1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện hoài đức, thành phố hà nội hiện nay

95 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 756,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ Tư Pháp 2017, Phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay- thực trạng và một số kiến nghị, Bộ Tư Pháp, Hà Nội Trần Minh Tơn 2014, Quan điểm và giải pháp chiến lược phòng, chống tội phạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN VĂN HẢI

QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI

Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN VĂN HẢI

QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI

Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành : Quản lý xã hội

Mã số : 8 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Vũ Tiến

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC CHỈNH SỬA THEO

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Chủ tịch hội đồng

PGS, TS Trần Quang Hiển

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Hà Nội, ngày 09 tháng 01 năm 2018

Tác giả

Trần Văn Hải

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI 8

1.1 Khái niệm đặc điểm tệ nạn xã hội 8

1.2 Chủ thể, nội dung quản lý xã hội về tệ nạn xã hội 15

1.3 Vai trò quản lý của nhà nước và các tổ chức xã hội về tệ nạn xã hội 26

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 33

2.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến tình hình tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay 33

2.2 Kết quả, hạn chế trong quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân 49

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 90

3.1 Dự báo và phương hướng tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội thời gian tới 90

3.2 Giải pháp tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố thời gian tới 100

KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác phòng, chống tệ nạn xã hội nhưng tệ nạn này vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp Hoạt động mại dâm, ma túy kín đáo, tinh vi, tố chức nhỏ nhưng ở diện rộng lan tất cả các địa phương trong cả nước Hoạt động của tội phạm về tệ nạn xã hội không chỉ xảy ra ở khu vực thành thị và các khu du lịch nghỉ mát mà còn xảy ra ở vùng nông thôn và miền núi Xuất hiện một số đối tượng là người nước ngoài lợi dụng những kẽ hở về mặt quản lý nhà nước đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ, hùn vốn thành lập các công ty, nhà hàng, khách sạn, karaoke, vũ trường phục vụ cho người nước ngoài ở các khu chế xuất, khu công nghiệp nhưng thực chất là tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy

Tác hại của mại dâm, ma túy cũng như tất cả các loại tệ nạn xã hội khác chúng cũng mang lại bệnh tật và hậu quả cho cơ thể, và vấn nạn cho xã hội

Đưa đến các tác hại như: Tác hại về sức khỏe làm lây nhiễm qua đường tình dục, HIV/AIDS; làm tổn thương tinh thần những người bị tổn thương tâm

thần nặng đến mức không thể xây dựng hay giữ gìn bất kỳ một liên hệ nào về

tình bạn lẫn tình cảm; tác hại về xã hội: nếu việc mua/bán dâm bị phát hiện sẽ

dẫn tới bất hòa, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển chung của toàn xã hội

Theo Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội năm 2016, số đối tượng bán dâm

Trang 8

2 hiện nay trên cả nước là 51.255 người, trong đó 16.801 người có hồ sơ quản lý, tăng 18% Đối tượng bán dâm là vị thành niên vẫn đang gia tăng Đáng lưu ý, người bán dâm nghiện ma tuý, nhiễm HIV tăng nhanh ở nhiều địa phương (tỉ lệ nhiễm HIV ở một số trung tâm chữa bệnh lên đến trên 50%) Theo báo cáo chưa đầy đủ của các lực lượng chức năng các cấp đã triệt phá 391 vụ (tăng hơn với cùng kỳ năm 2005 là 15%) với tổng số 1.530 đối tượng vi phạm đã được xử lý theo pháp luật Mặc dù, một số địa phương triệt phá được nhiều vụ, nhiều đường dây lớn với nhiều đối tượng tham gia như Hà Nội 21 vụ, thành phố Hồ Chí Minh

8 vụ, Quảng Ninh 11 vụ, Hòa Bình 9 vụ Nhưng cuộc chiến chống tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp đặc biệt là ở các thành phố lớn, các khu du lịch, nghỉ mát

và đang có xu hướng lây lan đến các vùng ven đô, các khu công nghiệp Tệ nạn mại dâm vẫn biến tướng vả trá hình trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, , với nhiều thủ đoạn ngày càng tinh vi để tạo ra “tình trạng ngoại phạm” trốn tránh hoặc cản trở thực thi pháp luật như thay tên đổi chủ cơ

sở, thuê bảo kê, nuôi chó dữ Hiện tượng gái bán dâm đứng đường chèo kéo khách, nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em làm mại dâm chưa giảm 6 tháng đầu năm, các địa phương trong cả nước đã tiến hành kiểm tra 7.603 lượt với tổng số 15.309 cơ sở kinh doanh dịch vụ, phát hiện 4.378 cơ sở vi phạm (chiếm 28,6% tổng số cơ sở được kiểm tra Công tác quản lý nhà nước về tệ nạn này còn bị buông lỏng, quản lý địa bàn, nhân khẩu, lao động chưa thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc quản lý các loại hình kinh doanh dịch vụ còn thiếu đồng

bộ, chồng chéo giữa các ngành quản lý,

Chính vì vậy, tác giả chọn “Quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài luận văn để nghiên cứu

phân tích đưa ra những giải pháp đối với công tác phòng, chống tệ nạn xã hội hiện nay trên địa bàn huyện Hoài Đức nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học,

Trang 9

3 các nhà chuyên môn về những hiểu biết cơ bản về tệ nạn xã hội, đưa ra những lý giải về nguyên nhân, cơ chế gia tăng, cũng như hậu quả của tệ nạn xã hội đối với con người và xã hội Đồng thời, đã tham mưu cho Đảng và Nhà nước, xây dựng chính sách, pháp luật và đề xuất các giải pháp nhằm đấy lùi tệ nạn xã hội Tuy nhiên những nghiên cứu đó ở nhiều góc độ và giới hạn khác nhau, nên chưa đồng bộ và trên thực tế tác dụng còn hết sức khiêm tốn, chẳng hạn như:

Trần Đức Châm, (2007), Tác phẩm “ Phòng chống tệ nạn xã hội” của

Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản Tác giả đã nêu ra các loại tệ nạn xã hội nghiêm trong hiện nay và lí giải các nguyên nhân, chỉ ra hậu quả của tệ nạn xã hội Từ đó đề xuất một số những giải pháp và kiến nghị để phòng, chống tệ nạn xã hội ở nước ta

TS Đàm Hữu Đắc cùng với các tác giả Nguyễn Văn Minh, Trần Việt Trung, TS Lê Thị Hà Dưới góc độ xã hội học, trên phương diện quản lý nhà

nước về phòng, chống mại dâm và cai nghiện phục hồi ở đề tài “Vấn đề Phòng, chống tệ nạn xã hội trong thời kỳ đổi mới”, đã hệ thống những lý luận

cơ bản về tệ nạn mại dâm và ma tuý, phân tích, đánh giá thực trạng và tình hình phòng, chống tệ nạn mại dâm và nghiện ma tuý trong những năm đổi mới, dự báo tình hình như đề xuất những giải pháp ngăn ngừa, phòng, chống

tệ nạn xã hội đến 2020

PGS,TS Lê Ngọc Hùng, TS, Ngô Thị Ngọc Anh và các cộng sự (2006),

trong tài liệu “Phòng, chống sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội vào gia đình ”,

nhóm tác giả đã nêu một cách khái quát về khái niệm tệ nạn xã hội, các loại tệ nạn xã hội, ảnh hưởng của tệ nạn xã hội đối với gia đình và giải pháp phòng tránh các loại tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình trong thời kỳ hiện nay

Ngoài ra còn có một số tài liệu về phòng, chống buôn bán người của các

Tổ chức Quốc tế ILO, Terre Des Hommes, những nghiên cứu đó đều đi sâu phân tích các khái niệm về buôn bán người, nguyên nhân và thủ đoạn của tội phạm, những kinh nghiệm từ các nước trên thế giới về phòng, chống buôn

