Những thành tựu và tiến bộ về kinh tế mà Hơng Khê đạt đợc trong hơn 20 năm thực hiện đờng lối đổi mới là rất cơ bản, tuy nhiên tất cả mới chỉ là b-ớc đầu, trong quá trình đó còn có nhiều
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử
Đinh thị thanh huyền
bớc đầu tìm hiểu kinh tế hơng khê trong công cuộc đổi mới (1986 - 2006)
khóa luận tốt nghiệp đại học
chuyên Ngành lịch sử Việt Nam
Vinh - 2007
Trang 2Mục lục
Trang
A Dẫn luận 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 4
5 Bố cục của khoá luận 5
B Nội dung 6
Chơng 1: Khái quát tình hình kinh tế Hơng Khê trớc công cuộc đổi mới (năm 1986) 6
1.1 Đặc điểm tự nhiên và lịch sử- xã hội Hơng Khê 6
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 6
1.1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội 11
1.2 Tình hình kinh tế Hơng Khê trớc công cuộc đổi mới (năm 1986).15 Chơng 2: Kinh tế Hơng Khê trong những năm đầu công cuộc đổi mới (1986 - 1995) 22
2.1 Chủ trơng của Đảng 22
2.2 Kinh tế Hơng Khê trong những năm đầu công cuộc đổi mới (1986 - 2006) 24
2.2.1 Kinh tế nông - lâm - ng nghiệp 24
2.2.2 Kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 29
2.2.3 Kinh tế thơng mại - dịch vụ 30
2.2.4 Giao thông vận tải - thông tin liên lạc 32
Chơng 3: Kinh tế Hơng Khê trong 10 năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996 - 2006) 36
3.1 Yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhiệm vụ đặt ra cho nền kinh
Trang 33.2 Những thành tự và hạn chế của nền kinh tế Hơng Khê trong 10
năm đẩy mạnh công cuộc đổi mới (1996 - 2006) 37
3.2.1 Kinh tế nông - lâm - ng nghiệp 37
3.2.2 Kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 46
3.2.3 Kinh tế thơng mại - dịch vụ 47
3.2.4 Giao thông vận tải - thông tin liên lạc 49
3.4 Những bài học kinh nghiệm và những giải pháp đối với việc phát triển kinh tế Hơng Khê 52
3.4.1 Bài học kinh nghiệm 52
3.4.2 Những giải pháp 54
C Kết luận 59
Tài liệu tham khảo 62
A Dẫn luận
1 Lí do chọn đề tài
Trong hơn 10 năm bớc đầu xây dựng đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa (1976 - 1986), Đảng và nhân dân ta mong muốn đa đất nớc thoát khỏi tình trạng từ nền kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến trở thành một nớc công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đất nớc ta đã vợt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, vừa làm vừa tìm tòi thử nghiệm con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội Trong quá trình đó đất nớc ta đã đạt đợc những thành tựu, tiến bộ đáng kể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Song, công cuộc bớc đầu xây dựng
đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa của nớc ta liên tiếp gặp nhiều khó khăn, hạn chế và ngày càng tăng thêm những thử thách mới cùng với điều kiện quốc tế có nhiều ảnh hởng tiêu cực đến công cuộc cách mạng của nớc ta, làm cho kinh tế - xã hội của đất nớc lâm vào tình trạng khủng hoảng một cách trầm trọng
Đứng trớc những khó khăn và hạn chế đó, để đa đất nớc thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản
Trang 4Việt Nam (Tháng 12 - 1986) đã đề ra đờng lối đổi mới để đa đất nớc từng bớc vợt qua khó khăn, hạn chế, yếu kém và dần vơn lên Đó là một cái mốc quan trọng đánh dấu bớc chuyển mình của đất nớc sang một thời kỳ mới.
Hơng Khê là một huyện miền núi của tỉnh Hà Tĩnh, có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài cùng lịch sử của tỉnh và của cả nớc Vốn là vùng
đất giàu tài nguyên, có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, nhân dân Hơng Khê chịu khó, cần cù, dũng cảm Hơng Khê vốn là vùng đất có khí hậu khắc nghiệt, thiên tai thờng xuyên xảy ra, giao thông vận tải yếu kém, trình độ dân trí còn thấp, trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ ở Hơng Khê cha đáp ứng đợc yêu cầu cách mạng Đờng lối đổi mới của Đảng là một luồng sinh khí mới đến với Hơng Khê Nhân dân Hơng Khê đã tiếp nhận và thực hiện có hiệu quả những chủ trơng chính sách theo quan điểm đờng lối đổi mới của Đảng Trong hơn 20 năm bớc đầu thực hiện đờng lối đổi mới Hơng Khê đã đạt đợc những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, trong đó thành tựu nổi bật nhất là về kinh tế Kinh tế Hơng Khê trong hơn 20 năm (1986 - 2006) đã có bớc chuyển mình mạnh mẽ, tốc độ tăng trởng kinh tế khá (vào năm 2006 tốc độ tăng trởng kinh
tế (GDP) đạt 13, 3%)
Những thành tựu và tiến bộ về kinh tế mà Hơng Khê đạt đợc trong hơn
20 năm thực hiện đờng lối đổi mới là rất cơ bản, tuy nhiên tất cả mới chỉ là
b-ớc đầu, trong quá trình đó còn có nhiều mặt hạn chế và yếu kém đòi hỏi Đảng
bộ và nhân dân Hơng Khê có những biện pháp để khắc phục và tiếp tục thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng trong giai đoạn tiếp theo
Để góp phần khẳng định đờng lối đổi mới của Đảng vạch ra từ Đại hội
VI (12 - 1986), trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm là đúng đắn, hợp với lòng dân, hợp với xu thế chung của thời đại cũng nh quá trình Hơng Khê
đã vận dụng vào điều kiện cụ thể của địa phơng một cách sáng tạo và đã tạo ra những bớc chuyển biến lớn trong tiến trình phát triển của huyện Chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Bớc đầu tìm hiểu kinh tế Hơng Khê trong công cuộc
đổi mới (1986 - 2006)” làm khoá luận tốt nghiệp, nhằm góp phần nhỏ bé của
Trang 5mình vào việc nghiên cứu, tổng kết, đánh giá sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xớng.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
“Bớc đầu tìm hiểu kinh tế Hơng Khê trong công cuộc đổi mới (1986 - 2006)” là một vấn đề mang tính thời sự cao Hiện nay, cha một tài liệu nào đi sâu làm rõ tình hình kinh tế của Hơng Khê trong 20 năm qua Tản mạn trong một số tài liệu thành văn đã đề cập một số khía cạnh của vấn đề
- Văn kiện của Đảng tại các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng cộng
sản Việt Nam: Đại hội VI, VII, VIII, IX, X đã tổng kết những thành công, tiến
bộ và vạch ra những mục tiêu nhiệm vụ mà các Nghị quyết của các Đại hội đó
đã vạch ra
- Trong cuốn “Lịch sử Việt Nam từ 1975 đến nay - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn” của Giáo s Trần Bá Đệ biên soạn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội 1998 đã nêu lên những thành tựu tiến bộ và những hạn chế yếu kém, khuyết điểm của đất nớc từ khi thực hiện đờng lối đổi mới cho đến năm 1996
- Cuốn lịch sử Đảng bộ huyện Hơng Khê (1930 - 2000) do PGS.TS Ngô
Đăng Tri biên soạn đã đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội - văn hoá, khẳng
định những thành tựu, những mặt mạnh, đồng thời nêu rõ những hạn chế và những thiếu sót trong bớc đầu thực hiện đờng lối đổi mới của huyện Hơng Khê
- Luận án tiến sĩ “Đặc điểm công cuộc đổi mới dới sự lãnh đạo của
Đảng cộng sản Việt Nam (1986 - 1996)” của nghiên cứu sinh Tờng Thuý Nhân, mã số 50316 bảo vệ tại Hà Nội 2000 đã đề cập đến quá trình thực hiện
đờng lối đổi mới của nớc ta trên một số khía cạnh những thành tựu, khuyết
điểm và một số vấn đề cần bổ sung cho đờng lối đổi mới
- Cuốn “Hơng Khê 135 năm” (1867 - 2002) do PGS.TS Nguyễn Bá
Thành chủ biên - Nxb văn hóa thông tin Hà Nội 2003 có đề cập tới vấn đề tăng trởng kinh tế ở Hơng Khê
Trang 6- Ngoài ra, một số báo cáo của Ban chấp hành huyện Đảng bộ Hơng
