Cùng với những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn: sự biến đổi các chức năng của gia đình,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ NGỌ
GIA ĐÌNH TRONG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI
Ở QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 60 22 03 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS Phan Thanh Khôi
HÀ NỘI – 2015
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Lương Khắc Hiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Thanh Khôi Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn khoa học và đáng tin cậy Kết quả trong luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công bố
Học viên
Nguyễn Thị Ngọ
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ TỆ NẠN XÃ HỘI 8
1.1 Quan niệm về gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội 8
1.2 Quan niệm về tệ nạn xã hội và tác hại của tệ nạn xã hội 21
1.3 Những yếu tố tác động đến phòng, chống tệ nạn xã hội 31
Chương 2: VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI Ở QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 45
2.1 Khái quát chung về quận Cầu Giấy 45
2.2 Thực trạng vai trò gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy 58
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI Ở QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 78
3.1 Xây dựng gia đình văn hóa- môi trường lành mạnh cho phòng, chống tệ nạn xã hội 78
3.2 Nâng cao nhận thức về phòng, chống tệ nạn xã hội cho xã hội nói chung, cho gia đình và từng cá nhân nói riêng 84
3.3 Gia đình kết hợp với xã hội trong phòng, chống tệ nạn xã hội 89
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 104
TÓM TẮT LUẬN VĂN 105
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đối với con người, gia đình là hai tiếng thân thương nhất, luôn có vị trí và vai trò quan trọng trong mỗi ý nghĩ, hành động của mình Gia đình- là nơi con người được sinh ra, lớn lên và được trang bị những kiến thức ban đầu để “ đối nhân xử thế”; là trường học đầu tiên, quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách con người, góp phần tạo nên sức mạnh tiềm tàng của cả dân tộc Lịch sử đất nước đã trải qua bao thăng trầm thì bấy nhiêu lần chứng minh cho tính bền vững, khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của gia đình trong sự phát triển của lịch sử xã hội
Gia đình phát triển bền vững không chỉ là niềm hạnh phúc cho mỗi người, mỗi nhà mà còn là nhân tố quan trọng, góp phần giữ gìn sự phát triển lành mạnh, an toàn của xã hội và sự ổn định dân số của mỗi quốc gia Vì vậy, gia đình cũng là một trong những vấn đề được Đảng ta đặc biệt quan tâm Từ khi thành lập và trải qua các thời kỳ lãnh đạo đất nước, Đảng ta có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển “các tế bào” của xã hội sao cho thật mạnh khỏe, bền vững để tạo đà cho đất nước phát triển
Trong bối cảnh hiện nay, quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước đang đứng trước nhiều vận hội cũng như thách thức, tác động mạnh mẽ tới vị trí, vai trò của gia đình theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Bên cạnh những thành công, tiến bộ, các “tế bào” của xã hội cũng đang chịu nhiều rủi
ro, mất mát Trước những yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, vai trò của gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn Gia đình là tế bào, là nền tảng của xã hội, được chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định khi bàn về vai trò của gia đình đối với sự phát triển của xã hội Ngay từ thế kỷ XIX , Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “…Những trật tự xã hội, trong đó có những con
Trang 6người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống , là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội Gia đình tốt thì xã hội mới tốt Xã hội tốt thì gia đình càng tốt hơn Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú ý hạt nhân cho tốt” Kế thừa tư tưởng của các nhà kinh điển, Đảng ta nhận thức sâu sắc
về vai trò của gia đình đối với xã hội Tại Đại hội XI, Đảng ta nhấn mạnh: “
Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc thật sự là tế bào lành mạnh của
xã hội” Quan điểm của Đảng cho thấy, muốn có một xã hội phát triển lành
mạnh thì trước hết từng “tế bào” phải phát triển bền vững Gia đình không chỉ
là “tế bào” tự nhiên, mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội Không có gia đình tái tạo ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại
và phát triển được
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều giá trị mới được tiếp thu, nhưng nhiều giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam cũng đang bị mất đi Chính vì vậy, trên cơ sở những tiêu chí quan trọng của gia đình văn hóa Việt Nam, được Đảng đề xuất, từ Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã xác định Chiến lược xây dựng gia đình văn hóa Việt Nam Tại Đại
hội XI, Đảng ta một lần nữa xác định: No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc
là những điều kiện cơ bản, quan trọng để gia đình phát triển lành mạnh Muốn
có một “tế bào lành mạnh”, một “nền tảng vững chắc” thì phải xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc
Sau những năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế -xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi gia đình Mức sống của đại bộ phận các gia đình đã được cải thiện, công tác xoá đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm đã giúp cho
Trang 7hàng triệu gia đình nâng cao mức sống, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 24% năm 2004 và 12% năm 2014
Cùng với những thành tựu đã đạt được trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn: sự biến đổi các chức năng của gia đình, dẫn đến một những hậu quả tiêu cực như gia tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng ly hôn, ly thân, những người chung sống không đăng
ký kết hôn, bất bình đẳng giới, bạo lực gia đình; các tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến
sự bền vững của gia đình Trong đó, vấn đề có tính cấp thiết và được xã hội quan tâm đó là: tệ nạn xã hội (cờ bạc, ma túy, mại dâm ) ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của gia đình cũng như của toàn xã hội Những gia đình có người nghiện, cờ bạc hoặc mắc tệ nạn xã hội sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần, và nhiều khi làm cho gia đình tan vỡ Nếu cha mẹ nghiện và mắc tệ nạn thì con cái sẽ không được chăm sóc, học hành đến nới đến chốn Từ đó, những người con này có thể sẽ là gánh nặng cho xã hội Nếu con cái nghiện ngập thì cha mẹ cũng không được sống yên
ổn, tốn kém tiền của và lo lắng
Nhận thức được tác hại của tệ nạn xã hội và nhận thức được tầm quan trọng
của gia đình trong phòng, chống các tệ nạn xã hội, tác giả chọn: "Gia đình trong
phòng, chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay”
làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thực tế hiện nay, vấn đề gia đình cũng như công tác phòng, chống tệ nạn
xã hội là những vấn đề rộng và phức tạp đã được nhiều nhà khoa học của nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, như: Tâm lý học, Xã hội học, Tội phạm học, Giáo dục học, Nhân chủng học…trong đó, có các công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- “ Tệ nạn xã hội- căn nguyên- biểu hiện- phương thức khắc phục”, Trung
tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Chuyên đề, H,1996;
Trang 8- “ Nỗi đau thời đại”, Lê Thị Qúy, Nxb Phụ nữ, H, 1996;
- “ Một số vấn đề phòng, chống tệ nạn xã hội ở nước ta hiện nay”, Trung tâm
Xã hội học, Nxb Chính trị quốc gia, H, 1997;
- “ Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam”,
GS Lê Thi ( Chủ biên), Nxb Phụ nữ, H, 1997;
-“ Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới”, GS Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, H, 2006;
- “ Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng, chống tệ nạn
xã hội ở nước ta”, GS Đào Trí Úc, PGS, TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an
nhân dân, H, 2001;
-“ Mại dâm, ma túy, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại”, Nguyễn Xuân Yêm,
Phạm Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên, Nxb Công an nhân dân, H, 2003;
-“Gia đình Việt Nam các giá trị truyền thống và những vấn đề tâm- bệnh lý
xã hội”, GS,BS Đặng Phương Kiệt (Chủ biên), Nxb Lao động, H, 2006…
