1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quế phong trong công cuộc đổi mới (1986 2007)

86 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 4,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn 20 năm tiến hành đổi mới, Quế Phong từ một huyện nghèo đói về kinh tế, thấp kém về văn hoá, an ninh chính trị thiếu ổn định đến nay đã trở thành huyện khá phát triển về mọi mặt của t

Trang 1

tr-ờng đại học vinh

khóa luận tốt nghiệp Đại Học

chuyên ngành lịch sử Việt Nam

Trang 2

Vinh, 5/2009

Trang 3

Mục lục

A Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối t-ợng phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu 4

5 Đóng góp của đề tài 5

6 Bố cục của đề tài 5

B nội dung 6

Ch-ơng 1: Khái quát huyện quế phong tr-ớc thời kỳ đổi mới (tr-ớc 1986) 6

1.1 Điều kiện tự nhiên 6

1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội 8

1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội quế phong từ 1975 đến 1985 13

Ch-ơng 2: Quế phong b-ớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986-1995) 19

2.1 Giai đoạn 1986-1990 19

2.1.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Quế Phong 19

2.1.2 Thành tựu và hạn chế 21

2.2 Giai đoạn 1991-1995 26

2.2.1 Tình hình và nhiệm vụ 26

2.2.2 Thành tựu và hạn chế 27

Ch-ơng 3: Quế phong đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996-2007) 36

3.1 Giai đoạn 1996-2000 36

3.1.1 Chủ tr-ơng đ-ờng lối của Đảng bộ Quế Phong 36

3.1.2 Thành tựu và hạn chế 37

3.2 Giai đoạn 2001-2007 46

3.2.1 Tình hình và nhiệm vụ 46

3.2.2 Thành tựu và hạn chế 48

3.3 Những bài học kinh nghiệm 65

C kết luận 69

Tài liệu tham khảo 73

Phụ lục

Trang 6

Lời cảm ơn

Trong quá trình tìm hiểu và hoàn thành khoá luận này, cùng với sự

nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa lịch sử tr-ờng Đại học Vinh Đặc biệt là sự h-ớng dẫn tâm huyết của thầy giáo h-ớng dẫn thạc sỹ Nguyễn Khắc Thắng Đồng thời có sự nhiệt tình cung cấp thông tin t- liệu của văn phòng huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan, tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn huyện Quế Phong

Nhân dịp khoá luận hoàn thành, tôi xin đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các cá nhân, tập thể đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này

Lần đầu tiên tập d-ợt nghiên cứu khoa học, khả năng bản thân có hạn, nguồn t- liệu hạn chế nên trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đ-ợc ý kiến

đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Vi Thị Th-ơng

Trang 7

A mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Hơn một thập kỷ (1976 - 1986) vừa tìm tòi, vừa thử nghiệm con

đ-ờng đi lên đất n-ớc ta đã đạt đ-ợc những thành tựu cơ bản trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đ-ợc vẫn còn quá nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến đất n-ớc lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng

Nhằm phát huy những thành quả đạt đ-ợc, đồng thời khắc phục những khó khăn, hạn chế đ-a đất n-ớc thoát khỏi khủng hoảng, Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra đ-ờng lối đổi mới toàn diện Trải qua hơn 20 năm, d-ới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất n-ớc thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt đ-ợc nhiều thành tựu to lớn

Đảng bộ và nhân dân Quế Phong nhanh chóng tiếp nhận đ-ờng lối, chủ tr-ơng, quan điểm đổi mới của Đảng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh, thực tiễn của địa ph-ơng

Hơn 20 năm tiến hành đổi mới, Quế Phong từ một huyện nghèo đói

về kinh tế, thấp kém về văn hoá, an ninh chính trị thiếu ổn định đến nay

đã trở thành huyện khá phát triển về mọi mặt của tỉnh Nghệ An

Quế Phong hôm nay chính là minh chứng xác thực cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam Chứng tỏ rằng đ-ờng lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, không chỉ đáp ứng kịp thời nguyện vọng của đông

đảo quần chúng nhân dân mà còn phù hợp với thực tiễn đất n-ớc và xu thế phát triển của thời đại Đồng thời khẳng định sự sáng tạo, linh hoạt của

Đảng bộ Quế Phong trong việc vận dụng các chủ tr-ơng, đ-ờng lối của

Đảng, của tỉnh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh riêng của huyện

Nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở Quế Phong không chỉ góp phần tìm hiểu những nguyên nhân thắng lợi của công cuộc đổi mới ở Quế

Trang 8

Phong, những đóng góp của Quế Phong trong sự nghiệp đổi mới đất n-ớc,

mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú, sinh động thêm lịch sử dân tộc

Với tinh thần truyền thống h-ớng về cội nguồn và mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công tác nghiên cứu lịch sử địa ph-ơng, tìm hiểu về

sự nghiệp đổi mới của quê h-ơng nói riêng và cả n-ớc nói chung, góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị lịch sử - văn hoá dân tộc đ-ợc sản

sinh trên vùng đất Quế Phong Tôi đã chọn đề tài: "Quế Phong trong

công cuộc đổi mới (1986 - 2007)" làm khoá luận tốt nghiệp đại học của

mình

2 Lịch sử vấn đề

Công cuộc đổi mới của cả n-ớc nói chung, của các địa ph-ơng nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm đặc biệt của Đảng, các cấp chính quyền mà còn là sự nghiệp chung của nhân dân cả n-ớc Việc đánh giá những thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới, đến nay còn gặp nhiều khó khăn do quá trình này vẫn đang diễn tiến phức tạp

Tìm hiểu về quá trình đổi mới của đất n-ớc, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nh-:

- Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam” - tập 3, Nhà xuất bản Giáo dục, của tác giả Lê Mậu Hãn đã đề cập đến một số vấn đề về nội dung, kết quả của quá trình đổi mới

- Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - những vấn đề lí luận

và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của giáo sư Trần Bá Đệ biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội , xuất bản năm 1998 cũng đã tổng hợp, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới từ

1986 - 1995 trên bình diện cả n-ớc

- Luận án tiến sĩ Sử học “Đặc điểm công cuộc đổi mới dưới sự lãnh

đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam” (1986 - 1996) của T-ờng Thuý Nhân

Trang 9

- Tập kỷ yếu hội thảo khoa học với tên gọi là “Đổi mới kinh tế và các chính sách phát triển ở Việt Nam” - Hà Nội 1990 do Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung -ơng phối hợp với Đại học Stốckhôm Thuỷ Điển thực hiện Tập kỷ yếu đã đi sâu nghiên cứu các chính sách kinh tế trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, th-ơng nghiệp

- Các văn kiện Đại hội Đảng: văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X

đã nêu ra, bổ sung, phát triển hoàn thiện về đ-ờng lối đổi mới Tổng kết

đánh giá những thành tựu, hạn chế, yếu kém của công cuộc đổi mới

Công cuộc đổi mới ở Nghệ An và ở huyện Quế Phong, cho đến nay cũng có một số kết quả nghiên cứu nh-:

- Cuốn “Kinh tế - xã hội - văn hoá của tỉnh Nghệ An trong tiến trình

đổi mới” do Sở khoa học công nghệ & Môi trường Nghệ An biên soạn, Vinh 1994 Nội dung cuốn sách đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của Nghệ An trong công cuộc đổi mới Tổng kết thành tựu và chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của tỉnh trong thời kỳ dổi mới (1986 - 1993)

- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong” tập 1, (1963 - 2002) - BCH Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Quế Phong - Nhà xuất bản Nghệ An 2002 Cuốn sách đã giới thiệu đầy đủ về điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hoá xã hội huyện Quế Phong từ khi đ-ợc thành lập cho đến năm 2002 Qua đó làm nổi bật những thành tựu và hạn chế của huyện trong thời kỳ đầu đổi mới đến năm 2002

- Luận văn thạc sĩ khoa học ngành lịch sử Việt Nam của Lang Viết Chính, mã số 50315 bảo vệ năm 1999 tại Nghệ An với tên gọi “Qúa trình thành lập và phát triển huyện Quế Phong (1963- 1996)” Luận văn nêu một số thành tựu trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, lạc hậu trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến năm 1999

Ngoài ra, các báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện

từ khoá XIV đến XIX, các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện các năm từ 1997 đến năm 2007 của Uỷ

Trang 10

ban nhân dân huyện Quế Phong đã đánh giá một cách tổng quát nhất về các ph-ơng h-ớng nhiệm vụ, thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới Quế Phong