Khê từ khoá XX - XXVII và các báo cáo tổng kết của Hội đồng nhân dân huyện (hiện lu tại Huyện uỷ và ủy ban nhân dân huyện Hơng Khê) đã tổng kết, đánh giá sơ lợc nhiều thành tích tiến bộ và nhiều hạn chế khuyết điểm của kinh tế Hơng Khê trong việc thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng (1986 - 2006)
Nhìn chung các tác phẩm và tài liệu nói trên cha nêu lên đợc một cách tổng quát những thành tựu, tiến bộ và những tồn tại yếu kém của tình hình kinh tế Hơng Khê trong công cuộc đổi mới cũng nh rút ra những bài học kinh nghiệm và những giải pháp cho việc phát triển kinh tế Hơng Khê trong những năm tiếp sau đó Để có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về “Tình hình kinh tế Hơng Khê trong công cuộc đổi mới (1986 - 2006)” cần đợc đầu t nhiều thời gian, công sức và trí tuệ
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài “Bớc đầu tìm hiểu kinh tế Hơng Khê trong công cuộc đổi mới (1986 - 2006)” nhằm tổng kết, đánh giá những thành tựu và hạn chế, rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá trình hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đồng thời đa ra những giải pháp thích hợp nhằm phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Hơng Khê trong thời gian tới
Với mục tiêu đó của đề tài, khoá luận trớc tiên đề cập đến những điều kiện tự nhiên và xã hội của Hơng Khê, những nhân tố có ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế ở đây, tình hình kinh tế trớc công cuộc đổi mới (trớc 1986) Trọng tâm nghiên cứu của khoá luận là những thành tựu, tiến bộ đạt đợc và những hạn chế tồn tại yếu kém của nền kinh tế Hơng Khê trong 20 năm qua b-
ớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 2006) Qua đó khẳng định đờng lối đổi mới của Đảng, quan điểm đổi mới kinh tế làm trọng tâm đợc vạch ra từ
Đại hội VI (12 - 1986) là đúng đắn và Hơng Khê thực hiện đờng lối đố với những biện pháp cụ thể, sáng tạo phù hợp với thực tế địa phơng đã tạo nên
Trang 7những chuyển biến tích cực, bớc đầu có sự tăng trởng về kinh tế của huyện
H-ơng Khê
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Bớc đầu tìm hiểu kinh tế Hơng Khê trong công cuộc
đổi mới (1986 - 2006)” chúng tôi tập trung nghiên cứu các nguồn tài liệu sau
đây:
- Nguồn tài liệu thành văn: Các văn kiện đại hội Đảng toàn quốc (Từ
Đại hội VI - X), các văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, Các văn kiện đại hội Đảng bôm huyện Hơng Khê, các sách giáo trình “Lịch sử Việt Nam từ
1975 đến nay” Các báo cáo tổng kết hàng năm, báo cáo tổng kết của Hội
đồng nhân dân huyện trong các nhiệm kỳ (từ 1986 - 2006)
- Nguồn tài liệu qua điền dã: Đó là quá trình chúng tôi tiếp cận với những đồng chí lãnh đạo huyện đang công tác, đã nghỉ hu Các đồng chí lão thành ở các ban ngành trong huyện
Thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau: Phơng pháp lịch sử, phơng pháp logic, phơng pháp thống kê đối chiếu, so sánh kết hợp t liệu thành văn với t liệu điền dã để xử lý các số liệu trong các báo cáo của ủy ban nhân dân huyện, Hội đồng nhân dân huyện
5 Bố cục của khoá luận
Khoá luận đợc trình bày trong 65 trang Ngoài phần dẫn luận và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:Chơng 1: Khái quát tình hình kinh tế Hơng Khê trớc công cuộc đổi
Trang 8B Nội dung Chơng 1 khái quát tình hình kinh tế Hơng Khê
trớc công cuộc đổi mới (năm 1986)
1.1 Đặc điểm tự nhiên và lịch sử - xã hội Hơng Khê
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên
Hơng Khê là một huyện miền núi ở về phía tây nam tỉnh Hà Tĩnh Vị trí
địa lý của huyện Hơng Khê nằm trong khoảng 18 độ 10 phút vĩ Bắc và 105 độ
42 phút kinh đông Phía Bắc giáp huyện Hơng Sơn và huyện Đức Thọ, Tây Nam giáp huyện Tuyên Hoá (Quảng Bình), phía Đông giáp huyện Can Lộc, Thạch Hà và huyện Cẩm Xuyên, phía Tây giáp nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Theo số liệu chính thức ngày nay thì tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Hơng Khê là 1.299, 12km2 (Sau khi tách 5 xã: Quang, Minh, Điền, Đại, Thọ
về huyện Vũ Quang năm 2000) Diện tích của huyện Hơng Khê trớc năm
2000 là 1.850, 5km2 Hơng Khê hiện nay vẫn là một huyện có diện tích rộng nhất tỉnh Hà Tĩnh
Địa hình Hơng Khê thấp dần về phía Đông Bắc, theo hớng con sông Ngàn Sâu Nếu nhìn bao quát cả 4 phía ta thấy Hơng Khê nh hình một lòng chảo - toàn huyện Hơng Khê nằm gọn trong một thung lũng lòng máng của hai dãy Trờng Sơn và Trà Sơn, đợc bao bọc bởi đồi núi nhấp nhô năm bao quát trên địa bàn huyện Độ dốc thoải dần từ Nam ra Bắc cho nên dòng sông Ngàn Sâu chảy theo hớng ra Bắc của thung lũng đóng khung giữa hai dãy Trờng Sơn (giăng màn) và Trà Sơn Có thể nói đó là con sông duy nhất để thoát nớc vào mùa ma lũ Huyện có lợng ma cao, cờng độ lớn Lợng ma hàng năm nằm trong khoảng từ 1400mm - 3200mm Trên núi dốc, lòng hẹp lại uốn khúc quanh co nên mùa ma dễ gây ra lụt lớn trong vùng, những trận lụt vào năm
Trang 9Ngợc lại về mùa khô, sông cạn, bờ cao, độ dốc lớn, đồng ruộng lại khô hạn, bị chia cắt do địa hình không bằng phẳng.
Do có nhiều khe suối và các dòng chảy xiết nên Hơng Khê chia thành các lu vực khác nhau Ngoài sông chính là Ngàn Sâu (dài khoảng 100 km, bắt nguồn từ sờn đông dãy giăng màn - Trờng Sơn, chảy từ phía Tây Nam ra
Đông Bắc của huyện) còn có các con sông khác nh sông Tiêm, sông Ngàn Trơi, rào Hào, rào Nổ Bên cạnh đó Hơng Khê còn có nhiều khe suối, thác ghềnh, có thác Vũ Môn trên dãy giăng màn ở độ cao 1600 m so với mực nớc biển
Sông ngòi, khe suối ở Hơng Khê có độ dốc cao, mực nớc giữa các mùa
có sự chênh lệch rất lớn, mùa ma thờng gây lũ lụt làm thiệt hại cho mùa màng
và đời sống Mùa khô nớc cạn rất khó khăn cho thuyền bè có trọng tải lớn qua lại Tuy nhiên nó lại tạo thành một mạng lới tới tiêu và sinh hoạt của ngời dân trong huyện, sông suối có thể xây dựng các đập nớc và trạm thuỷ điện vừa và nhỏ
Về địa chất thổ nhỡng, ở Hơng Khê có thể chia thành 2 nhóm đất: Nhóm đất đồi núi và nhóm đất đồng bằng và thung lũng Trong đó nhóm đất
đồi núi chiếm phần lớn, đất đồi núi có loại đất Phe - ra - lit trên núi cao (Trờng Sơn, Trà Sơn từ 200m trở lên) Đất Phe - ra - lít (Ferralite) đợc phát triển chủ yếu trên đá Granit có cấu trúc nham thạch bằng các hạt Silic cát và sét phong hoá đất khô, chua, nghèo chất dinh dỡng Nhóm đất đồng bằng và thung lũng (đất có thể làm ruộng) thờng nghèo chất dinh dỡng, lại thiếu nớc cho nên về mùa hạn đất khô, đặc biệt là loại đất sét thì quánh và cứng nh đá Vì vậy, đối với ngời Hơng Khê cũng nh một số huyện miền núi khác ở Nghệ Tĩnh, việc làm đất trồng màu là rất gian nan ở Hơng Khê thờng dùng hai loại bừa đặc biệt nh bừa đạp, bừa cắt để làm tơi đất Đó là loại bừa mà ngời đi bừa mà ngời
đi bừa phải đứng hẳn lên thân bừa để tăng sức nặng đè vỡ đất hoặc cắt đất bằng các lỡi dao cắm dới thân bừa Lớp đất màu bề mặt thờng rất mỏng (trên dới 20cm), có màu xám, sau đó là lớp đất đỏ cấu trúc nham thạch có độ dẻo,
Trang 10dính rất cao Về mùa ma rét, nếu đi trên những con đờng đất mới sẽ rất khó khăn vì độ trơn và độ bám dính của đất là rất mạnh Loại đất này có thể sử dụng vào công nghiệp gạch ngói, sành sứ rất tốt Nhìn chung, đất đai ở Hơng Khê có nhiều loại, thích hợp với nhiều loại cây trồng khác nhau Các loại rau màu, cây ăn quả, cây lu niên, cây công nghiệp thờng thích hợp với đất Hơng Khê hơn các loại cây lơng thực.
