Tuy nhiên, thực tế hoạt động phòng, chống mại dâm và quản lý hoạt động này trong thời gian qua chưa đạt được hiệu quả, nguyên nhân của tình trạng trên do hệ thống pháp luật chưa được hoà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
HÀ NỘI - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
HÀ NỘI - 2019
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Chủ tịch Hội đồng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung và các trích dẫn nêu trong Luận văn có xuất xứ rõ ràng và trung thực Luận văn kế thừa có chọn lọc những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Các số liệu, kết quả điều tra nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố
Hà Nội, ngày tháng 01 năm 2019
Tác giả Luận văn
Nguyễn Đức Châu
Trang 5: Tệ nạn mại dâm : Trật tự an toàn xã hội : Tệ nạn xã hội
: Ủy ban nhân dân : Xã hội chủ nghĩa
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1: Ngân sách của CATP Hà Nội hỗ trợ cho hoạt động phòng, chống
mại dâm của quận Tây Hồ giai đoạn 2010 - 2017 42Bảng 2.2: Ngân sách chi cho quản lý giáo dục, hỗ trợ đối tượng mại dâm tái
hòa nhập cộng đồng của quận Tây Hồ giai đoạn 2010 - 2017 43Bảng 2.3: Ngân sách chi cho chữa bệnh lây nhiễm qua đường tính dục của đối tượng
mại dâm ở quận Tây Hồ giai đoạn 2010 - 2017 43Bảng 2.4 Kết quả đấu tranh bắt giữ và xử lý đối tượng mại dâm của Công an
quận Tây Hồ giai đoạn 2010 – 2017 49
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ: 2.1 Hình thức hoạt động mại dâm ở quận Tây Hồ giai đoạn 2010 - 2017 45Biểu đồ 2.2 Số vụ mại dâm bị bắt giữ giai đoạn 2010 – 2017 49Biểu đồ 2.3 Số lượng đối tượng mại dâm bị xử lý giai đoạn 2010 - 2017 50Biểu đồ 2.4 Tương quan giữa đối tượng mại dâm bị xử lý hình sự và xử lý
hành chính giai đoạn 2010 – 2017 51
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG MẠI DÂM CỦA CÔNG AN QUẬN 12
1.1 Nhận thức chung về hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận 12
1.2 Khái niệm, đặc điểm quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận 23
1.3 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận 28
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG MẠI DÂM CỦA CÔNG AN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 38
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay 38
2.2 Kết quả, hạn chế trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân 46
Chương 3: DỰ BÁO TÌNH HÌNH MẠI DÂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG MẠI DÂM CỦA CÔNG AN QUẬN TÂY HỒ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 63
3.1 Dự báo tình hình mại dâm trên địa bàn quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội trong thời gian tới 63
3.2 Giải pháp tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội thời gian tới 68
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 93
TÓM TẮT LUẬN VĂN 102
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mại dâm là một vấn đề xã hội khó giải quyết không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết mọi quốc gia trên thế giới Tệ nạn mại dâm (TNMD), các tội phạm liên quan đến mại dâm như chứa mại dâm, môi giới mại dâm, mua dâm người chưa thành niên, đặc biệt là hành vi mua bán người vì mục đích mại dâm gây
ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hội, sức khỏe cộng đồng, gây bức xúc dư luận Mại dâm và TNMD đã làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, băng hoại phẩm chất đạo đức, phá hoại hạnh phúc gia đình Đặc biệt nghiêm trọng hơn, đây là một trong những nguồn lây nhiễm HIV, căn bệnh thế kỷ mà đến nay chưa có thuốc chữa trị
Nhận thức đúng đắn về tác hại của mại dâm và TNMD, nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước đã xác định rõ đây là một loại tệ nạn hết sức nguy hiểm, ảnh hưởng đến truyền thống của dân tộc Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 01/3/1994 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về lãnh đạo phòng chống tệ nạn xã hội (TNXH) xác định, công tác phòng, chống, khắc phục có hiệu quả các TNXH, trước hết là mại dâm, nghiện ma túy là một nhiệm vụ cấp bách hiện nay mà Đảng và Nhà nước ta phải kiên quyết lãnh đạo thực hiện để có bước tiến bộ rõ rệt Pháp lệnh phòng chống mại dâm đã chỉ ra các yêu cầu của công tác phòng, chống mại dâm; mọi hành vi mại dâm, liên quan đến hoạt động mại dâm phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 361/QĐ-TTg ngày 07/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ:TNMD vẫn còn diễn biến phức tạp; thiếu các chính sách và các chương trình can thiệp tích cực, phù hợp, Mặt khác, công tác phòng, chống mại dâm là hoạt động đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành, có sự phân công rõ chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành, địa
Trang 9phương, trong đó phân định rõ vai trò, trách nhiệm của cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và trách nhiệm của chính quyền các cấp Cần có cơ chế điều phối, thúc đẩy sự hợp tác giữa các đối tác trong và ngoài nước; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các tổ chức quốc tế, tổ chức xã hội và người dân trong phòng, chống mại dâm
Tuy nhiên, thực tế hoạt động phòng, chống mại dâm và quản lý hoạt động này trong thời gian qua chưa đạt được hiệu quả, nguyên nhân của tình trạng trên do hệ thống pháp luật chưa được hoàn thiện, cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm giữa các chủ thể thực thi chức năng quản lý chưa rõ ràng, cụ thể và khoa học; công tác tuyên truyền chưa hiệu quả; xử lý hành vi mai dâm
và liên quan đến mại dâm chưa kiên quyết và triệt để… Những lý do trên đã
và đang đặt ra những yêu cầu mới cho quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm ở nước ta
Công an nhân dân có vai trò to lớn trong hoạt động phòng, chống mại dâm nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội (TTATXH) Với vị thế, vai trò của mình, Công an các cấp đảm nhận nhiều nội dung trong cơ chế đấu tranh phòng, chống mại dâm trên từng địa bàn bằng các biện pháp nghiệp vụ đặc thù, tiến tới ngăn chặn hoạt động mại dâm, đầy lùi và xóa bỏ mại dâm ra khỏi đời sống xã hội
Trong những năm qua Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội là đơn
vị trực tiếp đấu tranh với hoạt động mại dâm trên địa bàn, góp phần xây dựng môi trường trật tự, an toàn và văn hóa Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an Quận đã đạt được những kết quả khả quan, tạo sự chuyển biến tích cực về tình hình mại dâm trên địa bàn Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an Quận có lúc, có nơi chưa đạt hiệu quả, tình trạng mại dâm trên địa bàn vẫn phức tạp, thậm chí gây bức xúc trong dư luận xã hội Để có cơ sở cho việc tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an Quận,
Trang 10việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của
Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội hiện nay” để chỉ ra cơ sở lý luận
và thực tiễn của nó hết sức cần thiết Đây chính lý do học viên chọn vấn đề
này làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoạt động phòng, chống TNXH nói chung nói chung, hoạt động phòng, chống mại dâm nói riêng đã được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau: Luật học, Quản lý nhà nước, Xã hội học, Tâm
lý học… Các công trình nghiên cứu này đã được các tác giả công bố dưới dạng sách chuyên khảo, đề tài khoa học, chuyên đề, luận án, luận văn, các bài viết đăng trong các tạp chí, báo… như:
Sách chuyên khảo “Tệ nạn mại dâm – căn nguyên, biểu hiện và phương hướng khắc phục” của Viện Thông tin khoa học xã hội, Trung tâm Khoa học
xã hội và nhân văn quốc gia, năm 1997 đã chỉ ra: TNXH nói chung và TNMD nói riêng đang thực sự là một tình trạng làm vẩn đục bầu không khí sinh hoạt
và lao động của toàn thế giới Biểu hiện của các tệ nạn trở nên vô cùng phức tạp và đa dạng Các nhà khoa học đã chỉ ra nhân loại cần đoàn kết lại trong cuộc đấu tranh bảo vệ hòa bình, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ môi trường xã hội
Cuốn: “Mại dâm, ma tuý, cờ bạc, tội phạm thời hiện đại” của tác giả