Các công trình này, ở những góc độ khác nhau, đã đề cập đến đặc điểm của gia đình Việt Nam; cung cấp cho người đọc những thông tin về vị trí, vai trò của gia đình trong sự phát triển của xã hội; chỉ ra nguyên nhân, biểu hiện và cách thức khắc phục tệ nạn xã hội và đã đề cập đến một số khía cạnh về vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội Đồng thời cũng đưa ra một số phương hướng, giải pháp thiết thực góp phần xây dựng gia đình Việt Nam và lành mạnh hóa xã hội
Dưới góc độ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học cũng có một số luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề gia đình- phụ nữ, gia đình- giáo dục gia đình, gia đình- bảo vệ chăm sóc trẻ em:
-Luận án tiến sĩ của Nghiêm Sỹ Liêm, “ Vai trò của gia đình trong việc giáo
dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay”, H, 2001;
-Luận án tiến sĩ của Dương Thị Minh, “ Gia đình Việt Nam và vai trò người
phụ nữ hiện nay”, H, 2003;
Trang 9-Luận văn thạc sỹ của Phạm Thị Xuân, “ Gia đình trong bảo vệ, chăm sóc trẻ
em ở nước ta hiện nay”, H, 2004…
- Nguyễn Thị Ngân (1998), Cái đẹp của phụ nữ ngày nay, Tạp chí Dân tộc và thời đại; Đôi nét về giới và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam (2010); Tạp chí Lý luận chính trị;
-Những điều kiện cần thiết để người phụ nữ làm tốt hai chức năng gia đình
và xã hội (1998), sách tham khảo, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh;
- Về thực trạng phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam; Giới trong gia đình và
dân số (2008), sách tham khảo,
Các bài viết, các công trình nêu trên đã tập trung đề cập đến vai trò của gia đình trong việc hình thành nhân cách con người, vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội cũng như ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến gia đình và vai trò của phụ nữ trong gia đình Mỗi
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu riêng về vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội ở nước ta, nhất là ở một địa bàn cụ thể như quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay Do đó, có thể nói, luận văn
là một khía cạnh mới được nghiên cứu trong vấn đề gia đình, làm rõ thực trạng, vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội- một vấn đề bức thiết cần phải giải quyết ở một địa bàn cụ thể trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1.Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung, nêu lên thực trạng vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tệ nạn xã hội của gia đình ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay
3.2.Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ các quan niệm về gia đình, tệ nạn xã hội và tác hại của tệ nạn
xã hội
Trang 10- Chỉ ra những yếu tố tác động đến phòng, chống tệ nạn xã hội và phân tích thực trạng vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tệ nạn xã hội của gia đình ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tập trung nghiên cứu vai trò của gia đình (chủ yếu gia đình có đối tượng mắc tệ nạn xã hội) đối với các thành viên của mình, nhất là: giữa bố mẹ
và con cái trong phòng, chống tệ nạn xã hội, trong đó chủ yếu là: tệ nạn ma túy, tệ nạn mại dâm ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, thời gian mười năm lại đây
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Việc nghiên cứu được thực hiện trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta
về gia đình, tệ nạn xã hội, vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội và những vấn đề liên quan
- Đồng thời kế thừa sáng tạo những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm nhận thức về vai trò của gia đình trong phòng,
chống tệ nạn xã hội
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần làm cơ sở lý luận cho các chủ trương, chính sách của đảng bộ, chính quyền địa phương trong phòng, chống tệ nạn xã hội vì sự phát triển văn minh và bền vững của Thủ đô
Trang 11- Có thể làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu và vận dụng ở các trường học
và gia đình trong phòng, chống tệ nạn xã hội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương (8 tiết)
Trang 12Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ TỆ NẠN XÃ HỘI
1.1 Quan niệm về gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
1.1.1 Quan niệm về gia đình
Gia đình là tế bào xã hội, là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Khi nghiên cứu sự vận động của xã hội trong mỗi giai đoạn, vấn đề gia đình,
dù trực tiếp hay gián tiếp, luôn được quan tâm vì gia đình và xã hội có mối quan hệ tác động qua lại và ảnh hưởng tới sự phát triển của nhau Gia đình là khái niệm “ động” theo đúng nghĩa của thuật ngữ này, nó không ngừng thay đổi cùng với sự vận động của điều kiện kinh tế- xã hội, của điều kiện môi trường địa lý, của nhận thức hôn nhân, tình yêu
và những quan niệm về đạo đức…
Cũng từ đó, các quan hệ gia đình có ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội, góp phần để xã hội có sự phát triển bình thường, mạnh mẽ và tiến
bộ Quan điểm này được Ph.Ăngghen khẳng định trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước” (1884): “ nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó có hai loại: Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công
cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình
độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình” [ 21; tr.44] Trong tác phẩm “ Hệ tư tưởng Đức” (1845), C.Mác và Ph.Ăngghen, khi luận chứng về những điều kiện tiền đề cho sự tồn tại của con người, đã đưa ra một nhận xét được xem như định nghĩa về gia đình: “ Hàng ngày tái tạo ra đời sống bản thân mình, con người còn tạo
Trang 13ra những cái khác, sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha
mẹ và con cái, đó là gia đình” [3; tr.41]
Trong “Các quyền của con người và gia đình”, tổ chức Liên hợp
quốc đã xác định: “ Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơ bản của xã hội và
có quyền hưởng sự bảo vệ của xã hội và của Nhà nước” Hiến chương Cộng đồng Châu Âu cũng đã chỉ rõ: “ Gia đình với tư cách là tế bào của
xã hội có quyền được hưởng sự bảo vệ về các mặt xã hội, pháp lý và kinh tế thích hợp để đảm bảo sự phát triển của nó” Hai quan điểm này thể hiện rõ sự gắn kết mật thiết giữa gia đình và xã hội, vai trò của gia đình với xã hội
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau về gia đình Dưới góc độ tâm lý học, tác giả Ngô Công Hoàn cho rằng: “ Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung giá trị vật chất tinh thần, ổn định trong những thời điểm lịch sử nhất định” Dưới góc độ Luật học, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn lại quan niệm: “ Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ hôn nhân và huyết thống về nuôi dưỡng đã gắn
bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái”
Có thể nói, yếu tố tình cảm là nét bản chất nhất của gia đình, nhưng nói đến gia đình, không chỉ xét đến yếu tố này mà phải nghiên cứu tất cả các yếu tố đan xen tạo thành nó bên cạnh yếu tố tâm lý tình cảm, đó là: tổ chức kinh tế- tiêu dùng với các quan hệ sở hữu, sản xuất; môi trường giáo dục và hình thành nhân cách; lưu giữ và phát huy những yếu tố văn hóa, đạo đức của gia đình và dân tộc…Tác giả Lê Thi trong
“Vai trò của gia đình trong việc xây dựng nhân cách con người Việt Nam” đã có quan niệm khá đầy đủ về thuộc tính vốn có của gia đình:
Trang 14Khái niệm gia đình được sử dụng để chỉ một nhóm xã hội hình thành trên
cơ sở quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nảy sinh từ quan hệ hôn nhân
đó và cùng chung sống ( cha mẹ, con cái, ông bà, họ hàng nội, ngoại) Đồng thời gia đình cũng có thể bao gồm một số người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ huyết thống Các thành viên gia đình gắn bó với nhau
về trách nhiệm và quyền lợi ( kinh tế, văn hóa, tình cảm), giữa họ có những điều ràng buộc có tính pháp lý, được nhà nước thừa nhận và bảo vệ ( được ghi
rõ ràng trong Luật Hôn nhân và gia đình nước ta) Đồng thời, trong gia đình
có những quy định rõ ràng về quyền được phép và những cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên
Ở đây, tác giả đã chỉ ra điểm nổi bật điểm cốt yếu của gia đình là nhóm xã hội đặc thù mà các thành viên trong đó có quan hệ ràng buộc bởi các mối quan hệ huyết thống, ruột thịt, quan hệ tình cảm và trách nhiệm Các thành viên của nó có sự quan tâm thường xuyên đến nhau và đều có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ sự bền vững gia đình Bên cạnh đó, gia đình cũng tồn tại như một bộ phận cấu thành nên xã hội, chịu sự chi phối và quản lý của xã hội