Hơng Khê là huyện miền núi, vừa có đất trống đồi trọc, vừa có những khu rừng đại ngàn với nhiều loại thực vật phong phú, trong tổng diện tích của toàn huyện, đất rừng chiếm 77%, đất nông nghiệp và có khả năng nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 23% diện tích Thực tế đất canh tác thờng xuyên chỉ chiếm một phần nhỏ của tổng diện tích Điều đó nói lên khả năng khai khẩn mở rộng diện tích canh tác ở Hơng Khê còn rất lớn
Là một huyện miền núi, giáp nớc bạn Lào nên khí hậu Hơng Khê rất phức tạp Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện khoảng 25 - 300C, thấp hơn các vùng trung du và đồng bằng trong tỉnh Mùa hè ở Hơng Khê rất khắc nghiệt, nhiệt độ có khi lên tới trên 40oC
Hơng Khê là vùng khí hậu gió mùa rất rõ nét, gió đông bắc thổi từ tháng
9 đến tháng 2 mang theo ma rét Gió tây nam, miền trung thờng gọi là gió Lào, gió này thổi vào khoảng tháng 4 đến tháng 8, có khi sớm hoặc muộn hơn Gió Lào là một trong những nhân tố tạo nên khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết
ở Hơng Khê Sách đồng khánh địa d chí đã nói rõ sự thay đổi thời tiết ở Hơng Khê nh sau: “tháng 2, tháng 3, mùa xuân khí trời còn rét Tháng 4, tháng 5, mùa hè nắng to, làm ngời ta thấy khó chịu Tháng 7, tháng 8 mùa thu thì th-ờng có gió lạnh, ma nhiều, nớc lũ dâng cao ngập ruộng đồng, hoa màu bị thiệt hại Tháng 10, tháng 11 khí trời rất rét Do địa thế cao, núi rừng nhiều chớng khí tạo nên “mùa rét ở Hơng Khê thờng là nguyên nhân gây bệnh làm chết gia cầm, gia súc Có những đợt rét làm cho hàng trăm trâu, bò chết trong một lúc” [ 40;44.45]
Trang 11Khí hậu Hơng Khê không chỉ thay đổi theo mùa mà còn theo tháng, theo tuần, thậm chí thay đổi theo ngày Trong một ngày của mùa hè thì không phải lúc nào cũng oi bức, mà vào ban đêm thì thờng rất mát mẻ, lúc gần sáng thì cảm thấy se lạnh nếu ngủ ở những làng cạnh bìa rừng.
Sự thay đổi của khí hậu đó có những thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp nhng cũng đặt ra yêu cầu cấp bách trong việc khắc phục thiên tai
Tài nguyên thiên nhiên Hơng Khê trớc hết là lâm, thổ sản Hơng Khê có nhiều loại gỗ quý từ loại tứ thiết nh: đinh, lim, sến, táu đến các loại vàng tâm, pơ mu, trầm gụ, tre, nứa, song, mây Động vật hoang dã vẫn còn nhiều từ hổ, voi, khỉ, vợn, hơu, nai, lợn rừng đến rắn, trăn, kỳ nhông, kỳ đà và động vật quý
nh sao la, sơn dơng, gấu, bò tót (bò rừng, trâu rừng) Hơng Khê là nơi có nhiều cây thuốc nam mọc tự nhiên ở trong rừng núi gần đây có mô hình vờn cây thuốc nam tại xã Hơng Bình - Đã bớc đầu bộc lộ tiềm năng phong phú về các giống cây dợc liệu hiện có của vùng đất Hơng Khê
Khoáng sản ở Hơng Khê nh các sách cổ đã đề cập thì có sắt ở địa phận Chu Lễ và Thổ Hoàng, phốt phát ở Phú Lễ Vào những năm 90 của thế kỷ XX lại nổi lên phong trào tìm vàng, đào vàng ở địa phận Hoà Hải Đặc biệt, có mỏ than Đồng đỏ đợc phát hiện bởi nhà địa chất Pháp Promade vào năm 1928
Mỏ than này có tổng diện tích 36km2, nằm trên địa phận các xã: Hà linh,
H-ơng Thuỷ, HH-ơng Giang trữ lợng ban đầu ớc tính từ 6 đến 8 triệu tấn [40;47]
Nh vậy, vàng, sắt, đồng và than là những khoáng sản quan trọng đã đợc tìm thấy ở Hơng Khê Ngoài ra dới lòng đất của huyện Hơng Khê có thể còn có nhiều khoáng sản quý khác mà đến nay chúng ta cha thăm dò và khai thác.Hơng Khê là nơi có nhiều lâm, thổ sản quý, nhiều gỗ, nhiều tre, nứa Tr-
ớc đây dọc theo dòng sông chảy xuôi về Đức Thọ ta thấy thờng có rất nhiều cdân xuôi bè Nghĩa là gỗ, tre, nứa, song mây và các loại lâm sản khác đợc khai thác từ rừng nguồn và chở về xuôi để buôn bán với các huyện đồng bằng Các sách từ thời nhà Tấn (Tấn th địa đạo ký) đến đời nhà Nguyễn (Đại Nam nhất thống trí) đều chép rằng: Đây là khu vực suối, sông chảy xiết, hơu hoẵng đầy
Trang 12gò, chim kêu vợn hót vang đồng Vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Roland Bulateau đã viết về những đồng cỏ rất tốt chạy tít tắp suốt dọc các triền núi đến tận biên giới Việt Lào, rất thuận tiện cho việc chăn nuôi trâu bò
“Có thể xếp Hà Tĩnh vào một trong những khu vực chăn nuôi lớn của Trung Bôm Hà Tĩnh lại có nhiều đờng đi lại rất thuận tiên cho việc chở súc vật từ Lào vào nội địa và có nhiều chợ buôn bán súc vật lớn, đồng thời là địa điểm quan trọng trong việc nhập trâu bò từ Lào để cung cấp cho đồng bào miền Bắc” Nhận định này của Roland Bulateau là đã căn cứ vào những lợi thế phát triển chăn nuôi của vùng đất Hơng Khê, Hơng Sơn,
Do đặc trng về địa hình, mạng lới giao thông vận tải ở Hơng Khê cha
đảm bảo yêu cầu của việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội, các tuyến giao thông chủ yếu của huyện là quốc lộ 15A nối liền Hơng Khê với thị xã Hà Tĩnh
và đờng Hồ Chí Minh từ Hơng Sơn chạy qua Hơng Khê vào Quảng Bình Ngoài ra Hơng Khê còn có 50km đờng sắt chạy xuyên dọc huyện Trong những năm gần đây hệ thống đờng liên thôn, liên xã đợc mở rộng, song do địa hình phức tạp nên giao thông đi lại vẫn gặp rất nhiều khó khăn Mặt khác hệ thống giao thông đợc xây dựng lâu nay đã xuống cấp nghiêm trọng, cha sữa chữa nên ảnh hởng rất lớn trong việc đi lại của nhân dân và việc giao lu kinh
1.1.2 Đặc điểm lịch sử - xã hội
Trang 13Hơng Khê là nơi thung lũng có sông Ngàn Sâu chảy suốt từ Tây Nam ra
Đông Bắc, bao bọc bởi vùng rừng rậm đại ngàn Do đặc điểm của vùng rừng núi nên trớc đây dân c rất tha thớt Theo số liệu của phòng Miền núi và dân tộc của huyện cung cấp thì dân số huyện Hơng Khê mới thành lập có khoảng 5.000 ngời Vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX thì số dân ở Hơng Khê có khoảng 50.000 ngời Số dân tăng lên nhanh chóng là do dân các huyện di c
đến Dân từ các huyện Đức Thọ, Hơng Sơn, Thạch Hà, Can Lộc và cả từ Nghệ
An, Thanh Hoá đã di chuyển vào đây từ cuối thế kỷ XIX Trong các thời Vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, tức đầu thế kỷ XIX Quy Hợp, Trấn Ninh và Trấn Tỉnh là những xứ rất hoang vu, lính thú đóng giữ ở đây đợc coi nh đi làm nhiệm vụ đặc biệt, cứ sau một tháng 15 ngày hoặc hai tháng thì cho đổi chỗ khác Tuy vậy có nhiều ngời trong số các lính thú đó đã xây cơ lập nghiệp, sống gắn bó với vùng đất ngàn sâu và trở thành c dân bản địa Có thể nói rằng, thành phần c dân ở Hơng Khê là rất phong phú, chủ yếu là dân tứ chiếng, dân góp từ các nơi, các nguồn từ trong và ngoài Hà Tĩnh, kể cả ngời Lào và ngời Xiêm, mà chủ yếu là ngời Kinh
Hiện nay dân số toàn huyện Hơng Khê có khoảng 106.418 ngời (năm
2000 116.318 ngời), mật độ dân c là 85 ngời/km2, là huyện có mật độ dân c thấp
Dân tộc ít ngời ở Hơng Khê chiếm khoảng 0, 9% dân số toàn huyện, bao gồm Mã Liềng, ngời Mờng, ngời Hoa, hầu hết các dân tộc đều giữ bản sắc văn hoá riêng, tuy đã bị mai một, bị lãng quên nhiều Hầu hết đồng bào các dân tộc ít ngời đều sống bằng nghề nông Tuổi thọ trung bình thấp hơn ngời kinh
Họ sống ở các xã sát biên giới Việt Lào nh Hơng Lâm, Hơng Liên, Hơng Vĩnh, Phú Gia Về phơng diện dân tộc, Hơng Khê là huyện có nhiều thành phần dân tộc hơn các vùng khác trong tỉnh
Nhân dân Hơng Khê rất cần cù, siêng năng, hiếu học và sáng tạo, tinh thần đoàn kết làng xã rất cao, trong quá trình chinh phục thiên nhiên cùng
Trang 14nhau đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào việc khai khẩn, xây dựng bảo
vệ quê hơng
Trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhân dân Hong khê đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ độc lập dân tộc Đầu thế kỷ XV quân Minh sang xâm lợc nớc ta, trớc ách áp bức đô hộ của chúng, nhiều cuộc đấu tranh của nhân dân đã nổ ra Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Ngay từ những ngày đầu dựng cờ khởi nghĩa, Lê Lợi đã đa quân vào, nhân dân Nghệ Tĩnh nói chung và Hơng Khê nói riêng đã hết lòng ủng hộ nghĩa quân Lê Lợi chống quân xâm lợc nhà Minh (1416 - 1427) Núi Vũ Kỳ sau gọi là núi Phù Lê, nay là Phú Lễ (Hơng Trạch)
là nơi đã xây dựng một kho lơng thực lớn do nhân dân Hơng Khê đóng góp nuôi nghĩa quân Lê Lợi
Thời kỳ khởi nghĩa Tây Sơn, khi Nguyễn Huệ tiến quân ra bắc tiêu diệt quân Thanh (1789), nhân dân Hơng Khê đã giúp nghĩa quân Tây Sơn đánh giặc Hơng Khê còn là bàn đạp cho đội quân của Quang Trung khi tiến sang
đất Lào đánh quân Xiêm Bến sông chợ Trúc, chợ Sòng là những nơi đón tiếp chiến thuyền quân Quang Trung từ Đức Thọ lên Đồn Quy Hợp (Hơng Vĩnh)
là nơi thực hiện sự bang giao giữa quốc gia Đại Việt với Ai Lao và Xiêm thời
kỳ này
