan trọng hơn cả vẫn là nhà trường, đặc biệt là trường tiểu học
Có thể nói, bậc tiểu học là bậc học nền tảng nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn lâu dài về tri thức, trí tuệ thẩm mĩ, tạo tiền đề cho việc học tập tiếp theo và phát triển toàn diện.Đứa trẻ ngày hôm nay và mai sau trở thành những người như thế nào là tuỳ thuộc rất nhiều vào cấp tiểu học các em được học những gì
Và chắc chắn rằng sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ 30 - 35 phút Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá.Ở lớp 1, mỗi môn học đều có vai trò quan trọng góp phần vào việc hình thành năng lực, nhân cáchcủa học sinh Trong đó môn Tiếng Việt hết sức quan trọng, bởi biết đọc, biết viết là nhiệm vụ hàng đầu ở lớp 1;Nghe, nói, đọc, viết là những kĩ năng cơ bản nhất ở tiểu học.Tiếng Việt là công cụ số một, quan trọng bậc nhất ở tiểu học; là chìa khoá để đi vào các môn học khác Môn Hiện nay, chương trình Tiếng Việt đòi hỏi cao ở học sinh đạt được chuẩn về kiến thức, kỹ năng
Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến thức, kỹ năng vào buổi 2 Điều
đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các nhiệm vụ Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều Đối tượng học sinh không đồng đều, cóhọc sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà còn phải dỗ Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn Tiếng Việt lớp
1, chất lượng môn Tiếng Việtđược nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay
Là một giáo viên công tác năm năm, tuy nhiên chỉ mới trực tiếp giảng dạy lớp một một năm Do vậy, bản thân còn lúng túng và cũng hết sức trăn trở và không khỏi suy nghĩ phải làm gì, làm như thế nào để “sản phẩm” của mình phải có chất lượng, những lí do trên đã thôi thúc tôi cần phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể góp phần đưa chất lượng học sinh trong lớp đạt hiệu quả tốt Bằng những đam
mê, nhiệt huyết với nghề, những kinh nghiệm mà tôi được chứng thực và học hỏi
từ các đồng nghiệp, tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số biện pháp nâng
cao chất lượng hai môn Tiếng Việt lớp 1 ”.
Do giới hạn về thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ xin dừng lại ở ba phân môn Học Vần, Tvà Tập Viết
Trang 4PHẦN 2 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1 Những vấn đề lý luận chung:
2.1.1 Tổng quan phân môn Học Vần
Phân môn Học Vần chiếm khoảng 63% thời lượng dạy học so với cả môn Tiếng Việt 1, nó đặt một nền móng ban đầu rất quan trọng để hình thành và rèn luyện đồng bộ bốn kỹ năng đọc, viết, nghe và nói cho học sinh lớp một.Nếu học sinh không thuộc được các chữ cái, biết ghép các vần thì học sinh không thể đọc, viết cũng như học các môn học khác được
Chương trình Học vần ở lớp 1 được học trong 24 tuần, bao gồm 103 bài ứng với 206 tiết dạy, được phân bố trong hai tập sách : 83 bài thuộc tập 1, 20 bài thuộc tập 2 Có thể chia nội dung dạy học Học vần làm 3 phần : phần thứ nhất (6
bài đầu) có nội dung làm quen với chữ cái e, b , các dấu thanh; phần thứ hai gồm
25 bài tiếp theo dành cho các chữ cái và âm (cấu trúc âm tiết có vần là 1 nguyên âm); phần thứ ba gồm 72 bài giới thiệu vần phức tạp và các tiếng có vần phức tạp dần Nếu lấy mục đích của bài học làm tiêu chí phân loại, có thể chia các bài Học vần thành 3 nhóm : Nhóm bài làm quen với chữ cái (và dấu thanh), nhóm bài dạy học Âm- vần mới và nhóm bài Ôn tập
Qua 103 bài học, các kĩ năng sử dụng tiếng Việt ngày càng phát triển, tương ứng với nội dung ngày càng phức tạp của các bài học âm, vần
Nhóm bài làm quen với chữ cái
Nhóm bài Làm quen với chữ cái bao gồm 6 bài : Bài 1 : Giới thiệu chữ e; Bài
2 : chữ b; Bài 3: Dấu sắc; Bài 4 : Dấu hỏi, dấu nặng; Bài 5 : Dấu huyền, dấu ngã; Bài 6 : Ôn các chữ cái và các dấu thanh đã học.