Có thể nói, không có một định nghĩa gia đình duy nhất cho mọi nền văn hóa, mọi chế độ xã hội, mọi thời kỳ lịch sử mà tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng ngành khoa học khác nhau sẽ có những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này Tuy nhiên, nói chung, gia đình được hiểu như sau: Gia đình là đơn vị xã hội đầu tiên; nơi con người được sinh ra, trước hết được tiếp nhận sự giáo dục và hình thành nhân cách; được xây dựng, tồn tại trên cơ sở hai mối quan hệ cơ bản là quan
hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống; các thành viên gắn bó với nhau bởi trách nhiệm và quyền lợi giữa họ có sự ràng buộc nhất định về mặt pháp
lý do nhà nước thừa nhận và bảo vệ
Trang 151.1.2 Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội
* Sự tác động của gia đình đối với sự phát triển của xã hội
Như đã nói, gia đình có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Gia đình như một tế bào tự nhiên, đơn vị nhỏ nhất
để tạo nên xã hội Không có gia đình để tái tạo ra con người thì xã hội không tồn tại và phát triển được Chính vì vậy, muốn xã hội tốt thì phải xây dựng gia đình tốt.Tuy nhiên, mức độ tác động của gia đình đối với xã hội còn phụ thuộc vào bản chất của từng chế độ xã hội Trong xã hội có
áp bức bóc lột, dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình, quan hệ xã hội đã hạn chế rất lớn sự tác động của gia đình đối với xã hội
Gia đình là một thiết chế xã hội, có vị trí đặc biệt trong cấu trúc xã hội, mà còn là mốc đánh giá sự phát triển của xã hội Quan hệ đó giống như sự tương tác hữu cơ của quá trình trao đổi chất, duy trì sự sống giữa tế bào và một cơ thể sống Xã hội lành mạnh tạo điều kiện cho các gia đình tiến bộ, gia đình hạnh phúc góp phần làm cho xã hội phát triển, phồn vinh Từ xa xưa, các nhà tư tưởng, các chính trị gia đã chỉ ra vai trò to lớn của gia đình Điển hình là Khổng Tử, người sáng lập ra đạo Nho, đã đặt gia đình vào vị trí trung tâm của các quan hệ và kết cấu xã hội
Gia đình là cầu nối giữa cá nhân và xã hội Xã hội thông qua gia đình thể hiện vai trò của xã hội đối với cá nhân, cá nhân cũng thông qua gia đình thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội Nhiều thông tin về xã hội tác động đến cá nhân thông qua gia đình Nhiều nội dung quản lý xã hội, không chỉ được thông qua hoạt động của các thiết chế xã hội, mà còn thông qua hoạt động của gia đình để tác động đến các thành viên trong gia đình, từ đó ý thức công dân của cá nhân được nâng lên Mỗi cá nhân đều sinh ra trong gia đình Gia đình là môi trường đầu tiên có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự hình thành và phát triển tính cách của mỗi
Trang 16cá nhân Và cũng chính trong gia đình, mỗi cá nhân sẽ học được cách cư
xử với mọi người xung quanh và xã hội
Gia đình là tổ ấm mang lại các giá trị hạnh phúc, sự hài hòa trong đời sống mỗi thành viên, mỗi công dân của xã hội Chỉ trong gia đình mới thể hiện được mối quan hệ tình cảm thiêng liêng giữa vợ - chồng, cha mẹ - con cái Sự hạnh phúc của gia đình là tiền đề hình thành nên nhân cách tốt cho những công dân của xã hội Vì vậy, muốn xây dựng xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình Chủ Tịch Hồ Chí Minh nói: “ Gia đình tốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn”
Xây dựng gia đình là một trách nhiệm, là bộ phận cấu thành trong chính thể các mục tiêu phấn đấu của xã hội, vì sự ổn định và phát triển của xã hội Thế nhưng, các cá nhân không chỉ sống trong quan hệ gia đình mà còn có những quan hệ xã hội Mỗi cá nhân không chỉ là thành viên của gia đình mà còn là thành viên của xã hội Không thể có con người bên ngoài xã hội Gia đình đóng vai trò quan trọng để đáp ứng nhu cầu về quan hệ xã hội của mỗi cá nhân Ngược lại, bất cứ xã hội nào cũng thông qua gia đình để tác động đến mỗi cá nhân Mặc khác, nhiều hiện tượng của xã hội cũng thông qua gia đình mà có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân về tư tưởng, đạo đức, lối sống
* Trình độ phát triển của xã hội quy định hình thức tổ chức, quy
mô, kết cấu gia đình
Quan điểm duy vật về lịch sử chỉ ra rằng, gia đình là những hình thức phản ánh đặc thù của trình độ phát triển kinh tế Trong tiến trình lịch sử nhân loại, các phương thức sản xuất lần lượt thay thế nhau, dẫn đến sự biến đổi về hình thức tổ chức, quy mô và kết cấu gia đình Từ gia đình tập thể - hình thức quần hôn, huyết thống; gia đình cặp đôi – hình
Trang 17thức hôn nhân đối ngẫu; gia đình cá thể - hôn nhân 1 vợ 1 chồng Gia đình 1 vợ 1 chồng bất bình đẳng sang gia đình 1 vợ 1 chồng bình đẳng Tất cả các bước tiến trong gia đình đều phụ thuộc vào những bước tiến của xã hội, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội của mỗi thời đại lịch sử
Trong quá trình đổi mới hiện nay, gia đình Việt Nam đang có những biến đổi quan trọng cùng với sự phát triển về kinh tế- xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật… của đất nước Sự biến đổi đó thể hiện
ở nhiều mặt:
Sự biến đổi về quy mô, kết cấu của gia đình: gia đình hạt nhân( hai thế hệ) với quy mô nhỏ đang chiếm ưu thế ( gia đình hạt nhân chiếm 75%, gia đình ba thế hệ 18,2 %, gia đình bốn thế hệ chỉ là 0,5%)
Chất lượng cuộc sống của gia đình ngày càng được nâng cao, thể hiện trước tiên là sự biến đổi về mức sống gia đình, đó là: tình trạng nhà
ở, trang thiết bị sinh hoạt, tài sản, tiền bạc… của gia đình ngày càng được cải thiện cùng với sự phát triển ngày càng cao của thu nhập quốc dân, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 đạt 2.028 USD, (tương đương 169 USD/tháng) Trước đó, năm 2013, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam đạt 3.584.262 tỷ đồng tính theo giá hiện hành, theo đó GDP bình quân đầu người đạt 1.900 USD, tăng so với mức 1.749 USD của năm 2012 Trong năm 2016, Chính phủ đặt mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng GDP 6,2%
Chất lượng sống của gia đình còn thể hiện ở các tiêu chí về tuổi thọ và học vấn Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay 73,2, trong đó nam là 70,6 tuổi và nữ là 76,0 tuổi Trình độ dân trí trong những năm gần đây cũng đã được nâng lên rõ rệt
Lối sống của các gia đình cũng có những biến đổi Phần lớn các gia đình hình thành lối sống bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau Các gia đình đã phát
Trang 18huy tính năng động, sáng tạo, kết hợp hài hòa yếu tố truyền thống và yếu tố thời đại đảm bảo tính bền vững của mình, đồng thời phù hợp với sự vận động biến đổi của đất nước Nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng có tác động tiêu cực đến đời sống gia đình, những nếp sống văn hóa truyền thống bị mai một bởi quan hệ hàng hóa, lợi nhuận Lối sống thực dụng, tự do kiểu Âu-Mỹ… đã tác động tới một bộ phận người Việt Nam hiện nay nhất là ở khu vực thành phố Nhiều người quan niệm sống thay đổi theo chiều hướng sống ích kỷ, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội Đó cũng chính là các nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột và cao nhất là sự chia ly, đổ vỡ của không ít gia đình
Các mối quan hệ cơ bản trong gia đình ( cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng) có sự biến đổi theo hướng dân chủ, cởi mở hơn; quyền và lợi ích của mỗi cá nhân ngày càng được tôn trọng Gia đình Việt Nam đang tiếp thu và xây dựng những giá trị nhân văn mới biểu hiện cụ thể là quyền bình đẳng giới
và quyền trẻ em… được thực hiện ngày càng rộng rãi…
Trong xu thế vận động của xã hội, các chức năng của gia đình cũng có
sự biến đổi Một số nội dung và phương thức thực hiện các chức năng của gia đình cũng luôn điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển của xã hội Hiện nay, quá trình CNH, HĐH đất nước là yếu tố mạnh mẽ, tác động làm thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dẫn đến việc thực hiện các chức năng của gia đình Việt Nam cũng có sự thay đổi so với trước đây:
Thứ nhất, sự biến đổi về chức năng tái sản xuất ra con người của gia đình
Tái sản xuất ra con người là một trong hai cơ sở quan trọng cho sự tồn tại của xã hội (bên cạnh cơ sở tái sản xuất ra của cải vật chất) Chức năng này được thực hiện thông qua thể chế gia đình Tuy nhiên, khi nói tái sản xuất ra con người, ở đây không có nghĩa chỉ là con người về mặt thể chất, mà còn cả
về tinh thần, thông qua quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục Hiện nay, khoa học và công nghệ phát triển, có thể sinh sản con người theo cách nhân
Trang 19tạo thì việc tái sản xuất ra con người trong gia đình vẫn là cơ bản, không thể thiếu được
Ở gia đình Việt Nam truyền thống, chức năng này luôn được đề cao Ngày xưa, nền kinh tế nông nghiệp với tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai và sức lao động cơ bắp của con người, các gia đình là đơn vị sản xuất riêng biệt
tự cung, tự cấp, nên đông con đồng nghĩa với việc có nhiều lao động và do
đó, đảm bảo kinh tế gia đình luôn ổn định và cha mẹ còn có chỗ cậy nhờ khi tuổi già Quan điểm “ đông con đông của”, “trẻ cậy cha già cậy con” trong dân gian đã phản ánh thực tế gia đình và xã hội Việt Nam truyền thống, nó vừa có tính kinh tế, vừa mang tính đạo lý Bên cạnh đó, ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ trong xã hội- “ nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” cũng là cơ sở để giải thích cho việc các gia đình sinh nhiều con
Trong quá trình CNH, HĐH hiện nay, chức năng sinh sản của gia đình cũng có sự thay đổi theo hướng giảm số lần sinh và tăng khoảng cách giữa các lần sinh Khi nền sản xuất phát triển cao, tư liệu sản xuất ngày càng được
mở rộng, khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì sức lao động với hình thức lao động cơ bắp giản đơn của người lao động không còn phù hợp, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất trong nền kinh
tế tri thức Hơn nữa, với sự tiến bộ của chế độ xã hội, phúc lợi xã hội phát triển, đời sống nhân dân được nâng lên, nên việc sinh nhiều con để đảm bảo kinh tế gia đình không còn là yêu cầu quá cần thiết như xưa
Quá trình CNH, HĐH đã tạo điều kiện cho sự phát triển của gia đình, nhưng cũng đặt ra những yêu cầu buộc các gia đình phải có sự “đầu tư” để con cái có điều kiện phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện đại, từ đó làm giàu cho gia đình và xã hội Hiện nay, việc sinh con đẻ cái không còn là ý muốn riêng của gia đình, dòng tộc mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: các chính sách kinh tế- xã hội, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình của quốc gia… cùng với sự phát triển của mạng lưới y tế, những
Trang 20tiến bộ trong lĩnh vực y học với sự ra đời kỹ thuật sinh sản mới như: thụ tinh nhân tạo, thụ thai trong ống nghiệm, … đã mang lại hạnh phúc cho một số gia đình Việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc cho bà mẹ mang thai và trẻ nhỏ ngày càng được quan tâm Và không chỉ là công việc của gia đình, mà của cả xã hội Tuy nhiên, việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và thực hiện kế hoạch hóa gia đình hiện nay vẫn còn có những hạn chế nhất định đặc biệt là ở vùng sâu vùng xa, vùng dân trí thấp
Thứ hai, sự biến đổi về chức năng kinh tế của gia đình
Đây là chức năng quan trọng, tạo cơ sở vật chất cho việc thực hiện các chức năng khác của gia đình Tuy nhiên, cùng với quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, ở từng nơi, từng lúc, chức năng kinh tế cũng có sự biến đổi
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế độc lập, tự đảm nhận trọn vẹn các khâu của quá trình sản xuất Hiện nay, gia đình vẫn là đơn vị sản xuất quan trọng của xã hội nhưng không còn là đơn vị kinh tế khép kín, tự cung- tự cấp Các gia đình trong phát triển kinh tế đã có
sự liên kết với nhau, các thành phần kinh tế khác trở thành tổ hợp sản xuất, kinh doanh năng động và đa dạng các ngành nghề Khi cả nước bước vào thời
kỳ đổi mới, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), khi Nhà nước
đã trao quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ nông dân, thì cũng là lúc kinh tế
hộ gia đình bắt đầu phát triển mạnh Chính sách phát triển kinh tế của Đảng
và Nhà nước ta trong những năm qua, đã khuyến khích sự tham gia của mọi tầng lớp dân cư, của các thành phần kinh tế, trong đó có sự đóng góp rất lớn của các hộ gia đình Điều đó được chứng minh bởi sự xuất hiện và làm ăn hiệu quả của các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân, trong đó hộ gia đình đóng vai trò to lớn, đang phát huy mọi khả năng về lao động và vốn để phát triển kinh tế gia đình, tự làm giàu cho mình và cho xã hội Phát triển kinh tế
hộ gia đình với mục đích tạo cơ sở vật chất cho việc thực hiện các chức năng khác tốt hơn đang từng ngày từng giờ góp phần xây dựng gia đình “ no ấm,
Trang 21bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” làm nền tảng cho sự phát triển của
xã hội Việt Nam
Nhưng bên cạnh những yếu tố tích cực, trong phát triển kinh tế gia đình vẫn còn có những hạn chế, đó là: Sản xuất nhỏ, sản xuất hàng hóa giản đơn vẫn là hình thức chủ yếu ở các gia đình ở nông thôn; chưa áp dụng được nhiều thành tựu khoa học vào quá trình sản xuất mà chủ yếu là huy động tối
đa sức lao động, cường độ lao động của các thành viên… khiến họ phải hy sinh phần lớn thời gian và rất nhiều sức lực nên có rất ít thời gian để nghỉ ngơi và hưởng thụ các giá trị văn hóa; để làm giàu, một bộ phận gia đình không từ thủ đoạn nào, kể cả vi phạm pháp luật, còn có sự phân hóa giàu nghèo giữa các gia đình Cụ thể, đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,8-2%/năm (từ 7,8% xuống còn 5,8- 6%); riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm (từ 38,20% năm 2013 xuống còn 33,20% năm 2014) Đánh giá cao vai trò của gia đình, trong những năm qua, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhằm giúp cho kinh tế hộ gia đình thực sự phát huy được mọi tiềm năng thế mạnh của mình, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn
Thứ ba, sự biến đổi chức năng tiêu dùng của gia đình
Gia đình không chỉ là đơn vị sản xuất kinh doanh mà còn là đơn vị tiêu dùng của xã hội Chức năng tiêu dùng cuả gia đình biểu hiện ở việc mua sắm những vật phẩm phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của gia đình Việc thực hiện chức năng này thường phụ thuộc vào thu nhập và sự đóng góp của các thành viên trong hoạt động kinh tế gia đình và xã hội Hiện nay, đời sống ngày càng được cải thiện, thu nhập của các cá nhân và của gia đình ngày càng cao, nhu cầu mua sắm các vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình ngày càng hiện đại, tiện nghi hơn Nếu như trước đây, nhu cầu của các gia đình mới chỉ là đủ
ăn, đủ mặc, “ăn chắc, mặc bền”, thì hiện nay khi kinh tế xã hội phát triển, các
Trang 22gia đình ngày càng có điều kiện đáp ứng nhu cầu, sở thích sinh hoạt của từng thành viên và đang chuyển dần sang nhu cầu ăn ngon, mặc đẹp
Gia đình đã có điều kiện tổ chức cho các thành viên của mình vui chơi, giải trí, tham quan du lịch… Nhiều dịch vụ công cộng phát triển đã phần nào đáp ứng nhu cầu này và thay thế dần cho chức năng tự phục vụ của gia đình Tuy nhiên, những dịch vụ đó cũng có nguy cơ làm cho mối quan hệ giữa các thành viên lỏng lẻo hơn Bên cạnh đó, sự biến tướng của một số dịch vụ đã tác động tiêu cực và ảnh hưởng đến tính bền vững của gia đình, do đó cần có
sự quản lý và kiểm tra thường xuyên của các cơ quan chức năng đối với hoạt động của các dịch vụ này
Trên cơ sở nâng cao thu nhập, các gia đình phải có sự định hướng cho việc tiêu dùng một cách khoa học vừa đáp ứng được nhu cầu, vừa giữ gìn hạnh phúc gia đình, ổn định xã hội Đời sống vật chất tốt mà chúng ta có được chưa hẳn chỉ do thu nhập, mà cần phải có cách thức tổ chức cuộc sống khoa học, phải biết “ liệu cơm gắp mắm” và “ khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”…
Thứ tư, sự biến đổi chức năng giáo dục của gia đình
Giáo dục là một quá trình mang tính quyết định vì thông qua đó con người được trang bị những kiến thức cơ bản có thể hòa nhập và khẳng định mình trong xã hội Cùng với nhà trường và xã hội, gia đình có vai trò quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách của mỗi con người Giường như rất tự nhiên, bắt đầu từ tình cảm và chủ yếu bằng tình cảm, thông qua các hành vi đối nhân xử thế, các hoạt động lao động sản xuất của ông bà, cha mẹ, công tác giáo dục của gia đình được thực hiện ngay từ khi con người mới được hoài thai và trong suốt cuộc đời của họ
Giáo dục gia đình có vai trò quan trọng và ở gia đình Việt Nam truyền thống thì vai trò đó gần như tuyệt đối trong giáo dục trẻ, vì hệ thống trường lớp của xã hội không nhiều và không phải gia đình nào cũng có điều kiện cho con đi học Hiện nay, khi điều kiện xã hội thay đổi đã có những tác động đến chức năng
Trang 23giáo dục của gia đình và làm cho chức năng này biến đổi theo hướng nhất định Hầu hết, các gia đình có ý thức về vai trò của mình đối với con cháu, có trách nhiệm trong việc tạo ra những công dân tốt, cung cấp nguồn nhân lực đủ tài, đủ đức góp phần đưa đất nước tiến lên Các gia đình đã tùy vào hoàn cảnh của mình, sử dụng các biện pháp, các hình thức khác nhau để giáo dục con cái một cách tốt nhất Các gia đình phát huy lợi thế của mình, thông qua các hoạt động sinh hoạt hàng ngày để truyền dạy cho thế hệ sau những kinh nghiệm sống, nề nếp, gia phong giúp các thành viên tiếp tục gìn giữ và phát huy truyền thống của gia đình, dòng họ và dân tộc Các gia đình đã chủ động đưa những nội dung mới vào hoạt động giáo dục gia đình như kiến thức về giới, sức khỏe sinh sản… Có sự kết hợp giữa cha và mẹ trong giáo dục sức khỏe sinh sản cho con cái chứ không chỉ khoán trắng cho người mẹ hoặc lảng tránh không muốn nói đến, coi là lĩnh vực cấm kỵ như trong gia đình truyền thống
Cùng với nhà trường và xã hội,các gia đình đã có ý thức đầu tư tiền của, thời gian hợp lý để chăm sóc giáo dục và tạo cơ hội cho con cái học tập, thực hiện chiến lược phát triển con người toàn diện Tuy nhiên, do nhiều yếu
tố khác nhau mà còn có những gia đình thiếu quan tâm, thậm chí là vô trách nhiệm trong việc dạy dỗ con cái, chỉ giao phó việc giáo dục trẻ em cho nhà trường và xã hội, chưa tìm được giải pháp giáo dục đúng đắn với con cái…
Hiện nay, trong xu thế hội nhập, giao lưu giữa các nền văn hóa, các gia đình ngày càng cần phải phối hợp với nhà trường, xã hội để giáo dục các thành viên của mình, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Thứ năm, sự biến đổi về chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm, sinh lý của gia đình
Thỏa mãn nhu cầu tâm, sinh lý của các thành viên là một chức năng không thể thiếu trong gia đình Trong gia đình luôn bộc lộ nhiều vấn đề tâm- sinh lý do các thành viên của gia đình với đặc điểm về tính cách, giới tính, lứa tuổi, trình độ, mối quan hệ với các đối tượng cụ thể khác nhau; có cách đón
Trang 24nhận và thỏa mãn nhu cầu tâm, sinh lý, tình cảm khác nhau Vì vậy, sự hiểu biết về tâm, sinh lý cá nhân, sở thích của nhau giúp các gia đình có thái độ ứng xử phù hợp, chân thành và tế nhị, từ đó bầu không khí thân thiện, chia sẻ
và hòa thuận giữa vợ chồng, bố mẹ và con cái, giữa anh chị em để yên tâm làm việc và tạo dựng cuộc sống tốt đẹp hơn
Thực hiện tốt chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm- sinh lý, gia đình càng thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong nhịp sống xã hội sôi động hiện nay Tuy nhiên, trong quá trình CNH, HĐH chức năng này của gia đình cũng
đã được chú ý hơn và có sự biến đổi Biểu hiện rõ nhất là hiện nay quan hệ bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng, thông cảm, chia sẻ lẫn nhau trong sinh hoạt hàng ngày của các thành viên trong gia đình đang trở nên phổ biến Đa số các công việc đối nội, đối ngoại của gia đình đã được mọi thành viên trao đổi bàn bạc một cách dân chủ trước khi đưa ra quyết định Tính áp đặt gia trưởng, bất bình đẳng trong gia đình truyền thống đã được hạn chế hơn trước rất nhiều Chức năng này thường được thực hiện một cách đầy đủ trong các gia đình mà thành viên của nó có trình độ nhận thức, học vấn nhất định vì họ dễ chấp nhận, tôn trọng và dung hoà sự khác biệt về quan điểm, nhận thức, về lối sống, nếp sống và sự khác biệt của cá nhân với cái chung của cả gia đình
Trong xã hội hiện đại, độ bền vững, hạnh phúc của gia đình không chỉ phụ thuộc vào sự ràng buộc của các mối quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các thành viên, sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích gia đình, mà còn bị chi phối bởi chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm- sinh lý, nhất là giữa vợ với chồng, giữa các thế hệ khác với nhau Thực hiện tốt chức năng này tạo sự cân bằng tâm lý, điều chỉnh, giải tỏa những ức chế, áp lực của đời sống xã hội hiện đại, là cơ sở cho sự hòa hợp về tình cảm, bảo đảm hạnh phúc, sự dân chủ, bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình
Quá trình đổi mới đất nước đã và đang tác động một cách toàn diện, vừa tạo ra những điều kiện đồng thời cũng đưa đến không ít thách thức cho sự
Trang 25phát triển bền vững của các gia đình Nhưng các gia đình Việt Nam vẫn đang chứng tỏ là một thiết chế xã hội bền vững, đảm nhận tốt các chức năng của mình, có sự vận động linh hoạt và khả năng thích ứng với những điều kiện mới để phát triển, đồng thời đóng góp cho sự phát triển mới của đất nước Do
đó, khi xây dựng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước ta phải có chính sách cụ thể tạo điều kiện để các gia đình phát huy hơn nữa vai trò của mình xây dựng cuộc sống ngày càng tiến bộ, văn minh hơn
1.2 Quan niệm về tệ nạn xã hội và tác hại của tệ nạn xã hội
Cùng với qúa trình đổi mới đã đem lại những thay đổi lớn lao cho nước
ta, thì trong xã hội cũng nảy sinh những hiện tượng xấu, tác động tiêu cực đến
xã hội và gia đình Đó là tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng, trở thành vấn đề bức xúc của đời sống và đặt ra yêu cầu phải giải quyết để có thể phát triển lành mạnh Những tệ nạn này làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp của
xã hội nói chung và là một trong những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến các chức năng của gia đình, hạn chế sự phát triển của gia đình và
Trang 26xã hội, tệ nạn xã hội làm mục ruỗng, tiêu hao sinh lực, thậm chí có thể đưa cơ thể đó đến chỗ diệt vong
Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về tệ nạn xã hội Dưới góc
độ chính trị- xã hội, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin cũng có những tác phẩm phân tích về tệ nạn xã hội và hướng giải quyết những tệ nạn này, các ông đã phân tích căn nguyên nảy sinh và tồn tại của tệ nạn xã hội và cho rằng các yếu tố như: thất nghiệp, bất bình đẳng về xã hội và chủng tộc, sự không đảm bảo vật chất vốn gắn liền với chế độ áp bức bóc lột chính là nguồn gốc phát sinh của tệ nạn xã hội Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động
ở Anh”, Ph.Ăngghen đã phân tích rõ sự nghèo đói, sự vô trách nhiệm của Nhà nước tư sản đã đẩy những người “đàn ông thì đầu trộm đuôi cướp, đàn bà thì
ăn cắp, mại dâm” trong khi đó Nhà nước ném những con người khốn khổ bần cùng đó vào các nhà tù của mình hoặc “đày họ đến những trại giam phạm nhân” và “ biến những con người bị tước hết bánh mỳ thành những con người
bị tước mất cả đạo đức nữa” [2; tr.665]
Dưới góc độ xã hội học, “ Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm tất cả những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, có tính phổ biến (chuẩn mực
về truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội, có lối sống trái với thuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội cho đến các vi phạm quy tắc đã được thể chế hóa bằng pháp luật).Gây ảnh hưởng xấu đến đạo đức, truyền thống văn hóa, gây ra những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội”
Ở góc độ Luật học thì “ tệ nạn xã hội là những hiện tượng xã hội tiêu cực bao gồm hành vi vi phạm pháp luật và sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến, lây lan nhanh…”
Quan niệm của các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội, Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội trong báo cáo “ Tệ nạn
xã hội và cách tiếp cận trong việc đề ra và thực hiện các chính sách xã hội”, thì: tệ nạn xã hội bao gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật kể cả pháp
Trang 27luật hình sự, những hiện tượng xã hội tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc gây ảnh hưởng xấu cho xã hội
Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng trong báo cáo khoa học “Đổi mới các chính sách xã hội trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường”, tệ nạn xã hội là những hiện tượng xã hội rất tiêu cực, đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế- văn hóa- xã hội và gây ra tâm trạng xã hội rất nặng nề thậm chí gây bất ổn về an ninh chính trị, an toàn xã hội…
Có nhiều quan điểm khác nhau về tệ nạn xã hội, nhưng về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội, có nguồn gốc xã hội và mang tính chất xã hội, do đó tệ nạn xã hội có tính
lịch sử cụ thể Trên cơ sở đó, có thể hiểu: Tệ nạn xã hội là những hành vi
không phù hợp với chuẩn mực và giá trị xã hội có tính phổ biến, lây lan nhanh, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt của đời sống xã hội
từ kinh tế, văn hóa đến chính trị,trật tự an toàn xã hội,an ninh quốc gia
Tệ nạn xã hội được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và có những dấu hiệu đặc trưng Đây là cơ sở khoa học để phân biệt một hành vi cụ thể nào đó là biểu hiện của tệ nạn xã hội cũng như một hiện tượng nào đó được coi là tệ nạn xã hội; là căn cứ để phân biệt tệ nạn xã hội với các hiện tượng khác trong xã hội Tệ nạn xã hội có các dấu hiệu đặc trưng sau: là những hành vi trái với chuẩn mực xã hội; có tính chất xã hội ở mức phổ biến, lây lan; xảy ra trong một phạm vi rộng; gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội Hình thức biểu hiện của tệ nạn xã hội có thể là: tệ nạn ở “ngoài xã hội” như: mại dâm, ma túy, cờ bạc, trộm cắp… hoặc trong các thiết chế bộ máy nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, như: tham ô, hối lộ, lạm dụng chức vụ…
Có thể nói, tệ nạn xã hội đang gây ra những bất ổn trong đời sống và cản trở quá trình phát triển của xã hội Do đó, để giảm những tác động xấu của tệ nạn xã hội đối với xã hội, cần thiết phải có quyết tâm phòng, chống tệ
Trang 28nạn này của cả cộng đồng Đến nay, nói chung đã hiểu tương đối thống nhất
rằng: Phòng, chống tệ nạn xã hội là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh nhằm
đối phó với những tác động xấu do tệ nạn xã hội gây ra và hạn chế các nguyên nhân, điều kiện khiến tệ nạn xã hội gia tăng
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả không đi sâu tìm hiểu tất cả các hình thức của tệ nạn xã hội mà chỉ tập trung vào tìm hiểu về tệ nạn: mại dâm, ma túy
*Tệ nạn mại dâm
Có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về hiện tượng mại dâm và đưa ra các cách hiểu khác nhau về hiện tượng này Trong Điều 3 khoản 3 Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 17 tháng 3 năm 2003, mại dâm được hiểu “là hành vi mua dâm, bán dâm” Theo nghĩa rộng, nó còn bao gồm hàng loạt các hành vi bị cấm đã được quy định ở Điều 4 Pháp lệnh phòng, chốngg mại dâm đó là: Chứa mại dâm; tổ chức hoạt động mại dâm; cưỡng bức bán dâm; môi giới mại dâm; bảo kê mại dâm; lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm; các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của pháp luật
Trong từ điển Tiếng Việt năm 1977 của nhà xuất bản Khoa học xã hội, mại dâm được định nghĩa: “Mại dâm là nói những người con gái trong xã hội
cũ phải bán mình cho khách làng chơi” Trong Luật Phòng chống mại dâm của Thái Lan (năm 1996) thì định nghĩa: “Mại dâm là chấp nhận giao cấu, chấp nhận hoặc thực hiện bất kỳ một hành vi nào khác để thỏa mãn dục vọng của người khác một cách bừa bãi nhằm thu tiền hoặc các lợi ích khác để thỏa mãn dục vọng của các người khác, bất kể người chấp nhận hoặc thực hiện hành vi
đó thuộc giới tính nào” Trong Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức bóc lột tình dục thông qua tháng 12- 1992 tại Bangkok (Thái Lan), mại dâm lại được định nghĩa: “Mại dâm là việc coi thân thể như một đồ vật có thể mua bán,
đổi chác với mục đích không phải luôn luôn vì tiền” Vậy có thể hiểu: Mại dâm
Trang 29là những hành vi nhằm thực hiện các “dịch vụ” tình dục có tính chất mua bán, đổi chác trên cơ sở một giá trị vật chất hay quyền lợi nhất định
Việc đánh giá hiện tượng mại dâm có sự khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm về tôn giáo, đạo đức, phong tục tập quán và điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử Có những nước cấm nhưng cũng có những nước hợp pháp hóa hoặc đặt ra các biện pháp hành chính để quản lý Ở nước
ta, mại dâm được coi một dạng của tệ nạn xã hội, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh về tệ nạn mại dâm Căn cứ trên những
nhận thức về mại dâm nói chung có thể coi: Tệ nạn mại dâm là hành vi sai
lệch chuẩn mực xã hội về tình dục, không những vi phạm pháp luật mà còn vi phạm giá trị đạo đức, vi phạm thuần phong mỹ tục…bị xã hội lên án
*Tệ nạn ma túy
Ma túy là chất được biết đến từ rất lâu Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người dần hiểu được các tác dụng của ma túy và tùy mục đích sử dụng mà ma túy là chất có ích hoặc là chất độc đối với con người Ngày nay, bên cạnh những lợi ích nhất định của ma túy trong lĩnh vực y học, thì việc lạm dụng ma túy gây nghiện đang ở tầm khó kiểm soát và trở thành hiểm họa của toàn nhân loại, là nỗi lo của cộng đồng quốc tế và trở thành tệ nạn xã hội nghiêm trọng, gây hậu quả nặng nề cho xã hội
Ma túy được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng đều thể hiện tính chất hóa học và sự tác động của nó đối với con người Ma túy theo gốc của từ Hán -Việt có nghĩa là mê mẩn Ở nước ta, thuật ngữ ma túy ban đầu được hiểu là thuốc phiện, sau đó còn là cây cần sa, cây cô ca và trong tiềm thức người Việt Nam Ma túy đồng nghĩa với sự xấu xa, tội lỗi Các chuyên gia nghiên cứu về ma túy của Liên hợp quốc cho rằng: Ma túy là các chất hóa học
có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người, sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ, làm con người
bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho cá nhân và cộng đồng
Trang 30Dưới góc độ xã hội, tệ nạn ma túy là hành vi sai lệch, chuẩn mực xã hội, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, là bạn đồng hành của các tệ nạn xã hội khác, là một trong những nguyên nhân dễ dẫn dắt các con nghiện đến các hành vi phạm pháp để thỏa mãn cơn nghiện của mình, chà đạp lên những chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Theo quy định tại Điều 2 khoản 8 của Luật phòng, chống ma túy năm
2000: “Tệ nạn ma túy được hiểu là tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma
túy và các hành vi trái phép khác về ma túy”
Từ đó có thể hiểu: Tệ nạn ma túy là hành vi sai, lệch chuẩn xã hội
nghiêm trọng, là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những vi phạm pháp luật hình sự, mà còn vi phạm giá trị về đạo đức về phong tục tập quán của xã hội
Các tệ nạn xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, các nguyên nhân phát sinh tệ nạn xã hội đều từ những lợi ích nào đó và sự sai lệch về lối sống của con người Nhận thức được vấn đề này, chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân dẫn tới tệ nạn mại dâm, ma túy, từ đó đưa ra được giải pháp phù hợp, xóa bỏ nguồn gốc sinh ra và góp phần làm giảm những tệ nạn này cho toàn xã hội
1.2.2 Tác hại của tệ nạn xã hội
Hiện nay, tệ nạn mại dâm đã trở thành vấn đề nhức nhối đòi hỏi sự quan tâm, giải quyết của toàn xã hội Tính chất nguy hiểm của tệ nạn mại dâm không dừng lại ở số liệu thống kê số người đang hành nghề, mà cần đánh giá trong mối quan hệ với các hiện tượng khác Đó là những người mua dâm, là
số chủ chứa, môi giới, bảo kê, nhân viên tiếp tay ở khách sạn…Nếu tính số
“ăn theo” dịch vụ tình dục này ( với hệ số là 3/ 1) thì có hàng triệu người tham gia vào hoạt động mại dâm, trong đó số bóc lột người mại dâm lớn hơn nhiều số lần mại dâm Hậu quả là nó phá vỡ sự ổn định, hạnh phúc gia đình,
Trang 31phá hoại thuần phong mỹ tục của xã hội, một trong những căn nguyên làm lây truyền bệnh HIV- AIDS đe dọa sự tồn vong của cả dân tộc
Hiện nay, khó có thể nói chính xác số lượng các tụ điểm kinh doanh tình dục và số người hành nghề mại dâm là bao nhiêu Theo hai tác giả, tiến sĩ
Nguyễn Hoàng Giáp và Nguyễn Ngọc Thái với bài viết “Phụ nữ với công tác
phòng, chống tệ nạn xã hội ở cơ sở: thực trạng và giải pháp”, [Tạp chí Lý
luận chính trị số 11- 2003], nước ta hiện có khoảng 200.000 gái mại dâm Trong đó số có hồ sơ kiểm soát là 61.000 Tuy nhiên, các số liệu thống kê chính thức chưa phản ánh hết thực trạng, vì mại dâm bị che dấu dưới nhiều hình thức, thủ đoạn, bởi nhiều người có lợi ích liên quan Sự gia tăng của tệ nạn mại dâm đã tạo nên nhiều bức xúc trong xã hội, từ năm 1992 đã tăng khoảng 10 lần và đến nay khoảng 200.000 So với trước đây, phạm vi hoạt động mại dâm lan rộng từ thành phố, thị xã, khu công nghiệp, du lịch đến các vùng nông thôn, miền núi, biên giới Thủ đoạn tổ chức và hành nghề mại dâm tinh vi hơn Hệ thống kinh doanh mại dâm ở Việt Nam đã có tổ chức thành đường dây buôn bán phụ nữ và trẻ em gái từ nông thôn ra thành phố, từ Việt Nam đi các nước châu Á khác như Thái Lan, Trung Quốc, Sigapo…dưới các hình thức như dịch vụ việc làm, kết hôn với người nước ngoài… và nghiêm trọng hơn là xu hướng trẻ hóa tuổi đời trong nghề mại dâm, nạn nhân không chỉ là em gái 12- 13 tuổi mà cả các em trai Theo Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống tội phạm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, trong năm 2005, có khoảng 6000 phụ nữ và trẻ em bị đưa ra nước ngoài hành nghề mại dâm; Bộ công an và cơ quan đại diện phòng chống ma túy của Liên hiệp quốc tế tại Việt Nam cho biết từ năm 1998 đến nay cả nước đã phát hiện 4527 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trong đó có khoảng 3862 bị bán ra nước ngoài và 665 người bị buôn bán trong nước
Từ nhiều thập kỷ qua, ma túy là nỗi ám ảnh, là hiểm họa của toàn cầu và cho đến nay phần lớn các quốc gia, dân tộc trên thế giới đều chịu ảnh hưởng
