1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sĩ ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM với VIỆC đổi mới tư DUY đối NGOẠI TRONG CÔNG CUỘC đổi mới (1986 2001)

76 643 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 771 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối ngoại là một lĩnh vực quan trọng và đặc biệt nhạy cảm đối với mọi quốc gia trên thế giới. Nó góp phần cùng đường lối đối nội quyết định đến sự tồn tại, phát triển của đất nước, của dân tộc. Vì vậy, đường lối, chủ trương, chính sách và hoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia dân tộc, mỗi chế độ chính trị, bao giờ cũng giữ vị trí quan trọng hàng đầu.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối ngoại là một lĩnh vực quan trọng và đặc biệt nhạy cảm đối với mọi quốcgia trên thế giới Nó góp phần cùng đường lối đối nội quyết định đến sự tồn tại,phát triển của đất nước, của dân tộc Vì vậy, đường lối, chủ trương, chính sách vàhoạt động đối ngoại của mỗi quốc gia dân tộc, mỗi chế độ chính trị, bao giờ cũnggiữ vị trí quan trọng hàng đầu

Ở nước ta, kể từ khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đến nay,dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã hình thành mộtnền ngoại giao cách mạng Kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin, kết tinh tư tưởng vàphong cách ngoại giao Hồ Chí Minh; kế thừa truyền thống tinh hoa của dân tộc vàvăn hoá của nhân loại, mặt trận ngoại giao đã thu được nhiều thắng lợi to lớn, gópphần xứng đáng vào việc nâng cao uy tín và vị thế của Đảng, của cách mạng ViệtNam trên trường quốc tế

Ngày nay, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, mặt trận đối ngoạitiếp tục thu được nhiều thành tựu to lớn, hiệu quả Đối ngoại đã và đang trở thànhchiếc cầu nối liền Việt Nam với thế giới, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển mọimặt về kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội

Có được thành tựu to lớn trên lĩnh vực đối ngoại trong thời kỳ đổi mới là kếtquả tổng hợp của nhiều yếu tố mang lại, là sự nỗ lực cố gắng của toàn Đảng, toàndân, của các ngành, các cấp, các địa phương và cả hệ thống chính trị Tuy nhiên,yếu tố quan trọng hàng đầu và quyết định nhất phải bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúngđắn sáng tạo của Đảng trên mặt trận đối ngoại Đảng đã đổi mới tư duy đối ngoạiphù hợp với xu thế tất yếu của đất nước và tình hình quốc tế Đó thực chất là mộtquá trình chuyển hoá đường lối, từ tư duy cũ, giáo điều, máy móc, sang tư duykhoa học biện chứng; từ đối đầu chuyển sang đối thoại, hoà bình; từ quan hệ vớimột số nước xã hội chủ nghĩa là chủ yếu chuyển thành "đa dạng hoá, đa phươnghoá quan hệ đối ngoại" Điều đó đánh dấu một quá trình đổi mới tư duy sáng tạotrong suốt hơn 15 năm đổi mới (1986 - 2001) Có được đường lối đúng đắn ấy, bởi

nó bắt nguồn từ lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; truyền thống văn hoáViệt Nam và từ những kinh nghiệm quý báu của nền ngoại giao cách mạng được Đảng ta kế thừa, phát triển nâng lên tầm cao mới của thời đại; góp phầnxứng đáng vào những thắng lợi to lớn, quan trọng của sự nghiệp đổi mới đấtnước Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Đảng vẫn cómột số mặt yếu kém, bất cập như: chưa dự đoán hết tình hình, đặc biệt là sự sụp

đổ của Liên Bang Xô Viết (12/1991) Hiệu quả hội nhập và hợp tác quốc tế chưacao, còn để lúng túng, sơ hở nên ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội Thủ

Trang 2

tục hành chính còn phiền hà, môi trường đầu tư chưa thông thoáng nên đầu tưnước ngoài vào còn chậm và hiệu quả không cao Sự phối hợp giữa các ngành,các cấp chưa đồng bộ, năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại chưatương xứng Bên cạnh đó sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch trênmặt trận đối ngoại ngày càng tinh vi, phức tạp, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phảitiếp tục đổi mới tư duy đối ngoại theo hướng mở rộng và nâng cao chất lượng,hiệu quả hội nhập và hợp tác quốc tế, xứng đáng với tầm vóc và vị thế ngày càngcao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Việc luận giải, làm sáng tỏ cơ sở khoa học và tính đúng đắn sáng tạo quá trìnhđổi mới tư duy đối ngoại của Đảng là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa lý luận vàthực tiễn sâu sắc, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước và quátrình hội nhập quốc tế Mặt khác, để góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng cho cán

bộ, đảng viên và nhân dân, nâng cao ý thức trách nhiệm và hiệu quả trong từng mặthoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời làm thất bại mọi âm mưu,thủ đoạn chống phá của kẻ thù, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơn nữa cho sựnghiệp đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đồng thời gópphần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội

Vì vậy, tôi chọn đề tài: " Đảng Cộng sản Việt Nam với việc đổi mới tư duy đối ngoại trong công cuộc đổi mới (1986 - 2001)" , nhằm làm sáng tỏ cơ sở khoa học

của quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng trong 15 năm qua, đồng thời rút

ra một số kinh nghiệm góp phần hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng ta trongthời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Đảng Cộng Sản Việt Nam đổi mới tư duy đối ngoại thời kỳ 1986 - 2001 là mộtchủ đề rộng lớn được giới nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Trong đó,tiêu biểu là các công trình khoa học của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước:nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, "Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trongcộng đồng thế giới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996; nguyên Tổng

Bí thư Lê Khả Phiêu, "Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh", Tạp chíNghiên cứu quốc tế, Số 4, Tháng 8 năm 2000; Chủ tịch nước Trần Đức Lương,

"Khái quát các hoạt động đối ngoại năm 2000"; nguyên phó Thủ tướng NguyễnMạnh Cầm, "Ngoại giao Việt Nam trong thời đại mới", Tạp chí Cộng sản, Số 17,Tháng 9 năm 2000 Các nhà ngoại giao: Lưu Văn Lợi, "50 năm ngoại giao ViệtNam"; Đinh Nho Liêm, "Tiến tới xây dựng lý luận ngoại giao Việt Nam"; VũKhoan, "Một số vấn đề quốc tế của Đại hội VII"; Trần Quang Cơ, "Cục diện thếgiới, vận nước" Một số công trình khoa học: "Chính sách đối ngoại của Đảng thời

kỳ đổi mới (1986 - 1996)", Luận án thạc sĩ khoa học của Bùi Trung Thành; Kỷ yếu

Trang 3

Hội thảo khoa học: "50 năm ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng" củaHọc viện Quan hệ quốc tế; Kỷ yếu đề tài KX.01.12 thuộc chương trình khoa họccông nghệ Nhà nước KX.01: "Quan hệ đối ngoại và chính sách đối ngoại của nướcta" của Ban đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; "Vai trò lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước" của Nguyễn TrọngPhúc; "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1986 -1996", Luận án tiến sĩ khoa học lịch sử của Vũ Quang Vinh; "Tìm hiểu tư tưởng HồChí Minh về một số vấn đề quốc tế", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1995, Giáo sư Phan Ngọc Liên chủ biên; "Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000",Nguyễn Đình Bin chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Thông qua các bài viết của mình, các tác giả trên đã đề cập đến nhiều vấn đề

về quan điểm, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng ta trong thời kỳ mới; sựtác động của tình hình thế giới, tình hình trong nước đến hoạt động đối ngoại củaĐảng ta; luận giải những thuận lợi, những khó khăn trên con đường hội nhập,đồng thời đưa ra một số kinh nghiệm và giải pháp phục vụ hoạt động đối ngoạicủa Đảng ta ở từng giai đoạn lịch sử nhất định Tuy nhiên, chưa có một côngtrình nào đề cập một cách trực tiếp và hệ thống đến quá trình đổi mới tư duy đốingoại của Đảng ta thời kỳ 1986 - 2001, dưới góc độ khoa học lịch sử Đảng Đây

là những tài liệu quý, tác giả có thể kế thừa, tiếp thu để xây dựng luận văn củamình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích: Làm sáng tỏ cơ sở khoa học của quá trình đổi mới tư duy đối

ngoại, trên cơ sở đó chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối đối ngoại

do Đảng ta đề xướng, lãnh đạo Thông qua đó khẳng định sự nhạy cảm về chính trị

và kinh nghiệm hoạt động đối ngoại của Đảng trên con đường đổi mới đất nước vàhội nhập quốc tế

4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

- Cơ sở lý luận của luận văn: Nghiên cứu, trình bày đề tài này, tôi dựa trên cơ sở

lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm vàchính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 4

- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng chủ yếu phương pháp lịch sử, phương pháp

lô gíc và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp này với nhau, ngoài ra còn sử dụng một

số phương pháp như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, phương pháp chuyêngia

5 Ý nghĩa của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm cơ sở góp phần tổng kết quá trìnhĐảng lãnh đạo và chỉ đạo hoạt động đối ngoại

- Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sửĐảng Cộng sản Việt Nam trong nhà trường quân đội

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn kết cấu thành 2 chương, 4 tiết

Chương 1 TÍNH TẤT YẾU VÀ QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI

TƯ DUY ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG TỪ 1986 ĐẾN 2001 1.1 Tính tất yếu đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng

1.1.1 Tình hình thế giới có nhiều biến động to lớn, phức tạp đòi hỏi Đảng

ta phải đổi mới tư duy đối ngoại

Trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, tình hình thế giới có nhiều biếnđộng to lớn, phức tạp trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, trong đó những biến động

về chính trị, kinh tế và quan hệ quốc tế đã mở màn cho những bước phát triển và biếnđổi có tính chất bước ngoặt

Từ những năm 70 của thế kỷ trước, cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế trên nhiềunước Nhiều công nghệ mới ra đời như tin học, vật liệu mới, công nghệ sinh học,năng lượng mới, công nghệ nano với đặc trưng nổi bật là sự xâm nhập ngày càngnhanh của tri thức và công nghệ cao vào tất cả các ngành, các lĩnh vực của đờisống xã hội Tri thức, khoa học, công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác động sâu sắc đến quátrình phát triển của nhân loại; làm thay đổi cơ cấu và bộ mặt kinh tế toàn cầu dẫnđến những thay đổi to lớn trong các mối quan hệ chính trị - xã hội giữa các nước,các tổ chức quốc tế, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình toàn cầu hoá, liên kết khu vực,liên kết châu lục, làm xuất hiện ngày càng nhiều thể chế đa phương, songphương Nhìn chung, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã tác

Trang 5

động và cuốn hút tất cả các nước ở mức độ khác nhau Nó đã đem lại động lực thúcđẩy mạnh mẽ cho quá trình tăng trưởng kinh tế thế giới Kết quả rõ ràng mà cuộccách mạng khoa học - công nghệ hiện đại mang lại chính ở chỗ nó đã tạo ra nhữngđộng lực mới cho quá trình phát triển, động lực đó chính là trí tuệ con người Đây

là một đặc trưng mới rất cơ bản của lực lượng sản xuất hiện đại Với lực lượng sảnxuất đó, quá trình phát triển chuyển từ việc dựa chủ yếu vào các lợi thế truyềnthống như tài nguyên, vốn và kỹ thuật từng bước nhường chỗ cho lợi thế về trithức, về khoa học và năng lực sáng tạo áp dụng công nghệ mới Trong quá trìnhphát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, toàn cầu hoá đượcxem như là một hệ quả tất yếu của quá trình ấy Toàn cầu hoá đã làm cho nền kinh

tế thế giới cũng như từng quốc gia trở nên năng động hơn, liên kết chặt chẽ hơn,tăng trưởng GDP cao hơn, dòng vốn, hàng hoá và công nghệ lưu chuyển nhanhhơn, đó là những yếu tố tạo nên môi trường thuận lợi cho tất các nước Theo nghĩa

đó, xét toàn cục cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cũng như toàn cầuhoá đem lại cơ hội phát triển to lớn chưa từng thấy cho tất cả các quốc gia

Tuy nhiên, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và quá trình toàn cầuhoá cũng đã và đang tạo ra sự chênh lệch trong quá trình phát triển không đồng đều

Sự chênh lệch giữa giàu và nghèo ngày càng gia tăng dẫn tới sự chênh lệch về tiềmlực tài chính, tiềm lực kinh tế và năng lực trí tuệ càng dẫn tới sự chênh lệch về cơhội phát triển Sự chênh lệch đó ngày càng đẩy khoảng cách phát triển với một giatốc cao hơn và như vậy, nguy cơ tụt hậucủa các nước nghèo, các nước chậm pháttriển đang biến thành hiện thực gay gắt

Trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại cũng như quá trình toàncầu hoá, Việt Nam coi đây là một thời cơ tốt để phát triển đất nước, đồng thời nócòn là một thách thức không nhỏ đối với một nước nghèo, chậm phát triển nhưnước ta Nếu chúng ta tận dụng được các yếu tố thuận lợi; tham gia vào các quan

hệ kinh tế toàn cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, các thành phầnkinh tế mở rộng kinh doanh, khai thác các nguồn lực về vốn, kinh nghiệm quản lý,công nghệ, thị trường của thế giới để phát triển sản xuất trong nước, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, nâng cao đời sống nhândân Mặt khác, chúng ta cũng phải chấp nhận "luật chơi" với các nước giàu từnhững quy định, những cam kết rất khắt khe trong quan hệ song phương và đaphương Hội nhập càng sâu rộng, càng phải chấp nhận những yếu tố bất trắc khólường, phải chấp nhận cạnh tranh trên phạm vi quốc tế Đối với nước ta còn phảichấp nhận thách thức từ những âm mưu "diễn biến hoà bình"

Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, chủnghĩa tư bản đã từng bước điều chỉnh để thích nghi và phát triển Chúng tăng cường

Trang 6

chống phá phong trào cách mạng thế giới mà trọng điểm là các nước xã hội chủnghĩa, trong đó có Việt Nam.

Trước hết, chủ nghĩa tư bản hiện đại đã tận dụng được những thành tựu củakhoa học công nghệ vào quá trình sản xuất xã hội, nhờ đó mà tạo ra năng suất laođộng cao hơn hẳn so với hệ thống xã hội chủ nghĩa Cũng nhờ áp dụng thành côngnhững tiến bộ mới của khoa học công nghệ hiện đại mà chủ nghĩa tư bản đã đẩynhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân, cải thiện mức sốngcủa người lao động và giải quyết được nhiều vấn đề xã hội

Cùng với việc tận dụng các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, chủ nghĩa

tư bản thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế , hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại,các ngành sản xuất vật chất tiếp tục được hiện đại hoá với tỷ trọng thay đổi theochiều hướng giảm, dịch vụ trở thành một bộ phận rất quan trọng của nền kinh tếvới tỷ trọng ngày càng cao Các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng nhanh,tính hiện đại, tính năng động cao, vì vậy chiến lược điều chỉnh cơ cấu trở thànhmột nội dung quan trọng trong phát triển kinh tế

Về hình thức sở hữu chủ nghĩa tư bản cũng có những điểu chỉnh lớn, đa dạnghoá các hình thức sở hữu: sở hữu độc quyền nhà nước, độc quyền xuyên quốc gia,độc quyền liên nhà nước Kết hợp sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước, tư nhân, tậpđoàn tư bản lớn, thậm chí cả người lao động Bên cạnh hình thức sở hữu tư liệu sảnxuất, với sở hữu lao động còn xuất hiện hình thức sở hữu trí tuệ Các hình thức sởhữu thay đổi làm cho các quan hệ quản lý, quan hệ phân phối cũng thay đổi theo và

có nhiều biểu hiện phong phú Hiện nay chủ nghĩa tư bản đang chú ý mở rộng cổphần hoá tư bản đối với người lao động Đây là một hành động thức thời và khônngoan của nhà tư bản, một mặt họ huy động được tiền nhàn rỗi trong người laođộng, mặt khác biến người lao động trở thành những "ông chủ nhỏ" bên cạnhnhững ông chủ thực sự, biến họ thành những người "cùng giai cấp", xoá nhoà ranhgiới giai cấp và xoa dịu đấu tranh của người lao động

Trong quan hệ tổ chức quản lý có sự thay đổi, giai cấp tư sản khai thác tối đanăng lực trí tuệ của người lao động vào việc phục vụ lợi ích cho giai cấp tư sản,chừng mực nào đó họ tạo ra "dân chủ" cho người lao động Dựa vào những thànhtựu mới của khoa học và tổng hợp các biện pháp kinh tế, tâm lý, xã hội để tạo rađộng lực tìm kiếm sáng tạo, làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí, làm chongười lao động dễ chấp nhận hơn trước

Trong vấn đề phân phối, do phát triển kinh tế nên giai cấp tư sản có điều kiện đểlàm "từ thiện" họ dành một phần lợi nhuận phân phối cho người lao động, dưới hình

Trang 7

thức tăng lương, chia tiền thưởng, trả lợi nhuận trong cổ phiếu tương đối phổ biến.Nhà nước tư bản còn dành ngân sách giải quyết vấn đề phúc lợi công cộng Tuynhiên, xét đến cùng thì nguồn gốc phân phối này là do kết quả của người lao động

bỏ ra chứ không phải của nhà tư sản

Thực chất của quá trình điều chỉnh chiến lược này là mở rộng chế độ tham dự đối với người lao động, làm cho họ nhầm tưởng mình đang có nhiều "quyền lợi"hơn trong chế độ tư bản, họ không chỉ tham dự vào chế độ sở hữu tư nhân tư bản

mà vốn trước đây là điều cấm kỵ đối với người lao động, từ đó họ còn được thamgia vào cả quá trình quản lý và quá trình phân phối Với chế độ tham dự này giaicấp tư sản đã "nhất cử lưỡng tiện" đạt cùng lúc cả hai mục đích kinh tế và chính trị

Đó là một bước điều chỉnh phù hợp, do đó chủ nghĩa tư bản đã thích nghi và vẫncòn tiềm năng phát triển

Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản hiện đại vẫn gặp những giới hạn không thể vượtqua do bản chất của chế độ tư nhân chiếm hữu tư liệu sản xuất qui định Chủ nghĩa

tư bản vẫn dựa trên sự bóc lột giá trị thặng dư để tồn tại, song hình thức, phươngpháp và qui mô bóc lột đã có sự biến đổi, bằng cách đầu tư chiều sâu, áp dụngthành tựu của khoa học công nghệ hiện đại; đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, quốc tếhoá quá trình bóc lột

Trong chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại nhiều bất bình đẳng, giai cấp tư sản ngàycàng giàu lên, giai cấp công nhân và nhân dân lao động ngày càng bị bần cùng hoá(mặc dù cuộc sống của họ được cải thiện hơn trước), tệ nạn xã hội ngày càngnhiều, thất nghiệp, khủng hoảng vẫn tồn tại nhiều hình thức mới Mâu thuẫn cơbản của chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại gay gắt và biểu hiện ngày càng phức tạp.Trước tình hình đó chủ nghĩa tư bản đã liên tục có những bước điều chỉnh chínhsách đối nội và đối ngoại:

Về đối nội, chủ nghĩa tư bản đã tiến hành phát triển nền kinh tế theo chiều sâu,

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, đổi mới quản lý kinh tế, tăng phúclợi công cộng, quan tâm chính sách phát triển giáo dục, đào tạo thu hút nhân tài,đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học, quan tâm phần nào đến cuộc sống củangười lao động tạo ra sự ổn định tạm thời cho chế độ tư bản chủ nghĩa

Về đối ngoại, trong những thập kỷ 60, 70 chúng tăng cường chạy đua vũ trang

đẩy tình hình thế giới vào thế đối đầu căng thẳng Chúng liên tục thay đổi chiếnlược chống phá cách mạng thế giới, chống phá hệ thống xã hội chủ nghĩa Bằngcác chiến lược "ngăn chặn", "vượt trên ngăn chặn", chiến lược "mở rộng", "triệt

Trang 8

tiêu kẻ thù" và hiện nay là "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ, chủ nghĩa tư bản

đã không từ bất kỳ một âm mưu thủ đoạn nào đểchống phá cách mạng thế giới màtrọng tâm là các nước xã hội chủ nghĩa Chúng chống phá Đảng, chia rẽ Đảng, tuyêntruyền cho chủ nghĩa đa nguyên, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin; kếthợp "diễn biến hoà bình" từ bên trong, bên trên với bao vây, cấm vận, phá hoại vềkinh tế, cô lập về chính trị, ngoại giao và răn đe quân sự Rõ ràng với bản chấtbóc lột và hiếu chiến của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi Mặc dầu cho đếnnay một số nước xã hội chủ nghĩa đã tan rã, khối quân sự Vac-sa-va không còn,chiến tranh lạnh kết thúc Nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn tiếp tục gây chiến tranh,gây ra nhiều tội ác cho nhân loại Đó là một trong những yếu tố khách quan đòi hỏiĐảng ta phải đổi mới chính sách đối ngoại để có những đối sách mới phù hợptrong quan hệ quốc tế

Cùng với tình hình trên, những biến đổi to lớn, sâu sắc từ công cuộc cải cách,cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi mới

tư duy đối ngoại của Đảng ta

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại đã mở đầu cho một thờiđại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toànthế giới Từ đó đến nay lịch sử phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải quanhiều bước thăng trầm với bao nhiêu biến cố dữ dội và phức tạp Lịch sử thế giớihiện đại đã ghi nhận vai trò to lớn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới như mộtlực lượng hùng mạnh chi phối nhiều quá trình, nhiều lĩnh vực của thế giới hiện đại.Chính hệ thống xã hội chủ nghĩa lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã thực thinhững lý tưởng cao đẹp của các thời đại khác nhau trước đó đã từng mơ ước như

tự do, bình đẳng, bình đẳng nam nữ, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, màu da,chấm dứt tình trạng dân tộc này áp bức dân tộc khác

Quá trình tồn tại và phát triển của mình, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã gópphần quyết định vào việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, một vết nhơ trong lịch sửnhân loại Cũng trong quá trình phát triển của mình chủ nghĩa xã hiện thực đã thựchiện những bước tiến vĩ đại trong giải phóng giai cấp, từng bước tiến tới giảiphóng xã hội, giải phóng con người, đưa con người lên làm chủ cuộc sống củamình, xoá bỏ chế độ người bóc lột người Từ những nền kinh tế lạc hậu chậm pháttriển, trong bối cảnh chiến tranh tàn phá và sự bao vây cô lập của chủ nghĩa tư bản,nhưng trong một thời gian ngắn hệ thống xã hội chủ nghĩa đã xây dựng và pháttriển nhanh chóng có những mặt, những lĩnh vực đuổi kịp và vượt chủ nghĩa tưbản Trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, Liên Xô từ một nước phát triển trung bình

Trang 9

trở thành một siêu cường, có tiềm lực kinh tế, tiềm lực quốc phòng hùng mạnh, cónền công nghiệp hiện đại, một nền khoa học và công nghiệp vũ trụ hàng đầu thếgiới, đi đầu trong chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ Hệ thống xã hội chủnghĩa thế giới cũng giải quyết được nhiều vấn đề xã hội phức tạp mà qua mấy trămnăm chủ

nghĩa tư bản không giải quyết nổi như những vấn đề về y tế, giáo dục, hạn chế

tệ nạn xã hội, hình thành trong xã hội những mối quan hệ tốt đẹp, một lối sốngmới, con người mới, tạo ra những động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển.Chủ nghĩa xã hội hiện thực còn là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạnggiải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân laođộng các nước tư bản chủ nghĩa Đó là những thành tựu to lớn mà hệ thống xã hộichủ nghĩa đã ghi đậm dấu ấn vào lịch sử thế giới hiện đại, đó là những điều không

ai phủ nhận được

Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại và phát triển, bên cạnh những thành tựu tolớn nói trên, chủ nghĩa xã hội hiện thực cũng bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém

mà ngyên nhân sâu xa là do thiết kế mô hình xã hội chủ nghĩa giáo điều, máy móc

Về kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, không chấp nhậnkinh tế thị trường, vội vàng xoá bỏ các thành phần kinh tế "phi xã hội chủ nghĩa",

cơ cấu kinh tế bất hợp lý, công nghiệp hoá chủ yếu dựa vào công nghiệp nặng, quy

mô lớn; không tận dụng được thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiệnđại, năng suất lao động xã hội thấp, chi phí lớn, hiệu quả kém, sản xuất không gắnliền thị trường, không tuân theo quy luật cung cầu làm triệt tiêu động lực pháttriển kinh tế

Về chính trị, đường lối chính trị phổ biến là giáo điều, rập khuôn, máy móc,

nhận thức rơi vào chủ quan, duy ý chí, không tuân theo quy luật khách quan, nhậnthức lý luận rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm hoặc lý luận tách rời thực tiễn Trongxây dựng Nhà nước, nặng về hình thức, bộ máy cồng kềnh, quan liêu, kém hiệulực, nhiều nơi tình trạng tham nhũng, mất dân chủ nặng Dẫn tới đời sống của nhândân khó khăn, một bộ phận nhân dân hoài nghi, dao động, thậm chí mất niềm tinđối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa Trong quan hệ quốc tế thì tăng cườngchạy đua vũ trang, do đó, bị cuốn vào cuộc chiến tranh lạnh, luôn luôn ở tình trạngđối đầu căng thẳng Trong nội bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa vẫn còn mối quan hệbất bình đẳng, bao cấp, áp đặt Hậu quả là bước vào cuối thập niên 70 và nhữngnăm 80, cả hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào khủng hoảng toàn diện về kinh tế - xãhội Đứng trước thực trạng đó, các nước đã tiến hành cải cách, mở cửa, cải tổ, đổimới, nhằm đem lại sức sống mới trong đời sống hiện thực, khắc phục những sai lầmtrước đây Thế nhưng, điều đáng tiếc là trong quá trình cải tổ, cải cách, đổi mới ở một

Trang 10

số nước lại không diễn ra như mong muốn Đảng Cộng sản đã phạm những sai lầmnghiêm trọng về đường lối cải tổ, sai lầm về mục tiêu và cả hình thức, bước đi ỞLiên Xô lúc đầu tập trung vào "cải tổ" kinh tế, sau đó lại tập trung vào "cải tổ" chínhtrị, từ bỏ những giá trị truyền thống, xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩaMác - Lênin, đi chệch quỹ đạo xã hội chủ nghĩa Những người lãnh đạo cao nhất củaĐảng và Nhà nước Xô Viết trở thành những kẻ phản bội, cơ hội, xét lại Bên cạnh

đó chủ nghĩa đế quốc lại tăng cường chống phá bằng chiến lược "diễn biến hoàbình" làm cho các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô tan vỡ, Đảng Cộngsản mất quyền lãnh đạo

Sự sup đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã làmthay đổi cục diện tình hình thế giới, thay đổi tương quan so sánh lực lượng không cólợi cho cách mạng Nước ta mất đi một chỗ dựa vững chắc cả về chính trị tinh thần,

cả về tiềm lực quốc phòng, kinh tế Mặc dù đây là sự khủng hoảng và sụp đổ của một

mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể chứ không phải sụp đổ một lý tưởng, một họcthuyết cách mạng và khoa học, nhưng thực tế đó lại đặt cách mạng Việt Nam trướcnhững thử thách mới Đòi hỏi Đảng ta phải có sự chuyển hướng cả trong tư duy vàhành động, cả chủ trương và biện pháp đối ngoại nhằm tạo ra môi trường ổn địnhtiếp tục đưa cách mạng tiến lên

Như vậy, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vàquá trình điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản, cùng với sự khủng hoảng dẫntới sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô là những nhân

tố chủ yếu tác động vào quá trình đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có quá trìnhđổi mới tư duy và đổi mới hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Bên cạnh

đó, loài người đang đứng trước những vấn đề toàn cầu như môi trường sinh thái ônhiễm, sự gia tăng dân số nhanh, bệnh tật hiểm nghèo, tội phạm quốc tế, nguy cơchiến tranh là những vấn đề đòi hỏi cộng đồng quốc tế, có chung tiếng nói và sựphối hợp hiệu quả giữa các quốc gia để cùng giải quyết Trong bối cảnh đó, đòi hỏinước ta phải hoà nhập cùng cộng đồng quốc tế, vì một thế giới hoà bình, ổn định

Trang 11

thiết xây dựng đất nước và đã giành được những thành tựu quan trọng về pháttriển kinh tế - xã hội, về an ninh quốc phòng và đối ngoại Trong một thời gianngắn ta đã đẩy mạnh mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế với các nước trongkhu vực châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh.

Tuy nhiên, công cuộc xây dựng tiến hành chưa được bao lâu thì Việt Nam lạiđứng trước những thử thách mới nghiêm trọng trong quan hệ quốc tế Quan hệ ViệtNam với các nước láng giềng có chung đường biên giới xuất hiện nhiều trắc trở vàphát triển theo chiều hướng ngày càng phức tạp Các thế lực thù địch trong vàngoài khu vực phối hợp chống phá Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 12năm 1976 đã đề ra đường lối chung cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạnmới là: "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhândân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sảnxuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đócách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá là nhiệm

vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng nền sản xuất lớn

xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hoá mới; xây dựng con người mới xã hội chủnghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người; xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu, khôngngừng đề cao cảnh giác thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chínhtrị và trật tự an toàn xã hội, xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độclập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh củanhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội" [15,tr.67]

Về đối ngoại, Đại hội lần thứ IV của Đảng đề ra nhiệm vụ: "Ra sức tranh thủnhững điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh,khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, khoa học - kỹ thuật, củng cốquốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồngthời tiếp tục kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả các dântộc trên thế giới đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xãhội" [15, tr.178]

Thực tiễn 10 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1976 - 1986) dưới sự lãnh đạo củaĐảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế - xãhội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đã tiếnthêm một bước, đại bộ phận nông dân Nam Bộ đi vào con đường sản xuất tập thể,đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên có nhiều tiến bộ trong sự nghiệp xây dựng cuộcsống mới Cùng với việc áp dụng những thành tựu về khoa học - kỹ thuật, việc thựchiện khoán sản phẩm cuối cùng đến người lao động trong nông nghiệp đã góp phầntạo nên bước phát triển trong sản xuất nông nghiệp

Trang 12

Nhà nước và nhân dân ta đã cố gắng chăm lo bảo đảm được các nhu cầu quốcphòng - an ninh, thi hành chính sách hậu phương quân đội Phát triển sự nghiệpvăn hoá, thể thao, giáo dục, y tế góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền vănhoá mới, con người mới Các hoạt động khoa học - kỹ thuật được triển khai gópphần thúc đẩy sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp Trong cả nước xuất hiệnnhiều cơ sở sản xuất kinh doanh giỏi, nhiều địa phương, nhiều ngành có cách làm

ăn năng động sáng tạo và đạt được những thành tích đáng phấn khởi Trong chiếnđấu bảo vệ Tổ quốc, chúng ta đã làm thất bại thêm một bước quan trọng âm mưuphá hoại của kẻ thù, củng cố hơn nữa khả năng quốc phòng của đất nước, củng cốthế trận chiến tranh nhân dân, củng cố chính trị ở địa bàn xung yếu, xây dựng lựclượng dự bị Quân đội ta đã có bước phát triển theo hướng chính quy, hiện đại; sứcmạnh chiến đấu được nâng cao Lực lượng dân quân, tự vệ được tăng cường cả về

số lượng và chất lượng Việc kết hợp kinh tế với quốc phòng và huy động quân độitham gia xây dựng kinh tế đạt một số hiệu quả thiết thực, nhất là xây dựng cáccông trình công nghiệp và các công trình giao thông

Quân và dân ta tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ quốc tế với Lào và Cămpuchia,củng cố liên minh chiến lược 3 nước trên bán đảo Đông Dương, cùng nhau tăngthêm thế và lực cho cách mạng của mỗi nước

Những thành tựu đạt được trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược gắn liền vớithành công trong lĩnh vực đối ngoại, trong đó sự tăng cường quan hệ và hợp tác toàndiện với Liên Xô, Lào, Cămpuchia và các nước xã hội chủ nghĩa anh em đã tạo chocách mạng Việt Nam những nhân tố mới để tiếp tục tiến lên

Bên cạnh đó, chúng ta cũng đứng trước nhiều khó khăn thử thách gay gắt Đảngcũng chỉ ra những sai lầm khuyết điểm của mình, thể hiện: lạc hậu về nhận thức lýluận, vừa "tả khuynh" vừa "hữu khuynh" trong việc tổ chức thực hiện; có nhiều saisót trong đánh giá tình hình; chưa nhận thức đầy đủ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội là một quá trình lịch sử tương đối dài, phải trải qua nhiều chặng đường; tưtưởng chủ quan nóng vội, phạm sai lầm trong xác định mục tiêu và bước đi, trongxây dựng củng cố quan hệ sản xuất mới, sử dụng các thành phần kinh tế, về phânphối lưu thông, về xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, về thựchiện chuyên chính vô sản Thời kỳ này chúng ta cũng mắc nhiều sai lầm nhất là

về chính sách kinh tế, duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, xoá bỏcác thành phần kinh tế "phi" xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền kinh tế thuần nhất có

2 hình thức sở hữu chủ yếu quốc doanh và tập thể Hậu quả là: lưu thông phân phốirối ren, cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩachậm được củng cố, đời sống của nhân dân khó khăn, người lao động không cóviệc làm, hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, kỷ cương phép nước khôngnghiêm, cán bộ quan liêu, nạn tham nhũng lan tràn Về đối ngoại, thời kỳ này

Trang 13

cũng gặp nhiều khó khăn do chúng ta chưa chuyển hướng kịp thời hoạt động đốingoại cho phù hợp với tình hình mới, tư duy trên lĩnh vực đối ngoại còn thụ động,theo lối mòn cũ, chưa xoay chuyển kịp với tình hình, nhận định, đánh giá tình hình

về bạn thù còn cứng nhắc, cho nên chỉ tập trung vào quan hệ với các nước trong phe

xã hội chủ nghĩa mà chủ yếu là Liên Xô mà chưa chú ý đến quan hệ với các nướctrong khu vực, các nước có chế độ chính trị khác ta và các tổ chức quốc tế Tất cảnhững hạn chế đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cách mạng nước ta,chưa tận dụng và khai thác được nhiều tiềm năng quốc tế Thực trạng đó, đòi hỏiĐảng ta phải đổi mới tư duy, đổi mới đường lối và hệ thống các chủ trương, chínhsách đối ngoại cho phù hợp với điều kiện mới của tình hình quốc tế và tình hìnhtrong nước, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới, tranh thủđược nhiều hơn nữa tiềm năng và các nguồn lực từ bên ngoài phục vụ cho sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thế giới có nhiều biến

động phức tạp trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệquốc tế Nó có tác động ảnh hưởng rất to lớn tới tình hình mọi mặt của mọi quốcgia trong cộng đồng quốc tế Bên cạnh đó, cách mạng Việt Nam đã giành đượcnhiều thành tựu quan trọng, song cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.Nhận thức đúng đắn thực trạng đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề xướng đườnglối đổi mới toàn diện đất nước, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại mà thực chất

là từng bước đổi mới đường lối, đổi mới chính sách và các chủ trương, biện pháptrong công tác đối ngoại cho phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế Chophép khai thác hiệu quả nguồn lực bên trong với nguồn lực bên ngoài, sức mạnhdân tộc với sức mạnh thời đại, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước

1.2 Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng từ 1986 đến 2001

1.2.1 Chủ trương thêm bạn bớt thù, chọn khâu đột phá, từng bước chuyển hướng chiến lược đối ngoại giai đoạn 1986 - 1991

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) đề ra đường lối đổimới toàn diện đất nước, đây là một bước ngoặt lịch sử trên con đường xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật,đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội đã đánh giá khách quan thành tựu,những khuyết điểm và nguyên nhân của 10 năm (1976 - 1986) Trên cơ sở đó Đạihội kết luận: "Đối với nước ta, đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cáchmạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn" [17, tr.125] Đổi mới theo tinh thần Đại hội

VI của Đảng là đổi mới toàn diện, đồng bộ, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế Đổimới không phải là phủ định sạch trơn mà phải biết kế thừa những thành quả của

Trang 14

những năm trước đó, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xãhội chủ nghĩa; đồng thời phải biết từ bỏ những sai lầm vừa qua; đổi mới toàn diện,đồng bộ nhưng phải có bước đi, hình thức phù hợp để đem lại sức sống cho chủnghĩa xã hội nhiều hơn Một chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nhữngnguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, phù hợp với thực tiễn Việt Nam vàthời đại của chúng ta.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá, nhận định tình hình thế giới và trong nước, Đạihội xác định nhiệm vụ đối ngoại của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là:

"Ra sức kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại phấn đấu giữ vững hoàbình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam Á và trênthế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, tăng cường quan

hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hộichủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chungcủa nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội"[17, tr.99] Đường lối đối ngoại được Đại hội VI xác định là hoàn toàn đúng đắn,bởi nó được xây dựng trên cơ sở thế giới quan khoa học Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, phù hợp với những điều kiện thực tiễn Việt Nam và những biến độngcủa tình hình quốc tế và trong khu vực

Lênin đã chỉ ra rằng: " nghệ thuật mềm dẻo, biết tính đến những điều kiệnkhách quan đã thay đổi mà nhanh chóng và đột nhiên thay đổi sách lược, chọn mộtcon đường khác để đi tới đích của chúng ta, nếu con đường cũ trong một thời giannhất định nào đó xem ra không còn thích hợp nữa" [32, tr.189]

Thành công hay thất bại trong đường lối và chính sách đối ngoại trong mọiquốc gia, ở mọi thời đại ngoài việc phải "kiên định về chiến lược, mềm dẻo về sáchlược", "dĩ bất biến, ứng vạn biến" còn phụ thuộc vào một phần rất quan trọng làthực lực của đất nước Điều này đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Thực lực mạnh,ngoại giao sẽ thắng lợi Thực lực là cái chiêng, ngoại giao là cái tiếng, chiêng có

to, tiếng mới lớn" [36, tr.126]

Trong lúc nền kinh tế nước ta còn yếu kém, lạc hậu, cơ sở vật chất - kỹ thuậtcòn nghèo nàn, đời sống của nhân dân và cán bộ đảng viên còn gặp nhiều khó khăn ; cộng với sự chống phá quyết liệt của kẻ thù, đòi hỏi Đảng phải đổi mới chínhsách đối ngoại, coi đối ngoại là một đối sách quan trọng để đảm bảo độc lập chủquyền, toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời mở rộng hội nhập quốc tế để thu hút nguồn lực

từ bên ngoài như: vốn, khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý kinh tế để xâydựng và phát triển đất nước Đại hội VI xác định quan điểm chỉ đạo công tác đốingoại là: "Giương cao ngọn cờ hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kếthợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân,

Trang 15

giữ vững độc lập tự chủ, tăng cường hợp tác và làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối vớinhân dân thế giới, trong lúc tranh thủ hoà bình ổn định để tập trung xây dựng đấtnước, phát triển kinh tế, đồng thời cảnh giác bảo vệ anh ninh, phòng thủ đất nước,tuyệt đối không lơ là mất cảnh giác, coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Đây là sự vận dụng sáng tạo học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về sứ mệnhlịch sử của giai cấp vô sản trong điều kiện lịch sử mới Giai cấp vô sản chỉ có thểthực hiện thắng lợi sứ mệnh của mình khi biết tổ chức và đoàn kết lại, nghĩa là phảibiết kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế của giai cấpcông nhân Đồng thời quan điểm trên cũng xác định tính thống nhất hữu cơ giữanhiệm vụ đối ngoại với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa

Cùng với việc xác định rõ đường lối, quan điểm đổi mới, Đại hội VI của Đảngcũng xác định chính sách đối ngoại đối với từng nước, từng khu vực, cụ thể là: Đốivới Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam xác định Liên Xô là đối tácquan trọng nhất Liên Xô luôn đóng vai trò quan trọng trong hệ thống xã hội chủnghĩa thế giới, luôn có ảnh hưởng sâu sắc, giữ vai trò quyết định, chi phối quá trìnhphát triển của thế giới và của hệ thống xã hội chủ nghĩa Sự giúp đỡ của Liên Xôđối với Việt Nam là rất to lớn và hiệu quả Tính đến năm 1986, sau hơn 30 nămLiên Xô và Việt Nam ký các hiệp định thương mại, trao đổi hàng hoá giữa hainước tăng 100 lần, Liên Xô đã giúp Việt Nam hơn 200 dự án trong các ngành kinh

tế quan trọng Liên Xô đã đào tạo "miễn phí" cho Việt Nam một đội ngũ chuyêngia với khoảng 20.000 người có trình độ đại học; 2.000 phó tiến sĩ, 70 tiến sĩ trongnhiều lĩnh vực khoa học và ngành nghề khác nhau Với các nước xã hội chủ nghĩakhác, Đại hội VI xác định: "Tiếp tục tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác vớicác nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng quan hệ với các nước

xã hội chủ nghĩa khác" [17, tr.101] Việt nam và các nước xã hội chủ nghĩahợp tác từ hình thức viện trợ kinh tế, kỹ thuật tiến tới hợp tác toàn diện trên mọilĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, an ninh, quốc phòng Việt Nam gianhập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) (29/6/1978), cùng các nước ký nhiều hiệpđịnh song phương và đa phương Với Trung Quốc, Nghị quyết Đại hội VI xácđịnh: "Việt nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấpnào và bất cứ ở đâu nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, vì lợi ích củanhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới" [17, tr.107] Đếnđây quan hệ Việt - Trung đã được xác định cụ thể hơn trước Sự thay đổi đó làmdịu đi những căng thẳng vốn có giữa hai nước, phù hợp với xu thế chung của thờiđại và nguyện vọng của nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc Đối vớiphong trào giải phóng dân tộc, thái độ trước sau như một của Đảng và Nhà nướcViệt Nam là ủng hộ phong trào Sau khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhấtđất nước, nhiều nước vốn là thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã vùng lên giành

Trang 16

độc lập, những nước này có chung nguyện vọng là được sống trong hoà bình,bình đẳng giữa các quốc gia, cùng hợp tác xây dựng đất nước, hội nhập với cộngđồng thế giới ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, khẳng định lập trường củaViệt Nam về mong muốn có một thế giới hoà bình, bình đẳng, hợp tác giữa cácquốc gia, không có bất kỳ sự phân biệt, kỳ thị nào.

Đối với các nước tư bản chủ nghĩa và các nước phương Tây, Đảng ta chủtrương quan hệ bình đẳng cùng có lợi, ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của giai cấpcông nhân và nhân dân lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa chống áp bức, bóclột, chống chạy đua vũ trang, vì hoà bình, dân chủ, việc làm và cải thiện mức sốngcho người lao động ủng hộ chính sách đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng dân chủ,tiến bộ của các Đảng Cộng sản và công nhân

Đối với Mỹ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương: "Tiếp tục bàn bạc với

Mỹ để giải quyết vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại và cùng cải thiện quan hệvới Mỹ về lợi ích của hoà bình, ổn định ở Đông Nam Á" [17, tr.108]

Đối với các nước có chế độ chính trị khác nhau, Việt Nam " ủng hộ chính sáchcùng tồn tại hoà bình giữa các nước có chế độ chính trị và xã hội khác nhau, loạitrừ chiến tranh xâm lược và mọi hình thức của chủ nghĩa khủng bố, nhất là chủnghĩa khủng bố nhà nước mà đế quốc Mỹ coi là quốc sách của họ" [17, tr.105].Như vậy, Đại hội VI (12/1986) đã quyết định đổi mới tư duy trên mọi lĩnhvực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó tư duy đối ngoại đã có những chuyểnđộng tích cực theo hướng "mềm dẻo" và "sẵn sàng đối thoại" Điều đó đánh dấunhững tiến triển bước đầu của Đảng về đổi mới tư duy đối ngoại

Tiếp theo Nghị quyết Đại hội VI, tháng 5 năm 1988 Bộ Chính trị Ban Chấphành Trung ương Đảng khoá VI đã họp và thông qua Nghị quyết 13 về: Nhiệm vụ

và chính sách đối ngoại trong tình hình mới Đây là mốc quan trọng trong việc đổimới tư duy đối ngoại theo định hướng mới Nghị quyết nhấn mạnh: "Lợi ích caonhất của Đảng và nhân dân ta sau khi giải phóng miền Nam cả nước thống nhất đilên chủ nghĩa xã hội là phải củng cố và giữ vững hoà bình để tập trung sức xâydựng và phát triển kinh tế Đó là nhân tố quyết định củng cố và giữ vững an ninh

và độc lập" [42, tr.3]

Ở Việt Nam lúc này, mục tiêu đặt ra hàng đầu là phải củng cố và giữ vững hoàbình, để tập trung sức xây dựng và phát triển kinh tế Trong tình hình mới ta cónhững thuận lợi lớn để có thể giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế, bên cạnh đó,

Bộ Chính trị cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém về kinh tế, bị bao vây về kinh tế,

cô lập về chính trị, sẽ thành nguy cơ lớn đối với an ninh, chủ quyền đất nước, sẽảnh hưởng xấu đến quan hệ của nước ta với nước khác trong khu vực và trên thế

Trang 17

giới Bộ Chính trị kết luận: "Cần có quan điểm mới về an ninh và phát triển trongthời đại ngày nay để khẳng định mạnh mẽ phương hướng ưu tiên tập trung cho sựnghiệp giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế Với một nền kinh tế mạnh, mộtnền quốc phòng vừa đủ mạnh cùng với sự mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, chúng

ta sẽ càng có nhiều khả năng giữ vững độc lập và xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội hơn" [42, tr.3-4] Để thực hiện mục tiêu "giữ vững hoà bình phát triển kinhtế", Bộ Chính trị chỉ đạo tập trung giải quyết những vấn đề sau: ra sức lợi dụng sựphát triển khoa học, công nghệ và xu thế quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới Kiênquyết mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác quốc tế vào làm kinh tế thực sự có hiệuquả Vừa nâng cao quan hệ hợp tác với Liên Xô, Lào, Cămpuchia và các nước xãhội chủ nghĩa khác vừa ra sức đa dạng hoá quan hệ, tăng cường quan hệ với các

nước, chú trọng ấn Độ, Inđônêxia, các nước Đông Nam Á - Thái Bình Dương, các

nước công nghiệp mới

Từng bước giảm quân số và từng bước giảm chi phí quốc phòng tới mức tốithiểu, cần thiết vừa để dồn sức phát triển kinh tế vừa để biểu thị mạnh mẽ với thếgiới quyết tâm của ta là giữ vững hoà bình và phát triển kinh tế Trong quan hệquốc tế chúng ta phải "thêm bạn, bớt thù", ra sức tranh thủ các nước anh em bầubạn và dư luận rộng rãi trên thế giới phân hoá hàng ngũ đối phương làm thất bại

âm mưu và thủ đoạn bao vây, cô lập ta về kinh tế, chính trị, kiên quyết chủ độngchuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp táctrong cùng tồn tại hoà bình

Rõ ràng, đây là những vấn đề mới, rất quan trọng trong tư duy đối ngoại củaĐảng mà Đại hội VI chưa đề cập tới Tư tưởng "đa dạng hoá quan hệ", "thêm bạnbớt thù" và "kiên quyết chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ tình trạng đối đầu hiệnnay sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình"

Những vấn đề trên đây đã thể hiện tính sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta về việcvận dụng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnhmới của đất nước Một mặt, mở rộng quan hệ quốc tế, tranh thủ được nhiều bạnđồng minh, tránh phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc Mặt khác, chủ trươngtrên của ta thể hiện tính chủ động và thiện chí của Đảng và Nhà nước ta trong quan

hệ quốc tế Lênin chỉ ra rằng: "Chỉ có thể thắng một kẻ địch mạnh hơn bằng một

nỗ lực hết sức lớn và với điều kiện bắt buộc phải lợi dụng hết sức tỷ mỷ, hết sứcchăm chú, hết sức cẩn thận, hết sức khôn khéo bất cứ một rạn nứt nhỏ bé nhất nàogiữa các kẻ thù cũng như lợi dụng mọi khả năng dù nhỏ bé nhất, để có được mộtbạn đồng minh tạm thời, bấp bênh có điều kiện, ít chắc chắn và ít đáng tin cậy"[31, tr.69] Lịch sử ngoại giao Việt Nam đã cho thấy rằng, ngay từ những ngày đầu

Trang 18

mới thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức khéo léo thể hiện tư tưởng

"thêm bạn, bớt thù" và "hết sức tránh một mình phải đối phó với nhiều kẻ thù trongmột lúc" Đồng thời Nghị quyết chỉ đạo một số chính sách lớn về đối ngoại nhưsau:

Đối với Liên Xô, tiếp tục coi Liên Xô là đồng minh chiến lược quan trọng nhất

của ta, quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sựnghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Đối với Trung Quốc, ta chủ trươngsớm sửa đổi điều ghi trong Hiến pháp chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền TrungQuốc, chấm dứt đả kích lẫn nhau , mở rộng tiếp xúc với Trung Quốc bằng nhiềuhình thức , cần phòng ngừa những tư tưởng lệch lạc có thể xảy ra trong nhân dân.Quá trình chuẩn bị dư luận khi có sự chuyển hướng chiến lược với Trung Quốc là:không chỉ thấy Trung Quốc có tư tưởng bá quyền nước lớn mà không thấy TrungQuốc là một nước xã hội chủ nghĩa, ngược lại, không chỉ thấy Trung Quốc là mộtnước xã hội chủ nghĩa mà không

thấy tư tưởng bá quyền nước lớn trong giới cầm quyền Trung Quốc Đối với Lào và Cămpuchia, tăng cường hợp tác nâng cao hơn nữa quan hệ với Lào, thựchiện quyền tự quyết của các dân tộc, chuẩn bị rút hết quân tình nguyện khỏiCămpuchia và Lào, tạo điều kiện cho Cămpuchia tiếp tục đấu tranh trong khuôn khổhoà bình ở Đông Nam Á Đối với ấn Độ, cần có chính sách toàn diện tăng cường vànâng cao hiệu quả hợp tác nhiều mặt, tạo nên sự gắn bó về lợi ích làm cơ sở cho sựhợp tác lâu dài giữa hai nước Đối với Mỹ, ASEAN và phương Tây, ta không đối lậpnhóm ba nước Đông Dương với ASEAN, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học

kỹ thuật và văn hoá với các nước này bằng thương lượng, thúc đẩy việc xây dựngkhu vực hoà bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác Đối với Mỹ, cần có chính sách mớitoàn diện với Mỹ nhằm tranh thủ dư luận nhân dân Mỹ và thế giới phân hoá Mỹ

Ta cần giải quyết vấn đề MIA (người Mỹ mất tích), vấn đề người di tản ra đi có trật

tự, mở đàm phán về việc cho người được thả ra khỏi các trại cải tạo đi Mỹ, khuyếnkhích Mỹ vào Việt Nam trao đổi khoa học kỹ thuật văn hoá hai nước Đối vớiphương Tây, cần tranh thủ từng bước mở rộng quan hệ với các nước phương Tây, cóchính sách tích cực thúc đẩy quan hệ kinh tế, khoa học kỹ thuật, trước hết là với Pháp,Thụy Điển, Phần Lan, các nước Tây Âu, Bắc Âu khác và Nhật Bản, Oxtrâylia Cần

mở rộng quan hệ với các nước công nghiệp mới, giải quyết đúng đắn các mâu thuẫngiữa mặt chính trị và kinh tế như Hàn Quốc và Đài Loan

Nghị quyết Đại hội VI đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, Nghịquyết 13 Bộ Chính trị (5/1988) là mốc đánh dấu sự chuyển hướng chỉ đạo chiếnlược đối ngoại trong giai đoạn cách mạng mới Nghị quyết 13Bộ Chính trị là tiền

đề tạo ra những bước đột phá quan trọng trong công tác đối ngoại

Trang 19

Thứ nhất, với chủ trương "thêm bạn bớt thù" và chủ trương "đa dạng hoá quan

hệ đối ngoại" nhằm tập trung sức giữ vững hoà bình, phát triển kinh tế Việt Nam

đã chuyển đổi lập trường từ đối đầu sang đối thoại, mở ra một thời kỳ mới trongquan hệ quốc tế

Thứ hai, trên cơ sở những tiến bộ đạt được sau Nghị quyết 13 Bộ Chính trị,

việc quyết định rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia trước thờihạn dự định một năm (26/9/1989) là một quyết định mang tính đột phá Việc rúthết quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia, để người Cămpuchia tự giải quyếtcông việc nội bộ của mình, chứng tỏ tinh thần quốc tế vô sản trong sáng trước saunhư một của Việt Nam với bạn bè quốc tế Việc rút quân tình nguyện Việt Namkhỏi Cămpuchia còn là một đòn đánh vào những luận điệu thù địch, xuyên tạc ViệtNam "xâm lược Cămpuchia" và lấy đó làm nguyên cớ cho việc gây áp lực, baovây, cấm vận và cô lập ta về kinh tế, chính trị Giải quyết "êm đẹp" vấn đềCămpuchia giúp cho nhiều quốc gia trên thế giới hiểu đúng Việt Nam hơn, ngănchặn dư luận không thiện chí, xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch

Thứ ba, giải quyết vấn đề Cămpuchia cũng tạo ra cơ sở quan trọng để tiến tới

bình thường hoá Việt Nam - Trung Quốc, từng bước cải thiện quan hệ với Mỹ, cácnước Đông Nam Á và các nước phương Tây

Như vậy, với việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đối ngoại kịp thời Côngtác đối ngoại thời kỳ 1986 - 1991 đã gặt hái được những thành công quan trọngbước đầu, tạo ra những tiền đề quan trọng, cần thiết cho việc mở ra một thời kỳmới: phá thế bao vây cấm vận của các thế lực thù địch, đa dạng hoá, đa phươnghoá quan hệ đối ngoại

1.2.2 Chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, từng bước phá thế bao vây cô lập của các thế lực thù địch giai đoạn 1991 - 1996

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) trong bối cảnh đấtnước và thế giới có nhiều thay đổi

Từ Đại hội VI của Đảng, đường lối đổi mới đã đi vào cuộc sống và đã tạo ra sựchuyển biến rõ nét Đặc biệt từ giữa năm 1988 trở đi, các chủ trương, chính sáchđổi mới bắt đầu mang lại kết quả, tình hình kinh tế và đời sống nhân dân dầnđược cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tincủa nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên Mặc dầu vậy, Việt Nam vẫn chưathoát ra khỏi cuộc khủng hoảng về kinh tế - xã hội, sản xuất vẫn đình đốn, chỉ sốlạm phát vẫn ở mức cao (năm 1991: 67%), tệ quan liêu, tham nhũng, các tệ nạn

xã hội tiếp tục gia tăng, đời sống của người lao động vẫn khó khăn Bên cạnh

đó, cũng xuất hiện nhiều nhân tố mới nảy sinh đòi hỏi Đảng phải sáng suốt trongđánh giá tình hình cũng như các biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện Đó là hiệntượng xuất hiện tư tưởng hoài nghi, dao động về vai trò lãnh đạo cách mạng của

Trang 20

Đảng, về chủ nghĩa Mác - Lênin, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở ViệtNam sau một loạt nước Đông Âu tan rã, Liên Xô đang đứng bên bờ vực của sựtan rã, cộng với sự chống phá của các thế lực thù địch Đứng trước tình hình

đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định với mục tiêu, lý tưởng của mình,vẫn tin tưởng vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội, vào tương lai tươi sáng củaloài người "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam" do Đại hội VII thông qua đã khẳng định: "Lịch sử thế giớiđang trải qua những bước ngoặt quanh co phức tạp; song loài người nhất định sẽtiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hoá của lịch sử" [19, tr.8]

Với niềm tin mãnh liệt đó, Đại hội VII đã xác định mục tiêu tổng quát 5 năm(1991 - 1995) là: "vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế - xãhội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đưa nước ta

cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay" [18, tr.60]

Về đường lối đối ngoại, Đại hội VII xác định: "Nhiệm vụ đối ngoại bao trùmtrong thời gian tới là giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác,tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo

vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dânthế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội" [18, tr.88]

Xác định nhiệm vụ đối ngoại trong tình hình mới, Đảng ta đã thể hiện sự kếthừa đường lối và chính sách đối ngoại do Đại hội VI đề ra, kế thừa, phát triển Nghịquyết 13 Bộ Chính trị khoá VI (5/1988) Điều đó có ý nghĩa hết sức to lớn trong việcđịnh hướng nhận thức, tư tưởng cho cách mạng Việt Nam trước diễn biến phức tạpcủa tình hình thế giới và tình hình trong nước; thể hiện được sự kết hợp lợi ích dântộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế; ngăn ngừa được khuynhhướng xa rời mục tiêu, chỉ coi trọng lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài củađất nước, của cách mạng

Về phương châm đối ngoại, Đại hội VII xác định: "hợp tác bình đẳng cùng cólợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trênnguyên tắc cùng tồn tại hoà bình" [16, tr.88]

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đề ra chủ trương mở rộng quan hệ hữu nghị vàhợp tác quốc tế, chủ động tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệđối ngoại, trở thành mẫu mực cho một thời kỳ phát triển mới trong quan hệ quốc tế,quan hệ với tất cả các nước, các chế độ chính trị khác nhau Đây là điều mà trướcĐại hội VI chưa ai dám nghĩ tới, bởi nhiều lý do khác nhau, song để tạo ra được "tưduy mới" mang tính cách mạng ấy, Đảng ta phải trải qua một quá trình đấu tranhgian khổ trong hoạt động thực tiễn, trong tổng kết những kinh nghiệm hoạt động đối

Trang 21

ngoại Chủ trương "đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ đối ngoại" trở thànhnhân tố mới, tiếp thêm sức mạnh cho hoạt động đối ngoại của Đảng ta trên conđường đổi mới.

Đại hội VII xác định: Trước sau như một tăng cường đoàn kết và hợp tác vớiLiên Xô, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hợp tác Việt - Xô nhằm đápứng lợi ích của mỗi nước Không ngừng củng cố, phát triển quan hệ đoàn kết, hữunghị đặc biệt Việt Nam - Lào và Cămpuchia, chú trọng đến hiệu quả theo nguyêntắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau; thúcđẩy quá trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc, từng bước mở rộng quan

hệ hợp tác Việt - Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông quathương lượng; củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị, đoàn kết, hợp tác với Cu Ba

và các nước xã hội chủ nghĩa khác; Đảng Cộng sản Việt Nam tăng cường quan hệvới các Đảng Cộng sản và công nhân, góp phần tích cực vào sự hợp tác giữa cácđảng anh em trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin đấu tranh vì những mục tiêu cao cảcủa thời đại đoàn kết với các lực lượng đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc,dân chủ và tiến bộ xã hội, sẵn sàng thiết lập và mở rộng quan hệ với các đảng xãhội - dân chủ, các phong trào dân chủ và tiến bộ trên thế giới; nâng cao hiệu quảhợp tác nhiều mặt với ấn Độ, tích cực góp phần củng cố và tăng cường phong tràokhông liên kết; phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ở Đông Nam Á và châu Á

- Thái Bình Dương, phấn đấu cho một Đông Nam Á hoà bình, hữu nghị và hợp tác

Mở rộng sự hợp tác bình đẳng với các nước Bắc Âu, Tây Âu, Nhật Bản Thúc đẩyquá trình bình thường hoá quan hệ với Hoa Kỳ; góp phần làm cho Liên hợp quốcphục vụ đắc lực hơn những mục tiêu của nhân loại Hợp tác với các tổ chức tàichính và tiền tệ quốc tế, các tổ chức phi chính phủ với chính sách đối ngoại rộng

mở, Đại hội VII tuyên bố rằng: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trongcộng động thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển" [18, tr.147]

Với chính sách đối ngoại rộng mở, Đảng ta đã thể hiện sự kế tục tư tưởng ngoạigiao Hồ Chí Minh trong điều kiện mới: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nướcdân chủ và không gây thù oán với một ai" [37, tr.220] Tư tưởng đó vừa thể hiệnlập trường và nguyện vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, đồng thời nó cũngkhẳng định quyết tâm mở cửa, hội nhập của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá,khắc phục được khuynh hướng đơn điệu, cứng nhắc trước đây, tạo ra sức sống mớicho hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta

Sau Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, tình hình thế giới tiếp tục cónhững diễn biến phức tạp theo chiều hướng bất lợi, đặc biệt sự kiện Liên BangCộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết tan rã (25/12/1991) đã gây ra sự chấn độngmạnh mẽ đối với toàn thế giới Đối với Việt Nam sự kiện đó đã tác động tiêu cựcnhiều mặt, đặc biệt là tác động vào niềm tin, vào tình cảm của cán bộ, đảng viên và

Trang 22

nhân dân ta về chế độ xã hội chủ nghĩa, về tương lai của Đảng, của cách mạng ViệtNam Trước tình hình đó, tháng 6 năm 1992, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã

mở Hội nghị lần thứ 3 Hội nghị đề ra những quyết sách về đối ngoại có giá trị to lớn

cả về lý luận và thực tiễn Trước hết Nghị quyết xác định rõ những xu thế chủ yếutrong quan hệ quốc tế

Một là, các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự học tự cường, đấu tranh

chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, đặc biệt là của chủ nghĩa đế quốc

để giữ vững hoà bình, bảo vệ độc lập và phát triển Xu hướng này nổi lên ngàycàng rõ nét

Hai là, các nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực

lượng cách mạng khác trên thế giới kiên trì đi theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, phấn đấu vì một

xã hội mới tốt đẹp: độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc

Ba là, các nước đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, vừa

cải thiện quan hệ đối ngoại vừa hợp tác liên kết các nước trong khu vực

Bốn là, các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu

tranh trong cùng tồn tại hoà bình

Đây là những căn cứ quan trọng để hoạch định đường lối, chính sách đối ngoạicủa Đảng ta Nghị quyết chỉ rõ tư tưởng và phương châm chỉ đạo của Đảng trongcông tác đối ngoại thời gian tới là: giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và chủnghĩa xã hội; đồng thời phải rất năng động sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với vị trí,điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thếgiới và khu vực, phù hợp với đặc điểm từng đối tượng ta có quan hệ

Rõ ràng, ở thời điểm này vấn đề "độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội" làvấn đề hết sức nhạy cảm đối với nước ta Vì vậy, phải xác định rõ vấn đề có tínhnguyên tắc này, bởi "độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội" là vấn đề thuộc vềmục tiêu lý tưởng của Đảng, của cách mạng Việt Nam; đây cũng là thành quả cáchmạng mà biết bao nhiêu thế hệ người Việt Nam đã hy sinh xương máu mới cóđược; đồng thời đây cũng là mục tiêu chống phá điên cuồng của các thế lực thùđịch Do vậy, kiên định mục tiêu trên là nguyên tắc bất di bất dịch, xuyên suốt mọichủ trương, chính sách và hoạt động đối ngoại Mặt khác, trong tình hình quốc tế

có nhiều phức tạp, thuận lợi, khó khăn; thời cơ, thách thức, vừa hợp tác, vừa đấutranh đan xen nên đòi hỏi Đảng ta vừa phải giữ vững nguyên tắc, nhưng phảinăng động, linh hoạt và sáng tạo trong xử lý các mối quan hệ quốc tế Phải căn cứvào tình hình cụ thể, những điều kiện lịch sử cụ thể mà xác lập mối quan hệ vớicác đối tượng với nội dung, hình thức và mức độ phù hợp Trong giải quyết songphương, đa phương phải khéo léo, uyển chuyển, không vì những mâu thuẫn nhỏ,

Trang 23

những khó khăn trước mắt mà hy sinh lợi ích lâu dài, không vì cục bộ, mà hy sinhtoàn cục Trong các mối quan hệ phải luôn luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộclên trên hết thảy mọi lợi ích khác Có như vậy hoạt động đối ngoại mới mang lạihiệu quả Nếu xa rời nguyên tắc sẽ dẫn tới chệch hướng, nếu giáo điều, máy móc

sẽ không mang lại hiệu quả, thậm chí còn gây nên những hậu quả khó lường

Cùng với việc xác định tư tưởng chỉ đạo chính sách đối ngoại, Nghị quyết cònchỉ ra phương châm chỉ đạo công tác đối ngoại bao gồm: vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội, bảo đảm lợi ích dân tộc chân chính, kết hợp nhuần nhuyễn chủnghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập tựchủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại;nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế; tích cực tham giahợp tác khu vực, đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước

Nhằm cụ thể mục tiêu, tư tưởng chỉ đạo và phương châm xử lý các mối quan hệquốc tế, Nghị quyết Trung ương 3 khoá VII (6/1992) đã nêu lên một số chính sáchđối ngoại của Đảng và Nhà nước ta với một số đối tượng cụ thể, đặc biệt chú ý đếnvai trò của các nước trong khu vực Đông Nam Á, với Trung Quốc và các nước lớn,đồng thời đề cập đến các mối quan hệ khác trên thế giới Những chính sách đó đãnhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả Quan hệ quốc tế của Đảng vàNhà nước được mở rộng, từng bước phá thế bao vây, cấm vận của các thế lực thùđịch, uy tín và vị thế của Đảng, của cách mạng Việt Nam ngày càng nâng cao trêntrường quốc tế

Những quyết sách đúng đắn về đối ngoại của Hội nghị Ban Chấp hành Trungương lần thứ 3 (khoá VII) càng khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duyđối ngoại năng động, sắc sảo và nhạy bén của Đảng ta trong những thời điểm thửthách, trong những bước ngoặt của cách mạng

Tiếp theo Hôi nghị Trung ương lần thứ 3 (khoá VII) là Hội nghị đại biểu toànquốc giữa nhiệm kỳ (01/1994), các nội dung chính sách đối ngoại của Đại hội VII

và Nghị quyết Trung ương lần thứ 3 (khoá VII) tiếp tục được khẳng định Hội nghịnhấn mạnh: "Phải thấy rõ khó khăn và thách thức, cũng như những thuận lợi và cơhội của nước ta, theo dõi sát diễn biến phức tạp trong quan hệ quốc tế để có chủtrương thích hợp, giữ vững nguyên tắc nhưng năng động, linh hoạt" Để thực hiệnchính sách đối ngoại, Hội nghị đề ra nhiệm vụ: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng,quản lý của Nhà nước, tăng cường công tác nắm tình hình, dự báo chiến lược đểkịp thời ứng phó với tình huống phức tạp xảy ra Đẩy mạnh hoạt động thông tin

Trang 24

đối ngoại phù hợp với tình hình, phối hợp có hiệu quả giữa các ngành, các cấptrong hoạt động ngoại giao, chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ có đủ phẩm chất,năng lực chuyên môn nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu công tác đối ngoại (kể cảkinh tế đối ngoại) trong thời gian tới.