Nội dung chủ yếu của nhóm bài này là giới thiệu âm – chữ cái e, b và các
dấu thanh, nguyên tắc ghép các chữ cái ghi âm để tạo thành tiếng có cấu tạo đơn giản nhất, mối liên quan giữa tiếng và chữ thể hiện tiếng
Trong nhóm bài Làm quen, chữ e được dạy trước chữ b, điều này nhằm đảm
bảo nguyên tắc bắt đầu từ tiếng (có nghĩa) trong phân môn Học vần; ngay từ bài đầu tiên, học sinh đã làm quen với một tiếng có cấu tạo tối giản Các dấu thanh được giới thiệu trong nhiều bài để học sinh không bị rối trong việc nhận diện, đặc biệt là những dấu thanh có đường nét gần gũi nhau Vì dụng ý này,
hai dấu sắcvà huyền không được giới thiệu trong cùng một bài (hai dấu hỏi vàngã cũng vậy).
Trang 5*Bài làm quen với chữ cái được bố trí trên 2 trang sách với cấu trúc chung Ví
dụ : Bài 3 trang 8,9- Sách Tiếng Việt 1, tập một
Trang 1 (trang 8- Sách Tiếng Việt1, tập một)
- Tranh minh họa để gợi ý tiếng mang chữ ghi âm hoặc dấu thanh mới
- Thể hiện chữ ghi âm (theo kiểu chữ in thường ) hoặc dấu ghi thanh cần làm quen
- Chữ viết thể hiện mô hình kết hợp các âm và thanh đã làm quen tạo thành tiếng (bắt đầu từ bài 2)
- Thể hiện chữ ghi âm, dấu ghi thanh hoặc chữ ghi tiếng mới làm quen (kiểu chữ ghi thường viết tay, trên dòng kẻ ô li)
Trang 2 (trang 9- Sách Tiếng Việt 1, tập một)
Tranh gợi ý chủ đề luyện nói (Từ bài 3 có cả từ gợi ý chủ đề luyện nói)
Nhóm bài Âm- vần mới.
Trong nhóm bài Âm- vần mới cac bài học âm, chữ ghi âm và các bài học vần, chữ
ghi vần Các bài học âm, chữ ghi âm được phân bố từ bài 7- bài 28, giới thiệu nguyên âm, phụ âm, ghi nguyên âm, phụ âm và cấu trúc tiếng có vần là một âm Các bài học vần giới thiệu cấu trúc tiếng có 2 âm trở lên được phân bố từ bài 29
trở đi (để tiện cho việc dạy học, các vần có nguyên âm đôi ia, ua, ưacũng được
sách giáo khoa Tiếng Việt 1 coi như vần gồm có hai âm)
a Mục đích của nhóm bài học âm, chữ ghi âm là giới thiệu đầy đủ các chữ cái
được dùng trong tiếng Việt (riêng các chữ ă, â, p, do đặc điểm riêng của chúng, sẽ
được giới thiệu muộn hơn các chữ cái khác), đồng thời giới thiệu kiểu tiếng có cấu tạo mở Với những chữ cái đã được trang bị, về mặt lí thuyết, học sinh có thể tự hoàn thiện kĩ năng đọc, viết tiếng Việt thông qua việc tự học
Các chữ cái trong phần âm và chữ ghi âm được sắp xếp theo trình tự sau:
- Các chữ cái có nét thắt → các chữ cái có nét móc → các chữ cái có nét cong
- Các chữ cái đơn → các tập hợp chữ cái (ghi một âm vị)
- Các chữ cái không có dấu phụ → các chữ cái có dấu phụ
- Các chữ có ít nét → các chữ có nhiều nét
Trang 6- Các chữ ghi âm có thực trong nhiều tiếng → Các chữ cái ghi âm có thực trong
ít tiếng
- Các chữ ghi âm có trong các tiếng xuất hiện với tuần số cao → các chữ ghi âm
có trong các tiếng xuất hiện với tần số thấp trong lời nói
- Các chữ ghi âm có trong nhiều tiếng quen thuộc với trẻ em→ các chữ ghi âm
có trong ít tiếng quen thuộc với trẻ em
b Bài học dạy âm vần mới (từ bài 29 đến bài 103) giới thiệu cấu trúc các tiếng
có vần mở (cấu tạo vần là nguyên âm đôi : ia, ua, ưa), vần nửa mở (có âm cuối viết là i, y, o,u), vần nửa đóng (có âm cuối viết là m, n, ng, nh), vần đóng (có
âm cuối viết là p, t, c, ch).