Trang 32của tội phạm về tệ nạn ma túy Hiện nay, số người nghiện ma túy trên thế giới lên đến hàng trăm triệu người, hậu quả do tệ nạn ma túy gây ra ngày càng lớn Theo Chương trình kiểm soát ma túy của Liên hợp quốc( UNDCP) thì tình trạng sử dụng bất hợp pháp các chất ma túy có thể hủy hoại và tiêu vong
cả một quốc gia dân tộc Tại diễn đàn Liên hợp quốc, nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc, ông B.Ghali đã đánh giá: trong những năm gần đây, tình trạng nghiện hút ma túy đã trở thành hiểm họa lớn của toàn nhân loại Không một quốc gia, dân tộc nào thoát khỏi vòng xoáy khủng khiếp của nó,
ma túy đang làm gia tăng bạo lực, tham nhũng, làm cạn kiệt nhân lực, tài lực, hủy diệt những tiềm năng quý báu khác mà lẽ ra phải được huy động cho việc phát triển kinh tế, xã hội và đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người Ma túy đang làm suy thoái nhân cách, phẩm giá, gây xói mòn đạo lí… Nghiêm trọng hơn, ma túy còn là tác nhân chủ yếu thúc đẩy căn bệnh thế kỷ HIV/ AIDS phát triển
Nước ta nằm trong khu vực Đông Nam Á, có vị trí địa lý gần khu vực
“Tam giác vàng”, có đường biên giới trên biển và trên bộ dài khó kiểm soát Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung chỉ đạo huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân đấu tranh phòng, chống, nhưng tình hình tệ nạn ma túy ở Việt Nam diễn biến phức tạp Nếu như năm
1990 cả nước có 300 phạm nhân phạm tội về ma túy trong tổng số 67.000 phạm nhân trên cả nước, thì năm 2004 tỷ lệ này là 36.000/ 90.000 Bình quân hàng năm tội phạm ma túy tăng từ 20- 30% Hiện tượng lạm dụng ma túy tăng cao, cả nước có hơn 170.000 người nghiện ma túy có hồ sơ kiểm soát chặt chẽ, đấu tranh không tích cực thì vào năm 2010 thì nước ta sẽ có hàng triệu người nghiện ma túy Theo Thiếu tướng Vũ Hùng Vương- Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C17), Bộ Công an( trong cuộc trả
lời phỏng vấn dành cho báo Tiền phong online ngày 18/7/ 2007): Thực tế số
Trang 33người nghiện ma túy ở Việt Nam vào khoảng 250.000 người Điều này cho thấy Việt Nam là một thị trường tiêu thụ ma túy khá lớn
Trước đây, tệ nạn xã hội nói chung, tệ nạn mại dâm, ma túy nói riêng, phát triển với quy mô nhỏ, mức độ ít nghiêm trọng Hiện nay, tệ nạn xã hội phát triển có tính phổ biến, mang tính chất tội phạm có tổ chức cao, hình thành nên những đường băng, nhóm, đường dây, động… với xu hướng ngày càng tinh vi, đa dạng ở quy mô liên tỉnh, xuyên quốc gia, quốc tế gây ảnh hưởng nguy hiểm cho toàn xã hội, đe dọa an ninh quốc gia Theo thống kê của Bộ Công an, tệ nạn mại dâm, ma túy và cờ bạc chiếm tỷ lệ 0, 31% tức là
cứ 1000 thì có khoảng 3 đối tượng tệ nạn xã hội thuộc hai loại trên Có 50% gái mại dâm, 70% người nghiện ma túy liên quan đến tội phạm hình sự, tội phạm có tổ chức khác Sự phát triển của tệ nạn mại dâm, ma túy, cờ bạc còn
là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy sự phát sinh các tội phạm nghiêm trọng khác như buôn bán phụ nữ trẻ em gái, tham nhũng…
Tệ nạn mại dâm đã để lại những hậu quả nặng nề cho gia đình, xã hội Những phụ nữ bán dâm không chỉ bán thân xác mà còn bán cả nhân phẩm của mình, họ vừa là thành viên, vừa là nạn nhân của lối sống sa đọa Khi rơi vào hoàn cảnh đó, họ thường có cái nhìn lệch lạc về cuộc đời, coi đồng tiền là tối thượng, từ đó đánh mất niềm tin vào bản thân và những điều tốt đẹp trong xã hội Hậu quả của sự khủng hoảng về niềm tin, sự lệch lạc trong suy nghĩ là họ không thể có một gia đình hạnh phúc theo đúng nghĩa của nó Đằng sau họ là
sự đổ vỡ của những gia đình, của sự ly thân- ly hôn, những mối quan hệ vợ chồng gượng ép, không có tình yêu và người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất chính là những đứa trẻ trong các gia đình đó Hiện tượng mại dâm cũng
đã lôi kéo biết bao người chồng, người cha thành những kẻ ích kỷ, ăn chơi sa đọa, vứt bỏ hạnh phúc gia đình Những số liệu điều tra về người mua dâm của các nhà nghiên cứu xã hội đã phản ánh một thực trạng đáng buồn đó là: người mua dâm thuộc mọi thành phần trong xã hội, tập trung chủ yếu ở những người
Trang 34có nhiều tiền Người mua dâm trên 60 tuổi chiếm 12,9%, dưới 20 tuổi là 17,4%, những kẻ có tiền là 33,3%, cán bộ nhà nước là 41,7% Đau lòng hơn khi rất nhiều trường hợp những người thân trong gia đình đã gặp mặt nhau trong các ổ chứa:2 cha con cùng một cô gái, anh rể gặp em vợ, ….Các hiện tượng đó làm băng hoại đạo đức, gây ra những bất ổn trong gia đình và xã hội Chúng ta không thể tính hết số tiền tiêu phí của khách hàng chơi trong “ dịch vụ mại dâm” và các “ công đoạn” trước đó như ăn nhậu, karaoke, massage…
Những gia đình có người thân mắc tệ nạn ma túy đều khẳng định, ma túy đã thực sự hủy hoại cuộc sống của gia đình, dù họ là những người nghiện hay phạm tội buôn bán ma túy Thực tiễn xã hội cho thấy, nhiều gia đình đã tan hoang vì ma túy, nhiều trẻ em bị “mồ côi” trong chính ngôi nhà của mình
vì cha mẹ, thậm chí cả cô dì, chú bác đều đang phải trả giá cho những lầm lỗi mình gây ra Tệ nạn ma túy đã trở thành những mối hiểm họa thường xuyên
đe dọa cuộc sống bình yên của nhiều gia đình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của nhân dân, đến sự phát triển của giống nòi, làm nghèo đất nước (hàng năm số tiền mà người nghiện ma túy chi tiêu phí khoảng 3000 tỷ đồng) phá hủy nền tảng đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Những người nghiện ma túy không chỉ làm cho những người thân của họ phải chịu cả áp lực về tinh thần và sức khỏe, phá vỡ các mối quan hệ với thành viên trong gia đình và đe dọa tương lai của họ
Nguy hiểm hơn, ở nhiều nước, ma túy gắn liền với mafia, tội phạm có tổ chức và làm đổ vỡ chính phủ, đảng cầm quyền, chế độ, do đó nếu không có giải pháp hiệu quả để ngăn chặn tệ nạn ma túy thì đây cũng là một trong các nguyên nhân đe dọa đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay Tệ nạn xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên sự mất ổn định trật tự an toàn trong xã hội ta Các đối tượng của tệ nạn xã hội , đặc biệt là những đối tượng hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc đã hình
Trang 35thành nhiều băng nhóm hoạt động bất chấp luật pháp, thậm chí dùng cả bạo lực chống lại các lực lượng làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự xã hội Chúng khống chế và uy hiếp các nhân tố tích cực, kể cả chính quyền cơ sở, làm cho nhân dân sống trong nơm nớp sợ hãi… Theo điều tra của Trung tâm giáo dục- dạy nghề Bình Triệu (thành phố Hồ Chí Minh) thì số người nghiện
ma túy trở thành tội phạm ăn cắp là 100%, cướp giật 50%, giết người 2%, làm điếm 80% (số nữ) Ở Trung tâm cai nghiện Hải Phòng cũng có tới 75- 80% con nghiện có tiền án,tiền sự… vì họ sẵn sàng làm thuê chém mướn, sẵn sàng phạm tội để có tiền mua thuốc phiện [Chương trình quốc gia 06/ CP: Bản tin phòng chống và kiểm soát ma túy Số 2-3/ 95 tr.3]
Có thể nói, tệ nạn mại dâm, ma túy, đang là thách thức lớn cho sự bền vững của gia đình Việt Nam, cho trật tự an toàn xã hội Đe dọa tới an ninh quốc gia, ảnh hưởng xấu đến bản chất, mục tiêu chính trị của chế độ, tới việc tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế xã hội Đối với nước ta, trong thời kỳ hiện nay, việc giải quyết các tệ nạn xã hội đã trở thành một trong những vấn đề nóng bỏng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội Đây là một việc làm rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nó đòi hỏi một sự nỗ lực, cố gắng của mọi thành viên trong xã hội Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng đều phải tự phòng vệ cho mình chống lại sự tấn công của các loại tệ nạn
xã hội Có như vậy, công cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội mới thu được kết quả tốt đẹp
Trang 36thúc đẩy nền kinh tế- xã hội nước ta phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao rõ rệt, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Bên cạnh những thành quả đã đạt được, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã tác động bằng nhiều cách đến đời sống xã hội, gây nguy hại không nhỏ đến nếp sống, thuần phong mỹ tục, làm băng hoại đạo đức, phẩm giá của con người Nhiều vấn đề tệ nạn xã hội đang là vấn đề nóng bỏng, nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống và an toàn của xã hội, vi phạm pháp luật, đạo đức, phong tục, tập quán tốt đẹp, phá vỡ hạnh phúc nhiều gia đình, đe dọa tương lai nòi giống của dân tộc
Đảng và Nhà nước ta đã và đang có nhiều chủ trương, chính sách khác nhau để đấu tranh kiên quyết nhằm ngăn chặn từng bước, tiến tới loại trừ các
