1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI TIỂU LUẬN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG VỀ

8 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 26,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tất cả các hoạt động sống và quá trình phát triển của con người chính là quá trình khai thác và sử dụng liên tục các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.. The

Trang 1

BÀI ĐIỀU KIỆN MÔN KINH TẾ MÔI TRƯỜNG

Đề bài: Vận dụng cơ sở lý luận để tìm hiểu thực trạng tác động của phát triển đến môi trường tại quê hương em

BÀI LÀM

I C S LÝ LU NƠ SỞ LÝ LUẬN Ở LÝ LUẬN ẬN

1 Khái niệm

1.1 Khái niệm môi trường

Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật

1.2 Khái niệm chung về phát triển

Phát triển là quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần của con người, bằng cách năng cao sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa

xã hội

2 Các tác động của phát triển đến môi trường

2.1 Khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Tất cả các hoạt động sống và quá trình phát triển của con người chính là quá trình khai thác và sử dụng liên tục các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất

Để đáp ứng các đòi hỏi của hoạt động sống và thỏa mãn các nhu cầu, con người ngày càng gia tăng việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên với quy

mô, phạm vi, hình thức, cường độ ngày càng cao Hiện nay việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của con người là đáng báo động

Cuộc sống của con người hoàn toàn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên mà Trái Đất cung cấp Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên thiên nhiên đó đều có giới hạn Khi khai thác quá nhiều có thể dẫn đến nguy cơ suy giảm và cạn kiệt tài nguyên

2.2 Thải các loại chất thải vào môi trường

Trang 2

Mọi hoạt động sống, sinh hoạt, sản xuất của con người đều tạo ra các loại chất thải và đều được đưa ra ngoài môi trường Các loại chất thải thải ra môi trường là

vô cùng đa dạng

Theo định luật bảo toàn vật chất và năng lượng thì tổng lượng chất thải thải ra ngoài môi trường là tổng lượng tài nguyên thiên nhiên đã khai thác sử dụng Điều

đó đồng nghĩa với việc nếu sử dụng càng nhiều tài nguyên thiên nhiên thì sẽ gia tăng lượng chất thải thải ra môi trường

Bản chất của việc thải các loại chất thải vào môi trường chính là việc đưa vào môi trường các loại chất xấu, đã ko còn giá trị hữu ích, mà lại còn có thể ảnh hưởng xấu đến các thành phần khác của môi trường

Nếu tổng lượng chất thải vào môi trường vượt qua khả năng chịu đựng, hấp thụ, trung hòa của môi trường thì sẽ dẫn đến nguy cơ suy thoái môi trường, làm suy giảm, thậm chí triệt tiêu chức năng thứ ba của môi trường

2.3 Tác động trực tiếp lên tổng thể môi trường

Bên cạnh các tác động khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên và thải các loại chất thải vào môi trường là loại tác động theo hướng một chiều, quá trình phát triển của con người có tác động đa chiều vào môi trường, thể hiện ở việc lấy bớt đi nhiều thành phần môi trường và có thêm vào môi trường, đồng thời cải tạo các yếu

tố môi trường Đó chính là tác động trực tiếp vào tổng thể môi trường

Tác động trực tiếp lên tổng thể môi trường theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực Con người có thể làm nâng cao chất lượng môi trường hay làm suy thoái môi trường Điều này sẽ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của xã hội loài người

Tác động trực tiếp lên tổng thể có xu hướng mở rộng rất mạnh Trong khi tác động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên có thế ổn định hoặc giảm bớt nhờ các cuộc cách mạnh nguyên liệu, tác động thải các loại chất thải vào môi trường có thể được cải thiện nhờ các công nghệ thu gom, xử lý chất thải hiện đại

II TH C TR NG TÁC Đ NG C A PHÁT TRI N Đ N M T TRỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ẠNG TÁC ĐỘNG CỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ỘNG CỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ỘNG CỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA ƯỜNG CỦA NG C A ỦA PHÁT TRIỂN ĐẾN MỘT TRƯỜNG CỦA