Nếu dựa vào kiểu cấu tạo phần vần của các tiếng được giới thiệu trong bài học,
có thể chia các bài học vần mới thành 3 loại bài :
- Loại bài giới thiệu vần là nguyên âm đôi (không có âm cuối)
- Loại bài giới thiệu các vần không chứa âm đệm
- Loại bài giới thiệu các vần chứa âm đệm
Trình tự các bài vần mới được sắp xếp như sau :
Vần không có âm đệm :
- Vần kết thúc bằng a (vần là nguyên âm đôi)- (ia, ua, ưa).
- Vần kết thúc bằng i/y – (oi, ai, ôi, ơi,ui, ưi, uôi, ươi, ay, ây)
- Vần kết thúc bằng o/u – (eo, ao, au, âu, iu, êu, iêu, yêu, ưu, ươu)
- Vần kết thúc bằng n (on, an, ân, ăn, ôn, ơn, en, ên, in, un, iên, yên, uôn, ươn)
- Vần kết thúc bằng ng/nh (ong, ông, ăng, âng, ung, ưng, eng, iêng, uông, ương,
ang, anh, inh, ênh)
- Vần kết thúc bằng m (om, am, ăm, âm, ôm, ơm, em, êm, im, um, iêm, yêm,
uôm, ươm)
- Vần kết thúc bằng t (ot, at, ăt, ât, ôt, ơt, et, êt, ut, ưt, it, iêt, uôt, ươt)
- Vần kết thúc bằng c/ch (oc, ac, ăc, âc, uc, ưc, ôc, uôc, iêc, ươc, ach, ich, êch)
- Vần kết thúc bằng p (op, ap, ăp, âp, ôp, ơp, ep, êp, ip, up, iêp, ươp)
Trang 7Vần có âm đệm (vần có âm đệm viết bằng o xuất hiện trước vần có âm đệm viết bằng u, trình tự sắp xếp về cơ bản vẫn theo nguyên tắc trên):
- oa, oe, oai, oay, oan, oăn, oang, oăng, oanh, oach, oat, oăt.
- uê, uy, uya, uân, uyên, uât, uyêt, uynh, uych.