Trang 10

4 bán người, cũng như thực trạng tình hình của Việt Nam, từ đó đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống buôn bán người ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh đó còn có một số luận văn luận án nghiên cứu về tình hình tội phạm như:

“Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyến, mua hán trái phép chất ma tuý của lực lượng Cảnh sát nhân dân”(2000) Luận án Tiến sĩ luật học của Trần Văn Luyện, Học viện Cảnh sát nhân dân

Bùi Đức Trung (2015), Quản lý nhà nước về tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội hiện nay Luận văn thạc sĩ Chính trị học, Học viện

Báo chí và Tuyên truyền

Nguyễn Thị Ngọ (2015), Gia đình trong phòng chống tệ nạn xã hội ở quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội hiện nay Luận văn thạc sĩ Chính trị học,

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 286-287, 289

Bộ Tư Pháp (2017), Phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay- thực

trạng và một số kiến nghị, Bộ Tư Pháp, Hà Nội

Trần Minh Tơn (2014), Quan điểm và giải pháp chiến lược phòng, chống tội phạm thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Viện Chiến lược và Khoa học Công an (Bộ Công an)

Nguyễn Trần Thành (2017), Quan điểm của Đảng về phòng, chống tham nhũng trong Văn kiện Đại hội XII - Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Những tài liệu, công trình nghiên cứu trên đã trình bày khái quát được những vấn đề cơ bản về tệ nạn xã hội, phòng, chống tội phạm Đưa ra được những lý giải về nguyên nhân gia tăng tệ nạn xã hội, tội phạm, đề cập tới phương pháp tiếp cận của từng loại hình tệ nạn xã hội và tội phạm dưới góc

Trang 11

5

độ chuyên ngành mà chưa có một công trình nghiên cứu nào, bài viết nào trên phương diện quản lý xã hội, nghiên cứu tác động của tệ nạn xã hội tới sự ổn định xã hội trên phạm vi toàn quốc hay ở một địa phương cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Từ những vấn đề lý luận quản lý xã hội về tệ nạn xã hội, luận văn đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội thời gian tới

- Làm rõ cơ sở lý luận quản lý xã hội về tệ nạn xã hội;

- Đánh giá thực trạng quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay;

- Đưa ra dự báo, phân tích phương hướng và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội thời gian tới;

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay

- Phạm vi về không gian và thời gian: Đề tài nghiên cứu quản lý xã hội về

tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2013 đến nay

- Phạm vi về nội dung: Tệ nạn xã hội bao gồm nhiều loại tệ nạn, nhưng

đề tài tập trung nghiên cứu quản lý xã hội về tệ nạn ma túy, mại dâm

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin

Trang 12

6

và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về Quản lý nhà nước, quản lý xã hội, về an ninh trật tự

Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để phân tích một cách khái quát, những vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp đảm bảo thực hiện có hiện quả về tệ nạn xã hội trên địa bàn huyện Hoài Đức

- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn để nghiên cứu mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn về tệ nạn xã hội của huyện

- Phương pháp lịch sử, thống kê và so sánh để xem xét một cách cụ thể

về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, TP Hà Nội

6 Điểm mới về khoa học của đề tài

- Luận văn đã hệ thống một cách tương đối toàn diện, cơ sở khoa học của quản lý xã hội về tệ nạn xã hội Ngoài một số vấn đề lý luận đã được làm

rõ, luận văn đã bổ sung làm hoàn thiện thêm khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, nội dung quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

- Đề tài góp phần vào việc xây dựng các chủ trương, chiến lược phòng, chống tệ nạn xã hội, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức bộ máy; nguồn nhân lực làm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội; tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về tệ nạn xã hội; tuyên truyền giáo dục về tệ nạn

xã hội

- Luận văn phân tích các phương hướng quản lý xã hội về tệ nạn xã hội trong thời gian tới, đề ra các giải pháp tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội gồm: hoàn thiện thể chế quản lý xã hội về tệ nạn xã hội; phát huy vai trò trách nhiệm của hệ thống cơ quan thông tin, truyền thông và tổ chức chính trị

Trang 13

7

- xã hội đối với công tác tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Ở mức độ nhất định luận văn góp phần làm sáng tỏ hơn các khái niệm, đặc điểm của quản lý xã hội về tệ nạn xã hội và các yếu tố ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Luận văn cũng trình bày một cách khái quát, hệ thống quản lý nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội tham gia về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay

7.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện quản lý xã hội về tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đối với lĩnh vực quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm 03 chương, 07 tiết

Trang 14

8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI

1.1 Khái niệm đặc điểm tệ nạn xã hội

1.1.1 Khái niệm tệ nạn xã hội

Chủ nghĩa Mác - Lênin xem xét xã hội trong trạng thái vận động và phát triển không ngừng, C.Mác viết “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên” [6] Tương ứng với từng nấc thang nhất định của nó là những hình thái kinh tế - xã hội, phát triển từ thấp đến cao, mặc dù có những tính đặc thù của nó, nhưng chúng có cái chung là đều gắn liền với sự phát sinh và phát triển của các quan hệ xã hội, các quan hệ sản xuất V.I Lênin viết:

chỉ có đem quy định những quan hệ xã hội vào những quan hệ sản xuất, và đem những quan hệ sản xuất vào trình độ của lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không có một khoa học xã hội [48, tr.64]

Quan hệ xã hội và quan hệ sản xuất luôn tác động biện chứng với nhau, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Trong quá trình phát triển lịch sử tự nhiên

đó có những nhân tố tác động tích cực thúc đấy kinh tế - xã hội phát triển, nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực có tính kìm hãm sự phát triển, một trong những nhân tố đó là tệ nạn xã hội

Thực chất những hành vi tệ nạn xã hội của con người được nhận biết chủ yếu thông qua các quan hệ xã hội, những hành vi đó liên quan đến các giá trị chuẩn mực xã hội Vì vậy, tệ nạn xã hội phải được nghiên cứu xem xét một cách toàn diện theo quan điểm duy vật lịch sử và biện chứng trong trạng thái vận động và phát triển của xã hội

Trang 15

9 Khái niệm về tệ nạn xã hội cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất, nhưng đa số các tác giả đều cho rằng, tệ nạn xã hội được coi là những hành vi của con người gây ra vi phạm các giá trị đạo đức, làm sai lệch chuẩn mực xã hội và có tính phổ biến trong xã hội, những hành vi này gây hậu quả tiêu cực cho con người và cho xã hội

Dưới góc độ Xã hội học, PGS,TS Đặng Cảnh Khanh, Viện trưởng Viện

nghiên cứu Thanh niên Việt Nam quan niệm rằng các tệ nạn xã hội là hành vi sai lệch với những chuẩn mực xã hội, sai lệch với những quy tắc đạo đức truyền thống xã hội của những cá nhân hoặc những nhóm người do những nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan nào đó tác động tới.[28 ]

Dưới phương diện khoa học pháp lý, tập thể tác giả GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Phan Đình Khánh, Nguyễn Thị Kim Liên trong cuốn “Mại dâm, ma túy, cờ bạc thời hiện đại ” đã đưa ra khái niệm “Tệ nạn xã hội là một

hiện tượng xã hội tiêu cực có tính lịch sử cụ thể biểu hiện bằng những hành vi

vi phạm pháp luật và sai lệch các chuẩn mực xã hội, có tính lây lan, phổ biến gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự, pháp luật hành chính và các chuẩn mực đạo đức xã hội”[53, tr.4]

PGS,TS Võ Khánh Vinh, Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

trong báo cáo khoa học “Một số vấn đề về pháp luật đấu tranh với các tệ nạn

xà hội ”, quan niệm “tệ nạn xã hội là những hiện tượng xã hội nguy hiểm lớn

cho xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử và thể hiện ở sự thống nhất biện chứng các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến lọi ích của xã hội, của Nhà nước, đến tài sản, các quyền và lợi ích chính đáng của công dân” [52]