T NH H NG YÊNỈNH HƯNG YÊN Ư

1 Giới thiệu khái quát về tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Hưng Yên.

Hưng Yên mang đặc trưng của một tỉnh đồng bằng, không có đồi, núi, địa hình tương đối bằng phẳng Đất nông nghiệp 61.037 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm 55.645 ha, còn lại là đất trồng cây lâu năm, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, đất chuyên dùng và đất sử dụng cho các mục đích khác Đất chưa sử dụng

Trang 3

khoảng 7.471 ha Hưng Yên là một tỉnh được bao bọc bởi sông Hồng và sông Luộc, nên có nguồn nước ngọt rất dồi dào Nguồn nước mặt cũng hết sức phong phú Nước ngầm của Hưng Yên cũng rất đa dạng với trữ lượng lớn, ở dọc khu vực quốc lộ 5A từ Như Quỳnh đến Quán Gỏi có những mỏ nước ngầm rất lớn, không chỉ cung cấp nước cho phát triển công nghiệp và đô thị mà còn có thể cung cấp khối lượng lớn cho các khu vực lân cận Hưng Yên có nguồn khoáng sản tiêu biểu

là than nâu (thuộc bể than nâu vùng đồng bằng sông Hồng) có trữ lượng rất lớn (hơn 30 tỷ tấn) hiện chưa được khai thác, đây cũng là một tiềm năng lớn cho phát triển ngành công nghiệp khai thác than

2 Thực trạng tác động của phát triển đến môi trưởng của tỉnh Hưng Yên

2.1 Hiện trạng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại tỉnh Hưng Yên

2.1.1 Tài nguyên nước

Do nhu cầu sử dụng nước ngầm phục vụ sản xuất và sinh hoạt ngày càng cao nên đã xảy ra tình trạng khai thác quá mức Có tới 7/10 huyện, thành phố hiện đang khai thác nước ngầm ở mức cao hơn 30% tổng trữ lượng nước ngầm có thể khai thác gồm: Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Văn Giang, Khoái Châu, Tiên Lữ và thành phố Hưng Yên Tình trạng thiếu hụt nguồn nước ngầm đã diễn ra cục bộ tại một số địa phương Kết quả quan trắc nước ngầm do ngành Tài nguyên và Môi trường thực hiện từ năm 2012 đến nay cho thấy, mực nước ngầm tại một số khu vực phía tây huyện Văn Lâm, phía đông huyện Văn Giang giảm bình quân 0,25-0,35

mét/năm

Tỉnh Hưng Yên được bao bọc bởi sông Hồng và sống Luộc nên có nguồn nước mặt vô cùng dồi dào, chưa kể đến cách dòng sông địa phương do Đoạn đường sông Hưng Yên quản lý và hệ thống ao hồ, kênh rạch chằng chịt Nguồn nước này được sử dụng để phục vụ đời sống sinh hoạt cho người dân địa phương, thảo mãn nhu cầu của phát triển công nghiệp, đô thị và còn cung cấp một lượng lớn cho các vùng lân cận Hiện nay, tại thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, Công ty nước khoáng Lavie đang hoạt động và khai thác nguồn nước này cung cấp nước khoáng tinh khiết trên thị trường và một nhà máy nước của Công ty nước và môi trường Việt Nam đang được xây dựng Nước mặt là nguồn cung cấp trực tiếp cho sản xuất và đời sống qua các hệ thống sông ngòi tự nhiên và hệ thống trung đại thuỷ nông Bắc - Hưng - Hải

2.1.2 Tài nguyên khoáng sản

Hưng Yên là tỉnh có khoáng sản hạn chế về chủng loại, khoáng sản chủ yếu

là nguồn cát sông, Đất sét sản xuất gạch ngói, Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên và Than nâu thuộc bể than đồng bằng sông Hồng Qua điều tra cơ bản, dự

Trang 4

báo nguồn cát sông tại Hưng Yên có trữ lượng lớn khoảng 73.216.960 m3, đã cấp phép khai thác được 14.474.250 m3 và thực tế đã khai thác, sử dụng11.867.370m3

Đất sét sản xuất gạch ngói phân bố trên diện rộng trữ lượng khoảng 121.079.000 m3, đã cấp phép khai thác 848.228 m3 và thực tế đã khai thác, sử dụng20.400m3.Đất sét đa phần nằm trên các khu vực trồng lúa nước, giá trị kinh tế đất sét thấp và thủ tục cấp phép rườm rà nên các doanh nghiệp cũng không mặn mà đầu tư khai thác, sử dụng

Nước khoáng thiên nhiên tại trị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm chưa được điều tra, đánh giá một cách tổng thể đối với khu vực và hiện nay đã cấp phép cho Công ty LaVie khai thác nhưng xung quanh khu vực vẫn còn rất nhiều các tổ chức,

cá nhân khai thác sử dụng gây thất thoát nguồn tài nguyên

Nước nóng tại xã Tống Trân, huyện Phù Cừ đang được điều tra, đánh giá nhưng chưa được khai thác, sử dụng một cách hợp lý

Than nâu thuộc bể than đồng bằng sông Hồng đang được Tập đoàn than và khoáng sản Việt Nam tổ chức thăm dò, đánh giá trữ lượng khoảng trên 30 tỷ tấn nhưng rất khó thực hiện khai thác

2.2 Giải pháp khắc phục

+ Sử dụng tiết kiệm, hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

+ Tìm kiếm các nguồn năng lượng khác để thay thế

+ Bảo tồn, phục hồi, tái tạo các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái sinh

+ Có các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, xử phạt nặng với các hành

vi khai thác, sử dụng, tác động thô bạo vào môi trường

2 Hiện trạng thải chất thải vào môi trường ở tỉnh Hưng Yên

2.1 Hiện trạng thải chất thải ra môi trường

Khai thác nước ngầm quá mức cùng với việc thiếu ý thức bảo vệ nguồn nước ngầm đang khiến nguy cơ ô nhiễm nước ngầm tăng cao Nước ngầm tầng Holocene (qh) có độ sâu trung bình khoảng 10 - 20 mét là tầng nước chịu ảnh hưởng lớn từ các tác nhân gây ô nhiễm trên bề mặt Theo kết quả phân tích 29 mẫu nước ngầm tầng qh do Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường thực hiện tháng 5.2017 cho thấy, có tới 28 mẫu có chỉ tiêu ô nhiễm COD vượt quy chuẩn cho phép trung

Trang 5

bình trên 5 lần; 21 mẫu có chỉ tiêu ô nhiễm Coliform vượt quy chuẩn cho phép trung bình gần 4 lần Ngoài ra, một số mẫu nước còn phát hiện các kim loại nặng như: Chì, Asen Kết quả phân tích 95 mẫu nước ngầm tầng chứa nước qp cũng cho thấy có nhiều mẫu nước có các chỉ tiêu như: COD, Mn, NO3-, Coliform vượt quy chuẩn cho phép Ông Lê Quang Vinh, Trưởng phòng Tài nguyên nước, khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu (Sở Tài nguyên và Môi trường) cho biết: “Hiện tượng trong nước ngầm có chứa các vật chất ô nhiễm vượt quy chuẩn cho phép một phần

do yếu tố nội sinh của tầng chứa nước dưới tác động của hoạt động phong hóa các tầng địa chất Tuy nhiên, do khai thác nước ngầm tràn lan cùng với việc thiếu quản

lý, kiểm soát hoạt động khai thác nước ngầm trong thời gian dài khiến nhiều vật chất ô nhiễm trên bề mặt ngấm xuống nguồn nước ngầm

Tình trạng mương cống vừa thiếu vừa chất lượng kém, vệ sinh phân rác chưa được giải quyết triệt để làm ảnh hưởng nguyên trọng đến nguồn nước sông và nước ngầm

Ở hầu khắp các địa phương, tình trạng vứt rác thải bừa bãi và quá tải tại các bãi rác đã và đang đặt ra cho chính quyền các cấp những “bài toán hóc búa” về quy hoạch tổng thể các điểm tập kết rác và xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường tại các bãi rác Trực tiếp có mặt tại một điểm tập kết rác nằm trên địa bàn xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, chúng tôi thấy, nơi đây không chỉ có rác thải sinh hoạt mà còn có rất nhiều loại chất thải khác, trong đó có cả nguyên vật liệu của các làng nghề, rác thải công nghiệp tại các xưởng sản xuất cũng được người dân mang ra đây “tập kết” Cả một khu vực rộng mênh mông, đâu đâu cũng thấy ngổn ngang những bọc rác được vứt tùy tiện, mùi hôi thối bốc ra nồng nặc Tại nhiều bãi chứa rác thải sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh chúng ta vẫn dễ dàng bắt gặp các loại chất thải nguy hại lẫn trong đống rác như: vật chất dính dầu mỡ, pin, ắc qui, mực

in, bóng đèn huỳnh quang, thuốc tân dược hết hạn, bao bì thuốc BVTV

Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện có 4 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động gồm: Khu công nghiệp Phố Nối A, Khu công nghiệp dệt may Phố Nối, Khu công nghiệp Thăng Long II và Khu công nghiệp Minh Đức Ngoài nước thải, khí thải thì tại các khu công nghiệp này hàng ngày còn thải ra một lượng chất thải rắn tương đối lớn, trong đó đặc biệt là các loại chất thải nguy hại Tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh tại gần 180 doanh nghiệp trong 4 khu công nghiệp này là trên 2.450 tấn/năm Trong đó Khu công nghiệp Phố Nối A có tổng lượng chất thải nguy hại phát sinh vào khoảng 2.300 tấn/năm, Khu công nghiệp dệt may Phố Nối khoảng 26 tấn/năm, Khu công nghiệp Thăng Long II khoảng 109 tấn/năm và Khu công nghiệp Minh Đức khoảng 19 tấn/năm Biện pháp quản lý, xử lý chủ yếu mà các

Trang 6

doanh nghiệp áp dụng đối với lượng chất thải nguy hại này là tự thu gom vào một

vị trí riêng biệt Sau khoảng 3 – 6 tháng doanh nghiệp sẽ chuyển giao cho cơ quan, đơn vị đủ điều kiện theo qui định của pháp luật để vận chuyển đi xử lý Tuy nhiên, đối với một số doanh nghiệp do phát sinh ít chất thải nguy hại nên có khi phải tới

cả năm đơn vị được ký hợp đồng vận chuyển, xử lý mới tiến hành thu gom đưa đi

xử lý Điều này tạo nguy cơ rất lớn gây ô nhiễm môi trường do chất thải trong quá trình tồn lưu trong kho chứa, trong đó nhiều khu vực chứa chưa bảo đảm về kỹ thuật, công nghệ, nên bị phân hủy tạo ra các vật chất nguy hại rò rỉ, phát tán vào môi trường

2.2 Biện pháp khắc phục

+ Phân loại rác thải: vô cơ: tái chế, tái sử dụng, áp dụng khoa học kỹ thuật; hữu cơ: chộn lấp, làm phân bón, ủ

+ Hạn chế xả thải ra ngoài môi trường, sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như sd túi giấy thay túi nilon

+ Áp dụng quá trình sản xuất khép kín hoặc liên hiệp sản xuất

+ Giảm thiểu nhu cầu sử dụng khi không thực sự cần thiết

+ Nâng cao ý thức, trách nhiệm của mỗi người

3 Những tác động trực tiếp của phát triển vào tổng thể môi trường ở tỉnh Hưng Yên

3.1 Sự tác động trực tiếp của phát triển đến tài nguyên đất

Nguồn tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Hưng Yên chủ yếu là đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa và cây công nghiệp ngắn ngày khá phong phú là yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Những năm gần đây, tỉnh Hưng Yên đang có tốc độ đô thị hóa tương đối cao, và đã có nhiều khu đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp

Từ năm 2015 trở về trước, tình trạng người dân làm nhà, công trình phụ trên đất nông nghiệp ở xã Quảng Châu (thành phố Hưng Yên) diễn ra khá phổ biến Nhiều hộ dân lợi dụng việc chuyển đổi đất trồng lúa, ngô, dâu sang trồng cây ăn quả để xây nhà, công trình phụ, chuồng trại trên đất chuyển đổi ngoài bãi sông Hồng Có hộ xây nhà kiên cố giữa cánh đồng, đưa cả gia đình ra sinh sống Xã Hiệp Cường là một trong những địa phương ở huyện Kim Động có nhiều trường hợp vi phạm xây dựng công trình trên đất nông nghiệp thuộc diện phải giải tỏa Tại

Trang 7

các xã Nhật Tân, Ngô Quyền (Tiên Lữ), một số trường hợp xây nhà, công trình trái phép trên đất nông nghiệp Tình trạng xử lý công trình vi phạm nửa vời diễn ra ở nhiều địa phương khác Việc xử lý thiếu kiên quyết của chính quyền cơ sở dẫn đến hiệu quả thấp, nhiều trường hợp tái vi phạm, gây hệ lụy xấu trong công tác quản lý

sử dụng đất đai

3.2

Sự tác động trực tiếp của phát triển đến tài nguyên sông ngòi, ao hồ

Bề rộng nhiều con sông co hẹp chỉ còn 1/3 so với nguyên trạng do bị san lấp thành nhà ở, xưa nhiều con sông rộng mênh mông giờ chẳng khác con ngòi Đây

là hậu quả của tình trạng lấn chiếm "xẻ thịt" các sông trục trong hệ thống thủy lợi ở Hưng Yên đang đến mức "báo động đỏ", với những con số khủng diễn ra hàng chục năm nay nhưng vẫn chưa được ngăn chặn và xử lý Dọc theo các sông trục chính trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, tính sơ bộ có hơn 3.600 địa điểm vi phạm; trong

đó, có hơn 1.400 trường hợp lấn chiếm làm nhà ở, hơn 1.000 trường hợp làm lều quán, trên 600 địa điểm san lấp Tập trung nhiều nhất là ở huyện Khoái Châu với gần 1.000 điểm vi phạm; các huyện Kim Động, Yên Mỹ mỗi huyện trên dưới 400 trường hợp; các huyện còn lại mỗi nơi có trên dưới 200 điểm vi phạm

Ven các dòng sông, người dân cứ thi nhau cạp đất, lấn sông cho những mái nhà kiên cố cao tầng mọc lên như nấm và chi chít lều quán, đăng đó thả cá, đập ngăn sông tồn tại từ năm này qua năm khác Dư luận cho biết, vì các địa phương

đã tổ chức đấu thầu dài hạn mặt nước cho dân sử dụng để thả cá, trồng sen nên khó chấm dứt hợp đồng Nghiêm trọng nhất là nhiều xã trước đây đã bán đất giãn dân ven sông nên lòng sông ngày càng bị lấp đầy Điển hình là trên hệ thống sông Từ

Hồ - Sài Thị, Cửu An, Tây Tân Hưng qua huyện Khoái Châu; sông Kim Ngưu, Trương Đìa thuộc huyện Kim Động; sông Hoà Bình, Đông Lỗ (thành phố Hưng Yên); sông Cầu Treo, Đồng Quê, Thái Nội (Yên Mỹ)

Khoái Châu được coi là "điểm nóng" nhất tỉnh Hưng Yên về tình trạng xâm phạm công trình thủy lợi Toàn huyện có gần 1.000 trường hợp vi phạm hành lang bảo vệ công trình thủy lợi; trong đó, có hơn 500 trường hợp làm nhà kiên cố, tập trung ở một số xã Phùng Hưng, Đại Hưng Nghiêm trọng nhất là trên sông Từ Hồ

- Sài Thị đoạn từ Cầu Khé đến cống Sài Thị, trên đoạn dài hơn 4 km đã mọc lên dãy nhà kiên cố xây trên phần đất lưu không của bờ sông có chiều rộng từ 7 - 10m Đây cũng được coi là khu vực "đắc địa" bởi nằm ven theo tuyến đường 205 nên dân 2 xã Đại Hưng và Phùng Hưng đua nhau xây nhà ngay trên bờ sông lấp kín cả hàng nghìn mét bờ sông

Trang 8

Bị "thắt eo" quá mức như trên nên nhiều con sông ở các huyện Văn Giang, Khoái Châu, Kim Động, Ân Thi, Yên Mỹ đến nay gần như tê liệt không có khả năng tưới tiêu Kéo theo đồng ruộng luôn lâm vào cảnh "chưa nắng đã hạn, chưa mưa đã úng", việc cấy trồng nhiều khi chỉ còn nước "nhờ trời mưa thuận gió hòa"

Ngày đăng: 23/10/2021, 19:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w