*Cấu trúc bài Âm- vần mới :
Mặc dù có mục đích, nhiệm vụ và nội dung cụ thể khác nhau nhưng các bài dạy học âm vần, chữ ghi âm và các bài dạy vần mới được xây dựng theo cùng một mô hình cấu trúc, mỗi bài học được trình bày trên hai trang sách theo cấu trúc cơ bản sau :
Ví dụ : Bài 41, sách Tiếng Việt 1- tập một, trang 84, 85
Trang 1 (Bài 41, sách Tiếng Việt 1- tập một, trang 84)
- Các đơn vị chữ ghi âm/ vần được dạy trong bài
- Tiếng chứa các đơn vị chữ được dạy trong bài (tiếng khóa)
- Tranh minh họa cho từ chứa tiếng chứa đơn vị chữ học trong bài
- Từ chứa tiếng chứa đơn vị chứa đơn vị chữ học trong bài (từ khóa)
- Từ/ ngữ ứng dụng chứa đơn vị chữ vừa học
Trang 2 ( Bài 41, sách Tiếng Việt 1- tập một, trang 85)
- Tranh minh họa câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học
- Câu/ đoạn chứa đơn vị chữ vừa học (câu đoạn ứng dụng)
- Chủ đề luyện nói
- Tranh minh họa chủ đề luyện nói
3 Các bài Ôn tập nhằm củng cố cách đọc tiếng/ từ ngữ/ bài đọc ứng dụng, cách viết chữ, rèn kĩ năng nghe nói về các chủ đề liên quan đến nhóm vần cần ôn
Ở phần Âm và chữ ghi âm, cứ sau 5 bài học âm, chữ mới lại có một bài ôn tập Điều này dựa trên sự phân bố nội dung học tập trong một tuần và có chú ý thích đáng tới tính hệ thống của từng nhóm chữ Từ bài 29 trở đi, các bài ôn tập không được sắp xếp đều đặn như trên nữa Sở dĩ có sự thay đổi này là vì các bài học vần được tập hợp theo kiểu kết thúc của các vần Các bài ôn tập phải
Trang 8được xuất hiện sau khi học hết một kiểu vần Vì số lượng vần trong một kiểu vần không bằng nhau và thường lớn hơn 9 nên không thể xếp đều đặn cứ sau 5 bài học vần mới lại có một bài ôn tập giống như ở phần âm và chữ ghi âm.
*Cấu trúc bài Ôn tập :
Các bài Ôn tập âm/ vần đã học có cấu trúc cơ bản sau: Ví dụ : Bài 103, sách Tiếng Việt 1- tập hai
Trang 1 :
- Tiêu đề ôn tập
- Mô hình tiếng/ vần chứa đơn vị mẫu đã học
- Tranh minh họa (hoặc gợi ý) từ chứa tiếng/ vần chứa đơn vị mẫu đã học
- Tranh minh họa cho truyện kể
2.1.2 Tổng quan phân môn Tập Viết 1
2.1.2.1 Cơ sở lý luận của dạy tập Viết
a) Cấu tạo của chữ viết
Điểm đặt bút: Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong chữ cái Điểm đặt bút có thể nằm trên đường kẻ ngang, hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ: điểm đặt bút (1) nằm trên đường
Điểm dừng bút: Là vị trí kết thúc của nét chữ trong một chữ cái Điểm dừng có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ ngang
Ví dụ: điểm dừng bút (2) trùng với điểm
Tọa độ điểm đặt hoặc dừng bút: Về cơ bản, tọa độ này thống nhất ở vị trí 1/3 đơn vị chiều cao chữ cái, có thể ở vị trí trên hoặc dưới đường kẻ ngang
Trang 9Viết liền mạch: Là thao tác đưa ngòi bút liên tục từ điểm kết thúc của nét đứng trước tới điểm bắt đầu của nét đứng sau.