Nguyễn Xuân Yêm (chủ biên) (2003) do NXB Công an nhân dân phát hành,
đã phân tích tội phạm dưới góc độ xã hội học Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đấu tranh phòng chống tệ nạn
xã hội, tội phạm trong điều kiện kinh tế thị trường ở trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm đấu tranh phòng chống tệ TNXH
Tác giả Trần Minh Hưởng có cuốn: “Phòng chống các TNMD, ma tuý,
mê tín dị đoan, cờ bạc”, năm 2004, NXB Văn hóa dân tộc đã phân tích những
Trang 11nội dung cơ bản về phòng chống mại dâm, ma tuý, cai nghiện ma tuý tại gia đình và cộng đồng; Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, trong phòng chống ma tuý, tội phạm về ma tuý cùng các biện pháp phòng chống mê tín dị đoan, cờ bạc
Nhóm tác giả Nguyễn Vũ Tiến, Đỗ Đức Hồng Hà, Nguyễn Thị Ngọc
Hoa, Trần Thái Hà trong cuốn sách nhan đề: “Chỉ dẫn áp dụng, nghiên cứu, tìm hiểu, học tập pháp luật phòng, chống mại dâm” năm 2011, do NXB Lao
động phát hành, đã tập hợp các văn bản giải thích và hướng dẫn thi hành những quy định và biện pháp phòng chống mại dâm; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức cá nhân và gia đình trong phòng chống mại dâm; xử lý vi phạm pháp luật và quản lí nhà nước về công tác phòng chống mại dâm
Tác giả Nguyễn Hoàng Minh (chủ biên), Đinh Anh Tuấn, trong cuốn
sách chuyên khảo: “Điều tra tội phạm mại dâm có tổ chức ở Việt Nam”, năm
2012, NXB Công an nhân dân, đã trình bày những nhận thức chung về tội phạm mại dâm có tổ chức và hoạt động điều tra tội phạm mại dâm có tổ chức; đánh giá thực trạng hoạt động điều tra và những dự báo, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về
TTATXH ở Việt Nam
Sách chuyên khảo “Quản lý nhà nước về phòng, chống TNMD ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2017), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành đã trình bày cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về phòng, chống TNMD; tình hình TNMD, thực trạng quản lý nhà nước, quan
điểm, giải pháp tăng cường quản lý về phòng, chống TNMD
Năm 2000, Văn phòng Chính phủ có đề tài “Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống các TNXH (ma túy, mại dâm) và phòng, chống HIV/AIDS” Nhóm các tác giả của đề tài đã đánh giá
thực trạng công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực phòng, chống mại dâm, ma túy, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này
Trang 12Đề tài: “Mại dâm và những hệ lụy kinh tế, xã hội” của Viện khoa học
xã hội, năm 2007, đã đề cập tới các khía cạnh xã hội, hoạt động của người bán dâm cũng như hệ lụy kinh tế có liên quan; tác hại của TNMD về kinh tế, văn hóa, xã hội… trên cơ sở đó đề xuất giải pháp ngăn chặn TNMD như tăng cường nguồn lực về con người và kinh phí cho công tác phòng và chống TNMD, từng bước xã hội hóa công tác phòng, chống mại dâm, huy động sự tham gia của các tổ chức, cộng đồng và các cá nhân trong công tác này; tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội nghề nghiệp tham gia hỗ trợ phòng ngừa, giảm hại, giảm phân biệt đối xử, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm; tăng cường hợp tác quốc tế, chú trọng hợp tác với các nước trong khu vực, các nước có chung biên giới trong công tác phòng, chống buôn bán người, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán trẻ em vì mục đích bóc lột tình dục
Đề tài “Các tội xâm phạm trật tự công cộng theo quy định của Bộ luật hình sự - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trường Đại học Luật Hà Nội
năm 2009, đã khái quát lịch sử lập pháp về các tội chứa chấp, môi giới mại dâm và mua dâm người chưa thành niên; tình hình các tội phạm về cờ bạc, mại dâm; nguyên nhân từ những bất cập trong các quy định của Bộ luật hình
sự về tội danh chứa chấp, môi giới mại dâm, về độ tuổi của chủ thể, về tình tiết định khung tội chứa chấp, môi giới mại dâm, về hình phạt đối với tội mua dâm người chưa thành niên; trên cơ sở đó đề tài đã đưa ra phương hướng khắc phục, hoàn thiện
Tác giả Đàm Hữu Đắc (2009) có đề tài: “Vấn đề Phòng, chống TNXH trong thời kỳ đổi mới” Trên phương diện quản lý nhà nước về phòng, chống
mại dâm và cai nghiện phục hồi, tác giả đã hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về TNMD và ma túy; phân tích, đánh giá thực trạng phòng, chống TNMD và nghiện ma túy trong những năm đổi mới; dự báo tình hình, đề xuất những giải pháp tích cực phòng, chống TNXH đến 2020
Trang 13Năm 2015, Viện Khoa học Lao động và các Vấn đề xã hội thuộc Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội có Báo cáo khoa học: “TNXH và cách tiếp cận trong việc điều tra và thực hiện các chính sách xã hội”, do Nguyễn Hữu Dũng chủ nhiệm Trong Báo cáo này, nhóm các chuyên gia và nhà
nghiên cứu đã chỉ rõ vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và tâm lý của TNXH, cách thức giải quyết vấn đề TNXH thông qua các chính sách xã hội; Việc thực hiện chính sách xã hội đối với người mắc TNXH
Luận án tiến sĩ luật học: “Tệ nạm mại dâm - thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa” năm 2004, Nghiên cứu sinh Trần Hải
Âu, đã trình bày những vấn đề lý luận về TNMD và hoạt động phòng ngừa TNMD; Thực trạng TNMD và hoạt động phòng ngừa, giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa mại dâm ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hoa với đề tài: “Quản lý nhà nước về phòng, chống TNMD ở Việt Nam hiện nay” năm 2013 đã phân
tích những cơ sở khoa học và kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc quản lí nhà nước về mại dâm; Phân tích tình hình, đặc điểm, động thái, diễn biến, cơ cấu, tính chất, xu hướng phát triển và nguyên nhân, điều kiện của TNMD ở Việt Nam; Đề xuất, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về
Bài viết “Đấu tranh phòng, chống TNMD trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường” của tác giả Phạm Văn Hùng trên Tạp chí Công an nhân
Trang 14dân, số 11, năm 1994 đã tập trung làm rõ đặc trưng của TNMD, nguyên nhân
phát sinh TNMD và giải pháp đấu tranh phòng chống TNMD Trong đó giải pháp được tác giải chú ý là tập trung vào phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng giáo dục
Bài viết “Cần làm rõ nguyên nhân, quan điểm và biện pháp phòng,
chống TNMD có hiệu quả” của tác giả Trần Đình Hoan trên Tạp chí Phòng, chống tệ nạn mại dâm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, số 1 năm
1995 Tác giả Trần Đình Hoan đã làm rõ nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan; đưa ra biện pháp phòng, chống TNMD
Bài viết “Mại dâm và chống mại dâm” của tác giả Bùi Toản trên Tạp
chí Công An nhân dân, số 5 năm 1996 đã làm rõ khái niệm mại dâm, đặc
điểm mại dâm và giải pháp chống mại dâm tập trung vào những cơ sở nhạy cảm như: bar, ca nhạc, cắt tóc, gội đầu thư giãn, tẩm quất
Bài viết “Thực trạng và giải pháp phòng chốngTNMD” của tác giả
Đàm Hữu Đắc năm 2007, số 303 Tạp chí Lao động và xã hội đã nêu rõ thực
trạng gia tăng liên tục của TNMD trên khắp đất nước Việt Nam, tìm ra nguyên nhân cơ bản của thực trạng này và đề xuất một số giải pháp nhằm phòng, chống TNMD
Tác giả Lê Thị Hà với bài: “Thực trạng TNMD qua một cuộc điều tra
và một số khuyến nghị” năm 2009 đăng trên Tạp chí Lao động xã hội, số 373,
đã chỉ ra kết quả của một số cuộc điều tra thường niên cho thấy thực trạng tình trạng TNMD gia tăng liên tục qua các năm Tác giả đã phân tích nguyên nhân và đưa ra một số khuyến nghị nhằm phòng, chống TNMD
Bài viết “Tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm: lý luận và thực
tiễn” của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số
22, năm 2010 đã làm sáng tỏ thực tiễn tội danh, định khung và quyết định hình phạt đối với tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm; những vướng mắc, bất cập trong các quy định của Bộ luật hình sự về tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm, trên cơ sở đó, tác giả đã kiến nghị tội bán dâm, tổ chức hoạt
Trang 15động mại dâm, cưỡng bức bán dâm, bảo kê mại dâm; bổ sung tình tiết tăng nặng định khung “thu lợi bất chính lớn, rất lớn, hoặc đặc biệt lớn” vào tội chứa chấp, môi giới mại dâm