Dưới góc độ khoa học quản lý Theo TS Đàm Hữu Đắc, Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và nhóm tác giả trong chuyên đề “vấn đề

tệ nạn xã hội trong thời kỳ đổi mới” cho rằng ‘Tệ nạn xã hội là một hiện

tượng xã hội, thể hiện ra những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến bao gồm các vi phạm có tính nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn

Trang 16

10 hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục và những quy tắc được thể chế hóa bằng pháp luật, gây ra hậu quả nghiêm trọng cho đời sống kinh tế, văn hóa, đạo đức

xã hội của nhân dân” [13]

Dưới góc độ đạo đức và giáo dục học, trong tài liệu hướng dẫn chương trình phòng, chống tệ nạn xã hội của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhóm tác giả Mai Huy Bổng, Nguyễn Văn Sơn, Lê Trung Hiếu cho rằng "Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã hội, nó liên quan tới các đặc điểm của xã hội, tâm lý, sinh

lý, đạo đức, kinh tế, văn hóa của mỗi cá nhân và gia đình [4]

Ngoài ra còn có nhiều bài viết, bài báo, các hội thảo khoa học nghiên cứu về tệ nạn xã hội ở nước ta và đưa ra nhiều quan niệm dưới nhiều góc độ khác nhau như; Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội - Bộ Lao động

Thương binh và Xã hội, trong báo cáo khoa học ‘Tệ nạn xã hội và cách tiếp cận trong việc đề ra và thực hiện các chính sách xã hội ” cho rằng tệ nạn xã

hội bao gồm tất cả những hành vi vi phạm pháp luật, kể cả pháp luật hình sự, những hiện tượng xã hội tiêu cực, trái với thuần phong mỹ tục của dân lộc; gây ảnh hưởng xấu cho xã hội [52]

Trong báo cáo khoa học “Đôi mới các chính sách xã hội nhằm khắc phục tệ nạn xã hội trong điều hiện phát triển kinh tế thị trường" TS Nguyễn

Hữu Dũng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng “Tệ nan xã hội là những hiện tượng xã hội rất tiêu cực, đem lại những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội và gây ra tâm trạng xã hội rất nặng

nề thậm chí gây mất ổn định về an ninh chính trị, an toàn xã hội” [11] Trong báo cáo khoa học của đại tá Nguyễn Mạnh Tề, Nguyên Cục cảnh sát hình sự -

Bộ Công an cho rằng “Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa phải là tội phạm, là những thói hư tật xấu trái với thuần phong

mỹ tục, đạo đức dân tộc do nhiều người mắc phải, gây tác hại đến đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ta Tệ nạn xã hội rất đa dạng, gồm cả văn hóa phẩm đồi truỵ, cao bồi càn quấy, đồng bóng, bói toán, mại dâm, nghiện

Trang 17

11

hút, cờ bạc ” [40]

Từ những quan niệm trên theo tác giả: Tệ nạn xã hội là một hiện tượng

xã hội có tính lịch sử, được biểu hiện ra ở những hành vi làm sai lệch các giá trị chuẩn mực xã hội tiến bộ, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội

* Tính chất của tệ nạn xã hội

+ Có tính lây lan nhanh trong xã hội

+ Tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức ; đối tượng tham gia rất đa dạng và phức tạp về thành phần

Các đổi tượng hoạt động có nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi để đối phó với lực lượng chức năng và che mắt quần chúng nhân dân thường cấu kết với nhau thành đường dây, ổ nhóm

- Tệ nạn xã hội thường có quan hệ chặt chẽ với tội phạm hình sự, các hiện tượng tiêu cực xã hội khác và có sự chuyển hoá lẫn nhau

Địa bàn tập trung hoạt động thường là những nơi tập trung đông người các khu công nghiệp, du lịch, nhũng nơi trình độ của quần chúng nhân dân còn lạc hậu thấp kém và công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở thiếu sót

Đấu tranh loại trừ tệ nạn ra khỏi đời sống xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành, của toàn thể xã hội Trong đó, lực lượng cơ

Trang 18

12

sở có một vai trò, vị trí rất quan trọng Đây là lực lượng chủ công, nòng cốt tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng nhân dân và trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các biện pháp theo chức năng, nhiệm vụ của mình để phòng chống tệ nạn xã hội trên địa bàn

1.1.2 Quản lý xã hội và quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

* Quản lý

Để nghiên cứu khái niệm quản lý xã hội, trước hết cần làm rõ khái niệm

“quản lý” Thuật ngữ “quản lý" thường được hiểu theo những cách khác

nhau tùy theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội

và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Theo quan niệm của C.Mác: Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cá thể đó Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng [7, trang 23] Theo đó Mác chỉ ra rằng, quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất của toàn bộ quá trình sản xuất, ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc độ mục đích của quản lý

Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý chí của người quản lý

Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động

Trang 19

13 của xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ cách thức quản lý và mục đích quản lý

Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thế quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau, các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu

* Quản lý xã hội

Quản lý xã hội là một trong những loại hình quản lý nói chung, vì vậy để làm rõ khái niệm quản lý xã hội trước hết chúng ta phải hiểu được quản lý là gì? Trên thực tế, quản lý là một hoạt động không thể thiếu trong đời sống xã hội Trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, yêu cầu và đặc thù quản lý là khác nhau nhưng tất cả chúng đều vận động và tồn tại theo một quy luật nhất định Vì thế, quản lý chính là sự nắm bắt và điều chỉnh các hoạt động theo những quy luật ấy

Trong xã hội, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động Việc quản lý đương nhiên cũng phải hướng vào những mục tiêu, mục

đích của con người Như vậy, khái niệm quản lý nói chung được hiểu là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Nói cách khác, quản lý là hoạt động có ý thức của con

người, nhằm sắp xếp, tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra… các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản

lý với chi phí thấp nhất.[25]

* Quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

Tệ nạn xã hội là hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính phổ biến vi phạm nguyên tắc về lối sống, truyền thống văn hóa, đạo đức xã hội, trái với thuần phong mỹ tục, các giá trị xã hội cho đến vi phạm các quy tắc đã được thể chế hóa bằng pháp luật), làm ảnh hưởng xấu về đạo đức, truyền thống văn hóa và gây những hậu quả nghiêm

Trang 20

14 trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của đất nước Tệ nạn xã hội là một trong những nguyên nhân phát sinh tội phạm

Những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, đa phần do con người gây ra có trình độ học vấn thấp, kém hiếu biết; có người sống trong một môi trường không lành mạnh; công tác giáo dục, tuyên truyền của gia đình, cộng đồng, nhà trường và xã hội chưa thường xuyên theo đúng nghĩa; tình trạng thiếu việc làm, việc làm không ổn định, nghèo đói trong các gia đình, cộng đồng; phong tục tập quán lạc hậu của dân tộc, cộng đồng; xử lý vi phạm pháp luật thiếu tính triệt để, còn nhiều kẽ hở; sự tác động do mở cửa hội nhập với quốc tế và phát triển nền kinh tế thị trường v.v là những nguyên nhân làm cho con người dễ sa vào các tệ nạn xã hội

Về hậu quả, nhiều tệ nạn xã hội dẫn đến sức khỏe giảm sút nghiêm trọng của bản thân người mắc phải Ảnh hưởng tới thu nhập, hoạt động kinh

tế của gia đình Thành viên của gia đình mắc vào tệ nạn xã hội sẽ làm cho hoạt động kinh tế của gia đình trì trệ Ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và

sự phát triển không bền vững, suy giảm chất lượng nguồn nhân lực Tạo ra những hậu quả nghiêm trọng, nguy hiểm, ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức lối sống

truyền thống thuần phong mỹ tục tại cộng đồng dân cư Tệ nạn xã hội góp

phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo, khoét sâu làm trầm trọng thêm khoảng cách giàu nghèo giữa các gia đình, cộng đồng dân cư Tệ nạn xã hội nếu không được kịp thời kiểm soát có thể làm ảnh hưởng xấu về chính trị ở phương diện cộng đồng, địa phương và Quốc gia