Nhân dân Hơng Khê đã tích cực tham gia phong trào chống thực dân Pháp ngay từ những ngày đầu chúng đặt chân vào xâm lợc nớc ta Là nơi đợc Vua Hàm Nghi chọn làm căn cứ của phong trào Cần Vơng chống Pháp Luỹ Voi Dựa (La Khê) và thành Sơn Phòng (Hơng Phú) là những chứng tích lịch
sử ghi nhận nơi Vua Hàm Nghi dựng cờ chống Pháp (1884 - 1885) nhng năm
1885 - 1897, suốt 12 năm liền vùng Vụ Quang là căn cứ địa của nghĩa quân Phan Đình Phùng chống Pháp Một số làng nh: Tri Bản, Phúc Đồng, Thanh Luyện, Trúc Lâm, Phơng Điền vùng lên kháng chiến với tinh thần, khí thế chuẩn bị chống Pháp rất cao Nhân dân tập trung rất đông dới ngọn cờ của Chí
sĩ yêu nớc Phan Đình Phùng chống Pháp Mặc dù thất bại nhng lòng yêu nớc,
Trang 15tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu đến cùng để khôi phục giang sơn của nhân dân Hơng Khê còn lu mãi trong hai cuộc chống Pháp và chống Mỹ ở thời đại
Hồ Chí Minh
Dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Hơng Khê cùng cả nớc làm nên cách mạng tháng tám thắng lợi vĩ đại, khai sinh ra nớc Việt nam dân chủ cộng hoà (1945) Hoà bình đến với nhân dân Việt nam không đợc bao lâu thì Thực dân Pháp quay trở lại xâm lợc nớc ta một lần nữa Ngày 19/12/1946 tiếng súng kháng chiến toàn quốc bùng nổ, cùng với cả nớc nhân dân Hơng Khê “Thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nớc, không chịu làm nô lệ”, nhiều thanh niên đã tình nguyện tham gia vào vệ quốc đoàn, các
đơn vị bộ đội địa phơng Nhân dân hăng hái sản xuất lơng thực, rèn đục vũ khí sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hơng Tinh thần chiến đấu của nhân dân Hơng Khê đợc thể hiện rất rõ trong chiến dịch Trung Lào, đặc biệt là trận quyết chiến chiến lợc Điện Biên Phủ (5/1954) Lúc này không khí chiến đấu và phục
vụ chiến đấu ở Hơng Khê rất phấn khởi, nhân dân nô nức lên đờng, thanh niên xung phong nhập ngũ, nhân công với từng đoàn xe đạp thồ, gồng gánh không
kể ngày đêm, không quản gian khổ, vợt núi băng đèo tiếp tế lơng thực và đạn dợc ra mặt trận phục vụ bộ đội ăn no, đủ đạn đánh thắng bọn xâm lợc Tuy địa bàn Hơng Khê bà con đã đóng góp hàng vạn ngày công để sửa chữa đờng chiến lợc 15A cho các đơn vị bộ đội, các đoàn dân công có điều kiện thuận lợi cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ đi đến thắng lợi hoàn toàn
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (5/1954) với hiệp định Giơnevơ đợc ký kết, miền Bắc đợc chuyển sang thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Hơng Khê vơn lên trong sản xuất, sẵn sàng phục vụ chiến đấu Trong những năm chống Mỹ, cứu nớc vĩ đại cũng nh mọi miền của Tổ quốc, Hơng Khê dốc sức chi viện cho miền Nam góp phần cùng quân dân miền Nam làm nên đại thắng mùa xuân năm 1975 Ngay trong những ngày chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, nhân dân và dân quân tự vệ huyện Hơng Khê đã đợc Chính phủ tặng huân ch-
Trang 16ơng quân công hạng ba, Nông trờng 20/4 và quân dân Lộc Yên đợc tặng huân chơng quân công hạng ba, đội 6 Lâm trờng Chúc A, quân dân Hơng Phong đ-
ợc tặng huân chơng chiến công hạng nhất, quân dân xã Hơng Xuân, tự vệ phòng Giao thông, bộ đội địa phơng đợc tặng huân chơng chiến công hạng hai Chứng tỏ tinh thần chiến đấu của nhân dân ở đây rất cao Trên các chiến trờng chỉ tính riêng thời kỳ 1965 - 1968, hơn 477 thanh niên đã anh dũng ngã xuống trên các nẻo đờng của Tổ Quốc và 653 ngời bị thơng Trong hai năm
1972 - 1973, toàn huyện đã có 248 ngời bị chết do bom đạn Mỹ Hơng Khê có hơn 6.500 ngời đi bộ đội, 9.786 ngời đi thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến dài ngày Tất cả những cống hiến của họ đã trở thành truyền thống và niềm tự hào cho các thế hệ con em Hơng Khê hôm nay noi theo
Sau ngày đất nớc thống nhất, cả nớc tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhân dân Hơng Khê đã phát huy truyền thống lịch sử của quê hơng bớc vào thời kỳ mới
Mặc dù phải đơng đầu với rất nhiều khó khăn thử thách, nền kinh tế tiểu nông với cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhng mảnh đất Hơng Khê với tài nguyên rừng phong phú và đa dạng, là nơi sản sinh và lu giữ nhiều ngành nghề truyền thống nh: Đan lát, chạm khắc, dệt thổ cẩm, nghề mộc Đặc biệt là nghề làm…gạch ngói, đây là mặt hàng có uy tín lớn với phạm vi lu chuyển trong và ngoài tỉnh Việc phát huy những ngành nghề truyền thống không những gìn giữ đợc bản sắc văn hoá quê hơng mà cùng góp phần giải quyết việc làm và nâng cao
đời sống của nhân dân Hơng Khê
Tuy là một huyện miền núi nhng ngời dân ở đây có truyền thống hiếu học Chính vì vậy, ngay từ sớm ở Hơng Khê đã xuất hiện nhiều danh nhân yêu nớc nh: Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Quốc Nhiếp, Nguyễn Duy Phơng [42;30.33]
Bên cạnh đó, tinh thần đoàn kết, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất cũng nh trong đời sống là một truyền thống quý báu của nhân dân Hơng
Trang 17Khê nói riêng và Hà tĩnh nói chung Vốn quý nhất của Hơng khê là yếu tố con ngời Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, ngời dân Hơng Khê dù là dân bản địa hay là dân mới đến định c tất cả họ đều đem năng lực, trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, làm giàu rạng rỡ cho Hơng Khê Họ luôn tỏ ra trung thành, dũng cảm tin tởng vào đờng lối của Đảng, vào tiền đồ của đất n-
ớc, không lùi bớc trớc những khó khăn thách thức nào, phấn đâu xây dựng
H-ơng Khê trở thành một huyện giàu mạnh của tỉnh Hà Tĩnh Từ chống ngoại xâm, khắc phục và cải tạo cho đến việc chống các hiện tợng tiêu cực trong xã hội để làm thay đổi bộ mặt của huyện đều chứng tỏ truyền thống và ý thức của mọi ngời dân ở đây Chính những giá trị văn hoá đó là nền tảng cơ sở, là sức mạnh để Hơng Khê vơn lên phát triển kinh tế trong sự nghiệp đổi mới do Đại hội Đảng Cộng sản Việt nam lần thứ VI (12/1986) đề ra
1.2 Tình hình kinh tế Hơng Khê trớc công cuộc đổi mới (năm 1986)
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cùng với quân dân trong tỉnh, Hơng Khê bớc vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách quy mô trong điều kiện nớc nhà hoà bình, thống nhất Trong sự nghiệp cách mạng mới, Hơng Khê vừa có những thuận lợi vừa có nhiều khó khăn, trong đó khó khăn là rất cơ bản và to lớn Ngoài những khó khăn chung tơng tự nh các huyện khác nh: Hậu quả chiến tranh nặng nề, kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ, không có cơ sở vật chất kỷ thuật, thiếu kinh nghiệm và vốn liếng, Hơng Khê lại có thêm những khó khăn riêng của huyện miền núi Đó là giao thông vận tải trở ngại, khí hậu khắc nghiệt, nhiều thiên tai, xa các trung tâm kinh tế, văn hoá của tỉnh và khu vực, trình độ và sự phân bố dân c phức tạp, không thuận lợi cho sự phát triển kinh tế
Trớc tình hình và yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, trong không khí chiến thắng, từ ngày 26 đến ngày 29/8/1975, Đảng bộ Hơng Khê đã tiến hành Đại hội lần thứ XVII, tại Trờng Đảng huyện để tổng kết sự lãnh đạo những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc và đề ra nhiệm vụ trớc mắt của Đảng bộ, quân dân toàn huyện
Trang 18Các văn kiện của Đại hội Đảng bộ đã khẳng định là: Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhng đợc chiến thắng của miền Nam động viên nên kết quả sản xuất Hơng Khê tiếp tục có những thành tựu mới: năng suất lúa từ 12, 76 tạ/ha lên
14, 4 tạ/ha Sản lơng màu quy ra thóc năm 1974 tăng 231 tấn so với năm
1973 Lơng thực năm 1975 tăng hơn năm 1974 là 1.100 tấn Chiết gép 2 vạn cây bởi Phúc Trạch cho 80ha, sản phẩm hàng hoá năm 1975 là 100 tấn Chăn nuôi đạt 98% kế hoạch về trâu, bò với gần 19.000 con Trại nuôi tập thể có 1.000 con, khá nhất là Hơng trạch 240 con; lợn đạt 20.000 con, tăng 23% so với năm 1973 Vịt tập thể ở Đại Đồng, Phú Hơng có 800 con, 3 vạn quả trứng
8 hợp tác xã có tổ trồng, ơm cây, trồng rừng Thuỷ lợi năm 1974 đào đắp đợc
90 vạn m3 đất: Đập Làng, Cây Trồi, Rú Mão, Động Đài Các hợp tác xã có đội chuyên làm thuỷ lợi trong đó có 21 đội đợc công nhận là đội 202 Làm mới, tu
bổ 100 km đờng, có hai cầu treo dài 140 mét Phần lớn Hợp tác xã tiến hành
ba khoán có thởng phạt Một số nơi thực hiện khoán cho nhóm hoặc cho ngời lao động Tiến hành khoanh vùng sản xuất theo Chỉ thị 208
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả bớc đầu đó thì nhìn chung sản xuất nông nghiệp thụt lùi, chăn nuôi tăng chậm, lơng thực và hàng hoá thiếu thốn.Căn cứ vào kết quả bớc đầu đó, Đại hội Đảng bộ hơng Khê lần thứ XVII tiếp tục đề ra phơng hớng phát triển kinh tế trong giai đoạn 1975 - 1976 Đại hội chủ trơng phát huy tinh thần chiến thắng, ra sức ổn định tình hình, đẩy mạnh sản xuất lơng thực, thực phẩm, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất, kỷ thuật, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá, y tế, giáo dục, tăng cờng công tác quân sự, cải thiện đời sống nhân dân
Với sự phấn đấu nhiệt tình của cán bộ, Đảng viên, nhân dân Hơng Khê năm 1975, Hơng Khê tiếp tục đạt một số kết quả mới trên các lĩnh vực sản xuất mà trớc hết là về nông nghiệp Huyện có 65 hợp tác xã nông nghiệp với 15.649 hộ Diện tích, năng suất sản lợng một số loại cây trồng có sự tăng lên
đáng kể: lúa với diện tích 9.115 ha đạt năng suất 11.658 tấn; ngô 916 ha đạt sản lợng 1.012 tấn đàn trâu, bò ở H… ơng Khê thời kỳ 1964 - 1975 nhìn chung
Trang 19có sự phát triển Số lợng trâu năm 1964 là 9.557 con, đến năm 1975 tăng lên 9.812 con Số lợng bò năm 1964 là 7.650 con đến năm 1975 tăng lên 9.522 con.
Mặc dù vậy, những khó khăn, hạn chế của Hơng Khê cũng rất lớn: Do
điều kiện giao thông trở ngại sẽ hạn chế sự phát triển kinh tế So với tiềm năng sẵn có của huyện thì năng suất đạt đợc còn thấp
Đến Đại hội Huyện Đảng bộ lần thứ XVIII đã có đánh giá về sản xuất nông nghiệp Bớc đầu thực hiện phân vùng kinh tế, xác định phơng hớng sản xuất và cơ cấu cây trồng tập trung chuyên canh, thâm canh Công tác thuỷ lợi, giao thông đạt một số thành tích nhất định
Theo chủ trơng tổ chức lại sản xuất trên địa bàn huyện, Đại hội quyết
định chia huyện thành bốn vùng kinh tế:
Tuy bớc đầu đã phân vùng kinh tế nhng nhìn chung kinh tế Hơng Khê vẫn phát triển chậm chạp Đến Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XIX (5/1977)
đã nhận định: Sản xuất nông nghiệp sút kém, năng suất lúa và hoa màu đều giảm sút, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề phát triển chậm, hàng hoá khan hiếm, giao thông trì trệ, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn
Trang 20Trớc tình hình đó, Đại hội chủ trơng tập trung cao độ cho việc tổ chức lại sản xuất, đa cơ giới hoá vào sản xuất nông nghiệp, từng bớc đa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, giải quyết bằng đợc mục tiêu tự túc lơng thực trên địa bàn huyện.
Sau Đại hội này, ở Hơng Khê có nhiều phong trào cải tạo đồng ruộng
mở rộng quy mô hợp tác xã Các phong trào đó đã đạt đợc một số kết quả về
mở rộng diện tích trồng trọt, nâng cao tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân, song cũng gây nên những thiệt hại về môi trờng sinh thái, biểu hiện t tởng chủ quan nóng vội trong cán bộ, nhân dân trên con đờng định hớng đi lên chủ nghĩa xã hội
Qua các kỳ Đại hội Đảng bộ sau đó (Đại hội Đảng bộ lần thứ XX (8/1979) và Đại hội Đảng bộ lần thứ XXI (12/1982)) tiếp tục đề ra những chủ trơng chính sách để khắc phục khó khăn, phát triển kinh tế Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ huyện Hơng Khê xác định mục tiêu chung của Hơng Khê là tập trung sức vào mặt trận hàng đầu là nông nghiệp mà trung tâm là lơng thực, thực phẩm và nông sản, phấn đấu đủ ăn và có một phần dự trữ Cải thiện điều kiện ăn ở và không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Để đạt
đợc mục tiêu chung đó cần nâng cao chất lợng kế hoạch hoá, khuyến khích kinh tế gia đình phát triển theo hớng tăng nguồn rau quả, thực phẩm, hoàn chỉnh dứt điểm các công trình thuỷ lợi, đẩy mạnh cải tạo đồng ruộng, xây dựng huyện vững mạnh
Tóm lại, trong 10 năm (1975 - 1985) cùng với nhân dân cả nớc bớc đầu xây dựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa, kinh tế Hơng Khê đã đạt đợc những thành tựu cơ bản Tại Đại hội huyện Đảng bộ lần thứ XXII (9/1986) đã
đánh giá, ghi nhận những thành tựu cơ bản của Hơng Khê trong các năm 1982
Trang 21bò có 17.887 con, lợn có 22.509 con Diện tích rừng thông nhựa sau nhiều năm đã đạt tới 3.000 ha, giao đợc 20.000 ha rừng các loại cho 17 hợp tác xã Lạc từ 500 ha năm 1980 lên tới 1.000 ha năm 1986 Trồng mới 200 ha dầu trẩu, 100 ha chè, thu mua 50 tấn dợc liệu, 1 tấn trầm hơng Giá trị xuất khẩu
đạt 180.000 rup - đôla Bình quân đầu ngời 1, 8 rup - đôla Làm nghĩa vụ lơng thực bình quân từ 1.900 đến 2000 tấn mỗi năm [40;120]
Tuy nhiên, kinh tế Hơng Khê vẫn còn nhiều yếu kém Chỉ đạo nông nghiệp còn tuỳ tiện, nhất là về giống Chăn nuôi sa sút, nhiều trại chăn nuôi của Hợp tác xã giải thể Khai thác rừng bừa bãi, thủ công nghiệp yếu Khai thác hàng hoá địa phơng yếu, nhiều ngời bỏ sản xuất đi buôn Nhìn chung H-
ơng Khê còn nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển về mọi mặt đặc biệt là về kinh tế còn nhiều tồn tại và hạn chế cần phải khắc phục
Trong 10 năm (1975 - 1985) dới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, nhân dân Hơng Khê cùng với nhân dân cả nớc bớc đầu xây dựng theo định hớng xã hội chủ nghĩa Trong chặng đờng đầu đó, Hơng Khê đã đạt đợc những thành tựu cơ bản về kinh tế Song khó khăn, yếu kém còn nhiều Nền kinh tế Hơng Khê vẫn nằm trong tình trạng lạc hậu, kém phát triển về mọi mặt
Kinh tế nông nghiệp là thế mạnh của huyện nhng đang còn nhiều vấn đề bất cập Sản xuất nông nghiệp giảm sút làm cho đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, gian khổ Việc tổ chức sản xuất theo kiểu Hợp tác xã không còn thích ứng với ngời nông dân nữa Tổng sản lợng lơng thực hàng năm rất thấp, không vợt quá 15.600 tấn, bình quân lơng thực đầu ngời dới 170kg/năm [1;2] Nguyên nhân của tình trạng trên là do việc bố trí cơ cấu sản xuất còn nhiều thiếu sót, các cấp chính quyền ở Hơng Khê có khuynh hớng nóng vội, thiên về quy mô lớn, muốn đẩy nhanh tốc độ cơ giới hoá nông nghiệp Hơng Khê tập trung quá dài ngày với số lợng lớn lao động thủ công vào các công trình thuỷ lợi, làm lãng phí nhiều tiền của, gây khó khăn cho việc phân công lao động và điều hành sản xuất ở các Hợp tác xã Đó là cha kể trong một thời gian dài ở Hơng Khê chỉ chú ý về mở rộng diện tích, coi nhẹ thâm canh tăng
Trang 22vụ và các loại cây trồng Huyện cha có kế hoạch bố trí cơ cấu cây trồng một cách hợp lý với điều kiện đất đai và thiên nhiên ở khu vực này Thêm vào đó, các cấp chính quyền ở Hơng Khê còn máy móc, giáo điều trong việc thực hiện Nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, cha đi vào thực tế chất đất, địa hình, khí hậu,
đặc điểm dân c của địa phơng mình Từ đó những chủ trơng, kế hoạch, biện pháp về mùa vụ, cây trồng, thuỷ lợi cha sát đúng với tình hình cụ thể ở Hơng Khê tiềm năng phát triển kinh tế rất đa dạng trong đó thế mạnh của các vùng kinh tế để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp là rất lớn nhng huyện cha khai thác một cách có hiệu quả Nhìn chung trong hơn 10 năm (1975 - 1985), kinh tế Hơng Khê vẫn nằm trong tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán Huyện cha có chính sách, biện pháp, bớc đi thích hợp với việc xây dựng
và phát triển kinh tế nông nghiệp trên vùng đất vốn nhiều tiềm năng nhng đầy khó khăn này
Chăn nuôi ở đây mặc dù có điều kiện để chăn thả nhng củng chỉ phát triển ở mức độ nhất định Huyện cha tận dụng tối đa không gian tự nhiên rộng lớn để chăn nuôi các đàn gia súc nh trâu, bò, dê
Cũng nh nông nghiệp, các ngành kinh tế quan trọng khác ở Hơng Khê nh: Lâm nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng rơi vào tình trạng khó khăn không kém Các ngành nghề thủ công cha đợc khai thác tốt, huyện cha xem đây là ngành kinh tế tạo ra nhiều việc làm thu hút lao động nhàn rỗi Nghề truyền thống ngày càng mai một, không có điều kiện phục hồi, sản phẩm làm ra rất khó tiêu thụ trên thị trờng
Hơng Khê là một huyện miền núi, nền kinh tế lâm nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng ở đây đất lâm nghiệp chiếm tới 130.000 ha, trong đó đồi trọc chiếm 17.956 ha2 [42;12] Thiếu hoạch và biện pháp để khai thác lâm sản cũng nh nuôi trồng và chăm sóc bảo vệ rừng một cách có hiệu quả, cho nên trong hơn 10 năm (1975 - 1985) nguồn lợi từ rừng bị mai một, làm ảnh hởng lâu dài đến quần thể động, thực vật ở đây Nhiều khu rừng non bị huỷ diệt, rừng mới trồng cũng bị phá Điều đó chứng tỏ công tác kiểm tra rừng, bảo vệ
Trang 23rừng ở Hơng Khê cha có kế hoạch Việc giao đất, giao rừng cho các xã viên Hợp tác xã cha đợc thực hiện, còn xem nhẹ việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về rừng cho nhân dân.