=> Các nét bút viết liền mạch khi viết không nhấc bút
Kỹ thuật lia bút:
Để đảm bảo tốc độ trong quá trình viết một chữ cái hay viết nối các chữ cái với nhau, nét bút được thể hiện liên tục nhưng dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) không chạm vào mặt phẳng viết (giấy, bảng) Thao tác đưa bút trên không gọi là lia bút
Ví dụ: b nối với a -> ba
Kỹ thuật rê bút: Đó là trường hợp viết đè lên theo hướng ngược lại với nét chữ vừa viết Ở đây xảy ra trường hợp dụng cụ viết (đầu ngòi bút, phấn) chạy nhẹ từ điểm kết thúc của nét đứng trước đến điểm bắt đầu của nét liền sau
Ví dụ: Khi viết chữ ph phải viết nét thẳng của chữ ( ) sau đó không nhấc bút
để viết mà rê ngược bút lên đường kẻ ngang thứ 2 để viết nét móc 2 đầu ( )
b) Cấu tạo của chữ cái Tiếng Việt:
Kí hiệu ngôn ngữ do các chất liệu âm thanh hoặc nét đồ họa thể hiện Chữ viết được xây dựng trên cơ sở của hệ thống kí tự đã được chuẩn hóa Những đặc điểm cấu tạo chữ viết là những yếu tố cần và đủ để phân biệt các chữ cái khi thể hiện ngôn ngữ viết Những yếu tố cấu tạo chữ viết này chính là hệ thống các nét chữ
Do đó, cần quan niệm hệ thống nét cơ bản cấu tạo chữ cái Tiếng Việt gồm hai loại:
* Nét thẳng: thẳng đứng , nét ngang , nét xiên /, \
* Nét cong: cong hở (cong phải , cong trái ), cong khép kín O
Tuy nhiên, hệ thống chữ La tinh ghi âm vị Tiếng Việt ngoài các nét cơ bản trong cấu tạo chữ viết còn có các nét dư Những nét dư thừa này có chức năng tạo
sự liên kết giữa các nét trong từng chữ cái và giữa các chữ cái với nhau
* Nét phối hợp:Trên cơ sở lấy nét chữ cơ bản làm nền, tính từ điểm xuất phát kéo dài nét đó cho đến khi không thể và không cần thiết kéo dài được nữa thì chấm dứt Loại nét này gọi là nét phối hợp Vì vậy, ta chọn lối phân tích chữ “a” thành 2 nét: nét cong kín (O) và nét móc phải ( )
Sau đây là danh sách các nét phối hợp cần được thống nhất để dạy viết nét
và viết chữ cái tiếng Việt:
Cách sắp xếp các chữ cái có hình dáng tương tự vào cùng bài dạy xuất phát
từ quan niệm muốn dùng thao tác tương đồng để dạy chữ cái và dạy viết theo thứ
tự từ đơn giản đến phức tạp xét về cấu tạo nét chữ
Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x
Trang 10Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc (hoặc nét thẳng): a, ă, â, d, đ, g.
Nhóm 3: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n
Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong phối hợp với nét móc): l, h, k, b, y, g
Nhóm 5: Nhóm chữ cái cónét móc phối hợp với nét thắt:r,v,s
Về cơ bản, cách sắp xếp này cũng theo sát các nhóm bài luyện tập viết trong vở
* Yêu cầu cơ bản của dạy tập viết ở lớp 1 :
+ Kiến thức: Giúp học sinh có được những hiểu biết về đường kẻ, dòng kẻ,
độ cao, cỡ chữ, hình dáng, tên gọi các nét chữ, cấu tạo chữ cái, khoảng cách giữa các chữ, chữ ghi tiếng, cách viết các chữ viết thường, dấu thanh và chữ số
+ Kỹ năng: Viết đúng quy trình - nét, viết chữ cái và liên kết các chữ cái tạo
thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch Viết thẳng hàng các chữ trên dòng kẻ Ngoài ra học sinh còn được rèn luyện các kỹ năng như: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, để vở…
Ở vở tập viết lớp 1 thì cứ sau bài học vần có một bài tập viết thêm để học sinh rèn luyện cách viết các chữ vừa học
- Các ký hiệu trong vở tập viết phải được học sinh nắm chắc, như: đường kẻ ngang, quy định độ cao chữ cái, dấu chấm là điểm đặt bút đầu tiên của chữ, ký hiệu luyện viết ở nhà