tệ nạn xã hội và tội phạm ra khỏi đời sống xã hội Trong số các chủ trương, chính sách đó, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, nhưng đến nay, chưa được sử dụng hữu hiệu, bản thân nó lại chưa được đổi mới hoàn thiện phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu lực và hiệu quả trong cuộc đấu tranh này
Đảng ta dự báo được tình trạng và nguy cơ phát sinh, phát triển của các tệ nạn xã hội, trước hết là tệ nạn mại dâm, ma túy trong điều kiện kinh tế thị trường, nhiều văn kiện của Đảng đã sớm chỉ ra: Muốn phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, đẩy lùi tiêu cực bất công và các tệ nạn
xã hội Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có nhiều chỉ thị chuyên
về phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm và liên quan như: Chỉ thị số 33/
CT-TW ngày 01/4/1994 về lãnh đạo phòng, chống các tệ nạn xã hội Chỉ thị số 52- CT/TW ngày 11/3/1995 về lãnh đạo công tác phòng, chống AIDS Chỉ thị
số 64- CT/TW ngày 25/12/1995 về tăng cường lãnh đạo, quản lý, lập lại trật
tự, kỷ cương trong các hoạt động văn hóa và dịch vụ, đẩy mạnh bài trừ một số
tệ nạn xã hội nghiêm trọng, Chỉ thị số 06/ CT- TW ngày 30/11/1996 về tăng
Trang 37cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống ma túy Các vă bản đều nhấn mạnh đến vai trò của các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến cơ sở trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo phòng, chống các tệ nạn xã hội, trước hết là tệ nạn mại dâm,
ma túy và đề ra nhiệm vụ quan trọng, cấp bách thực hiện nhiều giải pháp đồng
bộ, để phòng ngừa và khắc phục hậu quả tệ nạn xã hội, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tệ nạn xã hội, xử lý nghiêm khắc cán bộ, Đảng viên vi phạm
Đứng trước thực trạng tình hình tệ nạn xã hội ở nước ta trong thời gian gần đây, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều biện pháp để đẩy mạnh hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội Chính phủ đã ban hành nghị quyết về phòng, chống tệ nạn xã hội, với những mục tiêu và nội dung cụ thể: “Đặt nhiệm vụ phòng, chống tội phạm thành chương trình quốc gia có mục tiêu và nội dung các đề án cụ thể nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, từng bước làm giảm tệ nạn xã hội Xây dựng môi trường sống lành mạnh trong xã hội, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật
và hiệu lực quản lý nhà nước Trước mắt, phải chặn đứng được một số loại tội phạm nguy hiểm, đẩy lùi một bước các loại tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, mại dâm, tạo sự chuyển biến rõ rệt về trật tự an toàn xã hội ở các thành phố lớn và khu kinh tế trọng điểm…”
Phương châm cơ bản trong phòng, chống tội phạm hiện nay là: “Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, công an tham mưu, nòng cốt, các ngành và toàn dân tham gia thực hiện chủ động phòng ngừa, tích cực tấn công, trấn áp tội phạm” Đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm tệ nạn xã hội, là nhiệm vụ quan trọng, là một bộ phận không thể thiếu trong cuộc đấu tranh giai cấp, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và của công dân và đến sự phát triển đi lên của toàn xã hội Do
đó, công tác phòng, chống tệ nạn xã hội nhất thiết phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, và quản lý của Nhà nước
Trang 38Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng, chống tệ nạn xã hội, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã quan tâm, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội Nghị quyết số 08/ NQ-TW ngày 2-1-2002 của Bộ chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác tư pháp thời gian tới” đã khẳng định: “Đảng lãnh đạo các cơ quan tư pháp chặt chẽ về chính trị, tổ chức và cán bộ, đảm bảo hoạt động tư pháp thực hiện đúng quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước Tiếp tục hoàn thiện nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác tư pháp, khắc phục tình trạng cấp ủy buông lỏng lãnh đạo hoặc cấp ủy viên can thiệp không đúng vào hoạt động tư pháp”
Đảng và Nhà nước ta xác định: đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội là
sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Xuất phát từ quan điểm “ cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, cho nên đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội cũng phải là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Mặt khác, do tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội tiêu cực, cho nên để đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội hiệu quả, nhất thiết phải huy động sức mạnh của toàn thể nhân dân, của mọi lực lượng xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng thì mới đảm bảo cuộc đấu tranh
đó đi đúng hướng, thu được kết quả cao Năm 1951, khi về thăm Trường Công an Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Công an có bao nhiêu người? Dù có vài ba nghìn hay năm bảy vạn đi nữa thì lực lượng ấy vẫn còn ít lắm bên cạnh lực lượng nhân dân Năm vạn người thì chỉ có năm vạn cặp mắt, năm vạn đôi bàn tay Phải làm sao có hàng chục triệu đôi bàn tay, hàng chục triệu cặp mắt và đôi bàn tay mới được Muốn được như vậy, phải dựa vào dân, không được xa rời dân Nếu không thì sẽ thất bại Khi nhân dân giúp đỡ
ta nhiều thì ta thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì ta thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì ta thành công hoàn toàn”
Trang 39Trên quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hiến pháp nước ta đã quy định cụ thể: “Công dân thực hiện quyền làm chủ của mình ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội, có trách nhiệm bảo vệ của công, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, tổ chức đời sống công cộng” Điều đó không chỉ
là trách nhiệm, nghĩa vụ, mà còn là quyền lơi của mỗi cá nhân, cơ quan, đơn
vị, tổ chức chính trị xã hội…Điều 4- Bộ Luật hình sự năm 1999 quy định:
“Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Trong đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo Điều 4- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định:
“Đảng Cộng sản Việt Nam- Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời
là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình Các tổ chức của Đảng
và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật” Vai trò lãnh đạo đó được thể hiện trong việc đề ra các chủ trương, đường lối, chính sách, sách lược phòng, chống tệ nạn xã hội, trong công tác tổ chức, xây dựng lực lượng, giới thiệu người của Đảng tham gia lãnh đạo, chỉ đạo trong các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về phòng, chống tệ nạn xã hội …
Các tổ chức Đảng, chính quyền tiếp tục phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tệ nạn xã hội Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp ngăn ngừa tội phạm trong gia đình, nhà trường và xã hội Củng cố các tổ dân phố, lực lượng bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách, các tổ chức đoàn thể quần chúng ở cơ
Trang 40sở phường, xã tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc” Tập trung xã hội hóa công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, xác định rõ đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội là nghĩa vụ của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và của mọi công dân
Những năm qua, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy về phòng, chống tệ nạn xã hội, chỉ đạo liên ngành với những biện pháp mạnh mẽ trong thực hiện nhằm mục tiêu “ngăn chặn và bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm, ma túy và HIV/AIDS; xây dựng lối sống văn minh, lành mạnh”
1.3.2 Nhận thức và hành động của xã hội, gia đình, các đối tượng
tệ nạn xã hội về phòng, chống tệ nạn xã hội
1.3.2.1 Nhận thức và hành động của xã hội về phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đưa ra chủ trương, chính sách và một số biện pháp cụ thể nhằm tăng cường công tác an ninh, trật tự an toàn xã hội Các địa phương, các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân cũng đã tham gia tích cực hưởng ứng phong trào phòng, chống tệ nạn xã hội
Trong hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội, ngoài các biện pháp tích cực của Chính phủ và các ngành chức năng, cộng đồng, xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, thuyết phục nhân dân giữ gìn an ninh, trật tự
an toàn xã hội, ngăn chặn và đẩy lùi các tệ nạn xã hội Huy động cộng đồng tham gia phòng, chống tệ nạn xã hội là một trong những hình thức hoạt động
có hiệu quả, không chỉ trước mắt, mà còn có tính lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật
tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành