Trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế đangngày càng phát triển và có nhiều bước đột phá về khoa học – côngnghệ thì vai trò của nó càng cần được quan tâm sâu sắc hơn nữa.Cũng đã có nhữn
Trang 1MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu vànước biển dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối vớinhân loại trong thế kỷ XXI BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêuphát triển thiên niên kỷ và được coi là thách thức lớn cho phát triểnbền vững Nó đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xãhội và môi trường toàn cầu
Rất nhiều biện pháp căn cơ được đề ra để phù hợp với từnghoàn cảnh, tuy nhiên chúng ta dường như đã bỏ ngơ một vấn đềquan trọng có thể giải quyết vấn đề này hiệu quả đó là vai trò củaliên kết kinh doanh Trong bối cảnh hiện nay khi nền kinh tế đangngày càng phát triển và có nhiều bước đột phá về khoa học – côngnghệ thì vai trò của nó càng cần được quan tâm sâu sắc hơn nữa.Cũng đã có những nghiên cứu về vai trò của liên kết kinh doanh vớibiến đổi khí hậu của trong và ngoài nước, tuy nhiên số lượng khôngnhiều và nghiên cứu còn có một vài vấn đề chưa tường minh Trên
cơ sở đó, nhóm chúng em lựa chọn đề tài “ Vai trò của liên kết kinhdoanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu” Kết quả của nghiên cứu làchỉ ra những ưu – nhược điểm trong nghiên cứu của các tác giả khác
để từ đó kiến nghị phương án tối ưu hơn nhằm khắc phục nhượcđiểm của các nghiên cứu trước
Để đạt được mục tiêu đề tài, nhóm em đề ra các nội dung sau:
- Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đềtài, chỉ ra những lỗ hổng trong các nghiên cứu đó
- Tìm hiểu thực trạng về quá trình biến đổi khí hậu cũng nhưcác mô hình liên kết kinh doanh ở Việt Nam từ đó tìm hiểu tác độngcủa liên kết kinh doanh đến môi trường và phát triển kinh tế
- Kiến nghị các giải pháp để phát huy hiệu quả ưu điểm của liênkết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay
Trang 2NỘI DUNG
Chương 1: Lý luận chung
1.1 Tổng quan nghiên cứu
Thời gian qua, khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo ra những lợi íchkhá rõ nét và bắt đầu có hiệu ứng lan tỏa đối với những lĩnh vựckhác của nền kinh tế thông qua việc giới thiệu công nghệ và bíquyết mới, chuẩn mực quốc tế trong sản xuất và dịch vụ, phát triển
kỹ năng của lực lượng lao động cũng như tạo ra việc làm trong cácngành công nghiệp hỗ trợ và các ngành du lịch
1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước
Hơn 2 thập kỷ qua, chiến lược mới về quản trị liên kết(collaborative governance) đã và đang được phát triển mạnh Môhình quản trị này nhằm giúp cho các chủ thể, đặc biệt là các cơ quanhành chính công có thể cùng liên kết, cùng đồng thuận trong việc raquyết định Các nghiên cứu về quản trị liên kết trên thế giới cũng đãtập trung phân tích, xác định các nhân tố ảnh hưởng tới LK nóichung và LKKD trong vùng nói riêng
- Mattessich và Monsey (1992) khi tổng hợp 133 nghiên cứu về liênkết trong một số lĩnh vực (sức khỏe, khoa học xã hội, giáo dục vàlĩnh vực công) đã chỉ ra 20 nhân tố “con” ảnh hưởng tới sự thànhcông của liên kết và nhóm thành 6 nhóm nhân tố, đó là: (i) môitrường; (ii) đặc điểm thành viên tham gia; (iii) quá trình/cơ cấu; (iv)trao đổi; (v) mục tiêu; (vi) nguồn lực
Đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu từ góc độ lý thuyết đến thực
tế tìm kiếm nhân tố ảnh hưởng đến LKKD Hầu hết các nghiên cứutìm được sự đồng thuận về nhân tố ảnh hưởng đến liên kết như:động cơ của các bên tham gia liên kết, thể chế liên kết, chính trị vàvai trò của người lãnh đạo Tuy nhiên, một số các nhân tố khác như:
sự tương đồng về kinh tế, văn hóa hay bối cảnh lịch sử, trong mộtchừng mực nào đó đang có những ý kiến trái chiều
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Những năm gần đây, chủ đề LKKD nói chung và LKKD trongvùng nói riêng ở Việt Nam đã và đang ngày càng được nhiều học giảquan tâm nghiên cứu Các nghiên cứu này khá đa dạng về nội dung
và cách tiếp cận, và đã đề cập tới một số chủ đề như sau:
- Hoạt động liên kết phát triển Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đãđược thực hiện trong những năm gần đây, tuy nhiên, hiệu quả chưacao Bài viết đề xuất, phân tích các tiêu chí đánh giá và trình bàymột số giải pháp nhằm nâng cao tác động liên kết phát triển kinh tếVùng Duyên hải Nam Trung Bộ dựa trên cơ sở vận dụng các lýthuyết về phát triển kinh tế vùng và lược khảo các công trình có liên
Trang 3quan Cụ thể là: (1) Nâng cao nhận thức về liên kết vùng trong pháttriển kinh tế; (2) Đẩy mạnh liên kết đào tạo nguồn nhân lực; (3) Ràsoát, chỉnh sửa, cập nhật quy hoạch vùng và địa phương; (4) Hoànthiện thể chế, chính sách về điều phối vùng.
- Lê Anh Vũ và cộng sự (2016) chỉ ra hàng loạt các nguyên nhânảnh hưởng tiêu cực tới liên kết nội vùng Tây Nguyên, trong đó nhấnmạnh tới bất cập trong: (i) xây
dựng chính sách; (ii) hệ thống tổ chức bộ máy thực thi chính sáchLKV; và (iii) cơ chế thực thi chính sách LKV
- Trần Thị Thu Hương và cộng sự (2016) khi phân tích bộ máyvùng và thực trạng phương thức LKKD đã nhấn mạnh 2 nhân tố cảntrở LK ở Việt Nam thời gian qua, đó là: (i) bộ máy LK vừa thừa, vừathiếu (có địa phương tham gia song trùng 2 bộ máy, có địa phươngkhông tham gia bất kỳ bộ máy nào); và (ii) việc tuân thủ quy địnhliên kết bắt buộc chưa được nghiêm minh
Có nhiều cách thức khác nhau để đo lường tầm quan trọng vàmức độ ảnh hưởng của một ngành lên toàn bộ nền kinh tế Phân tích
Ma trận hạch toán xã hội (SAM) để tính toán các liên kết là cách tiếpcận phổ biến được ứng dụng tại nhiều quốc gia Sử dụng SAM ViệtNam năm 2012, bài viết đo lường độ lớn liên kết kinh tế bằng cáchtính toán các nhân tử từ SAM Từ đó, các ngành có liên kết mạnhđược nhận diện nhằm gợi mở các chính sách kinh tế phù hợp với tìnhhình hiện tại của nền kinh tế Việt Nam Kết quả cho thấy, các ngành
có liên kết mạnh là ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến thựcphẩm và ngành thủy sản Vì vậy, các công cụ và biện pháp chínhsách nên ưu tiên vào những ngành này
1.1.3 Lỗ hổng nghiên cứu
Qua tổng hợp khái quát các công trình nghiên cứu trong vàngoài nước có liên quan đến liên kết kinh doanh trong ứng phó vớiBĐKH, cho thấy:
- Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập đến một số nộidung cơ sở lý luận về kinh doanh, Phân tích tác động của BĐKH đếnkinh tế-xã hội và môi trường; Các giải pháp ứng phó với BĐKH vàthiên tai được đề xuất, như: thể chế, nguồn lực, tài chính, giải phápứng phó của ngành, lĩnh vực
- Chưa có công trình nghiên cứu thật sự sâu về cơ chế chínhsách liên kết kinh doanh trong ứng phó với biến đổi khí hậu
- Đối với Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về BĐKH,các nghiên cứu đã tập trung làm rõ: các hiện tượng thiên tai, biểuhiện, nguyên nhân và tác động của nó tới cộng đồng, từ đó đề xuấtgiải pháp tổng thể Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu tổng kết cácvai trò cũng như tác động của liên kết kinh doanh trong ứng phó vớiBĐKH
Trang 4Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này mang nhiều ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn.
b Nguyên nhân của biến đổi khí hậu
- Nguyên nhân biến đổi khí hậu do tự nhiên: Biến đổi khí hậu xảy ra trong thời kỳ địachất đều do các nguyên nhân tự nhiên, trong đó chủ yếu là sự chuyển động của tráiđất, các vụ phun trào của núi lửa và hoạt động của mặt trời
- Nguyên nhân của biến đổi khí hậu trong thời kỳ hiện đại: Nguyên nhân hàm lượngkhí nhà kính tăng lên là do việc sử dụng nguyên liệu hóa thạch trong các lĩnh vực sảnxuất và tiêu thụ năng lượng của thế giới tăng hơn 30 lần từ năm 1750 Bên cạnh đó, sựsuy giảm rừng nhiệt đới, việc sản xuất và sử dụng hóa chất, hoạt động sản xuất nôngnghiệp và các hoạt động khác như đốt, chôn lấp rác thải, cũng làm cho hàm lượngkhí nhà kính tăng lên
- Nguyên nhân của nước biển dâng: Giãn nở nhiệt của các đại dương, các sông băngtrên núi, băng Greenland, băng Nam cực và các nguồn chứa nước trên đất liền
1.2.2 Cơ sở lý luận về liên kết trong kinh doanh
a Khái niệm:
Liên kết kinh doanh là các kết nối giữa DN đa quốc gia và cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) trong nước nhằm thúc đẩy nhanhquá trình chuyển giao công nghệ giữa đối tượng thứ nhất sang đốitượng thứ hai UNCTAD Và IFC nhấn mạnh rằng “Liên kết kinhdoanh” là một công cụ để giải quyết hầu hết các vấn đề mà cácDNNVV phải đối mặt Nghiên cứu cũng cho thấy những mối liên kếtnày đã nâng cao năng suất của các DNNVV Có thể nói tất cả cácbên liên quan trong các mối liên kết kinh doanh đều là những ngườichiến thắng Do đó, liên kết kinh doanh là một khía cạnh bìnhthường trong đời sống kinh doanh của các nền kinh tế theo địnhhướng thị trường
Trang 5Tóm lại, liên kết kinh doanh là hình thức hợp tác “làm ăn” mà
DN thỏa thuận với DN có sản phẩm/dịch vụ, trong đó DN không mấttiền vốn hoặc nếu phải bỏ tiền thì không mất nhiều, nhưng DN sẽphải chia lợi nhuận kinh doanh cho họ Lý do là bởi vì DN đang phảiphụ thuộc với họ Liên kết kinh doanh giúp DN học hỏi được nhiềuđiều trong giai đoạn đầu kinh doanh, nếu sau này DN phát triểnđược kênh phân phối hiệu quả thì có thể tách riêng để kinh doanh
b Phân loại:
Trong một số nghiên cứu về liên kết giữa các doanh nghiệp nướcngoài với các đối tác trong nước Scott-Kennel & Enderwick, 2005;Glass et al., 2002; Saggi, 2002), các tác giả đã phân biệt hai loại liênkết: liên kết dọc (vertical linkages) và liên kết ngang (horizontallinkages) Trong đó liên kết dọc là mối quan hệ trực tiếp giữa doanhnghiệp nước ngoài với các nhà cung cấp địa phương (liên kết ngược)
và với người tiêu dùng đối với sản phẩm trung gian hoặc cuối cùng(liên kết xuôi) Liên kết dọc dựa chủ yếu trên các quan hệ giao dịchnhưng cũng bao gồm cả các trợ giúp tự nguyện hay chuyển giaonguồn lực và công nghệ cho các đối tác địa phương (Saggi, 2002).Liên kết ngành có liên quan đến các hoạt động hợp tác giữa cácdoanh nghiệp nước ngoài và trong nước dưới dạng liên doanh vàquan hệ mạng lưới giữa các doanh nghiệp (Giroud & ScottKennel,2006); hay liên kết ngang thể hiện sự tương tác giữa doanh nghiệpnước ngoài và doanh nghiệp địa phương trong việc sản xuất ra hànghóa và dịch vụ cùng một khâu sản xuất (UNCTAD, 2001) Các tác giảnày cũng phân biệt giữa các mối liên kết và hiệu ứng của chúng.Hiệu ứng quan trọng nhất được gọi là hiệu ứng lan tỏa (spillovers),nảy sinh như tác động phụ từ hoạt động của các công ty nước ngoàitrong nền kinh tế (thông qua quá trình bắt chước, học tập, mô phỏngcủa các doanh nghiệp trong nước đối với các kỹ năng quản lý, côngnghệ, chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp nước ngoài
Ở khía cạnh khác, Fujita & Mori (2005) lại cho rằng có hai loạiliên kết chủ yếu, tạo ra xung lực trong tương tác giữa các ngành.Loại thứ nhất gọi là liên kết kinh tế (E-linkages), liên quan tới cáchoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ; loại thứ hai làliên kết kiến thức (K-linkages), bao gồm các hoạt động của conngười trong sáng tạo và chuyển giao kiến thức, từ đó tạo ra hiệu ứnglan tỏa kiến thức (knowledge spillover effects)
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tư liệu, tiến hành thu thập những bài nghiên cứu về liên kết kinh doanh
và biến đổi khí hậu và số liệu từ bộ NN&PTNN và Tổng cục thống kê
để làm tư liệu tiến hành phân tích và tổng hợp tốt nhất những kết
Trang 6quả đã có về vai trò liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu trên thế giới và trong nước
Chương 2: Thực trạng về liên kết kinh doanh trong bối cảnh biến đổi khí hậu
2.1 Thực trạng về quá trình biến đổi khí hậu
Với kích thước và khả năng nhiệt cực lớn của các đại dương toàn cầu, phải mấtmột lượng lớn năng lượng nhiệt tích lũy để tăng nhiệt độ bề mặt trung bình hàng nămcủa Trái đất dù chỉ là một lượng nhỏ Đằng sau sự gia tăng dường như nhỏ của nhiệt
độ bề mặt trung bình toàn cầu trong thế kỷ qua là sự gia tăng đáng kể về nhiệt tích lũy.Nhiệt lượng tăng thêm đó đang thúc đẩy sự khắc nghiệt của nhiệt độ khu vực và theomùa, làm giảm độ phủ tuyết và băng biển, tăng cường lượng mưa lớn và thay đổiphạm vi môi trường sống cho thực vật và động vật Mở rộng một số và thu hẹp nhữngloài khác
Mặc dù sự ấm lên không được thống nhất trên khắp hành tinh, nhưng xu hướngtăng nhiệt độ trung bình toàn cầu cho thấy nhiều khu vực đang nóng lên hơn là làmmát Theo Tóm tắt Khí hậu Toàn cầu của NOAA 2018 , nhiệt độ đất và đại dương kếthợp đã tăng với tốc độ trung bình 0,07°C (0,13°F) mỗi thập kỷ kể từ năm 1880; tuynhiên, tốc độ tăng trung bình kể từ năm 1981 (0,17°C / 0,31°F) lớn hơn gấp đôi 10năm ấm nhất trong lịch sử đã xảy ra kể từ năm 1998 và 9 trong số 10 năm xảy ra kể từnăm 2005 Năm 1998 là năm duy nhất từ thế kỷ XX vẫn nằm trong số mười năm ấmnhất được ghi nhận Nhìn lại năm 1988, một mô hình xuất hiện: ngoại trừ năm 2011,khi mỗi năm mới được thêm vào hồ sơ lịch sử, nó trở thành một trong 10 kỷ lục ấmnhất trong lịch sử lúc bấy giờ, nhưng cuối cùng nó được thay thế như cửa sổ mườiđỉnh dịch chuyển về phía trước trong thời gian
Đến năm 2020, các mô hình dự án rằng nhiệt độ bề mặt toàn cầu sẽ ấm hơn0,5°C (0,9°F) so với mức trung bình 1986-2005, bất kể con đường phát thải carbondioxide nào trên thế giới theo sau Sự tương đồng về nhiệt độ này bất kể tổng phát thải
là một hiện tượng ngắn hạn: nó phản ánh quán tính cực lớn của các đại dương rộnglớn của Trái đất Khả năng tỏa nhiệt cao của nước có nghĩa là nhiệt độ đại dươngkhông phản ứng tức thì với sự gia tăng nhiệt bị giữ lại bởi khí nhà kính Tuy nhiên,đến năm 2030, sự mất cân bằng nhiệt gây ra bởi khí nhà kính bắt đầu vượt qua quántính nhiệt của đại dương và các con đường nhiệt độ dự kiến bắt đầu phân tán, vớilượng khí thải carbon không được kiểm soát có thể dẫn đến một số mức độ nóng lênvào cuối thế kỷ
Dựa trên dữ liệu của NOAA , nhiệt độ trung bình toàn cầu năm 2018 trên cácdiện tích mặt đất và đại dương là 0,79°C (1,42°F) trên mức trung bình của thế kỷ XX
là 13,9°C (57,0°F), trở thành năm nóng thứ tư trong lịch sử
Trang 7Nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất và đại dương ( NOAA)
Lượng mưa trung bình thế giới (NOAA)
Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nước biển dâng cao Nếukhoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biển trung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm,thì từ 1993 - 2003 mức tăng là 3,1mm/năm Tổng cộng, trong 100 năm qua, mực nướcbiển đã tăng 0,31m Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng ở Bắc cực, Namcực, băng ở Greenland và một số núi băng ở Trung Quốc đang dần bị thu hẹp Chính
sự tan chảy của các lớp băng cùng với sự nóng lên của khí hậu các đại dương toàn cầu(tới độ sâu 3.000m) đã góp phần làm cho mực nước biển dâng cao Dự báo đến cuốithế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2,0 - 4,5°C và mực nước biểntoàn cầu sẽ tăng từ 0,18m - 0,59m Việt Nam là 1 trong 4 nước chịu ảnh hưởng nặng
nề nhất của sự BĐKH và dâng cao của nước biển
Trang 8Theo thống kê, tính trung bình cho cả nước, nhiệt độ mùa đông ở nước ta tănglên 1,2°C trong 50 năm qua Nhiệt độ tháng VII tăng khoảng 0,3 - 0,5°C/50năm trêntất cả các vùng khí hậu của cả nước Nhiệt độ trung bình năm tăng 0,5 - 0,6°C/50năm
ở Tây Bắc, Đông Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam
Bộ, còn mức tăng nhiệt độ trung bình năm ở Nam Trung Bộ thấp hơn, chỉ vào khoảng0,3°C/50 năm. Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm rõ rệt trong vòng
2 thập kỷ qua Từ 29 đợt mỗi năm (từ 1971 - 1980) xuống còn 15 - 16 đợt mỗi năm từ
1994 - 2007 Số cơn bão trên biển Đông ảnh hưởng đến nước ta cũng ngày càng ít đinhưng ngược lại số cơn bão mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa bão kết thúc muộn,quỹ đạo của bão trở nên dị thường và số cơn bão ảnh hưởng đến khu vực Nam Trung
bộ, Nam bộ ngày càng tăng Bên cạnh đó, số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm mộtnửa (từ 30 ngày/năm trong thập kỷ 1961 - 1970 xuống còn 15 ngày/năm trong thập kỷ
1991 - 2000) Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các vùng, hạn hán có xuhướng mở rộng, đặc biệt là ở khu vực Nam Trung bộ (trong đó có Khánh Hòa), dẫnđến gia tăng hiện tượng hoang mạc hóa
Theo dự báo Về lượng mưa: Lượng mưa mùa mưa ở các khu vực, trừ Trung Bộ,đều tăng 0-5% vào năm 2050, riêng Trung Bộ là 0-10% Lượng mưa mùa khô ở cácvùng Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Bộ, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc Trung Bộ,Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có thể tăng hay giảm 5%, riêng ở Bắc và Trung Trung
Bộ tăng 0-5% Đáng chú ý là ở những vùng thường xảy ra hạn hán vào mùa khô, hạnhán có nhiều khả năng tăng lên cả về cường độ và diện tích Về mực nước biển: Trungbình trên toàn dải bờ biển Việt Nam, mực nước biển có thể tăng lên 40cm vào năm
2050 và ước tính có thể tăng lên 100cm vào năm 2100
Theo các kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ cókhoảng 40% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng Đồngbằng sông Hồng và 3% diện tích của các địa phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ
bị ngập nước Khi đó sẽ có khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp,với tổn thất khoảng 10% GDP Đặc biệt, TPHCM sẽ bị ngập trên 20% diện tích thànhphố
2.2 Mô hình liên kết kinh doanh ở Việt Nam.
2.2.1 Liên kết dọc
Theo PGS, TS Đoàn Thị Mỹ Hạnh- ĐH Mở TPHCM, Liên kết dọc là
sự liên minh giữa các nhà sản xuất các loại sản phẩm có liên quanvới nhau, thông thường là liên kết giữa các nhà sản xuất sản phẩmtrung gian và sản phẩm cuối cùng Hiểu một cách đơn giản,liên kếtdọc là liên kết giữa các tác nhân theo đường đi của sản phẩm, cácnhà cung cấp liên kết với tổ chức và các khách hàng
Liên kết chuỗi cung ứng theo chiều dọc có thể được thực hiện ởcác mức độ khác nhau, được chia thành 3 loại:
- Liên kết ngược: Trong đó một công ty sở hữu các công ty con sản xuất các yếu tố đầu vào / linh kiện được sử dụng trong sản xuất
Ví dụ, Nhà máy Ford River Rouge với các công ty sản xuất đồ gỗ và thủy tinh riêng
Trang 9- Chuyển tiếp liên kết theo chiều dọc trong đó một công ty sở hữu hoặc kiểm soát các trung tâm phân phối / hoặc nhà bán lẻ của mình Do đó có liên hệ trực tiếp với khách hàng ở cuối chuỗi giá trị
Ví dụ, các hãng hàng không thực hiện vai trò truyền thống của các đại lý du lịch
- Liên kết theo chiều dọc cân bằng trong đó một công ty thực hiện tích hợp cả lùi và tiến bằng cách sở hữu / kiểm soát các trung tâm cung ứng; sản xuất; tiếp thị và / hoặc bán lẻ của mình Apple là một ví dụ điển hình của một công ty thực hiện tích hợp dọc cân
bằng; bằng cách sở hữu trung tâm dữ liệu của riêng họ; sản xuất thiết bị để sản xuất chip của riêng họ và các thành phần độc quyền khác; cũng như các cửa hàng tiếp thị và bán lẻ, nền tảng nội dung
và trung tâm hỗ trợ của họ
Tại Việt Nam, điển hình cho các mô hình liên kết dọc trong mấynăm gần đây là mô hình chuỗi sản xuất, thương mại, chế biến vàphân phối sản phẩm khép kín, đặc biệt là trong lĩnh vực nôngnghiệp Trong mô hình này, doanh nghiệp đóng vai trò nhà đầu tư,người tổ chức sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và cảvai trò đảm bảo thị trường tiêu thụ, quản lý dự án, còn người nôngdân góp cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất vào doanh nghiệp
và trở thành những cổ đông, được chia cổ tức hoặc được tuyển dụngthành người lao động làm công ăn lương, nông dân tham gia vào cáccông đoạn sản xuất và nhận tiền lương khi lao động Mô hình sẽthành công hơn khi doanh nghiệp có vốn lớn, có tiềm lực tài chínhmạnh mẽ, có thị trường tiêu thụ ổn định
Có thể kể đến mô hình sản xuất chế biến thủy hải sản như tôm,
cá tra… liên kết với các doanh nghiệp chế biến sản xuất để xuấtkhẩu tại Đồng bằng sông Cửu Long Theo thống kê của Tổng cục Hảiquan, năm 2018 kim ngạch xuất khẩu thủy sản ra thị trường nước
Trang 10ngoài đạt 8,79 tỷ USD, trong đó, xuất khẩu tôm chiếm 3,55 tỷ USDsang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, trong đó trọng điểmnuôi tôm tại Việt Nam là Đồng bằng sông Cửu Long Trong bối cảnhbiến đổi khí hậu, cơ cấu sản xuất tại đây chuyển dịch theo hướngtăng thủy sản, chăn nuôi, và giảm lúa Tốc độ tăng trưởng bình quângiá trị gia tăng nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn
2016 - 2018 tăng 3%/năm, cao hơn mức bình quân cả nước, trong
đó, tỉ lệ chế biến tăng cao trong ngành thủy sản, khẳng định vị thế
và khả năng cạnh tranh trên thị trường Nông dân đã chuyển dịchsản xuất từ lúa nước rời sang nuôi tôm, do vùng đất trũng bị ngậpúng cùng với hiện tượng xâm nhập mặn kéo dài nên trồng lúa chỉcho năng suất thấp Để phục vụ cho ngành nuôi trồng thủy sản yêucầu cơ sở hạ tầng, khoa học công nghệ dành cho các hoạt độngnghiên cứu ứng dụng nuôi trồng thủy sản bên cạnh đó, mô hìnhnuôi tôm ở khu vực này vẫn gặp khó khăn do tác động diễn biến thờitiết, tình hình xâm nhập mặn và việc canh tác ở vùng trọng điểm,bên cạnh đó cần vốn đầu tư lớn và chỉ cần thất bại một vụ là có thểkéo đến hệ lụy rất lớn Vì vậy, vai trò của các nhà doanh nghiệp liênkết trong mô hình chế biến sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọngkhi họ đáp ứng được các cơ sở hạ tầng, cung cấp và ứng dụng côngnghệ trong quá trình chế biến, đồng thời đảm bảo thị trường tiêuthụ
Mô hình liên kết dọc có lợi thế là có tính hợp tác và chia sẻ rủi rocao giữa nông dân và doanh nghiệp Góp cổ phần bằng giá trị quyền
sử dụng đất nhưng về mặt pháp lý, nông dân vẫn là chủ sở hữu tưliệu sản xuất Đất đai của họ không bị thu hồi hay bị buộc phải bánđất cho doanh nghiệp như các dự án khác Tuy nhiên, mô hình nàyvẫn có hạn chế:
- Biến động giá và cung ứng nguyên liệu rất cao, tiềm ẩn nhiềurủi ro khi người nông dân hoặc nhà chế biến không tuân thủ hợpđồng vì lợi ích riêng của mình khi có biến động thị trường
- Hầu hết các doanh nghiệp chỉ bảo vệ lợi ích riêng của mình,thể hiện sự thiếu trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khi khôngquan tâm đến sự phát triển chung của toàn ngành và ô nhiễm môitrường
- Ngoài ra việc điều hành sẽ rất khó khăn nếu các nhà quản trịkhông có trình độ cao và kinh nghiệm, chi phí quản lý cao
2.2.2 Liên kết ngang:
Bên cạnh các mô hình liên kết dọc, thời gian qua cũng xuất hiệncác mô hình liên kết mới theo chiều ngang Liên kết ngang là liênkết các tác nhân, các đối tượng cùng tham gia vào các hoạt độngtương tự nhau Mục đích của liên kết ngang thường là hoặc tìm kiếm
Trang 11sự hợp tác của những tổ chức có cùng chức năng để tăng cườngcông tác nghiên cứu và phát triển sản phẩm hay dịch vụ hoặc thựchiện những hoạt động nhằm tăng cường khả năng bán hàng của cácdoanh nghiệp Tại Việt Nam, điển hình là mô hình các hợp tác xã(HTX), Tổ hợp tác kiểu mới.
Loại hình HTX này phát triển mạnh ở các tỉnh phía bắc thực hiệncác khâu dịch vụ đầu vào, đầu ra cho sản xuất như tưới tiêu, cungcấp giống, vật tư phân bón, tổ chức dịch vụ làm đất, thu hoạch vàchuyển giao KHKT, dịch vụ bảo vệ thực vật tập trung và tiêu thụnông sản cho xã viên Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác hiện nay cònđảm nhận việc thu gom và xử lý rác thải, bảo vệ môi trường và cungcấp nước sạch ở nông thôn, đặc biệt là trong bối cảnh biến đổi khíhậu đang trở nên ngày càng nghiêm trọng như hiện nay Các dịch vụcủa HTX không chỉ trong nội bộ các thành viên HTX mà còn phục vụ
cả cộng đồng làng, xã
Tuy nhiên, từ phân tích của các chuyên gia và kết quả từ thựctiễn cho thấy, với những ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu,trong điều kiện sản xuất nông nghiệp hiện nay chủ yếu do kinh tế hộthực hiện, vì vậy vai trò của các HTX nông nghiệp sẽ rất quan trọng
và việc này đòi hỏi sự linh hoạt của từng HTX để tồn tại và phát triểnbền vững Lấy ví dụ về đồng bằng sông Cửu Long- vựa lúa xuất khẩulớn nhất của nước ta Để ứng phó với biến đổi khí hậu,bố trí lại mùa
vụ, cơ cấu cây trồng, lựa chọn và cung ứng vật tư, phân bón, câycon giống thích hợp với điều kiện biến đổi khí hậu Tổ chức xuốnggiống cùng trà, cùng thời điểm Cung cấp dịch vụ tưới tiêu và quản
lý đê bao, bờ vùng, bờ thửa Hỗ trợ thành viên tham gia chuỗi giá trịnông sản
Mô hình theo liên kết ngang giúp đời sống của bà con nông dânngày càng nâng cao dưới hình thức của HTX Các HTX đảm nhậncung cấp các dịch vụ sản xuất cả ở đầu vào và đầu ra cho hộ xã viênnhư cung cấp vật tư, phân bón, nguyên liệu thức ăn gia súc, bảo vệthực vật và tiêm phòng cho gia súc, gia cầm Đồng thời cũng là cầunối giữa doanh nghiệp với nông hộ, đại diện cho hộ ký hợp đồngcung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu nôngsản; bảo vệ quyền lợi cho xã viên Nhiều HTX hiện nay doanh thuđạt đến chục tỷ đồng mỗi năm Ngoài ra, mô hình này còn tạo điềukiện đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, tận dụng hệ thống kênh phânphối để tiết kiệm chi phí, phân tán rủi ro Song, mô hình này vẫn tồntại 1 số hạn chế:
- Đối với mô hình HTX: theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển nôngthôn, đến hết năm 2018, cả nước đã có 39 liên hiệp HTX nôngnghiệp, 13.400 HTX nông nghiệp, trong đó có 1935 HTX thành lậpmới và chỉ khoảng 55% số HTX trong số này hoạt động hiệu quả,
Trang 12điều này chứng tỏ vẫn còn rất nhiều HTX yếu kém, không đủ tiêuchuẩn khiến nhà nước phải giải thể
- Đối với các mô hình liên kết doanh nghiệp: Tạo ra mâu thuẫn,các đại lý cung cấp cạnh tranh với nhau, chủ yếu là cạnh tranh vềthị trường làm mất uy tín và hình ảnh của công ty do các đại lý cạnhtranh không lành mạnh
Dù vậy, với lợi ích to lớn mà mô hình liên kết này mang lại, nóvẫn được khuyến khích và tổ chức nhiều hơn là liên kết dọc Để sảnxuất hiệu quả và nông sản của chúng ta có thể cạnh tranh được vớicác nước thì cần mở rộng hình thức liên kết dọc Vì vậy chúng ta cóthể kết hợp cả hai phương thức để có thể hài hòa, mang lại hiệu quảkinh tế cao Có thể luân canh nuôi trồng tôm-lúa như Đồng bằngsông Cửu Long áp dụng thay vì độc canh toàn lúa, bên cạnh đó còngiảm được chi phí làm đất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thânthiện môi trường, vừa nâng cao được chất lượng sản phẩm lại thânthiện với môi trường mà lại giảm thiểu được rủi ro và bảo đảm đượclợi ích của các bên tham gia liên kết hợp tác
2.3 Tác động của liên kết kinh doanh đến môi trường và phát triển kinh tế
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ nềnkinh tế, sinh kế của người dân Việt Nam, đặc biệt trong các ngànhnông nghiệp và thủy sản tại Đồng bằng Sông Cửu Long do nơi đây làvùng chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất của biến đổi khí hậu.Trong bối cảnh khó khăn và thách thức như vậy, việc áp dụng các
mô hình liên kết trong hoạt động sản xuất kinh doanh là cấp thiết vàhữu ích Dù liên kết theo hình thức dọc hay ngang thì nó đều cónhững tác động tích cực đến kinh tế, môi trường và xã hội; các chủthể tham gia liên kết (đặc biệt là nông dân) đều đạt được những lợiích thiết thực
2.3.1 Tác động đến kinh tế
2.3.1.1 Đối với các hộ nông dân
a) Tăng sản lượng và năng suất nuôi trồng
Mô hình liên kết kinh doanh trong nông lâm thủy sản đã khắcphục được những hậu quả của xâm nhập mặn do biến đổi khí hậugây ra Cụ thể, sản lượng và năng suất nuôi trồng thủy sản và trồnglúa của Đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay đều tăng so với cùng kỳnăm trước