Nhìn chung, cho đến nay vẫn ch-a có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở Quế Phong Chính vì vậy, việc nghiên

cứu "Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 - 2007)" là việc làm cần

thiết nhằm khắc hoạ công cuộc đổi mới ở một huyện miền núi tỉnh Nghệ

An

3 Đối t-ợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

“Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 - 2007)” tập trung

nghiên cứu về quá trình tiến hành công cuộc đổi mới ở Quế Phong từ 1986

đến năm 2007

Tr-ớc tiên, chúng tôi đề cập đến điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội của Quế Phong, một trong những nhân tố quan trọng đ-a đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới Trọng tâm của khóa luận là những thành tựu

mà Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã đạt đ-ợc và những hạn chế trong quá trình đổi mới Từ đó khẳng định tính đúng đắn của đ-ờng lối đổi mới

mà Đảng đề ra Đồng thời khẳng định sự linh hoạt, sáng tạo của Đảng bộ

và nhân dân Quế Phong trong việc vận dụng đ-ờng lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn của huyện Nhờ đó, đã giành đ-ợc nhiều thắng lợi, tạo sự chuyển biến tích cực của đời sống kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó chúng tôi mạnh dạn đ-a ra những nhận xét, đánh giá, bài học kinh nghiệm góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình nghiên cứu tiến trình đổi mới ở Quế

Phong nói riêng và sự nghiệp đổi mới trong cả n-ớc nói chung

4 Nguồn tài liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài: “Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 -

2007)” chúng tôi tập khai thác các nguồn tài liệu sau:

Tài liệu thành văn: các giáo trình Lịch sử Việt Nam hiện đại, các

Trang 11

VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam, các công trình nghiên cứu ở cấp trung -ơng và địa ph-ơng về công cuộc đổi mới, sách lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong, lịch sử Đảng bộ Nghệ An Các báo cáo tại các Đại hội của huyện ủy qua các nhiệm kỳ từ 1986 đến 2007 Đây là những tài liệu

quan trọng nhất giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài này

Tài liệu điền dã: chúng tôi thực hiện các cuộc trao đổi trực tiếp với cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành của huyện đang chỉ đạo trực tiếp quá trình đổi mới ở Quế Phong và các nhân chứng lịch sử, các vị lãnh đạo quá

trình đổi mới tr-ớc đây

Từ đó, tiến hành tổng hợp, so sánh đối chiếu, xác minh tính đúng

đắn của các nguồn tài liệu rút ra những kết luận chính xác, khoa học, phù

hợp nhất để hoàn thành đề tài

Về ph-ơng pháp nghiên cứu: Đề tài đ-ợc thực hiện bằng ph-ơng pháp luận sử học Mác xít và sự soi sáng của quan điểm sử học của Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thời, kết hợp với các ph-ơng pháp lịch sử, ph-ơng pháp lôgíc, ph-ơng pháp điền dã, phỏng vấn

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài trình bày một cách khoa học và có hệ thống những thành tựu

và hạn chế trong công cuộc đổi mới ở Quế Phong Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ở Quế Phong nói riêng, trong cả n-ớc nói chung

6 Bố cục của đề tài

Khóa luận đ-ợc trình bày trong 72 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận đ-ợc trình bày trong 3 ch-ơng:

Ch-ơng 1: Khái quát huyện Quế Phong tr-ớc thời kỳ đổi mới (tr-ớc 1986) Ch-ơng 2: Quế Phong b-ớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995)

Ch-ơng 3: Quế Phong đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996 - 2007)

Trang 12

B NỘI DUNG

Kh¸i qu¸t huyÖn QuÕ Phong TR-íc thêi kú

1.1 ĐiÒu kiện tự nhiªn

Quế Phong lµ một huyện miền nói phÝa t©y tỉnh Nghệ An, nằm trong

đ«ng, c¸ch thµnh phố Vinh 180 km HuyÖn QuÕ Phong, phÝa B¾c gi¸p huyÖn Thường Xu©n - Thanh Ho¸, phÝa Nam gi¸p huyện Tương Dương, phÝa Đ«ng gi¸p huyện Quỳ Ch©u, PhÝa T©y gi¸p huyện Sầm Tớ - tỉnh Sầm Nưa, nước Cộng hoµ d©n chñ nh©n d©n Lµo với đường biªn giới dµi 68

km Quế Phong lµ huyện cã vị trÝ trọng yếu về an ninh quốc phßng của tỉnh Nghệ An

Tổng diện tÝch tù nhiªn của huyện Quế Phong lµ 189.543 km2 D©n

số tÝnh đến th¸ng 9 năm 2007 lµ 63.150 người

Địa h×nh Quế Phong kh¸ phức tạp vµ hiểm trở, chủ yếu lµ đồi nói, nói cao xen kẽ với c¸c thung lũng nhỏ hẹp Cao nhất lµ đỉnh Pï Hoạt với 2.452m, nằm ở phÝa T©y Bắc của huyện §ịa h×nh nµy đ· tạo nªn tÝnh chất đăc biệt trong nền sản xuất n«ng nghiệp của huyện Quế Phong Đã lµ kết hợp trồng c©y lóa nước với lóa nương rẫy vµ chăn thả bầy gia sóc lớn

HuyÖn QuÕ Phong cã tổng diện tÝch đất n«ng nghiệp lµ 2.966,55 ha, đất l©m nghiệp lµ 124.793,00 ha, đất ở lµ 364,98 ha, cßn lại lµ đất chuyªn dụng kh¸c vµ đất chưa sử dụng Trong đã loại đất chủ yếu lµ đất feralit đỏ vµng, thÝch hợp trồng c¸c loại c©y c«ng nghiệp dµi ngµy như quế, keo, cao

su, l¸t hoa ë thung lũng nhỏ cã c¸c loại đất mïn, đất lóa vïng đồi nói

Trang 13

Rừng Quế Phong thuộc hệ sinh thái nhiệt đới với hệ động thực vật phong phú, đa dạng Đến nay đã thống kê được 80 họ cây rừng với hơn

500 loại, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: lim, gụ, sến, pơmu, lát hoa, nhiều loại tre nứa và dược liệu quý Huyện Quế Phong được biết đến với những rừng quế bạt ngàn từ xưa đó là nguồn cung cấp tinh dầu lớn cho các ngành chế biến trong tỉnh Động vật trong rừng đến nay vẫn còn nhiều loại quý hiếm như: voi, gấu, hổ Trên địa bàn huyện có rừng đặc dụng Pù Hoạt ở phía Tây Bắc và một phần rừng đặc dụng Pù Huống ở phía đông nam Đây là hai trong 3 khu bảo tồn thiên nhiên lớn của tỉnh

Quế Phong là huyện có khá nhiều khoáng sản trong toàn tỉnh Ở đây rải rác có vàng sa khoáng ở xã Quang Phong, Cắm muộn, có thiếc ở Na

Ca, Tri Lễ Ngoài ra còn có đá vôi, đá thạch anh…

Nguồn tài nguyên này chủ yếu đ-ợc khai thác theo phương thức thủ công, nhỏ lẻ, kém hiệu quả Các dãy lèn đá vôi phân bố rải rác khắp huyện

là nguồn vật liệu xây dựng vô tận nhưng chưa đ-ợc khai thác đúng mức

Quế phong được coi là ngọn nguồn sông Hiếu, được hợp thành từ hai con sông Nậm Quàng và Nậm Việc Con sông lớn nhất là Nậm Quàng bắt nguồn từ nước bạn Lào, chạy qua các xã Tri Lễ, Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Mường Nọc với chiều dài 80 km Quế Phong còn có

hệ thống các sông, suối nhỏ: sông Chu, sông Nậm Giải

Sông suối ở Quế Phong có giá trị lớn về kinh tế, xã hội Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Sông suối còn là tuyến giao thông thuỷ nối liền các xã trong huyện và nối liền Quế Phong với các huyện lân cận, đồng thời

là nguồn thuỷ năng để phát triển thuỷ điện (thuỷ điện Hủa Na trên sông Nậm Việc, thuỷ điện Bản Cốc trên sông Nậm Giải) Ngoài ra, ở một mức

độ nhất định nào đó sông ngòi còn có tiềm năng về du lịch (thác Sao Va trên sông Nậm Việc)

Trang 14

Tuy nhiên, do địa hình dốc, nước chảy xiết nên mùa mưa trên các sông thường xảy ra hiện tượng lũ quét gây thiệt hại không nhỏ về người và của

Đặc điểm chung của khí hậu Nghệ An là nhiệt đới gió mùa, rêng ở Quế Phong trên vùng núi cao còn có khí hậu á ôn đới Mỗi năm có 4 mùa, mùa xuân mát mẻ, nhiều sương mù, độ ẩm cao Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thường có gió mùa đông bắc hanh khô, rét buốt Từ tháng 4 đến

Nhiều vùng núi cao bị hạn hán kéo dài ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân: Châu Thôn, Tri Lễ…

Hệ thống giao thông của huyện Quế Phong nhìn chung còn kém phát triển Tuyến đường chính của huyện là quốc lộ 48 từ Yên Lý xuyên suốt địa bàn huyện từ xã Tiền Phong đến xã Tri Lễ đang được xây dựng hoàn thiện Đến nay huyện đang triển khai sửa chữa, làm mới nhiều hệ thống giao thông nông thôn: Phú Phương - Hạnh Dịch, Tiền Phong - Thông Thụ, Châu Kim - Nậm Giải Hệ thống giao thông này tuy chưa thật

sự phát triển nhưng đã nối liền các xã trong huyện, nối liền huyện Quế Phong với các địa phương trong tỉnh, tạo đà cho sự phát triển toàn diện của vùng đất này

1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội

Quế Phong x-a là đất Quỳ Châu, đời Lê và đầu đời Nguyễn là huyện Trung Sơn của phủ Quỳ Châu Đến năm 1837 nhà Nguyễn đổi Trung Sơn là Quế Phong Ngày 19/04/1963 theo quyết định số 52/CP của hội đồng chính phủ tách phần đất của huyện Trung Sơn cũ thành lập lại Quế Phong Ngày 25/04/1963 huyện Quế Phong chính thức đ-ợc thành lập Lúc mới thành lập Quế Phong có 6 xã là: Châu Kim, Châu Thôn, Châu Long, Châu Hùng, Thông Thụ và Cắm Muộn Số dân ban đầu là 16.134 ng-ời

Trang 15

Ngày 17/4/1965, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 143 về điều chỉnh địa giới và chia các xã, sát nhập xã Châu Phong thuộc huyện Quỳ Châu vào huyện Quế Phong lấy tên là xã M-ờng Hin, chia xã Châu Kim thành ba xã: M-ờng Nọc, Châu Kim và Nậm Giải Chia xã Thông Thụ thành hai xã Thông Thụ và Đồng Văn Chia xã Châu Hùng thành hai xã Tri Lễ và Nậm Nhoóng Chia xã Châu Long thành hai xã Quang Phong và Cắm Muộn Nh- vậy đến tháng 4/1965, toàn huyện Quế Phong đã có 13 xã

Ngày 23/3/1977, Bộ tr-ởng phủ thủ t-ớng ra quyết định số 56 - BT hợp nhất xã Châu Long, Hạnh Dịch và M-ờng Hin thành một xã lấy tên là xã Tiền Phong Hợp nhất xã Nậm Nhoóng và Tri Lễ thành một xã lấy tên

là Châu Hùng Toàn huyện lúc này có 10 đơn vị hành chính xã

Đến ngày 17/8/1979, Hội đồng chính Phủ lại ra quyết định số 176/CP chia xã Châu Hùng thành hai xã Tri Lễ và Nậm Nhoóng Chia xã Tiền Phong thành hai xã là Tiền Phong và Hạnh Dịch Lúc này Quế Phong lại trở về 12 xã

Ngày 12/7/1990, Ban tổ chức cán bộ chính phủ ra quyết định số 321

- TCCP thành lập thị trấn Kim Sơn, thị trấn huyện lị của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ Tĩnh Thị trấn Kim Sơn ra đời trên cơ sở tách các xóm Bắc Sơn, Tây Sơn, Nam Sơn của xã M-ờng Nọc với 121,6 ha diện tích tự nhiên và 2.726 nhân khẩu cùng 30 ha diện tích tự nhiên của xã Tiền Phong Quế Phong lúc này có 12 xã và 1 thị trấn

đ-ợc thành lập trên cơ sở tách từ xã M-ờng Nọc

quá trình thay đổi địa giới của huyện Đến nay Quế Phong có 13 xã và 1 thị trấn là: Tiền Phong, Hạnh Dịch, Đồng Văn, Thông Thụ, Châu Kim, M-ờng Nọc, Nậm Giải, Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Châu Thôn, Quang Phong, Cắm Muộn, Quế Sơn và thị trấn Kim Sơn

Trang 16

Quế Phong là huyện vùng cao biên giới có thế mạnh phát triển kinh

tế theo h-ớng nông - lâm - công nghiệp vững mạnh Trong đó, nông nghiệp và lâm nghiệp là chủ yếu Trong nông nghiệp, cây lúa n-ớc là nông sản chính của huyện Ngoài ra, lúa rẫy và các loại hoa màu cũng

đ-ợc trồng khá phổ biến Bên cạnh đó huyện cũng chú trọng phát triển một số cây công nghiệp và cây ăn quả nh- mía, lạc, bông, vải, nhãn Cây Quế đ-ợc coi là cây trồng lâm nghiệp đặc tr-ng của huyện Ngành lâm nghiệp chủ yếu là trồng rừng, khai thác các nguồn d-ợc liệu Nổi bật trong các ngành nghề thủ công của huyện là nghề dệt thổ cẩm của ng-ời Thái, nghề rèn của người H’mông, nghề đan lát của người Khơ mú…

số dân tộc khác là: Thổ, H’mông, Khơ mú và dân tộc Kinh

Quế Phong đ-ợc coi là gốc của ng-ời Thái ở M-ờng Quỳ Tại đây

có Đền Chín Gian thờ trời và Náng Xi Đà mà chủ sự là dòng họ Lo Khăm Theo thần phả của đền thì dòng họ Sầm (gọi là Lo Khăm hay Cầm) do hai anh em là Cầm Lứ và Cầm Lan dẫn dắt từ Tây Bắc qua Thanh Hoá vào Nghệ An Tính đến nửa đầu thế kỷ XIX, đã qua 17 đời làm thế tập tạo M-ờng Kiêm Chẩu Hủa (chủ phần hồn) vùng Quỳ Châu cũ Nh- vậy, vào cuối thế kỷ XIII ng-ời Thái đã có mặt ở đất Quế Phong

Người Khơ mú, người Thổ, người H’mông di cư đến Quế Phong muộn hơn Ng-ời Kinh lên vùng đất này lập nghiệp theo chủ tr-ơng xây dựng vùng kinh tế mới của Nhà n-ớc

riêng của dân tộc mình Tuy nhiên qua quá trình sinh sống và giao l-u, tiếp xúc, các dân tộc anh em đã cùng nhau xây dựng một cộng đồng dân c- vững mạnh với một nền văn hoá đa dạng, phong phú đậm đà bản sắc dân tộc

Trang 17

đệm Váy áo của ng-ời phụ nữ th-ờng mang màu sắc sặc sỡ với những

đ-ờng nét hoa văn tinh tế, không chỉ thể hiện khung cảnh thiên nhiên sinh

động sắc nét mà còn ẩn chứa trong đó biết bao tình cảm và tài nghệ của ng-ời phụ nữ

đà hương vị như cơm lam, chẻo măng chua… Đặc biệt văn hoá rượu cần với điệu múa Lăm Vông làm say đắm lòng ng-ời

40 hộ gia đình, bản lớn th-ờng có gần 100 gia đình sinh sống Dòng họ

đóng vai trò quan trọng trong xã hội người Thái: “Côn mí họ, có mí đôn” (người có họ như cây cọ sống thành từng vạt), “tắt bò hạt, pạt bò đay” (cắt không đứt, dứt không xong) [20, 32], là những câu tục ngữ nói về tinh thần đoàn kết cộng đồng của ng-ời Thái

sách khuyến khích miền xuôi lên công tác tăng c-ờng trên miền núi, các làng bản đã có sự cộng c- của các dân tộc anh em Thị trấn Kim Sơn là nơi tập trung tất cả các dân tộc có trên địa bàn huyện: Kinh, Thái, Thổ, Khơ mú, H'mông

sức đa dạng phong phú Từ nguồn nguyên liệu thiên nhiên, các nghệ nhân

đã chế tạo đ-ợc những nhạc cụ truyền thống đặc tr-ng của dân tộc mình: kèn lá của ng-ời H'mông, sáo trúc của ng-ời Thái, chiêng trống, bộ gõ, khắc luống Đồng bào ở đây thích ca hát và lễ hội Những lúc lên n-ơng rẫy, hay hát đối giao duyên ngày lễ, tết đều có sự cộng h-ởng của những

âm thanh trầm bổng, du d-ơng, say đắm Đặc biệt trong các lễ hội: lễ hội

Đền Chín Gian, lễ hội ném còn, lễ hội xăng khan bao giờ cũng có hát xuôi, nhuôn, khắp, lăm và cả những điệu múa quạt, múa lăm vông, nhảy sạp mà đồng bào rất -a thích

Trang 18

Ng-ời Thái còn có một gia tài văn nghệ dân gian khá phong phú với nhiều thể loại: sử thi, truyện thơ, truyện kể Đáng chú ý là các chuyện kể

sự tích “Pù Chồng Cha”, “Chá Hủn Lú - Náng U Piềm” không chỉ giải thích sự hình thành các dãy núi, con sông, các hiện t-ợng tự nhiên mà còn thể hiện tình yêu đôi lứa thuỷ chung son sắc của trai gái bản m-ờng

hội ở đó có tiếng c-ời, cũng có tiếng khóc, có đau khổ cũng có hạnh phúc, có gặp gỡ chia ly, thể hiện tình yêu cuộc sống và khát vọng chinh phục tự nhiên của con ng-ời

“Pò mẹ bọc bò tò xáy xỏn Xáy xỏn bò tò hủa chở vón hạc ao”

(Cha mẹ dạy không bằng thầy dỗ Thầy dạy dỗ không bằng nỗ lực làm nên) [18, 29]

(Chua cũng là r-ợu, già cũng là vợ là chồng) [8, 22]

mình một nền văn hoá phong phú, đa dạng, vừa có những nét chung của nền văn hoá dân tộc Việt Nam vừa có những nét riêng độc đáo của văn hoá tộc ng-ời ở vùng núi cao biên giới

độc lập dân tộc Cùng trong dòng chảy lịch sử đó, nhân dân Quế Phong từ thuở x-a cho đến nay đã xây đắp cho mình những truyền thống tốt đẹp: cần cù, bất khuất, đoàn kết, anh dũng, truyền thống yêu n-ớc chống giặc ngoại xâm

khảo cổ học ở vùng miền núi Nghệ An, các truyền thuyết kể lại về những cuộc thiên di của ng-ời Thái có mặt tại phủ Quỳ Châu vào thế kỷ XIII - XIV, cũng từ thế kỷ XIV trở đi, vùng Quế phong liên tiếp nhận những đợt

Trang 19

chuyển c- kéo dài đến thế kỷ XVII - XVIII khiến cho vùng Phủ Quỳ trở thành một trung tâm Thái ở vùng Nghệ An

công lao của Ló ỳ, nguyên là dòng dõi hoàng thân của kinh đô cổ n-ớc Lào ở Luông Pha Băng Dòng họ Ló Kắm đã lập ra Đền Chín Gian thờ

“Thén Phạ”, cai quả 8 mường nhỏ xung quanh M-ờng Nọc trở thành m-ờng trung tâm của huyện Quế Phong

đến hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, vùng đất Quế Phong luôn gắn bó máu thịt cùng đất n-ớc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trong thời kỳ độc lập, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Quế Phong luôn nỗ lực hoàn thành các mục tiêu kế hoạch đề

ra, thúc đẩy quá trình đổi mới và là một phần quan trọng của sự nghiệp

đổi mới đất n-ớc

1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Quế Phong từ 1975 đến 1985

độc lập thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội trong niềm vui chung của đất n-ớc Đảng bộ và nhân dân Quế Phong bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

Tuy vậy khi b-ớc vào giai đoạn cách mạng mới, Quế Phong gặp nhiều khó khăn do hậu quả cuộc chiến tranh để lại: hệ thống giao thông thuỷ lợi bị h- hỏng nhiều, cơ sở vật chất yếu kém Hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công, năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế là những thách thức lớn đối với nhân dân huyện Quế Phong trong 10 năm

đầu đi lên chủ nghĩa xã hội

đã xác định ph-ơng h-ớng phát triển kinh tế của huyện trong thời kỳ mới

là “phát huy 3 thế mạnh của huyện là trồng trọt, chăn nuôi và nghề rừng, nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ và khai thác tiềm năng rừng để phát

Trang 20

triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân” [11, 135] Tháng 12/1977, Uỷ ban nhân dân huyện thông qua “Bản phương án quy hoạch phát triển kinh

tế xã hội huyện Quế Phong” Bản phương án đã vạch ra phương hướng xây dựng Quế Phong có một nền kinh tế lâm, nông, công nghiệp vững mạnh [11, 150] Toàn huyện đ-ợc chia thành 3 vùng kinh tế Trên cơ sở điều kiện của từng vùng mà xác định h-ớng phân bố đất đai, phát triển các ngành kinh tế, phúc lợi văn hoá - xã hội Ph-ơng h-ớng đúng đắn tiếp tục xác định chặt chẽ và toàn diện hơn, gắn phát triển kinh tế với nhiệm vụ giữ vững quốc phòng an ninh, bảo vệ biên c-ơng tổ quốc

tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân Quế Phong cơ bản đã thành công cuộc hàn gắn vết th-ơng chiến tranh B-ớc đầu xây dựng cơ sở vật chất của huyện

thác thế mạnh của địa ph-ơng là trồng trọt, chăn nuôi và nghề rừng

cầu của ng-ời dân Bình quân l-ơng thực/ng-ời quá thấp, năm 1978 là 27,27 kg/ng-ời/năm [11, 153] Hiện t-ợng đói giáp hạt xảy ra phổ biến Ng-ời dân còn phải dựa vào nguồn sống từ các loại nh-: sắn, củ rừng, rau rừng Một trong những nguyên nhân là do ch-a áp dụng các biện pháp thâm canh trong sản xuất, lúa n-ơng rẫy năng suất thấp vẫn còn chiếm diện tích lớn, hiện t-ợng du canh du c-, đốt rừng làm rẫy vẫn còn phổ biến

thức chủ yếu là thả rông, vì thế hiện t-ợng vật nuôi phá hoại cây trồng xảy

ra th-ờng xuyên Trong ý thức của ng-ời dân, việc chăn nuôi chủ yếu chỉ

là để dùng sức kéo trong nông nghiệp và phục vụ bữa ăn Do vậy, ng-ời dân ch-a có ý thức đầu t-, phát triển Năm 1978, đàn lợn có 11.469 con

Trang 21

(giảm 2.977 con so với 1977) Đàn lợn giảm mạnh do dịch bệnh lan tràn, nhiều hộ gia đình không có lợn nuôi” [11, 153]

cho các hợp tác xã, hộ gia đình khoanh nuôi bảo vệ Đến tháng 12/1978,

Uỷ ban nhân dân huyện đã hoàn thành ph-ơng án giao đất rừng cho hợp tác xã quản lý và kinh doanh theo kế hoạch của năm [11, 153]

đốt rừng làm rẫy còn phổ biến, thậm chí có nguy cơ bùng phát hơn nữa Những khu rừng nguyên sinh thuộc vùng khoanh cấm đã bị phá làm n-ơng rẫy nh- Bù Chồng Cha, Bù Cao Mạ Năm 1978, diện tích rừng bị phá lên đến 2.000 ha [11, 153], thú rừng quý hiếm bị nhân dân săn bắt tự

do, ch-a thu đ-ợc giá trị khai thác lớn Tr-ớc tình hình tài nguyên bị phá hoại, ngành kiểm lâm đã có nhiều biện pháp để bảo vệ rừng, thành lập các ban lâm nghiệp Tuy nhiên, một số ban lâm nghiệp hầu nh- không hoạt

động, cán bộ trong ban lâm nghiệp thậm chí còn vi phạm lâm luật nh- ở các xã Châu Hùng, Quang Phong [11, 154]

nh- ch-a đ-ợc tiến hành Ngành tiểu thủ công nghiệp, th-ơng mại dịch vụ còn non kém, ch-a có điều kiện v-ơn lên, ch-a đáp ứng đ-ợc nhu cầu sinh hoạt, trao đổi của ng-ời dân hệ thống các chợ ch-a xuất hiện mà chủ yếu cấp phát theo chế độ tem phiếu tại các cửa hàng của nhà n-ớc Hoạt động của các ngành tài chính, th-ơng nghiệp có nhiều cố gắng trong phục vụ sản xuất và đời sống Năm 1978, mặc dầu bị ảnh h-ởng m-a bão, ngành th-ơng nghiệp đã có nhiều cố gắng trong công tác thu mua theo ph-ơng thức “hợp đồng kinh tế hai chiều”, ngành lương thực đã tổ chức huy động nghĩa vụ l-ơng thực nhập kho nhà n-ớc đ-ợc 229 tấn (chỉ tiêu giao 500 tấn), huyện đã giải quyết cứu đói cho nhân dân 13 tấn l-ơng thực [11, 156]

Trang 22

Hệ thống giao thông vận tải ch-a phát triển, huyện có các tuyến

đ-ờng chính nối liền trung tâm huyện với các xã, nối huyện với các địa ph-ơng khác trong tỉnh Nh-ng chất l-ợng công trình không đảm bảo, nhanh chóng xuống cấp, h- hỏng Đ-ờng giao thông th-ờng có độ dốc lớn, độ rộng ch-a đảm bảo, chủ yếu là đ-ờng mòn Trong năm 1978 huyện phải đầu t- tu sửa 22 km tuyến đ-ờng giao thông Phú Ph-ơng - Xốp Chảo, 7 km tuyến đường 48 “Để thực hiện công tác giao thông, thuỷ lợi, huyện chủ tr-ơng dành 1/3 lao động trong các hợp tác xã (chủ yếu là thanh niên) để huy động lên các công tr-ờng, thành lập các đội thanh niên tình nguyện (đội 202) ở các xã Mường Nọc, Tiền Phong và Châu Kim” [11, 157]

triển đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, khoa học kỹ thuật nên thực chất đời sống của nhân dân Quế Phong ch-a thoát đ-ợc cảnh đói nghèo Bên cạnh đó, chế độ quan liêu bao cấp trở thành rào cản của sự phát triển kinh tế Tài nguyên còn đang ở dạng tiềm năng, phân phối l-u thông hàng hoá còn ch-a hợp lý, ch-a thực hiện đ-ợc những mục tiêu cơ bản mà huyện đề ra

tiềm năng sẵn có của huyện, Quế Phong ch-a sử dụng hiệu quả diện tích

đất nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi Quế Phong là một trong những huyện giàu tài nguyên rừng Vậy mà nguồn tài nguyên rừng phong phú đa dạng đó ch-a đ-ợc khai thác hợp lý, hiệu quả, nhất là gỗ và d-ợc liệu quý

phòng Sau khi đất n-ớc thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội, ở Quế Phong các thế lực phản động, tay sai đế quốc vẫn âm thầm hoạt động, âm m-u lật đổ chính quyền cách mạng Trong khi đó thực lực của Quế Phong còn non yếu: vừa thoát khỏi chiến tranh, nên kinh tế ch-a kịp thời khôi

Trang 23

phục, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thông tin, dễ bị kẻ xấu lợi dụng

hoà bình vừa có chiến tranh, bạo loạn lật đổ bất cứ lúc nào

dân xây dựng nếp sống mới Tuy nhiên, tập tục ma chay, khài cúng còn có

vị trí quan trọng trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số Tình trạng chăn nuôi gia súc, gia cầm d-ới gầm, sàn nhà vẫn còn phổ biến Hầu hết các gia đình ở vùng sâu vùng xa ch-a có nhà tắm, nhà cầu vệ sinh

Hoạt động chiếu phim màn ảnh rộng ch-a đ-ợc phổ biến Ch-ơng trình phát thanh của đài tiếng nói Việt Nam còn rất ít Phần lớn đồng bào các dân tộc Quế Phong còn rất xa lạ đối với các thông tin truyền hình

Ngành giáo dục có nhiều cố gắng thực hiện mục tiêu xoá điểm trắng giáo dục Các lớp học đ-ợc mở tới tận thôn bản với đầy đủ các ngành học Huyện mở nhiều lớp bổ túc văn hoá nhằm bồi d-ỡng cán bộ, nâng cao dân trí địa ph-ơng

Khó khăn lớn nhất của ngành giáo dục là thiếu thốn về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, ý thức của ng-ời dân còn ch-a tốt, ch-a thấy đ-ợc

sự cần thiết và tầm quan trọng của việc học tập Cũng chính vì vậy, số l-ợng ng-ời mù chữ ở Quế Phong lúc này rất lớn Tình trạng giáo dục rất

đáng báo động Cho đến năm 1985, tình trạng thiếu giáo viên ch-a đ-ợc khắc phục, chất l-ợng giáo dục còn kém Năm học 1984 - 1985, số học sinh cấp 2 tiếp tục giảm 43 em, trong năm học chỉ có 506 em đến lớp [11, 187]

Các trạm xá b-ớc đầu hoạt động tích cực hiệu quả Năm 1985 có 5.061 trên tổng số 5.586 hộ đ-ợc phun thuốc diệt muỗi, 36.306 ng-ời đ-ợc uống thuốc phòng bệnh [11, 194]

Trang 24

Tuy nhiên, công tác kế hoạch hóa gia đình ch-a đ-ợc thực hiện phổ biến Bệnh sốt rét vẫn hoành hành trên địa bàn huyện Khi đau ốm, bệnh tật nơi đầu tiên ng-ời dân tìm đến là thầy mo, thầy cúng nhờ gọi hồn, làm vía cho ng-ời ốm Điều này đã kìm hãm sự phát triển của ngành y tế

hội Quế Phong vẫn còn rất khó khăn, ch-a thoát khỏi xuất phát điểm quá thấp của một huyện vùng cao Tình trạng đó đòi hỏi phải có một b-ớc đột phá lịch sử nhằm đ-a Quế Phong ra khỏi sự trì trệ, giải phóng mọi động lực, từng b-ớc đổi mới toàn diện, tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội Đó chính là nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân Quế Phong trong thời

Trang 25

Ch-ơng 2 Quế Phong b-ớc đầu thực hiện công cuộc

đổi mới (1986 - 1995 ) 2.1 Giai đoạn 1986 - 1990

2.1.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Quế Phong

Hơn 10 năm (1976 - 1986) đất n-ớc ta b-ớc đầu xây dựng theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa trong hoàn cảnh đầy khó khăn và thử thách Hậu quả chiến tranh để lại ch-a thể khắc phục thì lại xảy ra hai cuộc chiến tranh ở phía Tây Nam và phía Bắc Mỹ tiến hành cấm vận, bao vây kinh tế làm cho đất n-ớc ta lại càng khó khăn hơn Thêm vào đó các n-ớc xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế dẫn đến tổ chức Hội

đồng t-ơng trợ kinh tế phải thay đổi chính sách “trợ giá” bằng “trượt giá”

đối với các n-ớc nghèo trong đó có Việt Nam Điều đó gây khó khăn cho n-ớc ta khi vay vốn từ các n-ớc xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó trong hơn một thập kỷ (1976 - 1986) “Đảng và Nhà nước mắc phải sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ tr-ơng, chính sách lớn, sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” [14, 26]

Tình hình trên đặt đất n-ớc tr-ớc một yêu cầu hết sức cấp bách là phải tiến hành đổi mới toàn diện nhằm thoát khỏi nghèo nàn, v-ơn lên phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đ-a ra đ-ờng lối đổi mới đất n-ớc

ở Quế Phong, tàn tích của chế độ cũ làm cho nền kinh tế trở nên kiệt quệ, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu song còn phụ thuộc vào tự nhiên: hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh phá hoại, thuỷ lợi còn mang tính tự nhiên Công nghiệp hầu nh- ch-a có Có thể nói nền kinh tế Quế Phong lúc này

là một nền kinh tế thuần nông, nghèo nàn

Bên cạnh đó, đời sống văn hoá c- dân hết sức lạc hậu, thấp kém Phần lớn dân số bị mù chữ và còn xa lạ với các ph-ơng tiện thông tin đại

Trang 26

chúng Các tập tục cổ hủ, lạc hậu đè nặng lên cuộc sống tinh thần của ng-ời dân

Giáo dục ch-a phát triển, cơ sở vật chất thiết bị, đội ngũ cán bộ giáo viên thiếu thốn, số l-ợng học sinh đến tr-ờng quá ít, chủ yếu là các lớp xoá mù

Công tác y tế ch-a có điều kiện hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân: dụng cụ y tế thô sơ lạc hậu, đội ngũ cán bộ trình độ chuyên môn thấp, dịch bệnh th-ờng xuyên xảy ra, tỷ lệ ng-ời tử vong do bệnh tật rất lớn

Tình hình an ninh - quốc phòng có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực phản động tích cực hoạt động âm m-u lật đổ chính quyền Hiện t-ợng c- dân v-ợt biên trái phép sang Lào, tình trạng xâm canh xâm c- ở các vùng biên giới ch-a đ-ợc giải quyết ổn thoả Hệ thống chính quyền các cấp hoạt động trì trệ quan liêu

Những khó khăn trên yêu cầu phải có b-ớc đột phá nhằm đ-a Quế Phong thoát khỏi tình trạng này, v-ơn lên phát triển

Tháng 9/1986 Đại hội Đảng bộ huyện Quế Phong lần thứ XIV đã chủ tr-ơng đổi mới t- duy, tổ chức cán bộ và phong cách lãnh đạo của

Đảng Tiến hành đồng thời cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng t- t-ởng văn hoá nhằm đ-a Quế Phong trở thành huyện giàu về kinh tế, vững về an ninh quốc phòng, nhân dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc

Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ cụ thể của từng ngành và biện pháp thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đó, quyết tâm giành thắng lợi toàn diện trong công cuộc đổi mới ở Quế Phong

Nh- vậy, trong bối cảnh khó khăn, nhiều vấn đề cần giải quyết Việc đổi mới không chỉ là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn với đất n-ớc mà còn là nhiệm vụ cấp bách đối với huyện miền núi Quế Phong

Trang 27

2.1.2 Thành tựu và hạn chế

Bằng sự năng động, sáng tạo Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã

cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh của huyện miền núi Quế Phong Nhờ đó, trong 5 năm đầu tiến hành đổi mới, Quế Phong đã có những thành tích đáng khích lệ về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hoá, giáo dục, y tế

giống mới Nổi bật nhất là việc lai tạo, du nhập giống lợn lai kinh tế ở thị trấn Kim Sơn và xã M-ờng Nọc Trọng l-ợng lợn xuất chuồng tăng nhanh, đàn gia súc, gia cầm cũng tăng lên đáng kể Năm 1990, tổng đàn trâu có 10.898 con, đàn bò có 8.000 con (tăng 700 con), đàn lợn có 19.176 con (tăng 7.301 con), thả cá ao hồ 4,8 triệu con (tăng hơn 3 triệu con) so với năm 1986

Hạn chế lớn nhất trong nông nghiệp là bình quân l-ơng thực còn thấp, nạn đói vẫn diễn ra th-ờng xuyên Bên cạnh đó hiện t-ợng làm

Trang 28

n-ơng rẫy còn rất phổ biến Diện tích lúa n-ơng rẫy còn chiếm vị trí lớn trong nông nghiệp trồng lúa Hệ thống thuỷ lợi còn mang tính thô sơ, lạc hậu Chăn nuôi ch-a mang tính hàng hoá, ch-a có sự đầu t- về khoa học

kỹ thuật Sản xuất ch-a đạt chỉ tiêu đặt ra

Về lâm nghiệp: b-ớc đầu thực hiện thành công giao đất giao rừng

và trồng cây công nghiệp Trong 5 năm huyện trồng đ-ợc 100 ha cây quế, 30.000 cây phân tán, 572 ha rừng tập trung, tạo mới 23 vạn cây con Riêng năm 1990 huyện trồng đ-ợc 60 ha quế tập trung

Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng cũng đ-ợc quan tâm Năm 1990, ngành lâm nghiệp chăm sóc, bảo vệ đ-ợc 359 ha rừng quế

thác 100 m3 gỗ tròn, 6 vạn cây mét, 13 ngàn cây nứa

đ-ợc thế mạnh của huyện, ch-a tạo ra hàng hoá xuất khẩu Trong khi đó diện tích rừng bị phá vẫn tiếp tục tăng Năm 1987, Uỷ ban nhân dân huyện thành lập 2 trạm kiểm soát cửa rừng tại ngã 3 Truông Bành và nông tr-ờng 1- 5 sông Quàng với nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản đặc sản, nhất là quế khi ra khỏi địa bàn Năm 1990, ngành kiểm lâm đã xử lý 227

vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 224 vụ vi phạm n-ơng rẫy

hiệp -ớc đào tạo thợ thủ công trong sản xuất vật liệu xây dựng cho huyện Sầm Tớ (Lào) Nhìn chung, các chính sách phát triển vẫn còn ở dạng văn bản, ch-a có kết quả gì đáng kể Chủ yếu sản xuất thủ công truyền thống nh-ng chỉ phục vụ sinh hoạt gia đình, tính chất nhỏ lẻ

nhà nước hỗ trợ”, ngành xây dựng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng các công trình thuỷ lợi: kênh n-ơng 3- 2, Máng Cò - Hạnh Dịch, công trình giao thông: đ-ờng thông xe vào bản Lốc - Thông Thụ, Ná Quèn - Đồng

Trang 29

cố Đến năm 1989, ngành xây dựng hoàn thành các hạng mục công trình còn lại của bệnh viện huyện, bổ sung năng lực mới cho trạm khám đa khoa khu vực Đồng Mới, tăng thêm cơ sở tr-ờng lớp cho ngành giáo dục

và nhiều công trình nhà ở, nhà làm việc của khối cơ quan

15 công trình phúc lợi công cộng, 6 nhà làm việc của các cơ quan và nhà

ở Tuy nhiên, số l-ợng công trình còn hạn chế, quy mô còn nhỏ

với tr-ớc Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn của huyện miền núi, ngành th-ơng mại, tài chính không có điều kiện phát triển, ch-a góp phần đáp ứng nhu cầu, nâng cao chất l-ợng cuộc sống của nhân dân

2.1.2.2 Chính trị

Trong 3 năm (1986 - 1988) công tác bảo vệ Đảng tiến hành nghiêm túc, hiệu quả Toàn huyện có 8 Đảng bộ, chi bộ đ-ợc công nhận là vững mạnh, trong sạch là các xã : Tiền Phong, Thông Thụ, M-ờng Nọc, Châu Kim, Tri

Lễ, các cơ quan: l-ơng thực, b-u điện, công an Các đơn vị khác đều có chuyển biến tốt Đảng bộ xã Tiền Phong và Đảng bộ xã Thông Thụ là 2

Đảng bộ cơ sở được tỉnh xét tặng công nhận “Đảng bộ vững mạnh, trong sạch” từ năm 1986 - 1990

lực, phẩm chất cán bộ thông qua kết quả hoạt động và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, đối xử bình đẳng về giới, dân tộc, về độ tuổi, bố trí công việc

đúng chuyên môn nghiệp vụ

chốt Số l-ợng cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế Phong cách làm việc ch-a thoát khỏi t- t-ởng quan cách

ban nhân dân và các đoàn thể đ-ợc coi trọng chỉ trong 2 năm (1987-

Trang 30

1988), đã có 173 đoàn viên mới đ-ợc kết nạp, 50 đoàn viên -u tú đ-ợc kết nạp Đảng, 5.330 cháu được công nhận là “Cháu ngoan Bác Hồ”

Năm 1990 Hội cựu chiến binh huyện Quế Phong đ-ợc thành lập góp phần kiện toàn hệ thống đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn huyện

2.1.2.3 An ninh - quốc phòng

Lực l-ợng quân sự, biên phòng đã phát hiện và đẩy lùi âm m-u của một số th-ơng nhân n-ớc ngoài xâm nhập, móc nối với bọn xấu nhằm gây rối loạn Từng b-ớc xây dựng nền quốc phòng toàn dân với lực l-ợng vũ trang địa ph-ơng, dân quân tự vệ, dự bị động viên ngày càng nâng cao về

thành tích trong phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc đ-ợc huyện, tỉnh khen ngợi

Hạnh Dịch đ-ợc Bộ Nội vụ tặng bằng khen là lá cờ đầu trong phong trào

an ninh quốc phòng

tệ nạn xã hội vẫn còn là vấn đề nhức nhối, tình trạng buôn bán thuốc phiện, v-ợt biên trái phép còn gia tăng

đã đ-a đến cuộc sống ổn định, tạo tiền đề cho đổi mới về văn hoá, giáo

Trang 31

Ngành văn hoá thông tin không còn xa lạ đối với cuộc sống sinh hoạt của ng-ời dân Ngành nắm bắt tình hình, kịp thời cổ động, h-ớng dẫn

tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc

truyền thanh, điện ảnh, b-u điện, th- viện, phát hành sách đều có nhiều cố gắng đổi mới hoạt động của mình Đội chiếu bóng hoạt động có hiệu quả, góp phần tuyên truyền xây dựng con ng-ời mới xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống những tiêu cực xã hội Năm 1988, đội thông tin huyện Quế Phong đạt giải nhất đồng đội trong hội thi tuyên truyền cổ động toàn quốc

đồng bộ tr-ởng về xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ thủ tục lạc hậu Huyện Quế Phong đã ra Nghị quyết đẩy mạnh cuộc vận động nếp sống mới Các tập tục lạc hậu nh- ma chay, c-ới hỏi, mê tín dị đoan bị phê phán kịch liệt Ng-ời dân đã bắt đầu nhận thức tác hại của nó

đ-ợc tổ chức sôi nổi, nhất là trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất n-ớc Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, huyện tổ chức đại hội thể thao toàn huyện, hội diễn văn nghệ quần chúng

đã có nhiều đơn vị tham gia và đạt giải Đội bóng chuyền nam ngành giáo dục đạt giải nhất bóng chuyền nam toàn ngành của tỉnh Nghệ Tĩnh Huyện Quế Phong đạt 2 giải A, 2 giải B trong hội thi “Tiếng hát làng Sen” của tỉnh Các đơn vị có nhiều thành tích nổi bật là xã Thông Thụ, xã M-ờng Nọc, Bệnh viện huyện

Sự phát triển của văn hoá thông tin đã góp phần nâng cao nhận thức của ng-ời dân về xã hội, về công cuộc đổi mới của đất n-ớc Góp phần rút ngắn khoảng cách giữa ng-ời dân với Đảng và Chính Phủ Củng cố tăng thêm niềm tin của nhân dân vào con đ-ờng xã hội chủ nghĩa của đất n-ớc

Trang 32

Ngành giáo dục cũng đ-ợc quan tâm đầu tư trong điều kiện “thắt lưng buộc bụng” cho con em đến trường học tập Hệ thống trường lớp

được tổ chức lại Tuy nhiên số lượng học sinh còn quá ít “năm học 1987 -

1988, hệ mầm non có 450 cháu vào nhà trẻ, 1.300 cháu học mẫu giáo; hệ phổ thông cơ sở có 6.386 học sinh Hệ bổ túc văn hoá toàn huyện có 998 học viên học sách bổ túc văn hoá dành riêng cho vùng dân tộc thiểu số, 2 lớp bổ túc văn hoá lớp 4 và lớp 5 cho cán bộ ở xã Tri Lễ” [11, 206] Số l-ợng ng-ời mù chữ còn rất cao, công tác xoá mù mới chỉ đ-ợc quan tâm, chất l-ợng giáo dục còn kém xa so với các huyện miền xuôi

Ngành y tế có nhiều chuyển biến tích cực Năm 1990, ngành đã kịp thời bao vây, dập tắt chu kỳ sốt rét vào mùa hè hàng năm Bệnh viện, trạm xá đã điều trị 9,5 ngàn l-ợt ng-ời, phun thuốc cho 10/13 xã, thị Lần đầu tiên tổ chức tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt kết quả tốt

thống y tế thôn bản do tình trạng khài cúng vẫn còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Cơ sở, trang thiết bị y tế còn nghèo nàn lạc hậu Những yếu tố phát sinh dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn

2.2 Giai đoạn 1991 - 1995

2.2.1 Tình hình và nhiệm vụ

Qua 5 năm tiến hành đổi mới nền kinh tế - xã hội trong cả nước nói chung, huyện Quế phong nói riêng đã đạt được một số thành tựu nhất định Song đất nước vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng

Tháng 6 năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã hoàn chỉnh, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới Đồng thời

đề ra phương hướng nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm tới (1991 - 1995)

Tháng 8 năm 1991, Quốc hội quyết định chia tỉnh Nghệ tĩnh thành

2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh

Trước những biến đổi lớn như vậy, Đảng bộ và nhân dân Quế

Trang 33

cuộc đổi mới đất nước Đại hội Đảng bộ huyện Quế phong lần thứ XVI được tiến hành qua 2 vòng trước và sau Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam Đại hội đã xem xét, đánh giá những yêu cầu mới của Đại hội VII trong điệu kiện cụ thể của huyện Quế Phong Từ đó đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ mới trong 5 năm tiếp theo (1991 - 1995) Trong

- Đảm bảo an ninh - xã hội

Nhiệm vụ mới đặt ra nặng nề hơn trước Bởi nó được đưa ra dựa trên cơ sở tổng kết những thành tựu và hạn chế trong thời kỳ trước đó Muốn hoàn thành những nhiệm vụ mới Đảng bộ và nhân dân Quế phong cần kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố khách quan và chủ quan, vận dụng sáng tạo và hiệu quả những kinh nghiệm đã có

2.2.2 Thành tựu và hạn chế

Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ Quế Phong đáp ứng kịp thời nguyện vọng của các dân tộc huyện nhà Trong 5 năm (1991 - 1995), Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã không ngừng cải tiến phong cách làm việc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy lùi tệ nạn lạc hậu, từng b-ớc vươn lên giành những thắng lợi trên mọi lĩnh vực

2.2.2.1 Kinh tế

Nền kinh tế có những chuyển biến nhanh từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 5,3%

Trong 5 năm (1991 - 1995) sản l-ợng l-ơng thực tăng từ 14.894 lên 18.500 tấn, bình quân l-ơng thực tăng từ 229 kg/người/năm lên 269

Trang 34

kg/người/năm (tăng 40 kg/ng-ời/năm) Phong trào khai hoang thâm canh cũng được đẩy mạnh B-ớc đầu đưa vào sản xuất các loại cây con cho năng suất cao: cam, vải, nhãn theo chương trình của Nhà nước Đặc biệt, việc du nhập giống mới ngoài các xã vùng thấp như Mường Nọc, Châu Kim, nay đã phát triển đến 9 xã vùng cao và đạt được 86% ở các xã Cắm Muộn, Quang Phong, Châu Thôn, Hạnh Dịch

Diện tích trồng cây màu tiếp tục được mở rộng, hình thành dần các vùng trồng mía, lạc, ngô, khoai Vùng Piếng Pánh, xã Mường Nọc (nay là xã Quế Sơn) là vùng trồng cây màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày Các thung lũng Mường Nọc, Tiền phong là những vùng trồng lúa của cả huyện

Quế Phong có các vùng đồi chăn thả rộng lớn, ngành chăn nuôi gia súc lớn được đẩy mạnh Nhưng chủ yếu nhằm sử dụng sức kéo và phân bón trong nông nghiệp

Tổng đàn trâu, bò, lợn hầu như giữ mức ổn định trong cả 5 năm Năng suất, sản lượng, chất lượng chăn nuôi đ-ợc nâng lên rõ rệt Riêng cá thịt năm 1995 đạt 7 triệu con (tăng 4 triệu con), t-ơng đ-ơng 720 tấn (tăng

420 tấn) so với năm 1990

Hình thức chăn nuôi phong phú hơn trước Tình trạng mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi bước đầu được khắc phục Mô hình VACR đang được hình thành Hầu hết các gia đình đều có đàn gà, vịt phục vụ nhu cầu đời sống Nhiều hộ chăn nuôi gà, vịt với số lượng hàng trăm con

Sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản đời sống nhân dân, các sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống mà bước đầu trở thành hàng hóa góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc Quế Phong

Bên cạnh những thành tựu này, nông nghiệp Quế Phong trong giai

Trang 35

và kỹ năng sản xuất quảng canh, du canh tự túc tự cấp vẫn còn phổ biến Những tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng đồng bộ và phổ biến Vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa được chú trọng đúng mức, sản xuất nông nghiệp chưa chủ động trong công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai

Lâm nghiệp cũng được coi là mặt trận hàng đầu Bên cạnh việc chăm lo bảo vệ rừng, tăng cường công tác lâm luật, việc khôi phục rừng, trồng mới rừng cũng được đẩy mạnh Việc khoanh vùng nương rẫy, giao đất giao rừng cho nhân dân được tiến hành thường xuyên qua các năm

Từ năm 1993, huyện được nhà nước đầu tư phát triển vốn rừng theo chương trình 327 Trong 5 năm, ngành lâm nghiệp đã khoanh rẫy ổn định

và giao đất cho hộ gia đình quản lí 4.985 ha, khoanh nuôi rừng phòng hộ

200 ha, trồng mới 765 ha quế, xây dựng được 3 dự án lớn để phát triển lâm nghiệp Mô hình nông - lâm kết hợp, vườn rừng, vườn nhà phát triển

ở các xã Đồng Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Tiền Phong, Mường Nọc, Châu Kim

Khai thác rừng, đặc biệt là gỗ và các loại dược liệu bước đầu mang lại nguồn thu cho ngân sách huyện

Tuy nhiên việc khai thác rừng trái phép còn tiếp diễn, việc giao đất giao rừng chưa thực sự hiệu quả, một số nơi còn mang tính chất hình thức Hiệu quả sử dụng chưa tương xứng với tiềm năng

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng có nhiều thành tựu Đáng chú ý

là nghề dệt thổ cẩm Đây vốn là nghề thủ công truyền thống của đồng bào Thái, đi cùng với nó là nghề trồng bông, trồng dâu nuôi tằm ở các làng bản Sản phẩm dệt là váy, áo, gối, chăn, màn, túi không chỉ phục vụ đời sống nhân dân trong huyện mà còn được ưa chuộng ở nhiều nơi

Ngoài ra, nghề rèn của người H’mông, nghề đan lát của người Khơ

mú, nghề mộc của người Kinh, người Thái cũng được duy trì trong các

Trang 36

gia đình Các sản phẩm như dao, cuốc, cày, giường, tủ gỗ là những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các nghề thủ công chủ yếu như sản xuất gạch ngói, khai thác đá, may mặc, sửa chữa điện tử cũng đã thể hiện được vai trò của mình Năm 1995, tổng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp tăng 50% so với năm 1991

Tuy nhiên xét một cách tổng quát thì tiểu thủ công nghiệp trong huyện chưa mạnh, quy mô sản xuất nhỏ, mang tính chất hộ gia đình Chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa tạo ra các mặt hàng xuất khẩu

Ngành thương nghiệp đã cố gắng xử lí, chuyển phương thức kinh doanh phục vụ theo yêu cầu mới Do vậy không xảy ra những biến động lớn về l-u thông và phân bố sản phẩm hàng hóa trên thị tr-ờng Theo tinh thần nghị định 358 của Hội đồng Bộ trưởng, năm 1992, Quế Phong đã chấn chỉnh lại mạng lưới thương nghiệp, công ty thương mại tổng hợp được hình thành và hoạt động tích cực, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân Cửa hàng lương thực, dựơc phẩm dần dần tạo được cho mình vị trí cần thiết trong đời sống xã hội của huyện

Vấn đề lưu thông hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn do đường xá đi lại chưa thuận tiện Đồng bào vùng sâu vùng xa còn nặng nề lối sống tự cấp tự túc Điểm họp chợ chủ yếu ở vùng thị trấn ngày nay, tuy nhiên quy mô nhỏ lẻ, không tập trung Công tác quản lí thị trường chưa hiệu quả, hàng hóa kém chất lượng vẫn được bày bán, ảnh hưởng đến uy tín của ngành

Ngành xây dựng cơ bản đã hoàn thành nhiều công trình, trong đó

có những công trình trọng điểm, phục vụ kịp thời sản xuất và hoạt động xã hội của huyện Nổi bật là các khâu thủy lợi và giao thông

Trong 5 năm (1991 - 1995) Quế Phong đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi: đập Tồng Mọ, thuỷ lợi Ná Tỳ - Huôi Nhắng, thuỷ lợi

Trang 37

Nậm Giải, Châu Thôn - Mường Lống Đồng thời sửa chữa nâng cấp các tuyến đường: Phú Phương - Xốp Chảo, Châu Kim - Mường Nọc, Châu Thôn - Quang Phong Hoàn thành 2 km đường nhựa ở trung tâm huyện lị

Nhờ có ngân sách địa phương, sự hỗ trợ từ cấp trên, huyện đã xây dựng về cơ bản cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi: nhà văn hóa huyện, đài phát sóng truyền hình, trụ sở làm việc của các cơ quan huyện ủy, công an, viện kiểm sát, tòa án, tr-ờng phổ thông trung học, bệnh viện, các trạm xá… Xây dựng và đưa vào sử dụng chương trình nước sinh hoạt cho thị trấn Kim Sơn và Bản Đan xã Tiền Phong, khởi công và xây dựng đường điện 35 KV Quỳ Châu - Quế Phong, công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Hữu Văn

Bên cạnh những thành tựu, kinh tế Quế Phong giai đoạn này còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế Tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế vẫn chưa được thu hẹp Nguồn thu ngân sách quá ít so với nhu cầu chi thường ngày Tốc độ phát triển chậm, đời sống nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng cao vùng sâu chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Các tiềm năng chưa được khai thác có hiệu quả, chưa phát huy được thế mạnh của huyện Chưa đầu tư mũi nhọn để phát triển sản xuất hàng hóa

cơ sở Từ năm 1991 - 1995, Đảng bộ huyện đã thi hành kỷ luật 45 Đảng viên từ khiển trách đến khai trừ

Trang 38

Năm 1995, toàn huyện có 28 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó có 9 đơn

vị trong sạch vững mạnh, 17 đơn vị khá, chỉ có 2 đơn vị yếu, kết nạp thêm

134 đảng viên (tăng 56 đảng viên so với năm 1991)

Công tác kiểm tra đảng còn chưa thực sự triệt để Công tác phát triển Đảng còn một số yếu kém chưa được khắc phục Có những Đảng bộ, chi bộ nhiều năm không phát triển được đảng viên nào

Trong công tác cán bộ, huyện thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực lãnh đạo Hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp đã từng b-ớc khắc phục tính hình thức, nâng cao hiệu quả công việc

Tuy nhiên việc bố trí cán bộ các cấp còn nhiều lúng túng Cho đến năm 1995 bộ máy chính quyền ở thôn bản còn nhiều bất cập Đó là tình trạng trình độ thấp, hoạt động trì trệ kém hiệu quả Những chính sách ưu

đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với vùng khó khăn, dân tộc thiểu số chưa được triển khai triệt để, chưa đến được với đối tượng cần thiết

Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể quần chúng được cấp uỷ quan tâm củng cố từ huyện đến xã, bản Đoàn thanh niên cộng sản

Hồ Chí Minh tổ chức được nhiều phong trào thi đua, mở hội cắm trại, giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao Đoàn tích cực tham gia lao động, trồng được 90 ha rừng, phát quang 28 km đường [11, 212]

Trang 39

Tòa án nhân dân huyện đã cố gắng xét xử các vụ án đúng người,

đúng tội, không có sai sót đáng tiếc xảy ra Từ năm 1991 đến 1995, thụ lý

37 vụ hình sự, đưa ra xét xử 32 vụ , phạt tù 25 tên, cho hưởng án treo 36 đối tượng, án dân sự thụ lý 94 vụ, xét xử 15 vụ , hòa giải 14 vụ Công tác thụ lý

25 vụ, trong đó có 21 vụ án dân sự Riêng thi hành án hình sự đã thu trên 65 triệu đồng, trả lại cho công dân bị hại 46 triệu, sung công quỹ 19,4 triệu đồng Ngành thanh tra đã phối hợp với các ngành chức năng tiến hành kiểm tra làm rõ việc thu chi ngân sách huyện, các đơn vị dự toán thuộc Phòng tài chính, Phòng Lao động - Thương binh xã hội, Trung tâm y tế huyện, đồng thời trả lời, giải đáp những thư tố của công dân, góp phần chống tham nhũng, lập lại trật tự, kỷ cương phép nước thu hồi cho ngân sách hàng trăm triệu đồng [11, 249 - 250]

Trong tình hình mới, công tác quốc phòng đã kịp thời chuyển hướng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương Đảng bộ Quế Phong đã lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đồng thời nâng cao chất lượng của lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ và dự bị động viên Tổ chức các đợt diễn tập chống gây rối, bạo loạn lật đổ ở các xã, cung cấp hiểu biết cần thiết về quốc phòng cho người dân Đảm bảo sự kết hợp quân dân sẵn sàng chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh nào

Công tác tuyển quân trong 5 năm qua luôn đạt 100% chỉ tiêu, chất lượng đảm bảo, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đào ngũ, bỏ ngũ

2.2.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế

Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ổn định và từng bước được cải thiện là điệu kiện để văn hóa, giáo dục, y tế có đ-ợc nhiều tiến bộ

Vấn đề mang tính đặc thù của huyện miền núi dân tộc là các tập tục lạc hậu, các hiện tượng mê tín dị đoan, đến nay cơ bản đã được hạn chế,

Trang 40

tình trạng tảo hôn, thách cưới nặng nề, để người chết lâu ngày trong nhà đã được điều chỉnh khoa học hơn, có nơi đã xóa bỏ được

Đời sống nhân dân được nâng cao hơn trước về cả vật chất lẫn tinh thần Tình trạng đói giáp hạt đang dần được khắc phục Một số hộ gia đình

có đời sống khá Theo thống kê, năm 1995 toàn huyện có 20% số hộ giàu, 20% số hộ khá, trên 30% hộ nghèo Riêng khu vực thị trấn Kim Sơn có hơn 80% hộ có ti vi để xem truyền hình Hơn 70% số hộ trong toàn huyện đã đăng ký xây dựng “Gia đình văn hóa mới”

Trung tâm văn hóa huyện tổ chức được nhiều buổi chiếu bóng phục

vụ nhu cầu giải trí, thư giãn của người dân, đồng thời nâng cao nhận thức xã hội

Các đội thông tin lưu động tiếp tục phát huy vai trò của mình Phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng đến với đồng bào, nhất là các dân tộc vùng cao, vùng biên giới

Phong trào thể dục thể thao, giao lưu văn nghệ được chú ý, tổ chức

có quy mô, phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị của huyện và các ngày lễ lớn của dân tộc Tích cực tham gia các hội diễn, hội thao ở tỉnh đạt kết quả tốt

Ngành giáo dục chú trọng phát hiện, bồi bưỡng tài năng con em các dân tộc huyện nhà Hệ thống trường lớp được tổ chức lại chất lượng dạy - học được nâng lên Tuy chưa đạt yêu cầu mong muốn nhưng đã ngăn chặn được tình trạng xuống cấp trong giáo dục Hàng năm đều có đội ngũ giáo viên dạy giỏi, học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh

Số lượng học sinh tham gia vào các cấp học, ngành học ngày càng

đông Năm học 1994 - 1995, tổng số học sinh cả 3 cấp tăng hơn 60% so với năm học 1991 - 1992 Tổng số học sinh phổ thông (cả 3 cấp) là 12.133, tăng 4.983 so với năm học 1988 - 1989

Ngày đăng: 21/10/2021, 23:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. BCH Đảng bộ Đảng huyện Quế Phong (2002). Lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong, tập 1 - NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong
Tác giả: BCH Đảng bộ Đảng huyện Quế Phong
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2002
13. Lang Viết Chính. Quá trình thành lập và phát triển Huyện Quế Phong (1999). luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành lịch sử Việt Nam mã số 5.03.15. Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình thành lập và phát triển Huyện Quế Phong
Tác giả: Lang Viết Chính. Quá trình thành lập và phát triển Huyện Quế Phong
Năm: 1999
19. Trần Kim Đôn,. Địa lý các Huyện, Thành phố, Thị xã tỉnh Nghệ An. NXB Nghệ An, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý các Huyện, Thành phố, Thị xã tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
20. Lê Mậu Hãn, (1999). Đại c-ơng lịch sử Việt Nam, tập 3. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại c-ơng lịch sử Việt Nam
Tác giả: Lê Mậu Hãn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
21. Nghệ An. lịch sử và văn hoá (2005). Ninh Viết Giao, Trần Kim Đôn, Nguyễn Thanh Tùng. NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An. lịch sử và văn hoá
Tác giả: Nghệ An. lịch sử và văn hoá
Nhà XB: NXB Nghệ An
Năm: 2005
22. T-ờng Thuý Nhân (2000) “Đặc điểm công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam” (1986-1996). Luận án tiến sỹ lịch sử. Mã số 503 Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đặc điểm công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam
23. Nguyễn Ngọc Phúc (2000). Đôi điều suy nghĩ về đổi mới, NXB lao động Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều suy nghĩ về đổi mới
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phúc
Nhà XB: NXB lao động Hà Nội
Năm: 2000
24. Sở khoa học công nghệ và môi trường Nghệ An (1994) “Kinh tế - Xã hội - Văn hoá của tỉnh Nghệ An trong tiến trình đổi mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế - Xã hội - Văn hoá của tỉnh Nghệ An trong tiến trình đổi mới
25. Văn học các dân tộc thiểu số Nghệ An - NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học các dân tộc thiểu số Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
26. Lô Khánh Xuyên - Sầm Nga Di, Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái Nghệ An. NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ An
1. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XIV Khác
2. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XV Khác
3. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XVI Khác
4. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XVII Khác
5. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XVIII Khác
6. Báo cáo chính trị của BCH Huyện Uỷ tại đại hội đại biểu khoá XIX Khác
7. Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kinh tế xã hội năm 2006 và kế hoạch năm 2007 của UBND huyện Quế Phong Khác
8. Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kinh tế xã hội năm 2007và kế hoạch năm 2008 của UBND huyện Quế Phong Khác
9. Báo cáo tổng kết phong trào giáo dục năm 2001 - 2005 và ph-ơng h-ớng phát triển giáo dục 2005-2010 của Phòng giáo dục Huyện QuÕ Phong Khác
10. Báo cáo tóm tắt thành tích công đoàn Bệnh viện Đa khoa Huyện QuÕ Phong Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w