2.2.Thực trạng của vấn đề:
Năm học 2015-2016, tôi lần đầu được phân công dạy lớp Một, lớp có 28 học sinh; trong đó có 14 học sinh nữ Trong quá trình giảng dạy, tôi gặp một số khó khăn và thuận lợi sau:
* Về thuận lợi:
- Hiện nay, Trường Tiểu học số 2 Thuận An tiếp tục phấn đấu đạt trường chuẩn quốc gia mức độ1, Ban giám hiệu nhà trường luôn tạo điều kiện tối đa, nhất là về
cơ sở vật chất trang bị khá đảm bảo đủ điều kiện cho các lớp học hai buổi/ngày
- Đội ngũ nhà trường hòa đồng, luôn hợp tác, cởi mở, có tinh thần hỗ trợ nhau trong công việc, đặc biệt là công tác chuyên môn
- Bản thân luôn nhiệt tình, cống hiến, sẵn lòng phối hợp với gia đình các em khi cần, tạo điều kiện giúp HS có nhiều tiến bộ
- Có sức trẻ, có ý thức học hỏi,cầu tiến, ý thức trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ từ bạn bè, đồng nghiệp, đặc biệt là quý thầy cô giảng dạy lâu năm trong lớp 1
Trang 11* Về khó khăn:
- Mặc dù công tác tại trường 5 năm nhưng chỉ mới đứng lớp 1 năm đầu tiên nên còn thiếu kinh nghiệm lại ở xa trường học nên việc nắm bắt các điều kiện của học sinh có phần hạn chế
- Về hoàn cảnh gia đình các em, bố mẹ đa số ngư dân, kinh tế gia đình còn nhiều khó khăn, làm nghề lao động phổ thông vất vả cả ngày nên ít có thời gian và sức lực để chăm sóc con cái về mọi mặt
- Trình độ học sinh không đồng đều: có em đã được học qua lớp Mẫu giáo, có em chưa bao giờ biết đến mặt chữ, sách vở trước khi vào lớp Một; có em chỉ dạy qua một lần, thậm chí chỉ nói sơ qua đã biết, nhưng cũng không ít học sinh giáo viên dạy đi dạy lại nhiều lần vẫn chưa hiểu hoặc hiểu rồi lại quênngay Trong lớpcó 01 học sinh khuyết tật đặc biệt nặng
- Địa bàn xã rộng, học sinh ở rải rác trong nhiều thôn; thậm chí có những em nhà cách trường mấy ki-lô-mét mà đường đi lại khó khăn nên việc gặp gỡ trực tiếp giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh còn hạnchế
-1/3 số học sinh trong lớp chưa được học qua trường Mẫu giáo nên còn nhút nhát, hạn chế về mặt tiếp thu kiến thức (do chưa được làm quen với mặt chữ,số)
Cụ thể, thực trạng chất lượng của học sinh thể hiện ở ba phân môn Học Vần, Tập Viết, Toán thể hiện như sau:
2.2.1 Các lỗi phổ biến của học sinh trong Học vần
Sau khi dạy Học Vần xong, tôi nhận thấy tồn tại khá phổ biến những lỗi sau đây của học sinh lớp một
a) Giai đoạn học âm :
* Đọc nhầm âm : gh với ngh, ch với tr Ví dụ học sinh lẫn chữ “nghé” đọc là
“ghé” hoặc ngược lại …
* Phát âm chưa chuẩn : nh, d, gi, t, tr Ví dụ : ‘nhà’ đọc thành “dà”
* Viết nhầm các âm :ch với tr, s với x, c với k, g với gh, ng với ngh, ph thành
qh…
Riêng với c-k, g- gh, ng- ngh, giai đoạn đầu học sinh chưa nắm quy tắc chính
tả nên dễ sai, Khi đã cung cấp cho học sinh bản cung cấp cho học sinh bản qui tắc chính tả, học sinh sẽ thành thạo hơn khi sử dụng
b) Giai đoạn học vần :
* Đọc nhầm vần : ươt thành ươc, at thành ac,oăt thành oach, ung thành
um,ep thành et
c) Những hạn chế của học sinh trong ngôn ngữ giao tiếp :
* Phần luyện nói:học sinh có thói quen nói chưa thành câu, nghĩ sao nói vậy, ý chưa diễn đạt rõ ràng
Nguyên nhân
a/ Nguyên nhân về phía giáo viên:
Trang 12- Trước hết do bản thân GV chưa thật chú ý, tỉ mỉ rèn việc phát âm cho học sinh thể hiện ở chỗ không chỉ dẫn kỹ cách phối hợp vị trí của lưỡi, miệng – môi khi dạy
HS phát âm hoặc chính GV chưa thật gương mẫu phát âm chưa chuẩn, ví dụ âm
ch, tr, nh, d, oi, oai, an, ang, ươu, ưu… (do đặc điểm tiếng địa phương ).