Như vậy quản lý xã hội đối với phòng, chống tệ nạn xã hội là sự tác động có tổ chức, có định hướng của Nhà nước và các tổ chức chính trị xã hội

để ngăn chặn, đẩy lùi các tệ nạn xã hội nhằm đảm bảo trật tự, an toàn xã hội thực hiện mục tiêu chung của đất nước là dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh

Trang 21

15

1.1.3 Đặc điểm của quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

Có tính lây lan nhanh trong xã hội

Tồn tại và phát triển dưới nhiều hình thức; đối tượng tham gia rất đa dạng và phức tạp về thành phần

Các đối tượng hoạt động có nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi để đối phó với lực lượng chức năng và che mắt quần chúng nhân dân thường cấu kết với nhau thành đường dây, ổ nhóm

Tệ nạn xã hội thường có quan hệ chặt chẽ với tội phạm hình sự, các hiện tượng tiêu cực xã hội khác vả có sự chuyển hoá lẫn nhau

Địa bàn tập trung hoạt động thường là những nơi tập trung đông người, các khu công nghiệp, du lịch những nơi trình độ của quần chúng nhân dân còn lạc hậu thấp kém, và công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở thiếu sót

Quản lý xã hội về tệ nạn xã hội là quá trình Nhà nước cùng các ngành, các cấp các đoàn thể tổ chức xã hội và mọi công dân (trong đó lực lượng công

an là nòng cốt) tiến hành đồng bộ các biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn, loại trừ các tệ nạn xã hội Đấu tranh loại trừ tệ nạn ra khỏi đời sống xã hội đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành, của toàn thể xã hội Trong đó, lực lượng cơ sở có một vai trò, vị trí rất quan trọng Đây là lực lượng chủ công, nòng cốt tuyên truyền, hướng dẫn quần chúng nhân dân và trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các biện pháp theo chức năng, nhiệm vụ của mình để phòng chống tệ nạn xã hội trên địa bàn

1.2 Chủ thể, nội dung quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

1.2.1 Chủ thể quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

* Về chủ thể quản lý

Một là, Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp

Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tiến hành phòng ngừa tệ nạn xã hội trên các phương diện sau:

Chủ động, kịp thời ban hành các đạo luật, nghị quyết, các văn bản pháp

Trang 22

16

lý về tệ nạn xã hội, từng bước hoàn thiện pháp luật, làm cơ sở cho các cơ quan Nhà nước, tố chức xã hội, mỗi công dân làm tốt công tác phòng chống tệ nạn xã hội:

Thành lập các uỷ ban, các tiểu ban giúp cho Quốc hội soạn thảo, ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh chống tệ nạn xã hội nói chung (uỷ ban sửa đổi Hiến pháp, pháp luật, uỷ ban quốc phòng an ninh)

Giám sát chặt chẽ việc tuân thủ pháp luật trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội nói riêng của các cơ quan chức năng, các tổ chức

xã hội

Hội đồng nhân dân địa phương ra các Nghị quyết về tệ nạn xã hội ở địa phương mình

Hai là Chính phủ và ủy ban nhân dân các cấp

Chức năng chính của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp trong phòng chống tệ nạn xã hội là quản lý, điều hành, phối hợp, đảm bảo các điều kiện cần thiết, thể hiện:

Cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết của Đảng thành những văn bản pháp quy hướng dẫn, tổ chức các lực lượng phòng chống tệ nạn xã hội

Sử dụng các cơ quan chuyên trách của Chính phủ tiến hành hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội, Công an, Toà án, Viện kiểm sát

Phối hợp tiến hành đồng bộ hoạt động giữa các chủ thể khác nhau thuộc cấp mình quản lý theo kế hoạch thống nhất

Đảm bảo các điều kiện vật chất cho hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội: ngân sách, phương tiện, điều kiện làm việc

Tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát chặt chẽ và phối hợp điều chỉnh hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Đề ra các biện pháp nhằm động viên, huy động sức mạnh của toàn xã hội tham gia hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội: khen thưởng, nhân rộng

Trang 23

17 các điển hình tiên tiến

Ba là, các cơ quan quản lý kinh tế, văn hoá, giáo dục, dịch vụ, du lịch trong phạm vi tổ chức hoạt động chuyên môn

Phát hiện những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh phát triển tệ nạn

xã hội thuộc lĩnh vực mình quản lý

Đề ra những quy định thích hợp, tham mưu cho Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách đúng đắn góp phần khắc phục những nguyên nhân, điều kiện, của tệ nạn xã hội

Xây dựng và tổ chức thực hiện các phương án phòng ngừa tệ nạn xã hội trong phạm vi cơ quan có hiệu quả

Phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, làm tốt công tác phòng chống trong nội bộ theo chương trình chung của Chính phủ và các tổ chức xã

hội, các tổ chức quần chúng tự quản, các tổ chức đoàn thể trên giữ vị trí vô

cùng quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, cụ thể:

Phối hợp, hỗ trợ chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn soạn thảo, tham gia kế hoạch phòng ngừa tệ nạn xã hội

Tuyên truyền cho hội viên thấy được tính chất, thủ đoạn hoạt động của

tệ nạn xã hội, nâng cao ý thức cảnh giác

Trực tiếp huy động các hội viên tham gia chương trình phòng chống tệ nạn xã hội nói chung của Chính phủ trong phạm vi địa phương, nội bộ hiệp hội của mình

Bốn là, các cơ quan bảo vệ pháp luật: Công an, Toà án, Viện kiểm sát

Nghiên cứu, phân tích tình trạng phạm tội, xác định chính xác những nguyên nhân, điều kiện của tệ nạn xã hội, soạn thảo đề xuất các biện pháp phòng chống thích hợp

Sử dụng các biện pháp luật định và các biện pháp nghiệp vụ chuyên môn theo chức năng, trực tiếp tiến hành các hoạt động phòng ngừa tệ nạn

xã hội

Trang 24

18 Đối với lực lượng Công an phải trực tiếp tổ chức, triển khai các hoạt động phòng ngừa tệ nạn xã hội theo hai hướng: Tham gia phòng ngừa xã hội (phòng ngừa chung) và trực tiếp tiến hành toàn diện hoạt động phòng ngừa nghiệp vụ, điều tra tệ nạn xã hội

Viện kiểm sát; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án, giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân, giữ quyền công tố

Toà án các cấp: Thông qua hoạt động xét xử các vụ án đảm bảo công minh, đúng pháp luật; phát hiện những nguyên nhân, điều kiện của tệ nạn

xã hội để Chính Phủ, các ngành, các cấp kịp thời có biện pháp ngăn chặn, loại trừ

Bộ Tư pháp trực tiếp tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đến công tác đấu tranh, phòng chống tệ nạn xã hội, khắc phục những sơ hở thiếu sót là nguyên nhân, điều kiện của tệ nạn xã hội

Năm là, Công dân

Công dân có nghĩa vụ và quyền lợi trong sự nghiệp bảo vệ an ninh trật

tự Công dân với tư cách chủ thể trong phòng chống tệ nạn xã hội phải quán triệt, thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của công dân đã được quy định trong Hiến pháp, tích cực tham gia hoạt động phòng ngừa tệ nạn xã hội

Tích cực, chủ động phát hiện mọi hoạt động của tệ nạn xã hội và thông báo cho các cơ quan chức năng