Ngoài ra còn một bài viết như: “Mại dâm và phòng chống mại dâm”
của tác giả Bùi Toàn trên Tạp chí Công An nhân dân số 5 năm 1996; Bài viết
“Cần làm rõ nguyên nhân, quan điểm và biện pháp phòng, chống TNMD có hiệu quả” của tác giả Trần Đình Hoan trên tạp chí Phòng chống tệ nạn mại dâm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Những công trình nghiên cứu trên đã trình bày khái quát được những vấn đề cơ bản về phòng, chống TNXH nói chung, hoạt động phòng, chống mại dâm nói riêng ở các cấp độ khác nhau; Thực trạng mại dâm và hoạt động phòng, chống mại dâm ở nước ta hiện nay Trên cơ sở đó, các công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ nguyên nhân của sự gia tăng mại dâm; đề xuất giải pháp phòng, chống mại dâm Có một vài công trình đã bước đầu làm rõ thực tiễn về quản lý hoạt động phòng, chống TNXH ở những địa phương cụ thể Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu trực diện hoạt động phòng, chống mại dâm ở phương diện quản lý; đồng thời cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của lực lượng trực tiếp đấu tranh phòng, chống mại dâm ở một địa phương cụ thể - Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
Vì vậy, những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn sẽ là tài liệu tham khảo để tác giả kế thừa, chọn lọc và tiếp tục bổ sung trong luận văn của mình nhằm giải quyết thỏa đáng mục đích và nhiệm vụ của đề tài đặt ra
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội; luận văn
Trang 16chỉ ra dự báo và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận;
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay;
- Dự báo và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận (cụ thể là Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội) mà không nghiên cứu đối với các chủ thể khác như: Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội, của cơ quan nhà nước, tổ chức, đoàn thể xã hội, gia đình
- Luận văn nghiên cứu trên địa bàn quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phòng, chống TNXH, về quản lý nhà nước và quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài đặt ra, tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết
hợp với các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể sau:
Trang 17- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng ở các chương của luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái quát hóa, đánh giá thực trạng, chỉ ra phương hướng, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh được sử dụng nhằm kế thừa
có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu đã có, từ đó vận dụng vào thực tiễn công tác quản lý hoạt động này của Công an quận Tây
Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay
- Phương pháp lịch sử, thống kê và so sánh và điều tra xã hội để xem xét một cách cụ thể về quá trình quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội hiện nay
- Phương pháp dự báo được sử dụng để phán đoán tình hình mại dâm trên địa bàn thời gian tới, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tăng cường quản lý hoạt động này của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội
6 Những đóng góp mới của đề tài
Đây là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ thạc sĩ nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận nói chung, của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội nói riêng
Về lý luận: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản
lý hoạt động phòng, chống mại dâm, trong đó tập trung vào quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận; xây dựng khái niệm quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận, phân tích nội hàm khái niệm này
Về thực tiễn: Luận văn đã đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động
phòng, chống mại dâm, qua đó thấy được những ưu điểm và hạn chế trong quá trình quản lý của Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đối với công tác phòng, chống TNXH nói chung và mại dâm nói riêng
Luận văn đã chỉ ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp mang tính toàn diện, khả thi nhằm tăng cường quản lý hoạt động phòng, chống
Trang 18TNXH nói chung, phòng, chống mại dâm nói riêng của Công an quận Tây
Hồ, Thành phố Hà Nội thời gian tới
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học và làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động phòng, chống TNXH nói chung, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của lực lượng Công an nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp những thông tin có giá trị giúp lực lượng Công an các địa phương nói chung, Công an quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội nói riêng, các cơ quan, tổ chức khác làm công tác phòng, chống mại dâm có cách nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm; trên cơ sở
đó, rút kinh nghiệm trong quá trình quản lý theo chức năng về vấn đề này
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập, người làm công tác thực tiễn, những người quan tâm đến hoạt động phòng, chống mại dâm nói chung, cũng như quản
lý hoạt động phòng, chống mại dâm ở nước ta hiện nay Đây là tài liệu tham khảo có giá trị lý luận và thực tiễn cho các địa phương trong việc xây dựng chính sách và thực hiện quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, với 07 tiết
Trang 191.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm mại dâm và tệ nạn mại dâm
* Mại dâm
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Mại dâm, là hoạt động dùng các
dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân giữa người mua dâm và người bán dâm (gái mại dâm/mại dâm nam) để trao đổi lấy tiền bạc, vật chất hay một số quyền lợi
và ưu đãi nào đó
Theo từ điển bách khoa Công an nhân dân: Mại dâm là kiếm
tiền bằng cách quan hệ tình dục (có thể đồng tính hoặc khác giới tính…) với mục đích kiếm sống do hoàn cảnh sống nghèo khó, không có việc làm hoặc
để thỏa mãn lối sống buông thả, sa đọa
Theo Từ điển Nghiệp vụ của Viện Nghiên cứu khoa học Công an năm
1997 thì mại dâm cũng như mãi dâm là hành vi kiếm tiền bằng việc làm mại dâm, dâm ô Mại dâm là mua bán tình dục và dâm ô, là hành vi khoái lạc về tình dục Theo Từ điển tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội: Mại dâm là nói những người con gái trong xã hội cũ phải bán thân mình cho khách chơi Mại dâm ở đây được hiểu là gái bán dâm, là những con người cụ thể có hành vi đem thân thể của mình cho khách mua dâm thỏa mãn tình dục để lấy tiền Còn cuốn Bách khoa toàn thư về Nhà nước và Pháp luật của Liên xô năm
1925 quan niệm: “Mại dâm là việc bán thể của mình để làm cho các đối tượng khác thỏa mãn nhu cầu tình dục” [5; tr.19]
Theo quan điểm xã hội học: mại dâm là việc trao đổi thỏa mãn tình dục, là công việc kinh doanh nhằm cung cấp thỏa mãn tình dục cho các nhân
Trang 20ngoài phạm vi vợ chồng với các đặc trưng cơ bản là cung cấp tình dục mang tính chất đồ trụy, tạo ra không khí vô đạo đức, nó đáp ứng như cầu tình dục của những người không cần gắn bó tình cảm Các nhà xã hội học quan niệm:
“mại dâm là những hành vi được thỏa mãn nhằm thực hiện quan hệ tình dục
có tính chất mua bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân” [49; tr.18]
Nhà nghiên cứu Khuất Thu Hồng (Viện Xã hội học) cho rằng: “Mại dâm là sự trao đổi thỏa mãn tình dục để lấy tiền hoặc bất cứ một giá trị vật chất nào đó, là một công việc kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa mãn tình dục cho các cá nhân ngoài phạm vi vợ chồng” [23; tr.30] Theo GS,TS Lê Thế Tiệm quan niệm: “Mại dâm là những hành vi nhằm thực hiện dịch vụ quan hệ tình dục có tính chất mua bán trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân” [47; tr.70] Ông Nguyễn Mạnh Tề, C14 Bộ Công an cho rằng: “Mại dâm là những hành vi nhằm trao đổi quan hệ tình dục có tính mua bán, trên cơ sở một giá trị vật chất nhất định nằm ngoài phạm vi hôn nhân và tình yêu Đối tượng mại dâm bao gồm những người mua dâm, bán dâm; người chứa mại dâm, môi giới mại dâm” [47; tr.5]
Từ góc độ pháp lý, mại dâm được quan niệm trong các văn bản quy phạm pháp luật như sau:
Đạo luật ngăn ngừa mại dâm (năm 1956) ở Nhật Bản đã chỉ ra rằng mại dâm là việc quan hệ giới tính với bất kỳ ai để được trả tiền hoặc được hứa trả tiền Bộ luật Hình sự của bang New York (Mỹ) đã xã định người tham gia mại dâm là người thực hiện thỏa thuận hoặc đề nghị thực hiện quan hệ giới tính với người khác để lấy tiền
Trong công ước quốc tế về loại trừ các hình thức bóc lột tình dục được thông qua tháng 12/1992 tại Bangkok, Thái Lan: “Mại dâm là coi thân thể như một đồ vật có thể mua bán với mục đích không phải luôn luôn là vì tiền”
“Mại dâm được hiểu là việc giao cấu, hoặc làm thỏa mãn nhu cầu tình dục của người khác nhằm thu tiền hoặc lợi ích khác” [1; tr.9]
Trang 21Theo kết quả nghiên cứu các văn bản pháp luật của Việt Nam, chưa có khái niệm cụ thể về mại dâm được tìm thấy Trong pháp lệnh Phòng chống mại dâm số 10/2003/PLUBTVQH11 ngày 17/3/2003 có những nội dung thể hiện các chiều cạnh khác nhau của mại dâm Tại điều 3 của Pháp lệnh có giải nghĩa thuật ngữ: Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác
để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác; Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu; Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm Vậy bản chất, mua dâm, bán dâm là hai mặt của một vấn đề - mại dâm
Các quan điểm trên xem xét mại dâm ở nhiều bình diện khác nhau, với những quan điểm có đôi chỗ khác biệt do bình diện nghiên cứu Trong nghiên cứu luận văn này, khái niệm mại dâm được hiểu theo quy định của Pháp lệnh Phòng chống tệ nạn mại dâm năm 2003 Mại dâm là quan hệ mua bán tình dục, là quan hệ giữa người mua dâm và người bán dâm Người mua dâm chi trả một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất nhất định để nhận được sự thỏa mãn
về tình dục Người bán dâm thực hiện hành vi giao cấu với người khác để nhận một khoản tiền hoặc lợi ích vật chất đã thỏa thuận
* Tệ nạn mại dâm
Thuật ngữ “Tệ nạn mại dâm” có nhiều cách hiểu khác nhau Trong một
số Từ điển chủ yếu trình bày về TNXH Trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống TNXH thì TNMD là một biểu hiện, một nội dung của TNXH
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia: TNXH là hiện tượng
có tính tiêu cực, biểu hiện thông qua các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật hiện hành, phá vỡ thuần phong mỹ tục, lối sống lành mạnh, tiến bộ trong xã hội, có thể gây những hậu quả nghiêm trọng cho các cá nhân, gia đình và xã hội TNXH bao gồm nhiều loại khác nhau như: ma túy, mại dâm, cờ bạc, đua xe, say rượu và nghiện rượu, mê tín dị đoan…
Trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Ngọc Hoa có cho rằng: “TNMD
là tệ nạn bao gồm tổng thể thể các hành vi nhằm thỏa mãn các dịch vụ về tình
Trang 22dục ở các mức độ khác nhau: như giao hợp, hoặc khiêu dâm, dâm ô, làm tình… kể cả cùng giới hay khác giới; hành vi mua bán, thỏa mãn nhu cầu tình dục xảy ra ngoài phạm vi hôn nhân và trái với các quy định pháp luật của nhà
nước” [21; tr 21]
Nhóm các nhà làm công tác thực tiễn cho rằng, MD là một TNXH mà bản chất của nó là hoạt động tình dục trên cơ sở thỏa thuận giữa bên mua và bên bán bằng tiền hoặc vật chất khác Vì vậy, một hành vi được coi là mại dâm khi có các dấu hiệu đặc trưng cơ bản là sự quan hệ trao đổi tình dục ngoài quan hệ hôn nhân và quan hệ đó có bên mua và bên bán
Hiện nay, trong hệ thống các văn bản pháp luật, chưa có văn bản nào nêu ra khái niệm TNMD Tuy nhiên, trong Pháp lệnh Phòng chống mại dâm năm 2003, tại điều 3 bên cạnh những giải thích khái niệm mại dâm, có những nội dung được hiểu là làm rõ khái niệm về TNMD như:
Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê, mượn, cho mược địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua, bán dâm; Tổ chức hoạt động mại dâm là hành vi bố trí, sắp xếp để thực hiện việc mua dâm, bán dâm; Cưỡng bức bán dâm là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng
vũ lực hoặc dùng thủ đoạn buộc người khác phải thực hiện việc bán dâm; Môi giới mại dâm là hành vi dụ dỗ hoặc dẫn dắt của người làm trung gian để các bên thực hiện việc mua dâm, bán dâm; Bảo kê mại dâm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín hoặc dùng vũ lực,
đe doạ dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mại dâm [54]
Trên cơ sở những nghiên cứu, những quan niệm nêu trên, trong phạm
vi luận văn, TNMD được hiểu như sau: Tệ nạn mại dâm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, biểu hiện tình trạng các cá nhân dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân và tiền bạc, lợi ích vật chất hay các lợi ích khác để trao đổi với nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục (đối với người mua dâm) hoặc nhu cầu
về tiền bạc, lợi ích vật chất (đối với người bán dâm)
Trang 23Như vậy, có thể khẳng định, TNMD bao hàm tổng thể các hành vi tình dục, tổ chức dịch vụ tình dục ở các hình thức, mức độ khác nhau như: khiêu dâm, làm tình, dâm ô, giao hợp, khiêu dâm, môi giới, cưỡng bức, bảo kê mại dâm… Điều này cho thấy, TNMD là khái niệm để chỉ các hành vi về mại dâm
đã trở thành một hiện tượng có tính chất phổ biến, nhức nhối trong xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến đến sự phát triển chung của xã hội
1.1.1.2 Khái niệm phòng, chống mại dâm và phòng, chống mại dâm của Công an quận
* Phòng, chống mại dâm
Trong Từ điển Công an nhân dân, xuất bản năm 2010: Phòng chống mại dâm là hệ thống các biện pháp của nhà nước nhằm khắc phục nguyên nhân, điều kiện của tình hình TNMD, làm giảm mại dâm
Theo nghĩa rộng, có thể hiểu, phòng chống mại dâm là tổng hợp các biện pháp nhằm không để tình trạng mại dâm xảy ra, xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện tham gia mại dâm Đồng thời xử lý nghiêm minh các trường hợp tham gia vào hoạt động mại dâm, hành vi có liên quan đến hoạt động mại dâm, cũng như công tác quản lý, giáo dục người tham gia mại dâm trở thành công dân có ích cho xã hội
Theo nghĩa hẹp, phòng chống mại dâm bao gồm các biện pháp nhằm không để mại dâm, các hành vi vi phạm pháp luật về mại dâm xảy ra, gây hậu quả cho xã hội, không để các thành viên trong xã hội phải chịu hình phạt và biện pháp xử lý của pháp luật, tiết kiệm chi phí cần thiết cho nhà nước trong điều tra, truy tố, xét xử và quản lý giáo dục đối với người tham gia vào các hoạt động mại dâm và có liên quan đến mại dâm
Dưới góc độ tội phạm học, phòng chống mại dâm là tổng thể các biện pháp do các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm tác động vào các yếu tố làm phát sinh mại dâm cũng như loại trừ các yếu tố này vì mục đích ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi mại dâm ra khỏi đời sống xã hội
Trang 24Vậy trong phạm vi luận văn có thể hiểu phòng, chống mại dâm là ngăn chặn và loại trừ mại dâm ra khỏi đời sống xã hội Theo đó, phòng chống mại dâm bao hàm tổng hợp các biện pháp nhằm: (1) Không để mại dâm xảy ra, xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện tham gia và có liên quan đến mại dâm; (2) Kịp thời phát hiện xử lý nghiêm minh các trường hợp tham gia mại dâm và TNMD; (3) Quản lý, giáo dục người tham gia mại dâm, vi phạm pháp luật trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội
Mại dâm gồm nhiều hành vi khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là: tội phạm về mại dâm và các hành vi khác nhau về mua bán tình dục Vì vậy phòng, chống mại dâm bao gồm phòng, chống tội phạm về mại dâm, chống hoạt động mua bán tình dục Tội phạm về mại dâm là nhóm tội phạm cụ thể về hoạt động mua bán tình dục, vì vậy phòng, chống tệ nạn mại dâm là hệ thống các biện pháp thông qua hoạt động của các chủ thể nhằm khắc phục nguyên nhân, điều kiện tình trạng phạm tội, làm giảm và ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả, tác hại của tội phạm về mại dâm Đi đôi với phòng, chống tội phạm về mại dâm là phòng, chống tình trạng mua, bán dâm và các hành vi vi phạm khác về hoạt động mua bán tình dục Đây là quá trình các chủ thể phối hợp các biện pháp ngăn ngừa, làm giảm tình trạng mua bán dâm, khắc phục nguyên nhân, điều kiện lây lan phát triển của tình trạng mua bán dâm
Mặt khác phòng chống tội phạm mại dâm là quá trình phòng chống môi trường hình thành mại dâm Đây là hoạt động phức tạp bao gồm tổng hợp các biện pháp của chủ thể trên các phương diện khác nhau, trong đó tập trung vào những vấn đề chính sau:
Phối hợp sử dụng các biện pháp đi sâu nắm tình hình, phát hiện, ngăn chặn, xóa bỏ những nguyên nhân, điều kiện tồn tại, phát triển của mại dâm, kể
cả tội phạm và các hành vi vi phạm khác liên quan đến mại dâm Đây là nội dụng cơ bản thể hiện tính nhân đạo, là mong muốn chung của xã hội, tiết
Trang 25kiệm được vật chất, sức lực của Nhà nước, nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến mại dâm và vi phạm pháp luật về mại dâm
Tiến hành các biện pháp kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm, đặc biệt đối với tội phạm về mại dâm thông qua đó ngăn chặn sự lây lan, phát triển của mại dâm Đồng thời quản lý những người tham gia mại dâm, vi phạm pháp luật khi tham gia mại dâm, giáo dục họ trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, khắc phục tình trạng tái tham gia mại dâm
* Phòng, chống mại dâm của Công an quận
Mại dâm và TNMD là vấn đề phức tạp, không thể một lực lượng hoặc
cơ quan, ban, ngành nào độc lập có thể giải quyết được bởi nạn mại dâm là vấn đề xã hội Khi giải quyết phải mang tính xã hội, có sự tham gia của toàn
xã hội Phòng, chống mại dâm là nhiệm vụ chung của nhiều lực lượng khác nhau từ trung ương đến địa phương, đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành, trong đó lực lượng công an là một bộ phận có vai trò quan trọng
Trong lĩnh vực phòng chống mại dâm, Điều 33 của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003 chỉ rõ trách nhiệm của lực lượng công an: Bộ Công
an có trách nhiệm tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm và các vi phạm pháp luật có liên quan đến mại dâm; chỉ đạo lập hồ sơ, đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh và hỗ trợ cơ sở chữa bệnh giữ gìn trật tự, an ninh; phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, các bộ, ngành liên quan trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm, người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng, kiểm tra, thanh tra và xử lý các
cơ sở kinh doanh dịch vụ có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm [56]
Trong Điều 26 của Nghị định số 178/2004/NĐ-CP, năm 2014 đã chỉ rõ trách nhiệm của cơ quan công an trong phòng, chống mại dâm đó là: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc tổ chức đấu tranh chống tội phạm về mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm; tổ
Trang 26chức tiếp nhận và xử lý thông tin về tội phạm mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em
để phục vụ hoạt động mại dâm; Bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, chiến sĩ chuyên trách trong ngành làm công tác đấu tranh phòng, chống mại dâm; Thực hiện thống kê nhà nước về tội phạm mại dâm; tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm; quản lý thông tin về tội phạm mại dâm; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm đăng ký tạm trú, tạm vắng
và cam kết thực hiện các quy định về đảm bảo an ninh trật tự an toàn xã hội; Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan hướng dẫn, chỉ đạo việc quản lý giáo dục những người có hành vi mại dâm, liên quan đến mại dâm tại cộng đồng; lập hồ sơ đề nghị đưa đối tượng vào cơ sở chữa bệnh; chỉ đạo lực lượng công an hỗ trợ giữ gìn an ninh, trật tự tại các cơ sở chữa bệnh theo đề nghị của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội; Phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ, ngành liên quan trong việc kiểm tra, thanh tra và xử lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ có hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm [10]
Tại khoản 2b, mục IV của Quyết định số 361/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016-2020, đã quy định rõ nhiệm vụ của cơ quan công an trong chương trình phòng, chống mại dâm giai đoạn 2016–2020 là: “Bộ Công an chỉ đạo lực lượng công an các cấp tăng cường các hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm liên quan đến mại dâm; phối hợp hoạt động phòng, chống mại dâm với phòng, chống tội phạm ma túy và buôn bán người; rà soát, đề xuất, sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý an ninh trật tự đối với các cơ sở kinh doanh có Điều kiện về
an ninh trật tự; quản lý địa bàn và xử lý vi phạm liên quan đến phòng, chống mại dâm.” [7]
Theo khoản 1, Điều 18, Luật Công an nhân dân (năm 2018), hệ thống
tổ chức của Công an nhân dân gồm có: a) Bộ Công an; b) Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; c) Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; d) Công an xã, phường, thị trấn Quy định này cho thấy, việc tổ chức lực
Trang 27lượng trong Công an nhân dân được phân công, phân cấp cụ thể Đồng thời với tư cách là lực lượng vũ nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, sự phân cấp và tên gọi của các cơ quan này không giống tên gọi của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng ở địa phương Chẳng hạn, ở cấp huyện, Công an có tên gọi, Công an huyện, Công an quận, Công an thị xã…
mà không gọi là phòng,…
Trên cơ sở phân tích nêu trên, để làm công cụ phục vụ nghiên cứu luận văn, có thể hiểu phòng, chống mại dâm của Công an là quận chính là tổng thể các hoạt động theo chức năng của lực lượng Công an nhân dân, trực tiếp do Công an quận tiến hành bằng các biện pháp nghiệp vụ nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi tiến tới xóa bỏ mại dâm, đảm bảo TTATXH trên địa bàn
Cụ thể các hoạt động cơ bản trong phòng, chống mại dâm của Công an quận bao gồm: (1) Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm về mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em để phục vụ hoạt động mại dâm và các vi phạm pháp luật có liên quan đến mại dâm; (2) Chỉ đạo lập hồ sơ, đưa người bán dâm vào cơ sở chữa bệnh và hỗ trợ cơ sở chữa bệnh giữ gìn trật tự, an ninh; (3) Phối hợp với các đơn vị thuộc cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan khác trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm, người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng (4) Kiểm tra, thanh tra và xử lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ kinh doanh có điều kiện và cơ sở có vi phạm pháp luật về phòng, chống mại dâm
1.1.2 Tác hại của mại dâm, ý nghĩa của phòng chống mại dâm của Công an quận
1.1.2.1 Tác hại của mại dâm
- Đối với sức khỏe: Mại dâm thường dẫn đến suy kiệt về sức khỏe của đối tượng, 100% gái mại dâm bị bệnh xã hội như giang mai, lậu, các bệnh viêm nhiễm đường tình dục… dẫn đến ảnh hưởng tới sự phát triển giống nòi
do bị bệnh tật, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai, và hơn nữa mại dâm gắn liền với nhiễm HIV là con đường nhanh nhất, dễ nhất dẫn đến AIDS – một căn
Trang 28bệnh thế kỷ đang trở thành đại dịch, hủy hoại sự sống của mỗi con người, của
cả nhân loại không xa xôi mà đang là sự thật bày ra trước mắt
- Đối với xã hội: Làm xói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc, làm tha hóa một bộ phận dân cư và một số cán bộ, đảng viên, viên chức Nhà nước Con người đã hoạt động mại dâm, với tinh thần bệnh hoạn, thích ăn chơi trụy lạc, trước hết đời sống gia đình lục đục, con cái mất cha mẹ, vợ lìa chồng, tan vỡ hạnh phúc… làm xói mòn đạo đức xã hội, mất đi thuần phong mỹ tục của người Việt Nam Làm mất an toàn xã hội vì có liên quan đến những hành vi vi phạm pháp luật và là điều kiện làm nảy sinh các sai phạm khác; đồng hành với mại dâm là nghiện hút, cờ bạc, tội phạm hình
sự (bảo kê, ma – cô), trộm cắp, bạo hành, ảnh hưởng nặng nề đến an toàn xã hội Người ta cũng ví von rằng “mại dâm là bạn đồng hành với tội phạm và là hình bóng của AIDS” Người hoạt động mại dâm thường bị xã hội kỳ thị, xa lánh, khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội )
- Đối với kinh tế: Đa phần những con người đi vào con đường mại dâm, đầu tiên là lười lao động, làm ít chơi nhiều, kinh tế gia đình ngày càng suy kiệt Làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế đất nước; mại dâm làm ảnh hưởng lớn đến nguồn lao động, nguồn lực tạo ra của cải vật chất cho xã hội Bên cạnh đó, người thực hiện hoạt động mại dâm gây ra thiệt hại về kinh tế cho việc chi phí về chăm lo cho họ bằng nhiều cách như khám chữa bệnh, phục hồi, dạy nghề, tạo công ăn việc làm, cứu trợ những nạn nhân mắc bệnh AIDS… chi phí cho các hoạt động khác như tuyên truyền phòng, chống mại dâm… Trong điều kiện hội nập và mở cửa, mại dâm còn làm ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của các dự án đầu tư trong và ngoài nước
1.1.2.2 Ý nghĩa của phòng, chống mại dâm
Thứ nhất, ý nghĩa về kinh tế - xã hội
Phòng, chống mại dâm hiệu quả có ý nghĩa tích cực về mặt kinh tế - xã hội như sau: (i) Phòng, chống mại dâm giúp cho các đối tượng có nguy cơ tệ nạn tránh xa được tệ nạn này Định hướng được lối sống tích cực cho cộng đồng tránh xa các tệ nạn xã hội nói chung và TNMD nói riêng Đặc biệt là những
Trang 29người trẻ, tập trung vào học tập nâng cao trình độ, rèn luyệt thể lực để trở thành nguồn nhân lực chất lượng tốt cung ứng cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội; (ii) Phòng, chống mại dâm đã ngăn chặn từ nguyên nhân phát sinh tệ nạn, giảm đối tượng vi phạm từ đó giảm thiểu chi phí về để chăm
lo cho họ bằng nhiều cách như khám chữa bệnh, phục hồi, dạy nghề, tạo công
ăn việc làm, cứu trợ những nạn nhân mắc bệnh AIDS; (iii) Ngăn chặn, đẩy lùi mại dâm sẽ góp phần tạo môi trường kinh tế - xã hội lành mạnh, là điều kiện quan trọng để thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy sự phát triển mọi mặt đời sống xã hội
Thứ hai, ý nghĩa về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Mại dâm là con đường lây lan nhanh chóng các bệnh xã hội như giang mai, lậu, các bệnh viêm nhiễm đường tình dục… dẫn đến ảnh hưởng tới sự phát triển giống nòi do bị bệnh tật, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai Hơn nữa, mại dâm gắn liền với nhiễm HIV là con đường nhanh nhất, dễ nhất dẫn đến AIDS – một căn bệnh thế kỷ đang trở thành đại dịch, hủy hoại sự sống của mỗi con người, của cả nhân loại
Phòng, chống mại dâm là tổng hợp tất cả các biện pháp ngăn chăn, đẩy lùi mại dâm ra khỏi cộng đồng xã hội Cùng với sự đẩy lùi tệ nạn là đẩy lùi con đường lây lan các bệnh xã hội, tiến tới triệt tiêu nguyên nhân của tệ nạn,
là xóa bỏ tận gốc con đường lây lan chính của các căn bệnh xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng
Phòng, chống mại dâm đồng nghĩa với việc giáo dục ý thức chăm sóc sức khỏe cho các đối tượng mại dâm và những đối tượng có nguy cơ tham gia mại dâm Nhờ đó, mà nâng cao hiểu biết cho các đối tượng để các đối tượng tự chăm sóc bảo vệ sức khỏe của chính mình nâng cao chất lượng sức khỏe cộng đồng
Phòng, chống mại dâm còn giúp đỡ các đối tượng mại dâm chữa bệnh, đồng thời quản lý các đối tượng này nhằm ngăn chặn sự lây lan bệnh tật trong cộng đồng
Trang 30Thứ ba, ý nghĩa về trật tự, an toàn xã hội
Mại dâm tồn tại và phát triển là điều kiện, môi trường để TNXH khác tồn tại và phát triển Đồng hành với mại dâm là nghiện hút, cờ bạc, tội phạm hình sự, trộm cắp, bạo hành, tác động tiêu cực đến TTATXH Vì vậy, phòng, chống mại dâm, TNMD đã giúp xóa bỏ môi trường tồn tại của các TNXH khác, có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giữ gìn TTATXH, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, an toàn, có trật tự kỷ cương
1.2 Khái niệm, đặc điểm quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận
1.2.1 Khái niệm quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công
an quận
Quản lý theo nghĩa rộng là hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động vào đối tượng quản lý nhằm điều phối hoạt động của đối tượng quản
lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu nhất định
Như vậy, từ khi con người bắt đầu phối hợp với nhau trong làm việc là bắt đầu xuất hiện quan hệ quản lý Ngày nay, quan hệ quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hiệp tác đẻ làm một công việc nhằm đạt mục tiêu chung Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [47] Quan hệ quản lý
là tất yếu cần thiết ở bất kỳ đâu, trên bất kỳ lĩnh vực nào cần có sự phối hợp hoạt động giữa các các nhân khác nhau Quản lý có nhiều cấp độ, theo quy mô
có thể phân thành quản lý vĩ mô, quản lý vi mô Quản lý vĩ mô thường là khái
Trang 31niệm dùng để chỉ quản lý của Nhà nước với xã hội trên các phương diện kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng
Nội dung quản lý nhà nước thể hiện ở hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đặt
ra Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội đối ngoại của Nhà nước để nhằm hiện thực hóa những mục tiêu nhà nước xác định khi thực hiện vai trò và hoạt động quản lý của mình Như vậy, tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước Pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước Bằng pháp luật, nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức xã hội hoặc các cá nhân
để họ thay mặt nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước
Ngày nay, thuật ngữ quản lý nhà nước trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất Có người cho rằng quản lý nhà nước là hoạt động nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc quan sự nỗ lực của cán bộ, công chức
và công dân Cũng có người cho rằng quản lý nhà nước là một hoạt động thiết yếu nhằm bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của Nhà nước Có tác giả lại quan niệm một cách đơn giản hơn, coi quản lý nhà nước là sự có trách nhiệm về một cái gì đó của nhà nước
Quản lý về phòng, chống mại dâm là một trong những chức năng của quản lý nhà nước được thực hiện dưới sự phối hợp của nhiều cơ quan khác nhau từ Trung ương đến địa phương
Theo Điều 3, Luật Công an nhân dân (năm 2018), Công an nhân dân là lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật Điều 16, luật này có nêu rõ chức năng của lực lượng Công an nhân dân là tham mưu cho Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo
Trang 32đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia, TTATXH đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, TTATXH
Trong Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003, lực lượng Công an nhân dân được phân công trách nhiệm tăng cường các hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm liên quan đến mại dâm; phối hợp hoạt động phòng, chống mại dâm với phòng, chống tội phạm ma túy và buôn bán người; rà soát,
đề xuất, sửa đổi bổ sung các quy định về quản lý an ninh trật tự đối với các cơ
sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; quản lý địa bàn và xử lý vi phạm liên quan đến phòng, chống mại dâm
Vậy có thể hiểu, Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công
an quận là sự tác động có tổ chức, có tính định hướng bằng pháp luật, quy chế và hướng dẫn nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý có hiệu quả các hành
vi, hoạt động mại dâm trên địa bàn quận
1.2.2 Đặc điểm quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công
an quận
1.2.2.1 Đặc điểm về chủ thể quản lý
Chủ thể quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của lực lượng Công
an nói chung là Bộ Công an và Công an nhân nhân ở các cấp Chủ thể quản lý nằm trong hệ thống chủ thể quản lý xã hội nói chung của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Mọi hoạt động của lực lượng Công an về phòng, chống mại dâm đều dựa trên những quy định chung của hiến pháp, pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trên cơ sở đó, Bộ Công an hướng dẫn Công an các cấp thực hiện các biện pháp nghiệp vụ Tất cả các lực lượng thuộc Công an nhân dân thực hiện các nhiệm vụ để hướng tới mục tiêu chung là bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật
Trang 33Về tổng thể, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của lực lượng Công an nhân dân nói chung được tổ chức tập trung, thống nhất, chuyên sâu, tinh gọn và theo cấp hành chính từ trung ương đến cơ sở Phù hợp với nguyên tắc kết hợp quản lý theo lãnh thổ với quản lý theo ngành, ở địa phương, Công
an quận theo phân cấp và phân công tiến hành quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm trên địa bàn Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận, ngoài những đặc điểm chung còn có những biểu hiện mang tính đặc thù Công an quận là đơn vị trực tiếp thực hiện các tác động trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm trên địa bàn bằng các biện pháp nghiệp vụ phù hợp với chức năng của Công an nhân dân Điều này cho thấy, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của chủ thể này không giống với cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội, hay các cơ quan khác trên địa bàn
Theo mô hình tổ chức của Công an nhân dân, Công an cấp tỉnh, Công
an quận có một bộ phận chuyên trách được tổ chức dưới hình thức phòng (Công an cấp tỉnh), đội (Công an quận) để thực hiện nhiệm vụ tổ chức đấu tranh phòng, chống mại dâm và TNXH khác Còn Công an ở cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) không tổ chức theo mô hình này Tuy nhiên, tác nghiệp cụ thể trong quá trình đấu tranh phòng, chống mại dâm và quản lý hoạt động này của Công an quận cũng có sự khác biệt cơ bản Nếu ở Công an cấp tỉnh, việc xây dựng kế hoạch và tính chất chỉ đạo hướng dẫn trong công tác phòng, chống mại dâm theo chức năng cho cấp dưới là cơ bản, thì Công an quận lại
là chủ thể trực tiếp triển khai phương án, cách thức và các biện pháp nghiệp
vụ chuyên sâu để tổ chức, phát hiện, điều tra, đấu tranh,… với các hoạt động mại dâm và có liên quan đến mại dâm trên địa bàn
1.2.2.2 Đặc điểm về đối tượng quản lý
Theo Điều 15, Luật Công an nhân dân (sửa đổi), đối tượng quản lý của lực lượng Công an nhân dân là toàn xã hội, với tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, TTATXH Đối với quản lý hoạt động phòng, chống mại
Trang 34dâm, đối tượng quản lý của lực lượng công an nói chung là những vấn đề có liên quan đến mại dâm, TNMD và các vi phạm pháp luật khác có liên quan đến tệ nạn này Đối tượng của quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận phức tạp và đa dạng Sự phức tạp đó được biểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau
Trong bối cảnh toàn cầu, mở rộng quan hệ hợp tác, trên địa bàn đô thị nói chung, trong không gian của đơn vị hành chính quận (được tổ chức ở đô thị) đối tượng mại dâm và TNMD rất đa dạng Không chỉ là công dân Việt Nam mà còn có người nước ngoài, người không quốc tịch; công dân cư trú trên địa bàn mà công dân lưu trú (tạm trú), thậm chí không có nơi cư trú, tạm trú cố định và các đối tượng này di chuyển linh hoạt trên địa bàn và các địa bàn giáp ranh; giữa các tỉnh, thành của cả nước Bên cạnh đó đối tượng mại dâm và có liên quan đến mại dâm thường có sự liên quan đến nhiều vấn đề, lĩnh vực khác của xã hội, pháp luật Điển hình nhất, các đối tượng này thường liên quan đến các loại TNXH và tội phạm như ma túy, cờ bạc, buôn bán người, trộm cắp…
Bên cạnh đó, đối tượng của mại dâm hoạt động núp bóng dưới nhiều hình thức, tổ chức phong phú, đa dạng, gây khó khăn cho công tác quản lý, đấu tranh, triệt phá
1.2.2.3 Đặc điểm về tác động nghiệp vụ trong quản lý
Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm nói chung do nhiều chủ thể
có chức năng, thẩm quyền quản lý khác nhau theo sự phân công, phân cấp và phối hợp quản lý Hai nhóm chủ thể chủ yếu được phân công quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm ở quận là Công an quận và Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội Tuy nhiên, hai chủ thể này tiến hành các tác động nghiệp vụ khác nhau nhưng đều hướng về mục đích chung là ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ mại dâm trên địa bàn
Tác động nghiệp vụ quản lý của cơ quan Lao động – Thương binh và
xã hội quận chủ yếu hướng vào việc giải quyết về mặt xã hội vấn đề mại dâm
Trang 35và TNMD trên địa bàn Việc đấu tranh, triệt phá các tổ chức, hoạt động mại dâm và có liên quan đến mại dâm không thuộc thẩm quyền được phân công Tác động nghiệp vụ trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công
an quận gắn liền với các biện pháp nghiệp vụ cụ thể như: Bám sát địa bàn, thực hiện điều tra cơ bản, nắm bắt tình hình và xây dựng kế hoạch phát động phong trào toàn dân phòng chống mại dâm; Chỉ đạo nghiệp vụ cho Công an xã, phường trên địa bàn, tham mưu, xây dựng và thực hiện các quy định của pháp luật nhằm phòng, chống TNXH nói chung và phòng, chống mại dâm nói riêng; Xây dựng mô hình và nhân điển hình tiên tiến trong phòng, chống mại dâm; Xây dựng lực lượng nòng cốt tại địa bàn cơ sở để phòng, chống mại dâm
1.3 Nguyên tắc, nội dung, phương pháp quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận
1.3.1 Nguyên tắc quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận
Nguyên tắc quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của lực lượng Công an nói chung, của Công an quận nói riêng là phương châm chỉ đạo, chuẩn mức hoạt động cơ bản bảo đảm sự thống nhất các hình thức hoạt động quản lý, sự phối hợp của các chủ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra của quản
lý Trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an huyện được tiến hành dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trong điều 8, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013
đã chỉ rõ về nguyên tắc pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của nhà nước Theo đó, pháp chế XHCN là sự tôn trọng và tuân thủ triệt để pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân đã trở thành nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của các
cơ quan trong bộ máy nhà nước
Công an nhân dân là một chủ thể quan trọng trong quản lý nhà nước, vì vậy, hoạt động quản lý của công an các cấp đối với các vấn đề theo chức năng, nhiệm vụ được phân công nhất thiết phải dựa trên nguyên tắc pháp chế
Trang 36XHCN Trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm, Công an phải triệt
để tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN Nguyên tắc này có nghĩa là tổ chức
và hoạt động của Công an quận khi tiến hành quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm phải dựa trên cơ sở pháp luật của nhà nước, các quy chế, hướng dẫn nghiệp vụ và phương án của Công an cấp trên Nội dung nguyên tắc này thể hiện: (1) Trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm, Công an quận tuân thủ sự điều chỉnh bằng pháp luật về cơ cấu tổ chức và hoạt động quản lý Theo đó, Công an quận hình thành các bộ phận nghiệp vụ mang tính chuyên trách có chuyên môn sâu về phòng, chống TNXH nói chung, phòng, chống mại dâm nói riêng; xây dựng lực lượng có bản lĩnh, có phẩm chất đạo đức, có chuyên môn vững vàng để hoàn thành nhiệm vụ và đạt được mục tiêu của quản lý (2) Công an quận trong quá trình quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm phải chấp hành và thực hiện nghiêm ngặt những đòi hỏi của pháp luật về vấn đề này Quy trình, thủ tục, biện pháp nghiệp vụ, phương pháp đấu tranh,… đều phải gắn với các quy định cụ thể trong các văn bản, quy chế, hướng dẫn được quy định Mọi chủ trương, phương án, biện pháp triển khai các hoạt động của quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm, Công an quận đều dựa trên tinh thần thượng tôn pháp luật
- Nguyên tắc quản lý theo ngành và theo lãnh thổ
Quản lý theo ngành là hoạt động quản lý các đơn vị, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có cùng cơ cấu kinh tế - kĩ thuật hoặc hoạt động với mục đích giống nhau nhằm làm cho hoạt động cúa các tổ chức, đơn vị này phát triển một cách đổng bộ, nhịp nhàng, đáp ứng được với yêu cầu của nhà nước và xã hội
Quản lý theo địa phương là quản lý trên phạm vi lãnh thổ nhất định theo
sự phân định địa giới hành chính của Nhà nước Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, quản lý theo địa phương được thực hiện ở ba cấp (cấp tỉnh, cấp huyện, xấp xã) Công an quận là một bộ phận cấu thành của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước địa phương ở cấp thứ 2 (cấp huyện, bao gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
Trang 37Trong xã hội nói chung, ở một cấp quản lý hành chính lãnh thổ cụ thể phát sinh một cách khách quan các hoạt động, lĩnh vực khác nhau Do tính chất chuyên môn hóa của quản lý nên việc phân công cho các chủ thể khác nhau (trong cùng cấp) tiến hành quản lý là hợp lý, đảm bảo tính khoa học và hiệu quả Với tư cách là lực lượng bảo vệ an ninh, giữ gìn TTATXH, Công an nhân dân nói chung đảm nhận nhiệm vụ cụ thể trong quản lý các hoạt động của đời sống xã hội trên địa bàn Giới hạn trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận được phân định trong Luật Công an nhân dân (năm 2018) và các văn bản có liên quan về phòng, chống mại dâm Trong phạm vi lãnh thổ (quận) có sự phân định quản lý theo chức năng về công tác phòng, chống mại dâm cho Công an quận Công an quận theo đó, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm trên địa bàn của quận; đồng thời Công an quận không chỉ làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống TNXH nói chung
mà còn tổ chức và trực tiếp chỉ đạo về nghiệp vụ cán bộ, chiến sỹ thực hiện các biện pháp, kỹ năng, phương án đấu tranh phòng, chống mại dâm
- Nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý và biện pháp nghiệp vụ
Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận đòi hỏi quán triệt việc sử dụng toàn diện các biện pháp giáo dục, kinh tế, hành chính, đến hình sự Mỗi phương pháp quản lý có những ưu điểm và nhược điểm tác động riêng đến đối tượng quản lý Sử dụng toàn diện các phương pháp giúp phát huy ưu điểm, bổ sung khắc phục nhược điểm của từng phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý phòng, chống mại dâm của Công
an quận
Quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm nằm trong hệ thống chức năng quản lý nói chung của nhà nước Để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước nói chung và quản lý phòng, chống mại dâm nói riêng cần có những biện pháp nghiệp vụ khác nhau như: nghiệp vụ lập hồ sơ quản lý đối tượng; nghiệp vụ
Trang 38điều tra, bắt giữ, xử lý đối tượng về mại dâm; nghiệp vụ giáo dục, giúp đỡ đối tượng thoát khỏi con đường tội lỗi, tránh xa mại dâm trở về với cuộc sống đời thường Các biện pháp nghiệp vụ thường nằm trong chuỗi hoạt động nghiệp vụ hướng tới thực hiện mục tiêu là đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ mại dâm khỏi cộng đồng Các biện pháp nghiệp vụ là tiền đề đồng thời củng cố, bảo vệ thành quả của nhau trong quá trình đấu tranh phòng, chống mại dâm của lực lượng công
an nhân dân nói chung
- Nguyên tắc phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào quá trình quản lý
Mại dâm và TNMD ngày càng phát triển mạnh mẽ, biến tướng khôn lường Trong khi đó, lực lượng Công an nói chung, Công an quận nói riêng rất mỏng Muốn xây dựng được thế trận an ninh nhân dân rộng khắp, vững mạnh thì việc huy động quần chúng nhân dân tham gia vào quá trình quản lý
là một đòi hỏi khách quan Mại dâm và quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm tác động và liên quan tới mọi thành viên trong xã hội Do vậy phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh nhằm đẩy lùi tiến tới xóa bỏ mại dâm, xây dựng cộng đồng an toàn và trật tự không còn là hoạt động chuyên đơn độc, nghiệp
vụ đơn thuần, nhiệm vụ chức năng của lực lượng Công an nhân dân mà chính
là sự nghiệp của quần chúng nhân dân Nguyên tắc này yêu cầu trọng quá trình quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm cần tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, xây dựng lực lượng toàn dân tham gia phòng, chống mại dâm; Có cơ chế bảo vệ người dân trong tố giác tội phạm nói chung và tội phạm về mại dâm nói riêng; Có hình thức khen thưởng, khích lệ kịp thời những đóng góp tích cực của quần chúng nhân dân trong phong trào phòng, chống TNXH và mại dâm trong cộng đồng
Tóm lại, quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công an quận là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do vậy cần quán triệt đầy đủ những nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tính hiệu quả, tính mục đích, định hướng, tạo
Trang 39ra sự thống nhất, đồng bộ trong tổ chức và hoạt động của lực lượng Công an nhân dân nói chung, trong quản lý đối với công tác phòng, chống mại dâm ở quận nói riêng
1.3.2 Nội dung quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm của Công
an quận
Gắn liền với sự phân công, phân cấp, cũng như sự phân định thẩm quyền giữa các cơ quan trong quản lý hoạt động phòng, chống mại dâm trên địa bàn, Công an quận thực hiện các nội dung quản lý sau:
- Xây dựng kế hoạch, chương trình, phương án phòng, chống mại dâm
Công an quận là lực lượng quan trọng trong xây dựng kế hoạch, chương trình, phương án và tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, phương
án về phòng, chống mại dâm trên địa bàn Lực lượng này có nhiệm vụ thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất với cấp ủy Đảng, chính quyền quận ban hành, chỉ đạo thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật, chiến lược bảo vệ an ninh, bảo đảm TTATXH, đấu tranh phòng, chống tội phạm; tham gia thẩm định, đánh giá tác động của mại dâm đối với các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn Trực tiếp xây dựng các chương trình, phương án phòng, chống mại dâm trên địa bàn được quản lý và
đề xuất cấp trên phê duyệt
Kế hoạch, chương trình, phương án về phòng chống mại dâm được xây dựng của Công an quận phải mang tính thống nhất với kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh trật tự nói chung và thống nhất phân cấp để hướng tới thực hiện mục tiêu chung
- Tổ chức thực hiện kế hoạch, chương trình, phương án về phòng, chống mại dâm trên địa bàn
Công an quận tổ chức thực hiện các kế hoạch, chương trình, phương án phòng chống mại dâm trong thực tiễn Lực lượng công an cùng với các lực lượng khác phổ biến kế hoạch, chương trình, phương án đến toàn thể nhân
Trang 40dân Tập hợp lực lượng, khích lệ, động viên nhân dân tích cực tham gia thực hiện kế hoạch, chương trình phương án để phòng, chống mại dâm Kiểm tra, đánh giá, sơ kết tổng kết kết quả thực hiện các các chương trình, phương án phòng, chống mại dâm
- Tổ chức đấu tranh phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác liên quan đến mại dâm
Công an quận tổ chức các đợt đấu tranh truy quét các đối tượng TNXH nói chung và mại dâm nói riêng Nội dung đấu tranh phòng, chống mại dâm thể hiện ở kết quả phát hiện, bắt giữ, xử lý các đối tượng mại dâm Công an quận tiến hành lập danh sách các đối tượng mại dâm và có nguy cơ cao với tệ nạn này Tổ chức theo dõi thường xuyên để nắm bắt quy luật hoạt động, phương pháp che dấu hành vi phạm tội của các đối tượng phạm tội Tổ chức bắt quả tang, thu giữ tang vật, lấy lời khai nhân chứng, tạm giữ nghi phạm Lập hồ sơ xử lý theo thẩm quyền và liên hệ với các cơ quan chức năng khác trong xử lý đối tượng mại dâm
- Chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện việc quản lý, giáo dục người bán dâm, người có hành vi liên quan đến mại dâm tại cộng đồng
Đối tượng mại dâm khi bị phát hiện được phân loại và áp dụng các hình thức xử lý, quản lý, giáo dục phù hợp Đối với người mua dâm thường bị phạt tiền, cảnh cáo, thông báo về cơ quan, đơn vị, địa phương nơi đối tượng cư trú
và làm việc Đối với số bán dâm vi phạm lần đầu, do bị dụ dỗ, ép buộc được
xử lý hành chính sau đó giao cho chính quyền, gia đình quản lý, giáo dục Số bán dâm nhiều, có tính chất nguy hiểm với xã hội được phân loại và đưa vào trung tâm và cơ sở chữa bệnh
Trong phòng, chống mại dâm, quản lý, giáo dục người tham gia mua bán dâm, liên quan đến mại dâm như tổ chức môi giới, bảo kê, chăn dắt gái bán dâm là nhiệm vụ vô cùng quan trọng để ngăn ngừa tình trạng tái phạm của các đối tượng Trên địa bàn quận, nhiệm vụ này do nhiều chủ thể tiến hành, phối hợp thực hiện như cơ quan thuộc ngành Công an, Lao động -