- Do không chuẩn bị đầy đủ những dụng cụ trực quan cần thiết khi dạy âm vần nên
đã không khắc sâu được biểu tượng của chữ ghi âm, vần trong trí não các em và sẽ
từ dùng để giải thích có những từ các em chưa biết Tốt nhất nên dùng từ đơn giản kết hợp với phương tiện trực quan
+ Chưa tạo được tâm thế tích cực chủ động trong lớp: Chưa tổ chức tốt hoạt động tại lớp cho HS nhằm thực hành các âm, vần vừa học như trao đổi nhóm trò chơi ….+ Chưa hướng dẫn tỉ mĩ việc rèn luyện ở nhà Ở đây sự phối hợp – hỗ trợ của phụ huynh là cần thiết
b/ Nguyên nhân về phía học sinh, phụ huynh
-Trình độ học sinh không đồng đều, học mau quên, về nhà không ôn lại bài
- Thiếu sự quan tâm của phụ huynh
2.2.2 Các lỗi phổ biến của học sinh khi học Tập Viết
+ Trình bày+ Tốc độ
.
2.3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
2.3.1 Các biện pháp nâng cao chất lượng phân môn Học Vần
a) Biện pháp 1: Thiết lập lộ trình dạy học, ôn tập + kiểm tra, khắc chốt từng mảng kiến thức học vần
Trang 13 Nội dung gồm các bước:
Bước 1: Nghiên cứu chương trình SKG + chuẩn KTKN + chương trình giảm tải
- Nắm được chương trình, xác định được những mảng kiến thức, kĩ năng trọng tâm học sinh cần đạt được theo từng giai đoạn của học vần
- Giúp định hướng cách dạy hiệu quả, cụ thể của từng bài học bám sát đối tượng học sinh lớp mình
Bước 2: Giảng dạy và hệ thống hóa kiến thức kết hợp sửa sai
+ Hệ thống hóa các âm vần mới học trên bảng lớp ở một góc trái 1/5 của bảng Hằng ngày ban cán sự lớp vào tiết sinh hoạt đầu giờ sẽ tổ chức cho các em ôn.+ Thiết lập các bảng chữ ôn âm – vần – bảng viết chữ thường, chữ hoa, bảng quy tắc chính tả (do GV làm sẵn cho HS ), vở rèn viết thêm ở nhà
Trang 14PHẦN VẦN (1)
ia
ua ưa
(5) ong ông ăng ân ung ưng eng iêng uông ương inh êng
ich êch
Trang 15hệ thống hóa cho các em một bảng vần đã học kết hợp một số quy tắc chính tả như sau:
Việc sắp xếp các âm vần dễ lẫn đứng cạnh nhau buột các em phải nhớ kĩ cách phát
âm của chúng vì chũng có cách đọc khác nhau Đồng thời các em có thể vận dụng những quy tắc chính tả để nghe viết các từ ứng dụng chính xác nhất
• Cách khắc phục lỗi sai cho học sinh:
Tùy vào nguyên nhân mắc lỗi của học sinh mà có cách sửa sai tương ứng
+Nguyên nhân: Không thuộc và không nắm chắc cách phát âm của âm, vần đã học
Trang 16->Cách khắc phục: giao nhiệm vụ học thuộc các âm, vần đã học Những từ nào các em đọc hay sai tôi phát âm mẫu rồi khoanh tròn lại, ghi ra một mẫu giấy nhỏ yêu cầu em học lại , sau khi học thuộc thì ráp vào đọc hết toàn bộ bảng vần
- Để phụ huynh dễ dàng theo dõi con em mình yếu những phần nào tôi lập một danh sách theo dõi dò bài cho hs và ghi các điểm đó để phụ huynh dò và
hoàn thiện cho các em+ Nguyên nhân: Học mau quên, viết hay sai chính tả:
>Cách khắc phục: dặn các em khi viết bảng con các âm, vần, từ, tiếng chứa vần nên nhờ ba mẹ, người lớn, anh chị hỗ trợ Ngoài ra tôi cho các em viết không những trên bảng con mà còn ở vở trắng trong phần ôn bài cũ đầu mỗi tiết học sau
đó chấm, nhận xét và cho mỗi từ sai viết lại 5 lần từ từ các em khắc sâu hơn
Sau một quá trình tôi lại tiếp tụccho học sinh ôn luyện viết những từ hay sai nhất.+Nguyên nhân: Đọc thuội, đoán từ
->Cách khắc phục:Để tránh đọc thuội, đối với giai đoạn học vần tôi sẽ cho các
em chỉ tay vào từng âm, vần, tiếng, từ lúc đọc, mắt nhìn kĩ vào từ Dần dần tập cho các em thoát li khỏi việc chỉ từng âm, vần mà dùng kĩ thuật đọc trơn nhanh + Nguyên nhân: Nhầm lẫn một số âm, vẫn dễ lần
->Cách khắc phục: nêu ra một số mẹo phân biệt để học sinh ghi nhớ
Bước 3: Phụ đạo HS yếu giúp HS nắm chắc về nội dungKT-KN cần đạt
Cụ thể như sau:
Vào mỗi buổi phụ đạo:
+ Số lượng: 4- 6 em được phân theo lịch xen kẽ 2-4-6 ( tiết cuối giờ)để dễ quản lý
và đạt hiệu quả
+ Cho 1 bạn khá nhất trong nhóm lên chỉ ở bảng lớp, lớp đồng thanh, sau đó xoay vần cho từng em chỉ đọc, giúp em nào cũng tự tin và khẳng định năng lực bản thân.+ Hoạt động theo nhóm đôi: một bạn tốt hơn hướng dẫn bạn kém hơn mình
+ Phân bảng thành nhiều ô căn cứ số lượng HS cần phụ đạo: ghi những âm, vần mỗi em hay sai vào từng ô, cho HSđọc nhiều đến lúc nắm chắc các âm, vần đó mới thôi
Mục đích:
-Giúp HS có những mẹo ghi nhớ phân biệt các cặp, các âm vần dễ lẫn về cách viết lẫn cách đọc
- Nắm nhiều cách thức hay, dễ hiểu giúp học sinh tiếp thu vấn đề nhanh chóng
- Tạo sự thu hút, thay đổi không khí học tập của lớp học
Trang 17 Biện pháp:
Phân biệt các cặp âm, vần dễ lẫn
-Cho HS so sánh điểm giống và khác nhau giữa các âm, vần đã học
+ p & q: Tôi hay dặn các em bụng “pầu” ( ám chỉ p)nằm trước còn q ùy ( ám chỉ
chữ q) thì để lưng nằm sau
+ g/ gh: chữ g đơn tức gà chỉ có một đầu 1 cái đuôi, gở ghép (gh) là gờ ghế.
+ ai/ ay: ai là tai, tai thì ngắn -> viết i ngắn ay là tay, tay thì dài -> viết y dài + Các vần kết thúc bằng âm t/ n với các vần kết thúc bằng âm p/ m
Ay ay ay cay cay cay
Ây ây ây cây cây cây
Ui/ ưi
Ui ui ui mũi mũi mũi
Ưi ưi ưi ngửi ngửi ngửi
Âu/ au/ ua
Âu âu âu lâu lâu lâu
Au au au mau mau mau
Ua ua ua ăn sữa chua
Ôn tập từ bài 44-50
On on on mẹ lon ton
Ôn ôn ôn lớp ôn bài
Ơn ơn ơn chị lơn xơn
Bà tiên, chim yến, diều yêu quý, bay
lượn trên sân
Ưu ưu ưu lựu lựu lựu
Ươu ươu ươi hươu hươu hươu
Ôn 3 bài 52,53,54
Sông phẳng lặngSóng tầng tầngNgười tưng bừngMúa lung tung