Tham gia nhiệt tình vào công tác giáo dục, cảm hoá các đối tượng có liên quan đến hoạt động phạm tội tại cộng đồng dân cư

Phối hợp tham gia, giúp đỡ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội thực hiện tốt chương trình “Quốc gia phòng chống tệ nạn xã hội” Thực hiện tốt các phong trào: "Toàn dân tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, tố giác tệ nạn xã hội, cảm hoá giáo dục người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư”, làm tốt công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người phạm tội khi trở về địa phương,

Trang 25

19 Trực tiếp làm tốt công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội ngay trong phạm vi gia đình (quản lý, giáo dục các thành viên trong gia đình)

* Về nguyên tắc quản lý

Nhà nước quản lý; kết hợp giữa chủ động phòng ngừa với chủ động liên tục tiến công; tuân thủ pháp luật; phối hợp và cụ thể; dân chủ; nhân đạo; khoa học và tiến bộ

Hệ thống các biện pháp phòng ngừa tệ nạn xã hội được xác định ở hai

mức độ khác nhau: Phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) và phòng chống riêng (chuyên môn)

Phòng ngừa chung là tổng hợp tất cả các biện pháp về chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật, giáo dục

Đây là quá trình toàn xã hội phải tham gia nhằm khắc phục những sơ

hở, thiếu sót là nguyên nhân, điều kiện phát sinh, phát triển của tệ nạn xã hội

Phòng chống riêng ( phòng và chống của lĩnh vực chuyên môn) là việc

áp dụng các biện pháp mang tính đặc trưng, chuyên môn của từng ngành, từng lực lượng, trong đó có hoạt động của cơ quan công an với vai trò nòng cốt, xung kích

Khi nghiên cứu các biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội có thế phân loại thành các hệ thống biện pháp phòng chống như sau:

Theo nội dung tác động của phòng ngừa tệ nạn xã hội: Biện pháp kinh

tế, biện pháp giáo dục, biện pháp tổ chức, biện pháp pháp luật

Theo phạm vi, qui mô tác động của các biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội: Có các biện pháp trong một tỉnh, một thành phố, trên phạm vi cả quốc gia

Theo phạm vi các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, xã hội như: Phòng ngừa trong các khu vực: kinh tế, tuyến giao thông trọng điểm

Theo phạm vi đối tượng tác động của biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội, có: Các biện pháp phòng chống tệ nạn xã hội nói chung trong cả nước: Kinh tế, chính trị, giáo dục; Biện pháp phòng chống cá biệt: Đối với từng đối

Trang 26

20 tượng phạm tội cụ thể;

Theo chủ thể hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội: Biện pháp của các

cơ quan trực tiếp chỉ đạo và thực hiện chuyên môn phòng chống tệ nạn xã hội: Công an, Viện kiểm sát, Toà án; Biện pháp của các tố chức xã hội: Đoàn thanh niên, hội phụ nữ Biện pháp của công dân

1.2.2 Nội dung quản lý xã hội về về tệ nạn xã hội

Một là, Ban hành, cụ thể hóa pháp luật và đề ra biện pháp phòng, chống tệ nạn xã hội

Nhà nước phải xây dựng và thực hiện cơ chế phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị, đẩy mạnh phong trào cách mạng của toàn dân, nâng cao trách nhiệm vai trò chủ động của các ngành, các cấp, đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức quần chúng nhân dân tham gia phòng ngừa phát hiện đấu tranh ngăn chặn các loại tệ nạn xã hội

Nhà nước cần phải đổi mới tổ chức hoạt động và thực hiện nghiêm chỉnh cơ chế phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật như Tòa án nhân dân, Viện kiếm sát nhân dân và Công an nhân dân

Nhà nước phải xây dựng lực lượng công an nhân dân và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác thật sự trong sạch, vững mạnh thực hiện tốt vai trò nòng cốt, xung kích trong đấu tranh phòng ngừa và chống tệ nạn xã hội

Nhà nước cần xây dựng bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, tiến hành rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật Các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành cần phải quan tâm đến hiệu quả quản lý xã hội, đến tính khá thi của các văn bản quy phạm pháp luật vả Nhà nước chủ động đưa ra các vấn đề về quản lý xã hội để nghiên cứu xem xét điều chỉnh bằng pháp luật khi cần thiết

Nhà nước cần phải có chương trình cụ thể về công tác xây dựng văn bản pháp luật để quản lý xã hội có hiệu quả, Nhà nước không những phải xác định các lĩnh vực, các hình thức ra văn bản pháp luật mà còn phải nâng cao

Trang 27

21 việc xây dựng các văn bản pháp luật có tính khả thi cao trên cơ sở luận cứ khoa học, xuất phát từ tình hình và điều kiện thực tiễn phát triển của đời sống kinh tế xã hội vào thời điểm ra văn bản, các chính sách kinh tế xã hội đang được áp dụng và sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm vào việc thực hiện công tác quản lý xã hội Nhà nước sửa đổi, bổ sung quy trình soạn thảo văn bản pháp luật và lấy ý kiến đóng góp của các ngành các cấp và của nhân dân theo hướng nâng cao chất lượng soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật

Nhà nước cần phải có chương trình giải thích pháp luật và tổ chức phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho nhân dân để phục

vụ kịp thời, có hiệu quả cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội trước mắt và lâu dài

Các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các cấp phải sơ kết và có kế hoạch tiếp tục chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội, ủy ban thường vụ Quốc Hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tệ nạn xã hội

Nhà nước cần phải xây dựng chương trình Quốc gia về tệ nạn xã hội, có mục tiêu và nội dung, các đề án cụ thể nhằm huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội vào công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, từng bước làm giảm tệ nạn xã hội

Nhà nước cần phải tiếp tục phát động quần chúng xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác và đấu tranh chống tệ nạn xã hội Xây dựng và thực hiên quy chế phối hợp ngăn ngừa tệ nạn xã hội trong gia đình, nhà trường và xã hội

Nhà nước cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác quản lý giáo dục, cải tạo người phạm tội bằng nhiều hình thức, giúp họ cải tạo tiến bộ, hoàn lương, tái hòa nhập gia đình và cộng đồng xã hội Đồng thời chấn chỉnh công tác giam giữ nâng cao hiệu quả công tác giáo dục cải tạo phạm nhân

Nhà nước cần phải sử dụng các biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn, trấn áp kịp thời và kiên quyết đối với các loại tệ nạn xã hội nguy hiểm như:

Trang 28

22

Tệ nạn xã hội có tổ chức, tệ nạn xã hội buôn lậu, tệ nạn xã hội sở hữu, tệ nạn

xã hội xâm hại trẻ em

Nhả nước cần kiện toàn mạng lưới thanh tra kiểm tra, kiểm soát của các

Bộ, Ngành và các cơ quan để tăng cường công tác phòng ngừa, chống tệ nạn

xã hội

Nhà nước cần phải tăng cường sự hợp tác quốc tế trong phòng, chống tệ nạn xã hội, loại trừ ảnh hưởng xấu của các thế lực thù địch và tệ nạn xã hội có tính chất quốc tế

Hai là, phân công trách nhiệm trong quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cần nâng cao hiệu quả các biện pháp quản lý nhà nước về an ninh trật tự, củng cố các lực lượng nghiệp vụ trực tiếp phòng ngừa và đấu tranh chống tệ nạn xã hội nhất là các lực lượng ở cơ sở, bảo vệ dân phố, dân phòng, bảo vệ chuyên trách, bán chuyên trách của các cơ quan, xí nghiệp Đồng thời cần đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, liên tục phát động quần chúng tấn công trấn áp tệ nạn xã hội

Bộ Quốc phòng có trách nhiệm phòng ngừa, ngăn chặn tệ nạn xã hội trong quân nhân, phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội ở khu vực biên giới, trên biển; Đồng thời kiểm tra công tác quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ trong các ngành, các cơ quan, đơn vị, tổ chức ngoài quân đội và thu hồi các loại vũ khí vật liệu nổ, tàng trữ sử dụng trái phép; chỉ đạo lực lượng bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ phối hợp với- lực lượng công an nhân dân trong phòng, chống các loại tệ nạn xã hội trong và ngoài quân đội

Thanh tra Nhà nước có trách nhiệm tổ chức tốt công tác thanh tra kiểm tra, phòng ngừa, ngăn chặn các vi phạm pháp luật; phối hợp với Bộ Công an

và các cơ quan bảo vệ pháp luật khác tổ chức thanh tra, kiểm tra hoạt động tuân theo pháp luật của các bộ, ngành, địa phương góp phần phòng ngừa, đấu

Trang 29

23 tranh chống tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật

Tống cục Hải quan có trách nhiệm đấu tranh chống buôn lậu và gian lận thương mại tại các cửa khẩu, sân bay, bến cảng theo chức năng của mình, phối hợp với Bộ Công an và các ngành hữu quan kiên quyết ngăn chặn các loại văn hóa phản động, độc hại, kích động bạo lực, các nguồn buôn bán vận chuyển các chất ma túy, vũ khí chất nổ

Tổng cục Du lịch có trách nhiệm phòng ngừa ngăn chặn các loại tệ nạn

xã hội tại các khu du lịch, các nhà hàng khách sạn, quán trọ thuộc ngành du lịch quản lý; phối hợp với Bộ Công an, các ngành hữu quan và ủy ban nhân dân các cấp quản lý người nước ngoài đến tham quan du lịch, bảo đảm trật tự

an toàn xã hội

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Thông tin truyền thông có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan thông tin phối hợp với Bộ Tư pháp và các ngành hữu quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức tôn trọng và thi hành pháp luật, trách nhiệm công dân trong phòng, chống tệ nạn xã hội; xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm Luật báo chí, Luật xuất bản

Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm quản lý giáo dục cán bộ, giáo viên, học sinh, sinh viên trong các trường học, đưa nội dung giáo dục pháp luật và các quy định bảo vệ an ninh trật tự vào chương trình giáo dục chính khóa ở các cấp học; phối hợp với Bộ Công an tổ chức phòng ngừa đấu tranh chống tệ nạn xã hội và các vi phạm pháp luật cho học sinh, sinh viên, bảo vệ

an ninh trật tự trong các nhà trường

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội có trách nhiệm chỉ đạo và dạy nghề cho các đối tượng ở các trại giam, đưa chương trình việc làm vào các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh hỗ trợ giải quyết việc làm cho các đối tượng cần thiết Phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu đề xuất Chính phủ ban hành chính sách khen thưởng và chế độ đãi ngộ vật chất, tỉnh thần đối với các

Trang 30

24 đơn vị, cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân nói riêng, các tập thể, cá nhân có thành tích trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội

Các ngành giao thông vận tải, công nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn, thương mại, ngoại giao, ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên cơ sở chức năng của minh có kế hoạch phối hợp với Bộ Công an tăng cường phòng ngừa bảo vệ nội bộ và đấu tranh chống tệ nạn xã hội thuộc các lĩnh vực do ngành phụ trách Mỗi Bộ, Ngành phải có chương trình hành động và cơ chế hoạt động bảo đảm cho việc phối hợp có hiệu quả

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính có trách nhiệm dự trù kinh phí lập kế hoạch tổng hợp trình Chính phủ, bảo đảm kinh phí cho Chương trình Quốc gia phòng, chống tệ nạn xã hội, phối hợp với Bộ Công an nghiên cứu đề xuất chính phủ bảo đảm trang bị phương tiện và từng bước hiện đại hóa phương tiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật đặc biệt là các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra, xử lý tệ nạn xã hội; Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch Đầu tư cần nghiên cứu đề xuất Chính phủ huy động sự đóng góp kinh phí của các tổ chức kinh tế và tố chức phi Chính phủ cho công tác phòng, chống tệ nạn xã hội

Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì nghiên cứu, rà soát, bổ sung, sửa đổi

và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tệ nạn xã hội; phối hợp với Bộ Công an,

Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng nghiên cứu đề xuất Chính phủ xây dựng hoàn chỉnh

hệ thống giám định tư pháp và giám định pháp y phục vụ nhiệm vụ phòng, chống tệ nạn xã hội trong tình hình mới Chủ trì phối họp với các ngành liên quan tố chức tuyên truyền giáo dục pháp luật, mở chuyên mục giáo dục pháp luật thường xuyên trên sóng phát thanh và truyền hình

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật thuộc Chính phủ đẩy mạnh công tác điều tra, truy tố, xét xử tệ nạn xã hội một cách kịp thời và nghiêm minh

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách

Trang 31

25 nhiệm chỉ đạo toàn bộ công tác phòng, chống tệ nạn xã hội tại địa phương; đưa chương trình việc làm và dạy nghề cho các đối tượng ở các trại giam, ngành, các cấp thực hiện tốt Nghị quyết và Chương trình Quốc gia về tệ nạn

xã hội

Ba là, chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong quản lý xã hội về tệ nạn xã hội

Nhà nước thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tệ nạn xã hội của Chính phủ để thực hiện Chương trình Quốc gia phòng, chống tệ nạn xã hội Chính phủ thống nhất với những nhiệm vụ công tác của Ban chỉ đạo phòng, chống tệ nạn xã hội Đồng thời Chính phủ cũng đặt ra những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới là Ban chỉ đạo Quốc gia về tệ nạn xã hội Trung ương cần tập trung nghiên cứu và hoàn thiện trình Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện: Chiến lược Quốc gia về tệ nạn xã hội giai đoạn

2015 - 2025

Nhà nước triển khai tới ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban chỉ đạo phòng, chống tệ nạn xã hội Trên địa bàn tỉnh, thành phố và tổ chức thực hiện

Hằng tháng, quý, năm các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các cấp cần kiểm điểm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội ở bộ, ngành, địa phương mình

và báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo của Chính phủ thực hiện chương trình Quốc gia phòng, chống tệ nạn xã hội

Như vậy, để công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội trong quản

lý xã hội phát huy hiệu quả cao thì vai trò quan trọng của Nhà nước cần được thể hiện bao trùm và rộng khắp trên các lĩnh vực, các bộ, ngành, đoàn thể quần chúng và đòi sống xã hội Đồng thời các bộ, ban, ngành, cần phải có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ và thống nhất với nhau, hỗ trợ và hợp tác chặt chẽ cùng nhau thì mới có thể loại trừ tệ nạn xã hội ngày càng tốt hơn và góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tệ nạn xã hội có hiệu quả trên phạm vi cả nước

Trang 32

26 Bên cạnh chủ thể là Nhà nước trực tiếp quản lý hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội cần có sự tham gia của các chủ thể khác như Mặt trận

tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và sự tham gia phối hợp của người dân Các chủ thể này góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội

xã hội

Một là, vai trò quản lý của Nhà nước về tệ nạn xã hội

Nghiêm cấm mọi hình thức hoạt động tệ nạn xã hội, xử lý thích đáng những các nhân, tổ chức hoạt động chuyên nghiệp, hoạt động có ổ nhóm, những tên cầm đầu hoặc tổ chức lôi kéo người khác đi vào con đường hoạt động tệ nạn xã hội Chủ động phòng ngừa ngăn chặn không để tệ nạn xã hội lây lan phát triển gây tác hại đến đời sống nhân dân và trật tự xã hội

Giáo dục cải tạo những người mắc tệ nạn xã hội làm cho họ trở thành những công dân có ích cho xã hội

Vai trò của Nhà nước về tệ nạn xã hội được thể hiện trên các mặt cụ thể sau: + Phòng ngừa là cơ bản, lồng ghép và kết hợp chặt chẽ công tác phòng chống tệ nạn xã hội với các chương trình phát triển kinh tế văn hoá xã hội ở địa phương

Đây là phương hướng cơ bản nhất, vừa thể hiện tính ưu việt của chế độ

xã hội chủ nghĩa, mang ý nghĩa kinh tế, vừa phù hợp với đạo đức, phong tục tập quán của dân tộc

Chương trình xóa đói giảm nghèo

Chương trình toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư + Công tác phòng chống tệ nạn xã hội là trách nhiệm của toàn xã hội, phải được triển khai đồng bộ ở các cấp, các ngành, trong đó lấy phòng chống

từ gia đình, cơ quan, đơn vị, trường học làm cơ sở

Trong công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội thì chính quyền,

Trang 33

27 các cơ quan, tổ chức, đoàn thể ở cơ sở và gia đình giữ một vai trò rất quan trọng Đây là lực lượng trực tiếp thực hiện, biến những chủ trương, chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước về tệ nạn xã hội thành hiện thực Là nơi thực hiện các cuộc vận động của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hoá mới ở khu dân cư, góp phần đẩy lùi và bài trừ tệ nạn xã hội Do đó cần xác định đúng vai trò của nhà trường trong đấu tranh phòng chống tệ nạn

ma túy là con đường ngắn nhất dẫn tới sự hủy hoại chính mình ở cả hiện tại

và tương lai; mà các em bị hủy hoại, tức là ảnh hưởng đến tương lai của đất nước Đây là một vấn đề gây bao lo lắng, bức xúc cho các nhà giáo dục và toàn xã hội nói chung

Ngoài ra, số liệu của Bộ Y tế cũng cho biết, hiện cả nước có hơn 197.000 người nhiễm HIV, trong đó năm 2015 có hơn 14.000 người xét nghiệm phát hiện nhiễm HIV và hầu hết ở lứa tuổi khá trẻ, từ 20 - 39 tuổi chiếm 82% và lây truyền qua đường máu (46,7%) và tình dục (41,4%) là chủ

Trang 34

28 yếu Mặc dù tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS giảm dần, tuy nhiên, nguy cơ tiềm tàng cao ở nhóm nghiện chích ma tuý vẫn đang là mối nguy cho cả cộng đồng

Trong những năm gần đây tệ nạn ma tuý và tội phạm ma tuý ở nước ta diễn biến rất phức tạp Ma tuý đã vào trường học, rình rập từng nhà, từng ngõ ngách gây ra những cái chết dần chết mòn không những cho người nghiện,

mà cả gia đình họ Nghiện ma tuý cũng là nguyên nhân gây ra những tệ nạn

xã hội khác Đa số người nghiện ma tuý, để có tiền mua ma tuý đều phạm tội trộm cắp, cướp giật, lừa đảo Theo một nguồn thông tin, khoảng 75% các tội phạm hình sự có nguyên nhân bắt nguồn từ những người nghiện ma tuý Đa

số những người bị nhiễm HIV/AIDS là những người nghiện hút

Hai là, vai trò quản lý của các tổ chức chính trị xã hội về tệ nạn xã hội

Các tổ chức chính trị xã hội như Mặt trận tổ quốc, đoàn thanh niên, hội phụ nữ… có vai trò quan trọng trong việc phối hợp tham gia phòng chống tệ nạn xã hội thông qua các hoạt động chủ yêu như tuyên truyền vận động nhân dân cùng các hội viên của hội tham gia đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội; trực tiếp tổ chức các buổi hội thảo, các buổi chia sẻ về tác hại của tệ nạn xã hội để từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác của người dân đối với các tệ nạn xã hội nói chung

1.4 Kiểm tra giám sát về tệ nạn xã hội

Vấn đề xã hội là những vấn đề xuất hiện từ các quan hệ xã hội, có tác động, ảnh hưởng hoặc đe doạ đến sự phát triển bình thường của con người và cộng đồng dân cư cũng như chất lượng cuộc sống của họ đòi hỏi xã hội phải

có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc giải quyết theo hướng có lợi cho sự tồn tại và phát triển bền vừng của cộng đồng Có thể thấy rằng, từ khi loài người sinh sống thành cộng đồng thì các quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và cũng từ đó nảy sinh những vấn đề xã hội Xã hội loài người ngày càng phát triển thì những vấn đề xã hội cũng ngày càng phức tạp hơn Có những vấn đề xã hội

Trang 35

29 nảy sinh trong từng chế độ chính trị - xã hội khác nhau, cũng có những vấn đề

xã hội mang tính chất chung Mỗi chế độ xã hội, mỗi thời đại đều phải đối phó với những vấn đề mới nảy sinh trong hiện tại cũng như tương lai

Ổn định xã hội luôn là tiền đề cho sự phát triển của một Quốc gia Đây

là yếu tố quan trọng gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước và của

cả xã hội Muốn ổn định xã hội, Nhà nước phải đảm bảo mọi người dân đều được đáp ứng đầy đủ các nhu cầu cơ bản, không phải sống trong cảnh đói nghèo, được học hành, được chăm sóc sức khỏe, được sống trong một môi trường lành mạnh, an toàn và các quyền công dân đều được thực hiện Xã hội càng phát triển thì nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội cũng ngày càng tàng cao Vì vậy, Nhà nước cần phải quản lý các vấn đề xã hội đế đáp ứng nhu cầu của thực tế

Ở Việt Nam, các vấn đề xã hội nảy sinh ngày một nhiều, vấn đề xã hội xuất hiện do những nguyên nhân khác nhau, khách quan cũng như chủ quan Nhóm nguyên nhân hàng đầu thuộc về thể chế kinh tế và hình thức vận hành của nền kinh tế Những hạn chế về thể chế chính sách kinh tế và những khuyết tật của nền kinh té thị trường làm gay gắt hơn cũng như làm xuất hiện các vấn đề xã hội bức xúc ở nước ta, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách và giải pháp để giải quyết nhằm đảm bảo sự ổn định xã hội và tạo động lực cho

sự phát triển

Để giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đòi hỏi có sự tham gia tích cực của nhiều chủ thể, từ Đảng, Nhà nước đến các tố chức chính trị - xã hội và các đoàn thể quần chúng, nhưng trong đó, vai trò của Nhà nước được xác định là quan trọng nhất

Nhà nước là chủ thể chính thức đại diện cho toàn xã hội, là tổ chức duy nhất trong hệ thống chính trị có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thể hiện ý chí và nguyện vọng của mọi người dân trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.Vì vậy, các vấn đề xã hội được đặt dưới sự quản lý thống

Trang 36

30 nhất của Nhà nước Nhà nước thống nhất quản lý các vấn đề xã hội từ định ra các chính sách xã hội, đến ban hành hệ thống pháp luật về các vấn đề xã hội, thành lập hệ thống các cơ quan chức năng của Nhà nước đế quản lý các vấn

đề xã hội, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về các vấn

đề xã hội, giải quyết tranh chấp trong quản lý nhà nước về các vấn đề xã hội Bên cạnh vai trò chủ đạo của mình, Nhà nước còn thu hút các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, các cá nhân, tố chức khác tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, đế đảm bảo an sinh cho mọi thành viên trong xã hội

Yêu cầu khách quan tăng cường quản lý xã hội về tệ nạn xã hội được thể hiện cụ thể như sau:

Một là, Nhà nước ban hành chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội

Chính sách được hiểu một cách đơn giản là “chương trình hành động do các nhà lành đạo hay nhà quản lý đề ra đế giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” [12, tr 40]

Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể của Nhà nước trên cơ sở thể chế hóa chủ trương, đường lối chính trị của Đảng và tình hình thực tiễn kinh

tế - xã hội của đất nước nhằm đạt được mục tiêu nhất định Nói cách khác, chính sách chính là các quyết định của Nhà nước về một hay một số vấn đề nào đó Đó là một chuỗi các hoạt động cần giải quyết bởi các nhà quản lý về các vấn đề xã hội để điều hành quản lý và phát triển xã hội

Một trong những nội dung cơ bản của quản lý xã hội đối với các vấn đề

xã hội là việc Nhà nước hoạch định và ban hành chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động nhằm ngăn ngừa, giải quyết các vấn đề xã hội Đồng thời, Nhà nước thực hiện điều tiết, định hướng và hoàn thiện các chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội cho phù hợp với từng thời kỳ của đất nước Chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội mà Nhà nước hoạch định và xây dựng phải đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán và tính khả thi

Trang 37

31 Trong những năm qua, Nhà nước đã xây dựng được nhiều chính sách xã hội, trong đó tập trung vào những chương trình có mục tiêu nhằm vào một hoặc một số vấn đề xã hội, như xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn trước tiên tại vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo Đồng thời, Nhà nước đã thể chế hóa nhiều chính sách xã hội thành pháp luật Hàng loạt những văn bản luật và văn bản dưới luật về các vấn đề xã hội được ban hành như: Luật bảo hiểm y tế, Luật bảo hiểm xã hội, Luật người khuyết tật, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Nghị định của Chính phủ số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ

Ba là; Nhà nước tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách Pháp luật về các vấn đề xã hội và giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình này

Nội dung thanh tra, kiểm tra, giám sát ở đây rất rộng, bao gồm cả giám sát việc thực hiện chính sách, chế độ; giám sát và kiểm tra việc thu chi tài chính; giám sát việc tổ chức thực hiện Qua kiểm tra, giám sát sẽ kịp thời phát hiện những yếu kém, tồn tại, những sai phạm trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật, để từ đó có những quyết định xử lý đúng đắn Vì vậy, hoạt động này cần phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục để

Trang 38

32 đảm bảo quản lý nhà nước có hiệu quả

Bên cạnh việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, Nhà nước còn có trách nhiệm giải quyết kịp thời những tranh chấp giữa các chủ thế phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về các vấn đề xã hội

Bốn là, Nhà nước thu hút các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể xã hội các cá nhân, tổ chức khác tham gia giải quyết các vấn đề xã hội

Vấn đề xã hội luôn phức tạp, nảy sinh từ nhiều nguyên nhân chủ quan

và khách quan khác nhau, lại tác động mạnh mẽ đến nhiều loại chủ thể trong

xã hội Vì vậy, để giải quyết tốt các vấn đề xã hội cần sự chung tay, góp sức của tất cả các thành viên trong xã hội Đây không chỉ đơn thuần là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước Chính vì vậy, xã hội hóa việc giải quyết các vấn đề xã hội là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước đối với các vấn đề xã hội

Bên cạnh việc thực hiện trách nhiệm của mình, Nhà nước cũng tiến hành động viên toàn xã hội tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, kết hợp

giữa quản lý của Nhà nước và của xã hội, ví dụ như hình thức "Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Trung ương và địa phương cùng làm”; từ đó thúc đẩy

quá trình xã hội hóa công tác quản lý đối với các vấn đề xã hội

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 tác giả đưa ra các khái niệm tệ nạn xã hội và phòng chống tệ nạn xã hội Quản lý xã hội và quản lý xã hội về tệ nạn xã hội, trong đó tác giả đi sâu vào nội dung quản lý nhà nước về tệ nạn xã hội, đặc điểm của quản lý xã hội về tệ nạn xã hội Nội dung, vai trò của quản lý xã hội về tệ nạn xã hội Những yêu cầu khách quan tăng cường quản lý xã hội

về tệ nạn xã hội hiện nay

Trang 39

33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI VỀ TỆ NẠN XÃ HỘI

Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY

hình tệ nạn xã hội ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội hiện nay

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội

Huyện Hoài Đức nằm ở trung tâm hình học Hà nội mở rộng, (về hành chính) nằm phía tây trung tâm Hà Nội và tiếp giáp với các quận, huyện: về phía Bắc tiếp giáp với Huyện Đan Phượng, Phúc Thọ và quận Bắc Từ Liêm;

về phía Tây tiếp giáp với Huyện Quốc Oai và Phúc Thọ; về phía Nam tiếp giáp với Quận Hà Đông và huyện Quốc Oai; về phía Đông tiếp giáp với Quận Hà Đông và Nam Từ Liêm

Địa hình của huyện nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, gồm 3 vùng đồi núi, đồng bằng, vùng bãi Trong vùng có một số núi sót như núi Voi, vua Bà, núi Thầy, Hoàng Xá (núi đá vôi) Trong huyện có sông Tích và sông Đáy chảy qua Huyện có vùng là đồng bằng châu thổ, bằng phẳng, độ cao trung bình là 5m

Huyện có nhiều điều kiện thế mạnh để phát triển nông nghiệp

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội

Như đã nêu ở trên, từ một vùng đất ven đô, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, kinh tế còn nghèo nàn, cơ sở hạ tầng yếu kém, giờ đây Hoài Đức là một trong những huyện phát triển mạnh với kết cấu hạ tầng đô thị ngày càng văn minh hiện đại, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện, an ninh quốc phòng được bảo đảm

Về kinh tế:

Những năm gần đây, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của huyện

Trang 40

34

Hoài Đức bình quân đạt 20%, thu ngân sách bình quân tăng 64% Cơ cấu kinh

tế chuyển dịch mạnh theo hướng ngày càng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ - công nghiệp, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Năm 2016, tổng thu ngân sách của huyện đạt 700 tỷ đồng; doanh thu từ hoạt động thương mại - dịch vụ đạt 14.500 tỷ đồng; Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng cơ bản đạt 1.400

tỷ đồng

Hiện nay, huyện đang có 3 xu hướng đô thị hóa: Hình thành các trung tâm công nghiệp, thương mại dịch vụ mới; mở rộng đô thị từ các xã ven đô tới các nơi xa hơn; chuyển đổi những vùng nông thôn có điều kiện phát triển sản xuất, giao lưu hàng hóa hình thành các đô thị, các trung tâm buôn bán Năm 2016, huyện đã đầu tư cho xây dựng 116 dự án xây dựng cơ sở hạ tầng với tổng vốn đầu tư 212,7 tỷ đồng

Về làng nghề truyền thống: Hoài Đức là nơi tập trung nhiều làng nghề truyền thống như: Làng nghề bánh kẹo, dệt kim La Phù; làng nghề bún bánh thôn Cao Xá Hạ; Làng nghề chế biến lương thực thực phẩm thôn Lưu Xá; làng nghề Cơ khí, Mộc dân dụng mỹ nghệ thôn Đại Tự…là những làng nghề truyền thống ở huyện

Lao động việc làm: Hàng năm huyện đã tạo việc làm cho 2500-3000 lao động Năm 2017, hỗ trợ giải quyết việc làm cho 4.880 lao dộng; trong đó lao động có đào tạo đạt 45%

Đến nay, huyện Hoài Đức có tốc độ đô thị hóa nhanh, nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng Huyện đang dần hội tụ trở thành trung tâm hành chính, kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục hiện đại quy mô lớn của Thủ đô với 41.387 hộ với 185.921 nhân khẩu Trong đó: kinh tế 1: 25.739

hộ với 117.627 nhân khẩu; kinh tế 2: 15.492 hộ với 45.779 nhân khẩu; kinh tế

3, kinh tế 4: 11.147 hộ với 30.772 nhân khẩu Thành phần dân cư đa dạng, đan xen, có nhiều nhà trường, học viện, trường đại học, trường cao đẳng,

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm