Đảng bộ và nhân dân Quế Phong nhanh chóng tiếp nhận đờng lối, chủ trơng, quan điểm đổi mới của Đảng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh, thực tiễn của địa phơng.Hơn 20 năm tiến hành đổi mới
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
- -Vi thị thơng
Quế phong trong công cuộc đổi
mới (1986-2007)
khóa luận tốt nghiệp Đại Học
chuyên ngành lịch sử Việt Nam Giảng viên hớng dẫn: ThS Nguyễn Khắc Thắng
Trang 2
Vinh, 5/2009
Trang 3Mục lục
A Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Bố cục của đề tài 5
B nội dung 6
Chơng 1: Khái quát huyện quế phong trớc thời kỳ đổi mới (trớc 1986) 6 1.1 Điều kiện tự nhiên 6
1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội 8
1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội quế phong từ 1975 đến 1985 13
Chơng 2: Quế phong bớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986-1995) 19
2.1 Giai đoạn 1986-1990 19
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Quế Phong 19
2.1.2 Thành tựu và hạn chế 21
2.2 Giai đoạn 1991-1995 26
2.2.1 Tình hình và nhiệm vụ 26
2.2.2 Thành tựu và hạn chế 27
Chơng 3: Quế phong đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996-2007) 36
3.1 Giai đoạn 1996-2000 36
3.1.1 Chủ trơng đờng lối của Đảng bộ Quế Phong 36
3.1.2 Thành tựu và hạn chế 37
3.2 Giai đoạn 2001-2007 46
3.2.1 Tình hình và nhiệm vụ 46
3.2.2 Thành tựu và hạn chế 48
3.3 Những bài học kinh nghiệm 65
C kết luận 69
Tài liệu tham khảo 73
Phụ lục
Trang 6Lời cảm ơn
Trong quá trình tìm hiểu và hoàn thành khoá luận này, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đ ợc sự giúp
đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của các thầy cô giáo trong khoa lịch
sử trờng Đại học Vinh Đặc biệt là sự h ớng dẫn tâm huyết của thầy giáo hớng dẫn thạc sỹ Nguyễn Khắc Thắng Đồng thời có sự nhiệt tình cung cấp thông tin t liệu của văn phòng huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân, các cơ quan, tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn huyện Quế Phong.
Nhân dịp khoá luận hoàn thành, tôi xin đ ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các cá nhân, tập thể đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.
Lần đầu tiên tập dợt nghiên cứu khoa học, khả năng bản thân có hạn, nguồn t liệu hạn chế nên trong quá trình
Trang 7nghiên cứu thực hiện đề tài này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
đ-đạt đợc vẫn còn quá nhiều khó khăn, tồn tại dẫn đến đất nớc lâm vào tình trạng khủng hoảng ngày càng trầm trọng
Nhằm phát huy những thành quả đạt đợc, đồng thời khắc phục những khó khăn, hạn chế đa đất nớc thoát khỏi khủng hoảng, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện Trải qua hơn 20 năm, dới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đất nớc thực hiện công cuộc đổi mới đã đạt đợc nhiều thành tựu to lớn
Trang 8Đảng bộ và nhân dân Quế Phong nhanh chóng tiếp nhận đờng lối, chủ trơng, quan điểm đổi mới của Đảng một cách linh hoạt vào hoàn cảnh, thực tiễn của địa phơng.
Hơn 20 năm tiến hành đổi mới, Quế Phong từ một huyện nghèo đói
về kinh tế, thấp kém về văn hoá, an ninh chính trị thiếu ổn định đến nay
đã trở thành huyện khá phát triển về mọi mặt của tỉnh Nghệ An
Quế Phong hôm nay chính là minh chứng xác thực cho sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng cộng sản Việt Nam Chứng tỏ rằng đờng lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, không chỉ đáp ứng kịp thời nguyện vọng của đông
đảo quần chúng nhân dân mà còn phù hợp với thực tiễn đất nớc và xu thế phát triển của thời đại Đồng thời khẳng định sự sáng tạo, linh hoạt của
Đảng bộ Quế Phong trong việc vận dụng các chủ trơng, đờng lối của
Đảng, của tỉnh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh riêng của huyện
Nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở Quế Phong không chỉ góp phần tìm hiểu những nguyên nhân thắng lợi của công cuộc đổi mới ở Quế Phong, những đóng góp của Quế Phong trong sự nghiệp đổi mới đất nớc,
mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong phú, sinh động thêm lịch sử dân tộc
Với tinh thần truyền thống hớng về cội nguồn và mong muốn góp một phần nhỏ bé vào công tác nghiên cứu lịch sử địa phơng, tìm hiểu về
sự nghiệp đổi mới của quê hơng nói riêng và cả nớc nói chung, góp phần gìn giữ, phát huy những giá trị lịch sử - văn hoá dân tộc đợc sản sinh trên
vùng đất Quế Phong Tôi đã chọn đề tài: "Quế Phong trong công cuộc
đổi mới (1986 - 2007)" làm khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Công cuộc đổi mới của cả nớc nói chung, của các địa phơng nói riêng không chỉ là vấn đề quan tâm đặc biệt của Đảng, các cấp chính quyền mà còn là sự nghiệp chung của nhân dân cả nớc Việc đánh giá
Trang 9những thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới, đến nay còn gặp nhiều khó khăn do quá trình này vẫn đang diễn tiến phức tạp
Tìm hiểu về quá trình đổi mới của đất nớc, có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nh:
- Cuốn “Đại cơng lịch sử Việt Nam” - tập 3, Nhà xuất bản Giáo dục, của tác giả Lê Mậu Hãn đã đề cập đến một số vấn đề về nội dung, kết quả của quá trình đổi mới
- Cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - những vấn đề lí luận
và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của giáo s Trần Bá Đệ biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội , xuất bản năm 1998 cũng đã tổng hợp, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới từ
1986 - 1995 trên bình diện cả nớc
- Luận án tiến sĩ Sử học “Đặc điểm công cuộc đổi mới dới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam” (1986 - 1996) của Tờng Thuý Nhân mang mã số 50316, bảo vệ tại Hà Nội, năm 2000
- Tập kỷ yếu hội thảo khoa học với tên gọi là “Đổi mới kinh tế và các chính sách phát triển ở Việt Nam” - Hà Nội 1990 do Viện nghiên cứu quản lí kinh tế Trung ơng phối hợp với Đại học Stốckhôm Thuỷ Điển thực hiện Tập kỷ yếu đã đi sâu nghiên cứu các chính sách kinh tế trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thơng nghiệp
- Các văn kiện Đại hội Đảng: văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X
đã nêu ra, bổ sung, phát triển hoàn thiện về đờng lối đổi mới Tổng kết
đánh giá những thành tựu, hạn chế, yếu kém của công cuộc đổi mới
Công cuộc đổi mới ở Nghệ An và ở huyện Quế Phong, cho đến nay cũng có một số kết quả nghiên cứu nh:
- Cuốn “Kinh tế - xã hội - văn hoá của tỉnh Nghệ An trong tiến trình
đổi mới” do Sở khoa học công nghệ & Môi trờng Nghệ An biên soạn, Vinh 1994 Nội dung cuốn sách đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội
Trang 10của Nghệ An trong công cuộc đổi mới Tổng kết thành tựu và chỉ ra những hạn chế, thiếu sót của tỉnh trong thời kỳ dổi mới (1986 - 1993).
- Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong” tập 1, (1963 - 2002) - BCH Đảng bộ Đảng Cộng Sản Việt Nam huyện Quế Phong - Nhà xuất bản Nghệ An 2002 Cuốn sách đã giới thiệu đầy đủ về điều kiện tự nhiên, lịch sử văn hoá xã hội huyện Quế Phong từ khi đợc thành lập cho đến năm
2002 Qua đó làm nổi bật những thành tựu và hạn chế của huyện trong thời kỳ đầu đổi mới đến năm 2002
- Luận văn thạc sĩ khoa học ngành lịch sử Việt Nam của Lang Viết Chính, mã số 50315 bảo vệ năm 1999 tại Nghệ An với tên gọi “Qúa trình thành lập và phát triển huyện Quế Phong (1963- 1996)” Luận văn nêu một số thành tựu trong cuộc đấu tranh chống đói nghèo, lạc hậu trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến năm 1999
Ngoài ra, các báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện
từ khoá XIV đến XIX, các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện các năm từ 1997 đến năm 2007 của Uỷ ban nhân dân huyện Quế Phong đã đánh giá một cách tổng quát nhất về các phơng hớng nhiệm vụ, thành tựu và hạn chế của quá trình đổi mới Quế Phong
Nhìn chung, cho đến nay vẫn cha có công trình chuyên khảo nào nghiên cứu về công cuộc đổi mới ở Quế Phong Chính vì vậy, việc nghiên
cứu "Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 - 2007 )" là việc làm cần
thiết nhằm khắc hoạ công cuộc đổi mới ở một huyện miền núi tỉnh Nghệ An
3 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
“Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 - 2007 )” tập trung
nghiên cứu về quá trình tiến hành công cuộc đổi mới ở Quế Phong từ 1986
đến năm 2007
Trang 11Trớc tiên, chúng tôi đề cập đến điều kiện tự nhiên, lịch sử - xã hội của Quế Phong, một trong những nhân tố quan trọng đa đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới Trọng tâm của khóa luận là những thành tựu mà
Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã đạt đợc và những hạn chế trong quá trình đổi mới Từ đó khẳng định tính đúng đắn của đờng lối đổi mới mà
Đảng đề ra Đồng thời khẳng định sự linh hoạt, sáng tạo của Đảng bộ và nhân dân Quế Phong trong việc vận dụng đờng lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn của huyện Nhờ đó, đã giành đợc nhiều thắng lợi, tạo sự chuyển biến tích cực của đời sống kinh tế - xã hội Trên cơ sở đó chúng tôi mạnh dạn đa ra những nhận xét, đánh giá, bài học kinh nghiệm góp phần nhỏ bé của mình vào quá trình nghiên cứu tiến trình đổi mới ở Quế Phong nói riêng và sự nghiệp đổi mới trong cả nớc nói chung
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài: “Quế Phong trong công cuộc đổi mới (1986 -
2007)” chúng tôi tập khai thác các nguồn tài liệu sau:
Tài liệu thành văn: các giáo trình Lịch sử Việt Nam hiện đại, các văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng: văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng cộng sản Việt Nam, các công trình nghiên cứu ở cấp trung ơng và địa phơng về công cuộc đổi mới, sách lịch sử Đảng bộ huyện Quế Phong, lịch sử Đảng bộ Nghệ An Các báo cáo tại các Đại hội của huyện ủy qua các nhiệm kỳ từ 1986 đến 2007 Đây là những tài liệu quan trọng nhất giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài này
Tài liệu điền dã: chúng tôi thực hiện các cuộc trao đổi trực tiếp với cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành của huyện đang chỉ đạo trực tiếp quá trình đổi mới ở Quế Phong và các nhân chứng lịch sử, các vị lãnh đạo quá trình đổi mới trớc đây
Từ đó, tiến hành tổng hợp, so sánh đối chiếu, xác minh tính đúng
đắn của các nguồn tài liệu rút ra những kết luận chính xác, khoa học, phù hợp nhất để hoàn thành đề tài
Trang 12Về phơng pháp nghiên cứu: Đề tài đợc thực hiện bằng phơng pháp luận sử học Mác xít và sự soi sáng của quan điểm sử học của Đảng cộng sản Việt Nam Đồng thời, kết hợp với các phơng pháp lịch sử, phơng pháp lôgíc, phơng pháp điền dã, phỏng vấn.
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài trình bày một cách khoa học và có hệ thống những thành tựu
và hạn chế trong công cuộc đổi mới ở Quế Phong Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm nhằm đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới ở Quế Phong nói riêng, trong cả nớc nói chung
6 Bố cục của đề tài
Khóa luận đợc trình bày trong 72 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát huyện Quế Phong trớc thời kỳ đổi mới (trớc 1986) Chơng 2: Quế Phong bớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995)
Chơng 3: Quế Phong đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996 - 2007)
Trang 13
B NỘI DUNG Chương 1
Khái quát huyện Quế Phong TRớc thời kỳ
đổi mới (trớc 1986)
1.1 Điều kiện tự nhiên
Quế Phong là một huyện miền núi phía tây tỉnh Nghệ An, nằm trong tọa độ địa lí từ 19026’ đến 200 vĩ độ bắc, 104032’đến 105010’ kinh độ đông, cách thành phố Vinh 180 km Huyện Quế Phong, phía Bắc giáp huyện Thường Xuân - Thanh Hoá, phía Nam giáp huyện Tương Dương, phía Đông giáp huyện Quỳ Châu, Phía Tây giáp huyện Sầm Tớ - tỉnh Sầm Nưa, nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào với đường biên giới dài 68
km Quế Phong là huyện có vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng của tỉnh Nghệ An
Tổng diện tích tự nhiên của huyện Quế Phong là 189.543 km2 Dân
số tính đến tháng 9 năm 2007 là 63.150 người
Địa hình Quế Phong khá phức tạp và hiểm trở, chủ yếu là đồi núi, núi cao xen kẽ với các thung lũng nhỏ hẹp Cao nhất là đỉnh Pù Hoạt với 2.452m, nằm ở phía Tây Bắc của huyện Địa hình này đã tạo nên tính chất đăc biệt trong nền sản xuất nông nghiệp của huyện Quế Phong Đó là kết hợp trồng cây lúa nước với lúa nương rẫy và chăn thả bầy gia súc lớn
Huyện Quế Phong có tổng diện tích đất nông nghiệp là 2.966,55 ha, đất lâm nghiệp là 124.793,00 ha, đất ở là 364,98 ha, còn lại là đất chuyên dụng khác và đất chưa sử dụng Trong đó loại đất chủ yếu là đất feralit đỏ vàng, thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như quế, keo, cao
su, lát hoa ở thung lũng nhỏ có các loại đất mùn, đất lúa vùng đồi núi phù hợp phát triển cây lúa nớc và các loại rau, hoa màu
Trang 14Rừng Quế Phong thuộc hệ sinh thái nhiệt đới với hệ động thực vật phong phú, đa dạng Đến nay đã thống kê được 80 họ cây rừng với hơn
500 loại, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: lim, gụ, sến, pơmu, lát hoa, nhiều loại tre nứa và dược liệu quý Huyện Quế Phong được biết đến với những rừng quế bạt ngàn từ xưa đó là nguồn cung cấp tinh dầu lớn cho các ngành chế biến trong tỉnh Động vật trong rừng đến nay vẫn còn nhiều loại quý hiếm như: voi, gấu, hổ Trên địa bàn huyện có rừng đặc dụng Pù Hoạt ở phía Tây Bắc và một phần rừng đặc dụng Pù Huống ở phía đông nam Đây là hai trong 3 khu bảo tồn thiên nhiên lớn của tỉnh
Quế Phong là huyện có khá nhiều khoáng sản trong toàn tỉnh Ở đây rải rác có vàng sa khoáng ở xã Quang Phong, Cắm muộn, có thiếc ở Na
Ca, Tri Lễ Ngoài ra còn có đá vôi, đá thạch anh…
Nguồn tài nguyên này chủ yếu đợc khai thác theo phương thức thủ công, nhỏ lẻ, kém hiệu quả Các dãy lèn đá vôi phân bố rải rác khắp huyện
là nguồn vật liệu xây dựng vô tận nhưng chưa đợc khai thác đúng mức
Quế phong được coi là ngọn nguồn sông Hiếu, được hợp thành từ hai con sông Nậm Quàng và Nậm Việc Con sông lớn nhất là Nậm Quàng bắt nguồn từ nước bạn Lào, chạy qua các xã Tri Lễ, Châu Thôn, Cắm Muộn, Quang Phong, Mường Nọc với chiều dài 80 km Quế Phong còn có
hệ thống các sông, suối nhỏ: sông Chu, sông Nậm Giải
Sông suối ở Quế Phong có giá trị lớn về kinh tế, xã hội Đó là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và sinh hoạt hàng ngày của nhân dân Sông suối còn là tuyến giao thông thuỷ nối liền các xã trong huyện và nối liền Quế Phong với các huyện lân cận, đồng thời
là nguồn thuỷ năng để phát triển thuỷ điện (thuỷ điện Hủa Na trên sông Nậm Việc, thuỷ điện Bản Cốc trên sông Nậm Giải) Ngoài ra, ở một mức
độ nhất định nào đó sông ngòi còn có tiềm năng về du lịch (thác Sao Va trên sông Nậm Việc)
Trang 15Tuy nhiên, do địa hình dốc, nước chảy xiết nên mùa mưa trên các sông thường xảy ra hiện tượng lũ quét gây thiệt hại không nhỏ về người và của
Đặc điểm chung của khí hậu Nghệ An là nhiệt đới gió mùa, rêng ở Quế Phong trên vùng núi cao còn có khí hậu á ôn đới Mỗi năm có 4 mùa, mùa xuân mát mẻ, nhiều sương mù, độ ẩm cao Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau thường có gió mùa đông bắc hanh khô, rét buốt Từ tháng 4 đến tháng 7 lại xuất hiện gió Lào nóng bức, có lúc nhiệt độ lên tới 39,400 C Nhiều vùng núi cao bị hạn hán kéo dài ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân: Châu Thôn, Tri Lễ…
Hệ thống giao thông của huyện Quế Phong nhìn chung còn kém phát triển Tuyến đường chính của huyện là quốc lộ 48 từ Yên Lý xuyên suốt địa bàn huyện từ xã Tiền Phong đến xã Tri Lễ đang được xây dựng hoàn thiện Đến nay huyện đang triển khai sửa chữa, làm mới nhiều hệ thống giao thông nông thôn: Phú Phương - Hạnh Dịch, Tiền Phong - Thông Thụ, Châu Kim - Nậm Giải Hệ thống giao thông này tuy chưa thật
sự phát triển nhưng đã nối liền các xã trong huyện, nối liền huyện Quế Phong với các địa phương trong tỉnh, tạo đà cho sự phát triển toàn diện của vùng đất này
Trang 16Ngày 17/4/1965, Bộ Nội vụ ra Quyết định số 143 về điều chỉnh địa giới và chia các xã, sát nhập xã Châu Phong thuộc huyện Quỳ Châu vào huyện Quế Phong lấy tên là xã Mờng Hin, chia xã Châu Kim thành ba xã: Mờng Nọc, Châu Kim và Nậm Giải Chia xã Thông Thụ thành hai xã Thông Thụ và Đồng Văn Chia xã Châu Hùng thành hai xã Tri Lễ và Nậm Nhoóng Chia xã Châu Long thành hai xã Quang Phong và Cắm Muộn
Nh vậy đến tháng 4/1965, toàn huyện Quế Phong đã có 13 xã
Ngày 23/3/1977, Bộ trởng phủ thủ tớng ra quyết định số 56 - BT hợp nhất xã Châu Long, Hạnh Dịch và Mờng Hin thành một xã lấy tên là xã Tiền Phong Hợp nhất xã Nậm Nhoóng và Tri Lễ thành một xã lấy tên
là Châu Hùng Toàn huyện lúc này có 10 đơn vị hành chính xã
Đến ngày 17/8/1979, Hội đồng chính Phủ lại ra quyết định số 176/CP chia xã Châu Hùng thành hai xã Tri Lễ và Nậm Nhoóng Chia xã Tiền Phong thành hai xã là Tiền Phong và Hạnh Dịch Lúc này Quế Phong lại trở về 12 xã
Ngày 12/7/1990, Ban tổ chức cán bộ chính phủ ra quyết định số 321
- TCCP thành lập thị trấn Kim Sơn, thị trấn huyện lị của huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ Tĩnh Thị trấn Kim Sơn ra đời trên cơ sở tách các xóm Bắc Sơn, Tây Sơn, Nam Sơn của xã Mờng Nọc với 121,6 ha diện tích tự nhiên và 2.726 nhân khẩu cùng 30 ha diện tích tự nhiên của xã Tiền Phong Quế Phong lúc này có 12 xã và 1 thị trấn
Đến năm 2005, theo nghị định 39/CP của chính phủ, xã Quế Sơn
đ-ợc thành lập trên cơ sở tách từ xã Mờng Nọc
Quá trình hình thành và phát triển của Quế Phong cũng đồng thời là quá trình thay đổi địa giới của huyện Đến nay Quế Phong có 13 xã và 1 thị trấn là: Tiền Phong, Hạnh Dịch, Đồng Văn, Thông Thụ, Châu Kim, M-ờng Nọc, Nậm Giải, Tri Lễ, Nậm Nhoóng, Châu Thôn, Quang Phong, Cắm Muộn, Quế Sơn và thị trấn Kim Sơn
Trang 17Quế Phong là huyện vùng cao biên giới có thế mạnh phát triển kinh
tế theo hớng nông - lâm - công nghiệp vững mạnh Trong đó, nông nghiệp
và lâm nghiệp là chủ yếu Trong nông nghiệp, cây lúa nớc là nông sản chính của huyện Ngoài ra, lúa rẫy và các loại hoa màu cũng đợc trồng khá phổ biến Bên cạnh đó huyện cũng chú trọng phát triển một số cây công nghiệp và cây ăn quả nh mía, lạc, bông, vải, nhãn Cây Quế đợc coi
là cây trồng lâm nghiệp đặc trng của huyện Ngành lâm nghiệp chủ yếu là trồng rừng, khai thác các nguồn dợc liệu Nổi bật trong các ngành nghề thủ công của huyện là nghề dệt thổ cẩm của ngời Thái, nghề rèn của ngời H’mông, nghề đan lát của ngời Khơ mú…
C dân cơ bản của Quế Phong là dân tộc Thái, ngoài ra còn có một
số dân tộc khác là: Thổ, H’mông, Khơ mú và dân tộc Kinh
Quế Phong đợc coi là gốc của ngời Thái ở Mờng Quỳ Tại đây có
Đền Chín Gian thờ trời và Náng Xi Đà mà chủ sự là dòng họ Lo Khăm Theo thần phả của đền thì dòng họ Sầm (gọi là Lo Khăm hay Cầm) do hai anh em là Cầm Lứ và Cầm Lan dẫn dắt từ Tây Bắc qua Thanh Hoá vào Nghệ An Tính đến nửa đầu thế kỷ XIX, đã qua 17 đời làm thế tập tạo M-ờng Kiêm Chẩu Hủa (chủ phần hồn) vùng Quỳ Châu cũ Nh vậy, vào cuối thế kỷ XIII ngời Thái đã có mặt ở đất Quế Phong
Ngời Khơ mú, ngời Thổ, ngời H’mông di c đến Quế Phong muộn hơn Ngời Kinh lên vùng đất này lập nghiệp theo chủ trơng xây dựng vùng kinh tế mới của Nhà nớc
Các dân tộc đến c trú ở Quế Phong đều mang theo bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình Tuy nhiên qua quá trình sinh sống và giao lu, tiếp xúc, các dân tộc anh em đã cùng nhau xây dựng một cộng đồng dân c vững mạnh với một nền văn hoá đa dạng, phong phú đậm đà bản sắc dân tộc
Sự độc đáo của văn hoá các dân tộc Quế Phong thể hiện ngay trên trang phục và những đồ dùng trong sinh hoạt: váy, áo, chăn, màn, gối,
Trang 18đệm Váy áo của ngời phụ nữ thờng mang màu sắc sặc sỡ với những ờng nét hoa văn tinh tế, không chỉ thể hiện khung cảnh thiên nhiên sinh
đ-động sắc nét mà còn ẩn chứa trong đó biết bao tình cảm và tài nghệ của ngời phụ nữ
Quế Phong còn đợc biết đến với những món ăn truyền thống đậm
đà hơng vị nh cơm lam, chẻo măng chua Đặc biệt văn hoá r… ợu cần với
điệu múa Lăm Vông làm say đắm lòng ngời
Ngời Thái sống quây quần thành từng bản, mỗi bản có từ 30 đến 40
hộ gia đình, bản lớn thờng có gần 100 gia đình sinh sống Dòng họ đóng vai trò quan trọng trong xã hội ngời Thái: “Côn mí họ, có mí đôn” (ngời
Trang 19Ngời Thái còn có một gia tài văn nghệ dân gian khá phong phú với nhiều thể loại: sử thi, truyện thơ, truyện kể Đáng chú ý là các chuyện kể
sự tích “Pù Chồng Cha”, “Chá Hủn Lú - Náng U Piềm” không chỉ giải thích sự hình thành các dãy núi, con sông, các hiện tợng tự nhiên mà còn thể hiện tình yêu đôi lứa thuỷ chung son sắc của trai gái bản mờng
Ca dao, tục ngữ Thái phản ánh sinh động bức tranh tự nhiên và xã hội ở đó có tiếng cời, cũng có tiếng khóc, có đau khổ cũng có hạnh phúc,
có gặp gỡ chia ly, thể hiện tình yêu cuộc sống và khát vọng chinh phục tự nhiên của con ngời
“Pò mẹ bọc bò tò xáy xỏnXáy xỏn bò tò hủa chở vón hạc ao”
(Cha mẹ dạy không bằng thầy dỗThầy dạy dỗ không bằng nỗ lực làm nên) [18, 29]
Hay: “Xôm cả lâu, thâu cả phua cả mia”
(Chua cũng là rợu, già cũng là vợ là chồng) [8, 22]
Cùng với văn hoá Thái, các dân tộc ở Quế Phong đã tạo dựng cho mình một nền văn hoá phong phú, đa dạng, vừa có những nét chung của nền văn hoá dân tộc Việt Nam vừa có những nét riêng độc đáo của văn hoá tộc ngời ở vùng núi cao biên giới
Lịch sử đất nớc ta là một chuỗi dài những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Cùng trong dòng chảy lịch sử đó, nhân dân Quế Phong từ thuở xa cho đến nay đã xây đắp cho mình những truyền thống tốt đẹp: cần
cù, bất khuất, đoàn kết, anh dũng, truyền thống yêu nớc chống giặc ngoại xâm
Căn cứ vào việc phân tích các hiện vật tìm đợc trong các di chỉ khảo
cổ học ở vùng miền núi Nghệ An, các truyền thuyết kể lại về những cuộc thiên di của ngời Thái có mặt tại phủ Quỳ Châu vào thế kỷ XIII - XIV, cũng từ thế kỷ XIV trở đi, vùng Quế phong liên tiếp nhận những đợt thiên
di của ngời Thái ở vùng Tây Bắc, Thanh Hoá và Lào Những cuộc chuyển
Trang 20c kéo dài đến thế kỷ XVII - XVIII khiến cho vùng Phủ Quỳ trở thành một trung tâm Thái ở vùng Nghệ An
Theo truyền thuyết, sự ra đời của Mờng Nọc - Quế Phong gắn với công lao của Ló ỳ, nguyên là dòng dõi hoàng thân của kinh đô cổ nớc Lào
ở Luông Pha Băng Dòng họ Ló Kắm đã lập ra Đền Chín Gian thờ “Thén Phạ”, cai quả 8 mờng nhỏ xung quanh Mờng Nọc trở thành mờng trung tâm của huyện Quế Phong
Từ khi hình thành, trải qua thời kỳ giặc phơng Bắc xâm lợc cho đến hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, vùng đất Quế Phong luôn gắn bó máu thịt cùng đất nớc đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Trong thời kỳ độc lập, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Quế Phong luôn nỗ lực hoàn thành các mục tiêu kế hoạch đề
ra, thúc đẩy quá trình đổi mới và là một phần quan trọng của sự nghiệp
đổi mới đất nớc
1.3 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội Quế Phong từ 1975 đến 1985
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đa đất nớc ta vào kỷ nguyên độc lập thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội trong niềm vui chung của đất nớc
Đảng bộ và nhân dân Quế Phong bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
Tuy vậy khi bớc vào giai đoạn cách mạng mới, Quế Phong gặp nhiều khó khăn do hậu quả cuộc chiến tranh để lại: hệ thống giao thông thuỷ lợi bị h hỏng nhiều, cơ sở vật chất yếu kém Hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động thủ công, năng lực cán bộ còn nhiều hạn chế là những thách thức lớn đối với nhân dân huyện Quế Phong trong 10 năm
đầu đi lên chủ nghĩa xã hội
Trớc tình hình đó, Đại hội Đảng bộ Quế Phong lần thứ X (5/1976)
đã xác định phơng hớng phát triển kinh tế của huyện trong thời kỳ mới là
“phát huy 3 thế mạnh của huyện là trồng trọt, chăn nuôi và nghề rừng, nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ và khai thác tiềm năng rừng để phát
Trang 21triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân” [11, 135] Tháng 12/1977, Uỷ ban nhân dân huyện thông qua “Bản phơng án quy hoạch phát triển kinh
tế xã hội huyện Quế Phong” Bản phơng án đã vạch ra phơng hớng xây dựng Quế Phong có một nền kinh tế lâm, nông, công nghiệp vững mạnh [11, 150] Toàn huyện đợc chia thành 3 vùng kinh tế Trên cơ sở điều kiện của từng vùng mà xác định hớng phân bố đất đai, phát triển các ngành kinh tế, phúc lợi văn hoá - xã hội Phơng hớng đúng đắn tiếp tục xác định chặt chẽ và toàn diện hơn, gắn phát triển kinh tế với nhiệm vụ giữ vững quốc phòng an ninh, bảo vệ biên cơng tổ quốc
Qua 10 năm phấn đấu vợt qua rất nhiều khó khăn, thử thách với tinh thần lao động cần cù, sáng tạo, nhân dân Quế Phong cơ bản đã thành công cuộc hàn gắn vết thơng chiến tranh Bớc đầu xây dựng cơ sở vật chất của huyện
Thành tựu lớn nhất là bớc đầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, khai thác thế mạnh của địa phơng là trồng trọt, chăn nuôi và nghề rừng
Tuy nhiên, sản xuất lơng thực hàng năm không đáp ứng đợc nhu cầu của ngời dân Bình quân lơng thực/ngời quá thấp, năm 1978 là 27,27 kg/ngời/năm [11, 153] Hiện tợng đói giáp hạt xảy ra phổ biến Ngời dân còn phải dựa vào nguồn sống từ các loại nh: sắn, củ rừng, rau rừng Một trong những nguyên nhân là do cha áp dụng các biện pháp thâm canh trong sản xuất, lúa nơng rẫy năng suất thấp vẫn còn chiếm diện tích lớn, hiện tợng du canh du c, đốt rừng làm rẫy vẫn còn phổ biến
Trong chăn nuôi, vật nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà, vịt Hình thức chủ yếu là thả rông, vì thế hiện tợng vật nuôi phá hoại cây trồng xảy
ra thờng xuyên Trong ý thức của ngời dân, việc chăn nuôi chủ yếu chỉ là
để dùng sức kéo trong nông nghiệp và phục vụ bữa ăn Do vậy, ngời dân cha có ý thức đầu t, phát triển Năm 1978, đàn lợn có 11.469 con (giảm 2.977 con so với 1977) Đàn lợn giảm mạnh do dịch bệnh lan tràn, nhiều
hộ gia đình không có lợn nuôi” [11, 153]
Trang 22Ngành lâm nghiệp bắt đầu triển khai công tác giao đất giao rừng cho các hợp tác xã, hộ gia đình khoanh nuôi bảo vệ Đến tháng 12/1978,
Uỷ ban nhân dân huyện đã hoàn thành phơng án giao đất rừng cho hợp tác xã quản lý và kinh doanh theo kế hoạch của năm [11, 153]
Tuy vậy, tình trạng khai thác rừng bừa bãi vẫn xẩy ra, nạn phá rừng,
đốt rừng làm rẫy còn phổ biến, thậm chí có nguy cơ bùng phát hơn nữa Những khu rừng nguyên sinh thuộc vùng khoanh cấm đã bị phá làm nơng rẫy nh Bù Chồng Cha, Bù Cao Mạ Năm 1978, diện tích rừng bị phá lên
đến 2.000 ha [11, 153], thú rừng quý hiếm bị nhân dân săn bắt tự do, cha thu đợc giá trị khai thác lớn Trớc tình hình tài nguyên bị phá hoại, ngành kiểm lâm đã có nhiều biện pháp để bảo vệ rừng, thành lập các ban lâm nghiệp Tuy nhiên, một số ban lâm nghiệp hầu nh không hoạt động, cán
bộ trong ban lâm nghiệp thậm chí còn vi phạm lâm luật nh ở các xã Châu Hùng, Quang Phong [11, 154]
Do hạn chế của chế độ quản lý bao cấp, việc trao đổi buôn bán hầu
nh cha đợc tiến hành Ngành tiểu thủ công nghiệp, thơng mại dịch vụ còn non kém, cha có điều kiện vơn lên, cha đáp ứng đợc nhu cầu sinh hoạt, trao đổi của ngời dân hệ thống các chợ cha xuất hiện mà chủ yếu cấp phát theo chế độ tem phiếu tại các cửa hàng của nhà nớc Hoạt động của các ngành tài chính, thơng nghiệp có nhiều cố gắng trong phục vụ sản xuất và
đời sống Năm 1978, mặc dầu bị ảnh hởng ma bão, ngành thơng nghiệp đã
có nhiều cố gắng trong công tác thu mua theo phơng thức “hợp đồng kinh
tế hai chiều”, ngành lơng thực đã tổ chức huy động nghĩa vụ lơng thực nhập kho nhà nớc đợc 229 tấn (chỉ tiêu giao 500 tấn), huyện đã giải quyết cứu đói cho nhân dân 13 tấn lơng thực [11, 156]
Hệ thống giao thông vận tải cha phát triển, huyện có các tuyến ờng chính nối liền trung tâm huyện với các xã, nối huyện với các địa ph-
đ-ơng khác trong tỉnh Nhng chất lợng công trình không đảm bảo, nhanh chóng xuống cấp, h hỏng Đờng giao thông thờng có độ dốc lớn, độ rộng
Trang 23cha đảm bảo, chủ yếu là đờng mòn Trong năm 1978 huyện phải đầu t tu sửa 22 km tuyến đờng giao thông Phú Phơng - Xốp Chảo, 7 km tuyến đ-ờng 48 “Để thực hiện công tác giao thông, thuỷ lợi, huyện chủ trơng dành 1/3 lao động trong các hợp tác xã (chủ yếu là thanh niên) để huy động lên các công trờng, thành lập các đội thanh niên tình nguyện (đội 202) ở các xã Mờng Nọc, Tiền Phong và Châu Kim” [11, 157].
Mặc dù đã xác định đúng hớng đi, song vì thiếu sự đầu t phát triển
đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, khoa học kỹ thuật nên thực chất
đời sống của nhân dân Quế Phong cha thoát đợc cảnh đói nghèo Bên cạnh
đó, chế độ quan liêu bao cấp trở thành rào cản của sự phát triển kinh tế Tài nguyên còn đang ở dạng tiềm năng, phân phối lu thông hàng hoá còn cha hợp lý, cha thực hiện đợc những mục tiêu cơ bản mà huyện đề ra Trong 10 năm xây dựng, Quế Phong cha khai thác đúng mức các tiềm năng sẵn có của huyện, Quế Phong cha sử dụng hiệu quả diện tích
đất nông nghiệp, đồng cỏ chăn nuôi Quế Phong là một trong những huyện giàu tài nguyên rừng Vậy mà nguồn tài nguyên rừng phong phú đa dạng đó cha đợc khai thác hợp lý, hiệu quả, nhất là gỗ và dợc liệu quý Quế Phong là vùng có tính nhạy cảm về chính trị, an ninh quốc phòng Sau khi đất nớc thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội, ở Quế Phong các thế lực phản động, tay sai đế quốc vẫn âm thầm hoạt động, âm
mu lật đổ chính quyền cách mạng Trong khi đó thực lực của Quế Phong còn non yếu: vừa thoát khỏi chiến tranh, nên kinh tế cha kịp thời khôi phục, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thông tin, dễ bị kẻ xấu lợi dụng
Tình hình đó đặt Quế Phong trong tình thế hết sức khó khăn: vừa có hoà bình vừa có chiến tranh, bạo loạn lật đổ bất cứ lúc nào
Trên lĩnh vực văn hoá, huyện triển khai và tiếp tục vận động nhân dân xây dựng nếp sống mới Tuy nhiên, tập tục ma chay, khài cúng còn có
vị trí quan trọng trong đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số Tình trạng
Trang 24chăn nuôi gia súc, gia cầm dới gầm, sàn nhà vẫn còn phổ biến Hầu hết các gia đình ở vùng sâu vùng xa cha có nhà tắm, nhà cầu vệ sinh.
Công tác tuyên truyền, thông tin đại chúng cha đến với ngời dân Hoạt động chiếu phim màn ảnh rộng cha đợc phổ biến Chơng trình phát thanh của đài tiếng nói Việt Nam còn rất ít Phần lớn đồng bào các dân tộc Quế Phong còn rất xa lạ đối với các thông tin truyền hình
Ngành giáo dục có nhiều cố gắng thực hiện mục tiêu xoá điểm trắng giáo dục Các lớp học đợc mở tới tận thôn bản với đầy đủ các ngành học Huyện mở nhiều lớp bổ túc văn hoá nhằm bồi dỡng cán bộ, nâng cao dân trí địa phơng
Khó khăn lớn nhất của ngành giáo dục là thiếu thốn về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, ý thức của ngời dân còn cha tốt, cha thấy đợc sự cần thiết và tầm quan trọng của việc học tập Cũng chính vì vậy, số lợng ngời mù chữ ở Quế Phong lúc này rất lớn Tình trạng giáo dục rất đáng báo động Cho đến năm 1985, tình trạng thiếu giáo viên cha đợc khắc phục, chất lợng giáo dục còn kém Năm học 1984 - 1985, số học sinh cấp
2 tiếp tục giảm 43 em, trong năm học chỉ có 506 em đến lớp [11, 187] Ngành y tế trong 10 năm qua đã đạt đợc một số kết quả nhất định Các trạm xá bớc đầu hoạt động tích cực hiệu quả Năm 1985 có 5.061 trên tổng số 5.586 hộ đợc phun thuốc diệt muỗi, 36.306 ngời đợc uống thuốc phòng bệnh [11, 194]
Tuy nhiên, công tác kế hoạch hóa gia đình cha đợc thực hiện phổ biến Bệnh sốt rét vẫn hoành hành trên địa bàn huyện Khi đau ốm, bệnh tật nơi đầu tiên ngời dân tìm đến là thầy mo, thầy cúng nhờ gọi hồn, làm vía cho ngời ốm Điều này đã kìm hãm sự phát triển của ngành y tế
Nh vậy, cho đến trớc công cuộc đổi mới, tình hình kinh tế - xã hội Quế Phong vẫn còn rất khó khăn, cha thoát khỏi xuất phát điểm quá thấp của một huyện vùng cao Tình trạng đó đòi hỏi phải có một bớc đột phá lịch sử nhằm đa Quế Phong ra khỏi sự trì trệ, giải phóng mọi động lực,
Trang 25từng bớc đổi mới toàn diện, tiếp tục đi lên chủ nghĩa xã hội Đó chính là nhiệm vụ đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân Quế Phong trong thời kỳ đổi mới.
Trang 26
Chơng 2 Quế Phong bớc đầu thực hiện công cuộc
đổi mới (1986 - 1995 ) 2.1 Giai đoạn 1986 - 1990
2.1.1 Bối cảnh lịch sử và yêu cầu đổi mới của Quế Phong
Hơn 10 năm (1976 - 1986) đất nớc ta bớc đầu xây dựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa trong hoàn cảnh đầy khó khăn và thử thách Hậu quả chiến tranh để lại cha thể khắc phục thì lại xảy ra hai cuộc chiến tranh
ở phía Tây Nam và phía Bắc Mỹ tiến hành cấm vận, bao vây kinh tế làm cho đất nớc ta lại càng khó khăn hơn Thêm vào đó các nớc xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế dẫn đến tổ chức Hội đồng t-
ơng trợ kinh tế phải thay đổi chính sách “trợ giá” bằng “trợt giá” đối với các nớc nghèo trong đó có Việt Nam Điều đó gây khó khăn cho nớc ta khi vay vốn từ các nớc xã hội chủ nghĩa Bên cạnh đó trong hơn một thập
kỷ (1976 - 1986) “Đảng và Nhà nớc mắc phải sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trơng, chính sách lớn, sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lợc và tổ chức thực hiện” [14, 26]
Tình hình trên đặt đất nớc trớc một yêu cầu hết sức cấp bách là phải tiến hành đổi mới toàn diện nhằm thoát khỏi nghèo nàn, vơn lên phát triển Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đa ra đờng lối đổi mới đất nớc
ở Quế Phong, tàn tích của chế độ cũ làm cho nền kinh tế trở nên kiệt quệ, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu song còn phụ thuộc vào tự nhiên: hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh phá hoại, thuỷ lợi còn mang tính tự nhiên Công nghiệp hầu nh cha có Có thể nói nền kinh tế Quế Phong lúc này là một nền kinh tế thuần nông, nghèo nàn
Bên cạnh đó, đời sống văn hoá c dân hết sức lạc hậu, thấp kém Phần lớn dân số bị mù chữ và còn xa lạ với các phơng tiện thông tin đại
Trang 27chúng Các tập tục cổ hủ, lạc hậu đè nặng lên cuộc sống tinh thần của
ng-ời dân
Giáo dục cha phát triển, cơ sở vật chất thiết bị, đội ngũ cán bộ giáo viên thiếu thốn, số lợng học sinh đến trờng quá ít, chủ yếu là các lớp xoá mù
Công tác y tế cha có điều kiện hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân: dụng cụ y tế thô sơ lạc hậu, đội ngũ cán bộ trình độ chuyên môn thấp, dịch bệnh thờng xuyên xảy ra, tỷ lệ ngời tử vong do bệnh tật rất lớn
Tình hình an ninh - quốc phòng có nhiều diễn biến phức tạp, các thế lực phản động tích cực hoạt động âm mu lật đổ chính quyền Hiện tợng c dân vợt biên trái phép sang Lào, tình trạng xâm canh xâm c ở các vùng biên giới cha đợc giải quyết ổn thoả Hệ thống chính quyền các cấp hoạt
no hạnh phúc
Đại hội cũng đề ra nhiệm vụ cụ thể của từng ngành và biện pháp thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ đó, quyết tâm giành thắng lợi toàn diện trong công cuộc đổi mới ở Quế Phong
Nh vậy, trong bối cảnh khó khăn, nhiều vấn đề cần giải quyết Việc
đổi mới không chỉ là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn với đất nớc mà còn là nhiệm vụ cấp bách đối với huyện miền núi Quế Phong
2.1.2 Thành tựu và hạn chế
Trang 28Bằng sự năng động, sáng tạo Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã
cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội VI phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh của huyện miền núi Quế Phong Nhờ đó, trong 5 năm đầu tiến hành đổi mới, Quế Phong đã có những thành tích đáng khích lệ về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, văn hoá, giáo dục, y tế
đổi cơ cấu cây trồng Quế Phong đã đa vào sản xuất giống lúa ngắn ngày CN2 có hiệu quả
Trong chăn nuôi đã bắt đầu có ý thức tuyển chọn, lai tạo và du nhập giống mới Nổi bật nhất là việc lai tạo, du nhập giống lợn lai kinh tế ở thị trấn Kim Sơn và xã Mờng Nọc Trọng lợng lợn xuất chuồng tăng nhanh,
đàn gia súc, gia cầm cũng tăng lên đáng kể Năm 1990, tổng đàn trâu có 10.898 con, đàn bò có 8.000 con (tăng 700 con), đàn lợn có 19.176 con (tăng 7.301 con), thả cá ao hồ 4,8 triệu con (tăng hơn 3 triệu con) so với năm 1986
Hạn chế lớn nhất trong nông nghiệp là bình quân lơng thực còn thấp, nạn đói vẫn diễn ra thờng xuyên Bên cạnh đó hiện tợng làm nơng rẫy còn rất phổ biến Diện tích lúa nơng rẫy còn chiếm vị trí lớn trong
Trang 29nông nghiệp trồng lúa Hệ thống thuỷ lợi còn mang tính thô sơ, lạc hậu Chăn nuôi cha mang tính hàng hoá, cha có sự đầu t về khoa học kỹ thuật Sản xuất cha đạt chỉ tiêu đặt ra.
Về lâm nghiệp: bớc đầu thực hiện th nh công giao đất giao rừng vààtrồng cây công nghiệp Trong 5 năm huyện trồng đợc 100 ha cây quế, 30.000 cây phân tán, 572 ha rừng tập trung, tạo mới 23 vạn cây con Riêng năm 1990 huyện trồng đợc 60 ha quế tập trung
Công tác chăm sóc, bảo vệ rừng cũng đợc quan tâm Năm 1990, ngành lâm nghiệp chăm sóc, bảo vệ đợc 359 ha rừng quế
Việc khai thác lâm sản bớc đầu thu đợc lợi nhuận Huyện đã khai thác 100 m3 gỗ tròn, 6 vạn cây mét, 13 ngàn cây nứa
Tuy nhiên, hoạt động lâm nghiệp còn kém hiệu quả, cha tận dụng
đợc thế mạnh của huyện, cha tạo ra hàng hoá xuất khẩu Trong khi đó diện tích rừng bị phá vẫn tiếp tục tăng Năm 1987, Uỷ ban nhân dân huyện thành lập 2 trạm kiểm soát cửa rừng tại ngã 3 Truông Bành và nông trờng 1- 5 sông Quàng với nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát lâm sản đặc sản, nhất là quế khi ra khỏi địa bàn Năm 1990, ngành kiểm lâm đã xử lý 227
vụ vi phạm lâm luật, trong đó có 224 vụ vi phạm nơng rẫy
Ngành thủ công nghiệp Quế Phong đã có nhiều cố gắng thực hiện hiệp ớc đào tạo thợ thủ công trong sản xuất vật liệu xây dựng cho huyện Sầm Tớ (Lào) Nhìn chung, các chính sách phát triển vẫn còn ở dạng văn bản, cha có kết quả gì đáng kể Chủ yếu sản xuất thủ công truyền thống nhng chỉ phục vụ sinh hoạt gia đình, tính chất nhỏ lẻ
Với phơng châm “nhà nớc và nhân dân cùng làm” và “dân làm nhà nớc hỗ trợ”, ngành xây dựng đã hoàn thành và đa vào sử dụng các công trình thuỷ lợi: kênh nơng 3- 2, Máng Cò - Hạnh Dịch, công trình giao thông: đờng thông xe vào bản Lốc - Thông Thụ, Ná Quèn - Đồng Văn và Cắm Muộn - Quang Phong Xây thêm một số phòng học bán kiên cố Đến năm 1989, ngành xây dựng hoàn thành các hạng mục công trình còn lại
Trang 30của bệnh viện huyện, bổ sung năng lực mới cho trạm khám đa khoa khu vực Đồng Mới, tăng thêm cơ sở trờng lớp cho ngành giáo dục và nhiều công trình nhà ở, nhà làm việc của khối cơ quan.
Năm 1990, hoàn chỉnh 12 công trình đa vào sử dụng Trong đó có
15 công trình phúc lợi công cộng, 6 nhà làm việc của các cơ quan và nhà
ở Tuy nhiên, số lợng công trình còn hạn chế, quy mô còn nhỏ
Ngành thơng mại và tài chính ngân hàng đã có nhiều cố gắng so với trớc Tuy nhiên, do điều kiện khó khăn của huyện miền núi, ngành thơng mại, tài chính không có điều kiện phát triển, cha góp phần đáp ứng nhu cầu, nâng cao chất lợng cuộc sống của nhân dân
2.1.2.2 Chính trị
Công tác xây dựng Đảng có sự đổi mới về t tởng, tổ chức, cán bộ Trong 3 năm (1986 - 1988) công tác bảo vệ Đảng tiến hành nghiêm túc, hiệu quả Toàn huyện có 8 Đảng bộ, chi bộ đợc công nhận là vững mạnh, trong sạch là các xã : Tiền Phong, Thông Thụ, Mờng Nọc, Châu Kim, Tri
Lễ, các cơ quan: lơng thực, bu điện, công an Các đơn vị khác đều có chuyển biến tốt Đảng bộ xã Tiền Phong và Đảng bộ xã Thông Thụ là 2
Đảng bộ cơ sở đợc tỉnh xét tặng công nhận “Đảng bộ vững mạnh, trong sạch” từ năm 1986 - 1990
Việc bố trí cán bộ đã bắt đầu hớng theo quan điểm đánh giá năng lực, phẩm chất cán bộ thông qua kết quả hoạt động và mức độ hoàn thành nhiệm vụ, đối xử bình đẳng về giới, dân tộc, về độ tuổi, bố trí công việc
đúng chuyên môn nghiệp vụ
Tuy vậy, đội ngũ cán bộ lớp trớc vẫn còn giữ các chức vụ chủ chốt
Số lợng cán bộ có trình độ chuyên môn kỹ thuật còn hạn chế Phong cách làm việc cha thoát khỏi t tởng quan cách
Công tác xây dựng củng cố chính quyền, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân và các đoàn thể đợc coi trọng chỉ trong 2 năm (1987-
Trang 311988), đã có 173 đoàn viên mới đợc kết nạp, 50 đoàn viên u tú đợc kết nạp
Đảng, 5.330 cháu đợc công nhận là “Cháu ngoan Bác Hồ”
Năm 1990 Hội cựu chiến binh huyện Quế Phong đợc thành lập góp phần kiện toàn hệ thống đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn huyện
2.1.2.3 An ninh - quốc phòng
Lực lợng quân sự, biên phòng đã phát hiện và đẩy lùi âm mu của một số thơng nhân nớc ngoài xâm nhập, móc nối với bọn xấu nhằm gây rối loạn Từng bớc xây dựng nền quốc phòng toàn dân với lực lợng vũ trang địa phơng, dân quân tự vệ, dự bị động viên ngày càng nâng cao về số lợng và chất lợng
Thời gian qua, huyện cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ tuyển quân Xã Hạnh Dịch đợc Bộ Nội vụ tặng bằng khen là lá cờ đầu trong phong trào an ninh quốc phòng
Bên cạnh những thành tựu, còn một số hạn chế cần khắc phục: các
tệ nạn xã hội vẫn còn là vấn đề nhức nhối, tình trạng buôn bán thuốc phiện, vợt biên trái phép còn gia tăng
Những cố gắng trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng
đã đa đến cuộc sống ổn định, tạo tiền đề cho đổi mới về văn hoá, giáo dục,
y tế
Trang 32Ngành văn hoá thông tin không còn xa lạ đối với cuộc sống sinh hoạt của ngời dân Ngành nắm bắt tình hình, kịp thời cổ động, hớng dẫn tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc.
Năm 1987, Nhà văn hoá Quế Phong đợc thành lập Các ngành truyền thanh, điện ảnh, bu điện, th viện, phát hành sách đều có nhiều cố gắng đổi mới hoạt động của mình Đội chiếu bóng hoạt động có hiệu quả, góp phần tuyên truyền xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống những tiêu cực xã hội Năm 1988, đội thông tin huyện Quế Phong
đạt giải nhất đồng đội trong hội thi tuyên truyền cổ động toàn quốc
Quán triệt Chỉ thị 51 của Trung ơng Đảng và Chỉ thị 159 của Hội
đồng bộ trởng về xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ thủ tục lạc hậu Huyện Quế Phong đã ra Nghị quyết đẩy mạnh cuộc vận động nếp sống mới Các tập tục lạc hậu nh ma chay, cới hỏi, mê tín dị đoan bị phê phán kịch liệt Ngời dân đã bắt đầu nhận thức tác hại của nó
Bên cạnh đó, phong trào thể dục thể thao, văn nghệ quần chúng đợc
tổ chức sôi nổi, nhất là trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nớc Năm 1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, huyện
tổ chức đại hội thể thao toàn huyện, hội diễn văn nghệ quần chúng đã có nhiều đơn vị tham gia và đạt giải Đội bóng chuyền nam ngành giáo dục
đạt giải nhất bóng chuyền nam toàn ngành của tỉnh Nghệ Tĩnh Huyện Quế Phong đạt 2 giải A, 2 giải B trong hội thi “Tiếng hát làng Sen” của tỉnh Các đơn vị có nhiều thành tích nổi bật là xã Thông Thụ, xã Mờng Nọc, Bệnh viện huyện
Sự phát triển của văn hoá thông tin đã góp phần nâng cao nhận thức của ngời dân về xã hội, về công cuộc đổi mới của đất nớc Góp phần rút ngắn khoảng cách giữa ngời dân với Đảng và Chính Phủ Củng cố tăng thêm niềm tin của nhân dân vào con đờng xã hội chủ nghĩa của đất nớc Ngành giáo dục cũng đợc quan tâm đầu t trong điều kiện “thắt lng buộc bụng” cho con em đến trờng học tập Hệ thống trờng lớp đợc tổ chức
Trang 33lại Tuy nhiên số lợng học sinh còn quá ít “năm học 1987 - 1988, hệ mầm non có 450 cháu vào nhà trẻ, 1.300 cháu học mẫu giáo; hệ phổ thông cơ
sở có 6.386 học sinh Hệ bổ túc văn hoá toàn huyện có 998 học viên học sách bổ túc văn hoá dành riêng cho vùng dân tộc thiểu số, 2 lớp bổ túc văn hoá lớp 4 và lớp 5 cho cán bộ ở xã Tri Lễ” [11, 206] Số lợng ngời mù chữ còn rất cao, công tác xoá mù mới chỉ đợc quan tâm, chất lợng giáo dục còn kém xa so với các huyện miền xuôi
Ngành y tế có nhiều chuyển biến tích cực Năm 1990, ngành đã kịp thời bao vây, dập tắt chu kỳ sốt rét vào mùa hè hàng năm Bệnh viện, trạm xá đã điều trị 9,5 ngàn lợt ngời, phun thuốc cho 10/13 xã, thị Lần đầu tiên
tổ chức tiêm chủng mở rộng cho trẻ em đạt kết quả tốt
Ngành y tế còn tồn tại nhiều hạn chế lớn, đó là sự trì trệ của hệ thống y tế thôn bản do tình trạng khài cúng vẫn còn chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Cơ sở, trang thiết bị y tế còn nghèo nàn lạc hậu Những yếu tố phát sinh dịch bệnh vẫn còn tiềm ẩn
2.2 Giai đoạn 1991 - 1995
2.2.1 Tình hình và nhiệm vụ
Qua 5 năm tiến hành đổi mới nền kinh tế - xã hội trong cả nước nói chung, huyện Quế phong nói riêng đã đạt được một số thành tựu nhất định Song đất nước vẫn chưa thoát khỏi khủng hoảng
Tháng 6 năm 1991, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã hoàn chỉnh, bổ sung và phát triển đường lối đổi mới Đồng thời
đề ra phương hướng nhiệm vụ cho kế hoạch 5 năm tới (1991 - 1995)
Tháng 8 năm 1991, Quốc hội quyết định chia tỉnh Nghệ tĩnh thành
2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh
Trước những biến đổi lớn như vậy, Đảng bộ và nhân dân Quế phong cũng phần nào nhận thức được vai trò vị trí của huyện trong công cuộc đổi mới đất nước Đại hội Đảng bộ huyện Quế phong lần thứ XVI
Trang 34được tiến hành qua 2 vòng trước và sau Đại hội VII của Đảng cộng sản Việt Nam Đại hội đã xem xét, đánh giá những yêu cầu mới của Đại hội VII trong điệu kiện cụ thể của huyện Quế Phong Từ đó đưa ra những phương hướng, nhiệm vụ mới trong 5 năm tiếp theo (1991 - 1995) Trong
- Đảm bảo an ninh - xã hội
Nhiệm vụ mới đặt ra nặng nề hơn trước Bởi nó được đưa ra dựa trên cơ sở tổng kết những thành tựu và hạn chế trong thời kỳ trước đó Muốn hoàn thành những nhiệm vụ mới Đảng bộ và nhân dân Quế phong cần kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố khách quan và chủ quan, vận dụng sáng tạo và hiệu quả những kinh nghiệm đã có
2.2.2 Thành tựu và hạn chế
Nghị quyết Đại hội XVI của Đảng bộ Quế Phong đáp ứng kịp thời nguyện vọng của các dân tộc huyện nhà Trong 5 năm (1991 - 1995), Đảng bộ và nhân dân Quế Phong đã không ngừng cải tiến phong cách làm việc, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đẩy lùi tệ nạn lạc hậu, từng bớc vươn lên giành những thắng lợi trên mọi lĩnh vực
2.2.2.1 Kinh tế
Nền kinh tế có những chuyển biến nhanh từ tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm là 5,3%
Trong 5 năm (1991 - 1995) sản lợng lơng thực tăng từ 14.894 lên 18.500 tấn, bình quân lơng thực tăng từ 229 kg/người/năm lên 269 kg/người/năm (tăng 40 kg/ngời/năm) Phong trào khai hoang thâm canh
Trang 35cũng được đẩy mạnh Bớc đầu đưa vào sản xuất các loại cây con cho năng suất cao: cam, vải, nhãn theo chương trình của Nhà nước Đặc biệt, việc
du nhập giống mới ngoài các xã vùng thấp như Mường Nọc, Châu Kim, nay đã phát triển đến 9 xã vùng cao và đạt được 86% ở các xã Cắm Muộn, Quang Phong, Châu Thôn, Hạnh Dịch
Diện tích trồng cây màu tiếp tục được mở rộng, hình thành dần các vùng trồng mía, lạc, ngô, khoai Vùng Piếng Pánh, xã Mường Nọc (nay là xã Quế Sơn) là vùng trồng cây màu, cây ăn quả, cây công nghiệp ngắn ngày Các thung lũng Mường Nọc, Tiền phong là những vùng trồng lúa của cả huyện
Quế Phong có các vùng đồi chăn thả rộng lớn, ngành chăn nuôi gia súc lớn được đẩy mạnh Nhưng chủ yếu nhằm sử dụng sức kéo và phân bón trong nông nghiệp
Tổng đàn trâu, bò, lợn hầu như giữ mức ổn định trong cả 5 năm Năng suất, sản lượng, chất lượng chăn nuôi đợc nâng lên rõ rệt Riêng cá thịt năm 1995 đạt 7 triệu con (tăng 4 triệu con), tơng đơng 720 tấn (tăng
420 tấn) so với năm 1990
Hình thức chăn nuôi phong phú hơn trước Tình trạng mất cân đối giữa trồng trọt và chăn nuôi bước đầu được khắc phục Mô hình VACR đang được hình thành Hầu hết các gia đình đều có đàn gà, vịt phục vụ nhu cầu đời sống Nhiều hộ chăn nuôi gà, vịt với số lượng hàng trăm con
Sản xuất nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản đời sống nhân dân, các sản phẩm nông nghiệp không chỉ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống mà bước đầu trở thành hàng hóa góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống đồng bào các dân tộc Quế Phong
Bên cạnh những thành tựu này, nông nghiệp Quế Phong trong giai
đoạn này còn tồn tại rất nhiều khó khăn cần giải quyết Đó là hình thức
và kỹ năng sản xuất quảng canh, du canh tự túc tự cấp vẫn còn phổ biến
Trang 36Những tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa được áp dụng đồng bộ và phổ biến Vấn đề chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi chưa được chú trọng đúng mức, sản xuất nông nghiệp chưa chủ động trong công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai
Lâm nghiệp cũng được coi là mặt trận hàng đầu Bên cạnh việc chăm lo bảo vệ rừng, tăng cường công tác lâm luật, việc khôi phục rừng, trồng mới rừng cũng được đẩy mạnh Việc khoanh vùng nương rẫy, giao đất giao rừng cho nhân dân được tiến hành thường xuyên qua các năm
Từ năm 1993, huyện được nhà nước đầu tư phát triển vốn rừng theo chương trình 327 Trong 5 năm, ngành lâm nghiệp đã khoanh rẫy ổn định
và giao đất cho hộ gia đình quản lí 4.985 ha, khoanh nuôi rừng phòng hộ
200 ha, trồng mới 765 ha quế, xây dựng được 3 dự án lớn để phát triển lâm nghiệp Mô hình nông - lâm kết hợp, vườn rừng, vườn nhà phát triển
ở các xã Đồng Văn, Thông Thụ, Hạnh Dịch, Tiền Phong, Mường Nọc, Châu Kim
Khai thác rừng, đặc biệt là gỗ và các loại dược liệu bước đầu mang lại nguồn thu cho ngân sách huyện
Tuy nhiên việc khai thác rừng trái phép còn tiếp diễn, việc giao đất giao rừng chưa thực sự hiệu quả, một số nơi còn mang tính chất hình thức Hiệu quả sử dụng chưa tương xứng với tiềm năng
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp cũng có nhiều thành tựu Đáng chú ý
là nghề dệt thổ cẩm Đây vốn là nghề thủ công truyền thống của đồng bào Thái, đi cùng với nó là nghề trồng bông, trồng dâu nuôi tằm ở các làng bản Sản phẩm dệt là váy, áo, gối, chăn, màn, túi không chỉ phục vụ đời sống nhân dân trong huyện mà còn được ưa chuộng ở nhiều nơi
Ngoài ra, nghề rèn của người H’mông, nghề đan lát của người Khơ
mú, nghề mộc của người Kinh, người Thái cũng được duy trì trong các gia đình Các sản phẩm như dao, cuốc, cày, giường, tủ gỗ là những mặt
Trang 37hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các nghề thủ công chủ yếu như sản xuất gạch ngói, khai thác đá, may mặc, sửa chữa điện tử cũng đã thể hiện được vai trò của mình Năm 1995, tổng giá trị sản lượng tiểu thủ công nghiệp tăng 50% so với năm 1991.
Tuy nhiên xét một cách tổng quát thì tiểu thủ công nghiệp trong huyện chưa mạnh, quy mô sản xuất nhỏ, mang tính chất hộ gia đình Chất lượng sản phẩm chưa cao, chưa tạo ra các mặt hàng xuất khẩu
Ngành thương nghiệp đã cố gắng xử lí, chuyển phương thức kinh doanh phục vụ theo yêu cầu mới Do vậy không xảy ra những biến động lớn về lu thông và phân bố sản phẩm hàng hóa trên thị trờng Theo tinh thần nghị định 358 của Hội đồng Bộ trưởng, năm 1992, Quế Phong đã chấn chỉnh lại mạng lưới thương nghiệp, công ty thương mại tổng hợp được hình thành và hoạt động tích cực, phục vụ nhu cầu thiết yếu của nhân dân Cửa hàng lương thực, dựơc phẩm dần dần tạo được cho mình vị trí cần thiết trong đời sống xã hội của huyện
Vấn đề lưu thông hàng hóa còn gặp nhiều khó khăn do đường xá đi lại chưa thuận tiện Đồng bào vùng sâu vùng xa còn nặng nề lối sống tự cấp tự túc Điểm họp chợ chủ yếu ở vùng thị trấn ngày nay, tuy nhiên quy mô nhỏ lẻ, không tập trung Công tác quản lí thị trường chưa hiệu quả, hàng hóa kém chất lượng vẫn được bày bán, ảnh hưởng đến uy tín của ngành
Ngành xây dựng cơ bản đã hoàn thành nhiều công trình, trong đó
có những công trình trọng điểm, phục vụ kịp thời sản xuất và hoạt động xã hội của huyện Nổi bật là các khâu thủy lợi và giao thông
Trong 5 năm (1991 - 1995) Quế Phong đã xây dựng được nhiều công trình thuỷ lợi: đập Tồng Mọ, thuỷ lợi Ná Tỳ - Huôi Nhắng, thuỷ lợi Mương Cuồng Xây dựng mới các tuyến giao thông liên bản: Châu Kim - Nậm Giải, Châu Thôn - Mường Lống Đồng thời sửa chữa nâng cấp các
Trang 38tuyến đường: Phú Phương - Xốp Chảo, Châu Kim - Mường Nọc, Châu Thôn - Quang Phong Hoàn thành 2 km đường nhựa ở trung tâm huyện lị
Nhờ có ngân sách địa phương, sự hỗ trợ từ cấp trên, huyện đã xây dựng về cơ bản cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi: nhà văn hóa huyện, đài phát sóng truyền hình, trụ sở làm việc của các cơ quan huyện ủy, công an, viện kiểm sát, tòa án, trờng phổ thông trung học, bệnh viện, các trạm xá… Xây dựng và đa vào sử dụng chơng trình nước sinh hoạt cho thị trấn Kim Sơn và Bản Đan xã Tiền Phong, khởi công và xây dựng đường điện 35
KV Quỳ Châu - Quế Phong, công trình thuỷ lợi - thuỷ điện Hữu Văn
Bên cạnh những thành tựu, kinh tế Quế Phong giai đoạn này còn tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế Tình trạng mất cân đối trong nền kinh tế vẫn chưa được thu hẹp Nguồn thu ngân sách quá ít so với nhu cầu chi thường ngày Tốc độ phát triển chậm, đời sống nhân dân còn khó khăn, nhất là vùng cao vùng sâu chưa thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu Các tiềm năng chưa được khai thác có hiệu quả, chưa phát huy được thế mạnh của huyện Chưa đầu tư mũi nhọn để phát triển sản xuất hàng hóa
cơ sở Từ năm 1991 - 1995, Đảng bộ huyện đã thi hành kỷ luật 45 Đảng viên từ khiển trách đến khai trừ
Năm 1995, toàn huyện có 28 tổ chức cơ sở Đảng, trong đó có 9 đơn
vị trong sạch vững mạnh, 17 đơn vị khá, chỉ có 2 đơn vị yếu, kết nạp thêm
134 đảng viên (tăng 56 đảng viên so với năm 1991)
Trang 39Công tác kiểm tra đảng còn chưa thực sự triệt để Công tác phát triển Đảng còn một số yếu kém chưa được khắc phục Có những Đảng bộ, chi bộ nhiều năm không phát triển được đảng viên nào.
Trong công tác cán bộ, huyện thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực lãnh đạo Hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp đã từng bớc khắc phục tính hình thức, nâng cao hiệu quả công việc
Tuy nhiên việc bố trí cán bộ các cấp còn nhiều lúng túng Cho đến năm 1995 bộ máy chính quyền ở thôn bản còn nhiều bất cập Đó là tình trạng trình độ thấp, hoạt động trì trệ kém hiệu quả Những chính sách ưu
đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với vùng khó khăn, dân tộc thiểu số chưa được triển khai triệt để, chưa đến được với đối tượng cần thiết
Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể quần chúng được cấp uỷ quan tâm củng cố từ huyện đến xã, bản Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh tổ chức được nhiều phong trào thi đua, mở hội cắm trại, giao lưu văn nghệ, thể dục thể thao Đoàn tích cực tham gia lao động, trồng được 90 ha rừng, phát quang 28 km đường [11, 212]
Tòa án nhân dân huyện đã cố gắng xét xử các vụ án đúng người,
đúng tội, không có sai sót đáng tiếc xảy ra Từ năm 1991 đến 1995, thụ lý
37 vụ hình sự, đưa ra xét xử 32 vụ , phạt tù 25 tên, cho hưởng án treo 36 đối
Trang 40tượng, án dân sự thụ lý 94 vụ, xét xử 15 vụ , hòa giải 14 vụ Công tác thụ lý
25 vụ, trong đó có 21 vụ án dân sự Riêng thi hành án hình sự đã thu trên 65 triệu đồng, trả lại cho công dân bị hại 46 triệu, sung công quỹ 19,4 triệu đồng Ngành thanh tra đã phối hợp với các ngành chức năng tiến hành kiểm tra làm rõ việc thu chi ngân sách huyện, các đơn vị dự toán thuộc Phòng tài chính, Phòng Lao động - Thương binh xã hội, Trung tâm y tế huyện, đồng thời trả lời, giải đáp những thư tố của công dân, góp phần chống tham nhũng, lập lại trật tự, kỷ cương phép nước thu hồi cho ngân sách hàng trăm triệu đồng [11, 249 - 250]
Trong tình hình mới, công tác quốc phòng đã kịp thời chuyển hướng phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương Đảng bộ Quế Phong đã lãnh đạo nhân dân thực hiện nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài là xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đồng thời nâng cao chất lượng của lực lượng vũ trang địa phương, dân quân tự vệ và dự bị động viên Tổ chức các đợt diễn tập chống gây rối, bạo loạn lật đổ ở các xã, cung cấp hiểu biết cần thiết về quốc phòng cho người dân Đảm bảo sự kết hợp quân dân sẵn sàng chiến đấu trong bất cứ hoàn cảnh nào
Công tác tuyển quân trong 5 năm qua luôn đạt 100% chỉ tiêu, chất lượng đảm bảo, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng đào ngũ, bỏ ngũ
2.2.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế
Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân ổn định và từng bước được cải thiện là điệu kiện để văn hóa, giáo dục, y tế có đợc nhiều tiến bộ
Vấn đề mang tính đặc thù của huyện miền núi dân tộc là các tập tục lạc hậu, các hiện tượng mê tín dị đoan, đến nay cơ bản đã được hạn chế, tình trạng tảo hôn, thách cưới nặng nề, để người chết lâu ngày trong nhà đã được điều chỉnh khoa học hơn, có nơi đã xóa bỏ được
Đời sống nhân dân được nâng cao hơn trước về cả vật chất lẫn tinh thần Tình trạng đói giáp hạt đang dần được khắc phục Một số hộ gia đình