Lu thông phân phối ở huyện Hơng Khê còn nhiều lúng túng và thiếu kịp thời, quản lý thị trờng không chặt chẽ, Hơng Khê tạo ra đợc nguồn hàng hoá dồi dào để trao đổi buôn bán, xuất khẩu đa lại nguồn thu cho huyện Thơng nghiệp quốc doanh Hơng Khê trong giai đoạn này đang nằm trong tình trạng khó khăn kém hiệu quả, tổ chức bộ máy cồng kềnh Thêm vào đó, t tởng tìm cách luồn lách nắm hàng, phá giá, lũng đoạn thị trờng của t thơng làm cho th-
ơng nghiệp vốn đã trì trệ ngày càng trì trệ hơn
Địa hình tự nhiên của huyện chủ yếu là núi rừng, thung lũng cho nên giao thông vận tải gặp rất nhiều khó khăn Trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, đờng sá xuống cấp, dốc đèo nhiều không đợc tu bổ thờng xuyên làm ảnh hởng khá lớn không chỉ đối với việc đi lại của nhân dân mà còn ảnh hởng rất lớn đối với việc phát triển kinh tế của huyện
Ngoài ra kinh tế ng nghiệp, kinh tế du lịch có tiềm năng nhng cha đợc khai thác, đầu t để phát triển
Thực trạng kinh tế của Hơng Khê trong 10 năm bớc đầu xây dựng theo
định hớng xã hội chủ nghĩa còn nhiều tồn tại, yếu kém, đòi hỏi Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Hơng Khê phải nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng
sự thật về những thành tựu và hạn chế của mình, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm và đa ra những chính sách, những giải pháp kinh tế hợp lý, phù hợp với tiềm năng và điều kiện của huyện trong các giai đoạn tiếp sau của công cuộc đổi mới
Chơng 2 Kinh tế Hơng Khê trong những năm đầu công cuộc
đổi mới (1986 - 1995)
Trang 242.1 Chủ trơng của Đảng
Trong bối cảnh chuyển mình, đổi mới của đất nớc quyết vợt ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, trong không khí toàn Đảng chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1986) của Đảng, từ ngày 06 đến ngày 09/9/1986, tại Thị trấn Hơng Khê, Đảng bộ Hơng Khê họp Đại hội lần thứ XXII Dự Đại hội có 166 đại biểu chính thức
Đại hội đã nghi nhận những thành tựu cơ bản trong những năm vừa qua
và trên cơ sở đó nhìn nhận đánh giá những khó khăn, yếu kém cần khắc phục
để tiếp tục đa nền kinh tế Hơng Khê phát triển đi lên
Về thành tựu từ 1982 - 1986, Đại hội đã nghi nhận diện tích gieo trồng
đạt 15.600 ha, bằng 86% kế hoạch Sản lợng lơng thực dạt 18.500 tấn, bằng 75% kế hoạch.Về chăn nuôi cũng có sự tăng trởng so với thời kỳ trớc - Đàn trâu có 9.081 con, bò 17.887 con, lợn 22.509 con, bình quân đầu ngời có 1, 8 Rúp - Đô la [40;120]
Tuy nhiên, kinh tế Hơng Khê vẫn còn nhiều yếu kém, chỉ đạo nông nghiệp còn tuỳ tiện, chăn nuôi tăng trởng còn chậm, lu thông phân phối rối ren…
Căn cứ vào tình hình đó, Đại hội chủ trơng phải tiếp tục phấn đấu đạt các mục tiêu về tự túc lơng thực, tăng trởng cơ sở vật chất, cải thiện đời sống cho nhân dân
Về nhiệm vụ của thời kỳ 1986 - 1988 và đến 1990, Đại hội đã nêu lên chủ trơng và chỉ tiêu phấn đấu về lơng thực, chăn nuôi, giảm tỷ lệ tăng dân
số Đại hội nhấn mạnh phải phát triển nông nghiệp toàn diện, tăng diện tích…lạc, đậu các loại ngô, mía, lâm nghiệp chú trọng bảo quản khai thác thông nhựa, chống cháy rừng Phát triển chăn nuôi bò, trâu, lợn, vịt, phấn đấu đảm bảo nguồn thực phẩm cung cấp cho nhân dân và làm nghĩa vụ Nhà nớc
Với thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng cơ bản, phải xây dựng cơ cấu ngành nghề và có bớc đi thích hợp, tốc độ nhanh, hình thành huyện nông - lâm nghiệp phát triển, có 30% lao động lành nghề, tỷ trọng công
Trang 25nghiệp đạt tỷ trọng 40%, đảm bảo đủ công cụ cầm tay, lỡi cày, diệp cày, tăng lợng gạch, ngói, vôi, phát triển thêm một số trạm bơm điện tăng thêm hàng xuất khẩu, nắm hàng nắm tiền, đảm bảo tiền lơng, thực hiện các chính sách xã hội cải tiến công tác lu thông phân phối.
Tháng 12 năm 1986 Đại hội lần thứ VI của Đảng đợc khai mạc tại Thủ
đô Hà Nội với tinh thần dân chủ nhìn thẳng vào sự thật, khẳng định thành tựu, nghiêm khắc với khuyết điểm, Đại hội đã quyết định đổi mới sâu sắc và toàn diện sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng Chủ nghĩa xã hội Đại hội chủ trơng kiên quyết khắc phục t tởng nóng vội, chủ quan duy ý chí, nhấn mạnh quan
điểm coi quá độ lên Chủ nghĩa xã hội là gồm nhiều thời kỳ, nhiều chặng đờng phải đề ra các mục tiêu, các bớc đi thích hợp với mỗi thời kỳ theo đúng quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn Xã hội chủ nghĩa
Đại hội đã nêu ra các bài học đổi mới cần quán triệt là cách mạng là sự nghiệp của dân tộc do dân, vì dân, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ Đại hội Đảng đề ra các nhiệm vụ, giải pháp đổi mới kinh tế là
ra sức thực hiện 3 chơng trình kinh tế lớn, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, giải pháp mọi năng lực sản xuất
Đờng lối đổi mới của Đảng phù hợp với thực tế và yêu cầu khách quan,
đợc nhân dân cả nớc ta hởng ứng Đối với Hơng Khê, từ đây quá trình cách mạng Xã hội chủ nghĩa cũng bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới đi lên theo định hớng Xã hội chủ nghĩa
Theo đờng lối đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, theo chủ trơng của Đại hội Đảng bộ Nghệ Tĩnh lần thứ VII và của Đại hội Đảng bộ huyện, Đảng bộ Hơng Khê đã ra sức phấn đấu thực hiện nhiều biện pháp linh hoạt, năng động để đạt các mục tiêu đề ra, đa nền kinh tế Hơng Khê phát triển
“hoà bình” trong công cuộc đổi mới của đất nớc
2.2 Kinh tế Hơng Khê trong những năm đầu công cuộc đổi mới (1986 - 1995)
Trang 26Đờng lối đổi mới đất nớc do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đề ra thực sự đi vào cuộc sống của nhân dân Hơng Khê Từ đây,
Đảng bộ và nhân dân Hơng Khê đã biết khơi dậy những tiềm năng vốn có của mình để phát triển kinh tế
Trong những năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995), Hơng Khê đã đạt đợc những thành tựu đáng kể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội trong đó thành tựu nổi bật hàng đầu là về kinh tế Kinh tế H-
ơng Khê trong 10 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1995) đã có một bớc chuyển mạnh, nổi bật lên là kinh tế nông - lâm - ng nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thơng mại - dịch vụ, giao thông vận tải - thông tin liên lạc.Tuy nhiên kinh tế Hơng Khê vẫn còn bộc lộ những yếu kém trong quản lý cũng nh trong thực hiện cơ chế trờng
Trong 5năm 1986 - 1990, Đảng bộ và nhân dân Hơng Khê đã vận dụng những sáng tạo những chủ trơng chính sách của Đảng, Nhà nớc cùng với những kinh nghiệm tích luỹ, việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, những
đổi mới về cơ chế quản lý đã tạo ra sự chuyển bến tơng đối toàn diện trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp nhất là chơng trình lơng thực, thực phẩm
Với phơng châm lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu, gắn nông nghiệp với lâm nghiệp, nông nghiệp với công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, kết hợp với chuyên môm hoá với phát triển toàn diện, cân đối giữa trồng trọt, lúa và màu, cây lơng thực với cây công nghiệp Hơng Khê đã xác định mũi nhọn tập trung đầu t là thuỷ lợi, phân bón và các loại giống mới Thay đổi cơ
Trang 27cấu mùa vụ, phân bón và các loại giống mới Thay đổi cơ cấu mùa vụ cải tạo
đất trồng tuỳ theo từng loại đất, từng tiểu vùng kinh tế và bố trí các loại cây cho thích hợp để phát triển tối đa hiệu quả các loại cây công nghiệp trên từng vùng đất
Dới sự lãnh đạo sát sao của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp, nhân dân trong trong toàn huyện đã chú trọng phát triển các loại giống mới có năng suất cao phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của địa phơng Các loại giống mới đó có tính đề kháng sâu bệnh cao, đa lại hiệu quả rất khả quan cho sản xuất nông nghiệp ở Hơng Khê, đặc biệt việc áp dụng cơ chế khoán mới đã tạo
ra một sức bật lớn trong quá trình sản xuất của nông nghiệp Đảng bộ Hơng Khê khê đã kiên quyết chỉ đạo khoán đến từng hộ gia đình và từng cá nhân Từng bớc phát triển kinh tế hộ gia đình tuỳ theo từng tiểu vùng, không cứng nhắc khoán theo mô hình cụ thể nào Việc khoán sản phẩm đến ngời nông dân
đã tạo cho họ tâm lý thoải mái, phấn khởi yên tâm bớc vào sản xuất Họ thực
sự lao động và sản xuất trên trên mảnh ruộng đợc giao Nhờ đó diện tích đất và năng suất sản xuất nông nghiệp đợc mở rộng và nâng cao, diện tích cây lơng thực tăng bình quân là 7, 5% (1988 - 1990) trong đó, diện tích lúa nớc tăng 500ha Nửa năm 1989 do gặp khó khăn về thiên tai nên tổng sản lợng chỉ đạt 23.584 tấn thì đến năm1990 tổng sản lợng lơng thực quy ra thóc đạt 35.800 tấn tăng 17.300 tấn so với năm 1985 Sản xuất lơng thực Hơng Khê từng bớc đáp ứng nhu cầu lơng thực cho nhân dân, tạo ra nguồn lơng thực dự trữ và hàng hoá tiêu thụ trên thị trờng trong và ngoài huyện
Ngành chăn nuôi của huyện Hơng Khê cũng có những bớc chuyển mạnh
mẽ Nếu trớc năm 1986 đàn trâu 9.081 con, đàn bò 12.365 con, đàn lợn 22.509 con thì đến năm 1990 đàn trâu đã lên tới 21.000 con đàn lợn đạt 28.500 con, đàn bò đạt 22.500 con [2;4] Trong 5 năm 1986 - 1990, Hơng Khê
đã phát huy khơi dậy truyền thống chăn nuôi của nhân dân đa lại nguồn thu nhập đáng kể cho huyện
Trang 28Hơng Khê là huyện miền núi nên lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng Đảng bộ và chính quyền Hơng Khê đặt lên hàng đầu nhiệm vụ bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng, kiên quyết ngăn chặn nạn chặt phá rừng, đốt rừng bừa bãi Đảng bộ H… ơng Khê và các cấp chính quyền đã cử ngời tiến hành
điều tra phân vùng, quy hoạch sản xuất lâm nghiệp và tìm ra biện pháp để phát triển rừng Huyện đã tăng cờng một số vốn đàu t phơng tiện, nguồn lao động Hơng Khê thực hiện tốt việc định canh định c, giao đất, giao rừng làm cho các
đơn vị tập thể và nhân dân sử dụng lâu dài để làm chủ đất rừng nh làm chủ đất ruộng
Xây dựng các khu kinh tế tập trung nông - lâm - công nghiệp khai thác bảo quản, chế biến sử dụng gỗ và các loại cây lâm sản khác với hiệu quả kinh
Trong 5 năm 1991 - 1995, kinh tế nông - lâm - ng nghiệp của huyện
H-ơng Khê có nhiều chuyển biến tích cực
Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, Hơng Khê khai thác tốt những tiềm năng về đất đai, lao động sẵn có đa diện tích trồng lúa, trồng màu tăng lên Nên năm 1995 đạt 7.264 ha, từ 1991 - 1995 bình quân mỗi năm tăng 2% Trong đó một số cây trồng cơ bản là lúa, ngô, lạc tăng lên rõ nét nhất Đó chính là kết quả bớc đầu của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng của huyện Nhờ thế năm 1995 tổng sản lợng lơng thực đạt 24.000tấn (năm
1991 đạt 19.000 tấn) Bình quân lơng thực đầu ngời năm 1995 đạt 200kg/năm, những năm trớc đổi mới bình quân lơng thực cha đầy 150kg/năm [3;2] Hơng Khê có thể phân thành nhiều vùng kinh tế, mỗi vùng có một tiềm năng riêng
Trang 29Đối với những vùng trọng điểm lúa, Hơng Khê tập trung sản xuất những giống lúa có năng suất cao và có giá trị hàng hoá Những vùng có khả năng trồng màu tập trung nh ngô, lạc, đậu, mía cung cấp nguyên liệu cho các ngành tiểu thủ công nghiệp trên điạ bàn Để cho sản xuất nông nghiệp ngày càng có năng suất cao Hơng Khê đã tiến hành tu bổ, nâng cấp các trạm bơm, kênh mơng phục vụ tới tiêu kịp thời, Hơng Khê đã đa dần tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
áp dụng cho quá trình sản xuất góp phần tăng năng suất lao động cho ngời nông dân
Những thành tựu của trồng trọt đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển Hơng Khê đã đổi mới nâng cao chất lợng con giống và công tác bảo vệ vật nuôi, tăng trọng lợng xuất chuồng Nhiều địa phơng đã gắn chặt chăn nuôi với chế biến thức ăn gia súc bằng các nguyên liệu nông sản tại chỗ Chất lợng cũng nh số lợng đàn gia súc tăng lên một cách vợt bậc : đàn trâu năm 1995 đạt 14.698 con, đàn bò năm 1995 đạt 22.402 con tăng 10%, đàn lợn 32.000 con tăng 13% so với năm 1991[3;2]
Song song với việc phát triển đàn gia súc, gia cầm, bằng các chơng trình
dự án gắn với các hộ gia đình Các tổ chức đoàn thể xã hội đã chú ý phát triển chăn nuôi cá nớc ngọt trên 183 ha mặt nớc và hàng ngàn ao cá gia đình để chăn nuôi ếch, lơn, ba ba… đem lại hiệu quả kinh tế tơng đối cao, bổ sung vào thu nhập của nhiều hộ gia đình, góp phần vào ổn định cuộc sống sinh hoạt của nhân dân Những kết quả trên ấn định chủ trơng chính sách, biện pháp của
Đảng, Nhà nớc là rất hợp lý và đồng bộ, nhân dân Hơng Khê đã áp dụng vào thực tế địa phơng đem lại hiệu quả trong ngành chăn nuôi
Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng ở Hơng Khê trong 5 năm 1991 -
1995 đã đạt nhiều tiến bộ, huyện lấy chăn nuôi bảo vệ rừng xúc tiến tái sinh thiên nhiên là chính Hơng Khê đã tích cực phủ xanh đồi núi trọc tiếp tục thực hiện giao đất, giao rừng đến từng hộ gia đình chủ trơng gắn lâm nghiệp với các dự án, kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp Nhờ đó diện tích rừng đợc bảo vệ và quản lý là 19.217 ha Diện tích trồng rừng hàng năm tăng 200 ha,
Trang 30đến năm 1995 đã trồng đợc 6.000 ha rừng tập trung Trong đó có 4.000 ha Thông nhựa, trồng 3, 5 vạn cây phân tán, khoanh nuôi 3.800 ha, bảo vệ 40.000
ha, xây dựng xong quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên Vụ Quang với 54.000
ha Nhựa thông đã khai thác đợc 80tấn/năm So với năm cao nhất trong giai
đoạn (1986 - 1990) thì tổng số diện tích trồng rừng các năm 1994 - 1995 tăng 20% (bình quân trồng đợc 200ha) Giao đất rừng cho xã viên đạt 60%, nhiều
hộ gia đình, nhiều địa phơng sau khi nhận đất, nhận rừng đã tiến hành trồng tu
bổ, bảo vệ đem lại hiệu quả kinh tế cao Nhiều cánh rừng mới đợc trồng lên xanh tốt, kinh doanh rừng trở thành hớng mới vừa khai thác thêm tiềm năng
đất rừng vừa giải quyết đợc một số lao động Tốc độ tăng trởng giá trị lâm nghiệp từ 1991 - 1995 tăng 18, 4% [42; 350]
Trong 5 năm 1991 - 1995, kinh tế nông - lâm nghiệp Hơng Khê đã đạt những thành tựu cơ bản và hết sức quan trọng Bình quân lơng thực đầu ngời
đạt 200kg/năm Năng suất, sản lợng các cây lơng thực cơ bản không ngừng nâng lên Diện tích đất rừng đợc mở rộng, nhiều cánh rừng đợc mọc lên xanh tốt: Nông trờng chè 20/4, Lâm trờng Chúc A Kết quả đã góp chung vào ch-
ơng trình xoá đói giảm nghèo, từng bớc nâng cao đời sống của nhân dân trong toàn huyện
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, kinh tế nông - lâm -
ng nghiệp Hơng Khê vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém: nông nghiệp còn độc canh, cha thoát khỏi tình trạng của một huyện nghèo Năng suất cây trồng thấp, đầu t thâm canh yếu, chậm đổi mới Hợp tác xã, chậm giao đất giao rừng cho xã viên
Tuy còn nhiều yếu kém, song những kết quả thời kỳ 1991 - 1995 đã tạo thuận lợi cho Hơng Khê bớc vào thực hiện nhhững nhiệm vụ của thời kỳ mới
2.2.2 Kinh tế công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Cùng với việc tạo ra nhịp độ phát triển trong nông - lâm nghiệp, kinh
tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cũng đợc Đảng bộ huyện quan tâm
đúng mức
Trang 31Giai đoạn 1986 - 1990, huyện Hơng Khê tiếp tục tháo gỡ những vớng mắc do đổi mới cơ chế quản lý từ tập trung quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh tự chủ về tài chính Với việc vận dụng sáng tạo tinh thần Nghị quyết của Trung ơng về phát triển kinh tế ngoài quốc doanh, các Hợp tác xã chuyên doanh Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hơng Khê cũng đã có Nghị quyết về phát triển kinh tế quốc doanh, có chủ trơng, chính sách, biện pháp thích hợp đáp ứng đợc yêu cầu đổi mới Đó là chủ trơng tăng cờng, củng cố xí nghiệp quốc doanh làm ăn khá, giữ vững vai trò chủ đạo trên một số lĩnh vực
nh khoa học - kỹ thuật và công nghệ, đầy mạnh công nghiệp chế biến thức ăn gia súc Hơng Khê còn mở rộng đa dạng hoá các hình thức sản xuất kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, khai thác triệt để nguồn nguyên liệu tại chỗ Có chính sách khuyến khích ngời tài và các nghề truyền thống, quan tâm một bớc
về đào tạo dạy nghề Vì thế, trong 5 năm1986 - 1990, kinh tế công nghệp - tiểu thủ công nghiệp của Hơng Khê đã có những chuyển biến khá quan trọng,
đặc biệt là tiểu thủ công nghiệp Tổng giá trị tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân hàng năm trên 1% trong đó có một số mặt hàng tăng khá nhanh nh gạch, ngói, khai thác cát, sỏi và xay nghiền [2;6]
Những kết quả đó là tiền đề tạo đà cho sự phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong các giai đoạn tiếp sau đó
Trong giai đoạn 1991 - 1995, cùng với quá trình phát triển các ngành kinh tế nông - lâm nghiệp, các đơn vị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn Hơng Khê đợc sắp xếp và tổ chức lại cho hợp lý, nhiều xí nghiệp lâu nay làm ăn thua lỗ buộc phải giải thể, các xí nghiệp còn lại chuyển sang doanh nghiệp Nhà nớc và trực thuộc ngành tỉnh quản lý Nhờ đó các đơn
vị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Hơng Khê có điều kiện phục hồi và phát triển hoà nhập vào nền kinh tế chung trong toàn huyện Tổng giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hàng năm, năm 1991đạt 8, 3 tỷ
đồng [42;350]
Trang 32Nhiều cơ sở hợp tác xã và t nhân đã mạnh dạn bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh các mặt hàng nguyên liệu tại chỗ nh gạch, ngói, vôi, đa lại hiệu quả kinh tế cao Mặt hàng gạch ngói của Hơng Khê có uy tín đối với ngời tiêu dùng trong và ngoài huyện Các công ty trách nhiệm hữu hạn, các cơ sở dịch
vụ tiểu thủ công nghiệp sản xuất và chế biến lâm sản, thực phẩm sản xuất, cơ khí, sản xuất dụng cụ cầm tay hoạt động đa dạng góp phần giải quyết việc làm
và tăng thu nhập cho hàng ngàn lao động Kinh tế dịch vụ thực sự chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Hơng Khê làm cho thị trờng giá cả có những thay đổi, hàng hoá phong phú, đa dạng
đủ sức phục vụ nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của nhân dân kể cả vùng sâu, vùng xa trong toàn huyện Nhờ những cố gắng đó cho nên Hơng Khê đã thu lại đợc những kết quả cụ thể giá trị sản lợng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 1995 đạt 17 tỷ đồng so với năm 1991 là 8, 3 tỷ đồng
Mặc dù kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bớc đầu đã đạt đợc những kết quả nh vậy, nhng bên cạnh đó còn tồn tại nhiều yếu kém Về cơ cấu kinh tế Hơng Khê trong 10 năm đầu thực hiện công cuộc đổi mới thì kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn là chủ yếu Kinh tế còn mang nặng tính tự cung tự cấp Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn chậm Nhìn chung, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cha phát triển Công nghiệp yếu kém, thiếu quan tâm phát triển vùng Dâu, vùng nhựa Thông
2.2.3 Kinh tế thơng mại - dịch vụ
Thơng mại và dịch vụ là hai ngành kinh tế thứ yếu của Hơng Khê Trong
5 năm bớc đầu thực hiện công cuộc đổi mới (1986 - 1990), ngành thơng nghiệp đã bớc đầu thích nghi với cơ chế mới Lu thông phân phối phát triển hơn trớc, đáp ứng đầy đủ kịp thời các mặt hàng thiết yếu cho nhân dân Đã chú ý quan tâm đến vùng sâu, vùng xa Hơng Khê có định hớng củng cố Hợp tác xã mua bán, dần tháo gỡ những khó khăn về tổ chức, giải quyết nợ nần khê
Trang 33đọng Thơng nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn, đã tạo điều kiện cho các ngành kinh tế phát triển góp phần cải thiện đời sống vật chất cho nhân dân.Tuy nhiên, thơng mại, dịch vụ ở Hơng Khê cha đợc chú ý phát triển
đúng mực Kinh tế tài chính, thơng mại của huyện còn nhiều yếu kém Chế biến nông, lâm sản yếu, cung ứng dịch vụ còn cứng nhắc, để thất thoát nhiều nguồn thu nhất là các loại thuế sát sinh, thuế nông nghiệp, thuế công thơng nghiệp, Vẫn còn nhiều ngời, nhiều cơ sở cha nghiêm túc giao - nộp thuế, dây
da nợ khê đọng còn nhiều Hiện tợng ỉ lại, trông chờ cấp trên còn nặng, bội chi ngân sách còn kém, mỗi năm trên 1 tỷ đồng
Tình hình đó đòi hỏi Đảng bộ và các cấp chính quyền Hơng Khê có những chính sách hợp lý để mở rộng và phát huy những tiềm năng lợi thế của huyện, tạo điều kiện cho ngành kinh tế thơng mại - dịch vụ phát triển có chỗ
đứng trong cơ cấu kinh tế của huyện
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI (1991 - 1995), 5 năm tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới Đảng bộ và nhân dân Hơng Khê đã phát huy thuận lợi, vợt qua khó khăn giành đợc nhiều kết quả bớc đầu có ý nghĩa quan trọng Kinh tế có bớc tăng trởng, trong đó thơng mại - dịch vụ có bớc phát triển mới Đến năm 1995 đạt 12 tỷ đồng tăng 8, 5 tỷ
so với năm 1991, chiếm 6, 85% GDP Ngân hàng đã có đổi mới tăng cờng đầu
t phục vụ sản xuất thâm canh Năm 1991 đã có hàng ngàn hộ đợc vay vốn phát triển chăn nuôi
Công tác tài chính có nhiều cố gắng, việc xây dựng và quản lý nguồn thu có nhiều tiến bộ Thu tại huyện năm 1991 đạt 1, 95 tỷ đồng, năm 1995 đạt
2, 8 tỷ đồng [42;351] Tổng sản phẩm tiểu thủ công nghiệp trong 5 năm 1991
- 1995 đạt 23.5 tỷ đồng [ 40;152]
2.2.4 Giao thông vận tải - thông tin liên lạc
Giao thông vận tải và thông tin liên lạc là hai ngành chiếm vị trí cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Hơng Khê Giao thông thông suốt,