Như vậy, Đảng ta vẫn kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ trên nền tảng

lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, giữ vững mụctiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở,

đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Hội nghị cũng chỉ ra 4 nguy cơ màngành ngoại giao cũng phải quán triệt, vận dụng để cùng toàn Đảng, toàn dân từngbước đẩy lùi nguy cơ đó, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệchhướng xã hội chủ nghĩa; nguy cơ của tệ tham nhũng, quan liêu và suy thoái vềphẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên; nguy cơ "diễn biến hoàbình" của chủ nghĩa đế quốc

Trong giai đoạn 1991 - 1996: cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảngvẫn gặp nhiều khó khăn chồng chất, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế -

xã hội, đời sống nhân dân tuy có được cải thiện nhưng vẫn còn rất khó khăn , lạiảnh hưởng nặng nề từ sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và LiênXô nhưng với đường lối đổi mới đúng đắn, chúng ta đã giành được những thànhtựu bước đầu rất quan trọng Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: chúng ta đã đẩynhanh nhịp độ phát triển kinh tế (GDP bình quân 1991 - 1995 tăng 8,2%), hoànthành nhiều mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm; tạo được một số chuyển biếntích cực về mặt xã hội; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng - an ninh;thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị

Về quan hệ đối ngoại, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa dạng hoá, đaphương hoá quan hệ đối ngoại Chúng ta đã phá được thế bị bao vây, cấm vận, đãkhôi phục và mở rộng quan hệ bình thường với Trung Quốc (11/1991); phát triểnquan hệ với các nước trong khu vực, trở thành thành viên đầy đủ của ASEAN(28/7/1995); củng cố và đổi mới quan hệ truyền thống với Liên Bang Nga và cácnước Đông Âu; bình thường hoá quan hệ về ngoại giao với Mỹ (11.7.1995) Nhiềuchính phủ và tổ chức quốc tế viện trợ hoặc cho ta vay quan hệ đoàn kết với cácĐảng Cộng sản và công nhân, các phong trào độc lập dân tộc tiếp tục phát triển,quan hệ với các đảng cầm quyền một số nước được thiết lập Những thành tựu đógóp phần đưa nước ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nước

1.2.3 Tiếp tục đẩy mạnh hội nhập, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, giai đoạn 1996 - 2001

Trang 25

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam (6/1996) diễn

ra trong bối cảnh đất nước sau 10 năm đổi mới đã giành được những thành tựu tolớn, có ý nghĩa rất quan trọng Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991 -

1995 đã được hoàn thành về cơ bản; tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối rentrong lưu thông được khắc phục Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sảnphẩm trong nước (GDP) bình quân hàng năm thời kỳ 1991 - 1995 đạt 8,2% Lạmphát bị đẩy lùi; quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất, trình

độ và yêu cầu phát triển của sức sản xuất; ổn định chính trị được giữ vững Quốcphòng - an ninh được củng cố Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ; phá đượcthế bị bao vây, cô lập; mở rộng hợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồngquốc tế Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nhiều mặt chúng ta vẫn đứng trướcnhiều khó khăn, thách thức; 4 nguy cơ mà Hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ(01/1994) đến nay vẫn là những thách thức lớn, các nguy cơ ấy có mối liên hệ tácđộng lẫn nhau và đều nguy hiểm không thể xem nhẹ nguy cơ nào

Cơ hội và thách thức đan xen nhau đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân,của mọi ngành, mọi cấp phải chủ động, nắm bắt thời cơ, vươn lên phát triển nhanh

và vững chắc tạo ra thế và lực mới cho đất nước Đại hội đề ra nhiệm vụ trong thờigian tới là: "Củng cố môi trường hoà bình và tạo điều kiện quốc tế thuận lợi hơnnữa để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tích cực vào cuộcđấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xãhội" [22, tr.120]

Mục tiêu của chúng ta là đưa quan hệ đối ngoại lên một tầm cao mới, chú trọngquan hệ hợp tác láng giềng và các nước trong khu vực vừa phù hợp với đặc điểmđịa lý, tập quán, vừa tranh thủ thu hút vốn, đầu tư công nghệ mới, đồng thời làphương sách hữu hiệu để củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh quốc gia Quan hệvới các nước lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị với chính sách cân bằng, khôngcoi trọng nước này, xem nhẹ nước kia làm ảnh hưởng đến các mối quan hệ, ảnhhưởng đến việc khai thác vốn đầu tư và các lợi thế khác, cần đánh giá đúng ý đồ vàhành động của các nước lớn và phải giữ vững lập trường, nguyên tắc: "Tôn trọngđộc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội

bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các vấn đề tồn tại và các tranh chấpbằng thương lượng" Từ thực tiễn của hoạt động đối ngoại trong những năm đổimới và trước yêu cầu mới của tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta quyết địnhchính sách đối ngoại trong thời gian tới là: "Ra sức tăng cường quan hệ với cácnước láng giềng và các nước trong tổ chức ASEAN, không ngừng củng cố quan hệvới các nước bạn bè truyền thống, coi trọng quan hệ với các nước phát triển và các

Trang 26

trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới, đồng thời luôn nêu cao tinh thần đoàn kếtanh em với các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Mỹ la tinh, với phongtrào không liên kết" [22, tr.121].

Tăng cường hoạt động ở Liên hợp quốc, tổ chức các nước sử dụng tiếng Pháp,các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế, tổ chức thương mại thế giới và các tổ chứcquốc tế khác ủng hộ đấu tranh nhằm loại trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân và nhữngphương tiện giết người hàng loạt; phát triển quan hệ với các Đảng Cộng sản vàcông nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệvới các đảng cầm quyền và các đảng khác; mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân,các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dâncác nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển

Điều lưu ý trong giai đoạn này là Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chủ động mởrộng quan hệ với các tổ chức quốc tế và các nước, nên nhiều mối quan hệ đượcchuyển sang chiều sâu, biến những cam kết, những thoả thuận đạt được thànhnhững dự án cụ thể, những chương trình cụ thể, thiết thực phục vụ cho sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Lúc này hơn lúc nào hết là tập trung đểphát triển kinh tế, tạo ra thế và lực mới cho đất nước Chúng ta đăc biệt coi trọng

cả ngoại giao song phương và ngoại giao đa phương nhằm tận dụng mọi cơ hội đểthu hút vốn, công nghệ hiện đại, những kinh nghiệm về quản lý kinh tế, xã hội, đàotạo nguồn nhân lực Nhờ đó mà trong suốt kế hoạch 5 năm 1996 - 2001, chúng ta

đã đạt được những thành tựu quan trọng; kinh tế tăng trưởng khá Tổng sản phẩmtrong nước (GDP) tăng bình quân hàng năm 7% Quan hệ đối ngoại không ngừngđược mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều kếtquả tốt Nước ta đã tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với các nước

xã hội chủ nghĩa, các nước láng giềng, các nước bạn bè truyền thống; tham gia tíchcực các hoạt động thúc đẩy sự hợp tác cùng có lợi trong Hiệp hội các nước ĐôngNam Á (ASEAN) và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC);tăng cường quan hệ với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế Có quan hệ thươngmại với 140 nước Có quan hệ đầu tư với gần 70 nước và vùng lãnh thổ, thu hútđược nhiều vốn đầu tư nước ngoài Những thành tựu 5 năm 1996 - 2001 đã tăngcường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và cuộc sống củanhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao

vị thế và uy tín của Đảng, của nước ta trên trường quốc tế, đưa nước ta bước vào

Trang 27

một thời kỳ mới, thời kỳ tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhậpkinh tế quốc tế.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng được tiến hành trongbối cảnh quốc tế có nhiều thuận lợi và những khó khăn thách thức Đại hội IX chỉrõ: Trong vài thập kỷ tới, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục đan xen giữa ổnđịnh và mất ổn định Cuộc đấu tranh giữa một bên là độc lập dân tộc, chủ nghĩa xãhội và bên kia là áp đặt, cường quyền, can thiệp vào công việc nội bộ các nước củachủ nghĩa đế quốc vẫn sẽ tiếp tục với quy mô và mức độ có thể sâu sắc hơn Đángchú ý là với ưu thế tạm thời về kinh tế và quân sự, Mỹ đang thể hiện vai trò "lãnhđạo thế giới" chi phối các nước, các tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, IMF, WB,WTO để âm mưu thiết lập trật tự thế giới một cực, một siêu cường Tuy nhiên, một

xu hướng đối ngoại có tính phổ biến là sự liên kết, sự hợp tác của nhiều quốc gianhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu mà không một quốc gia riêng rẽ nào có thể tựgiải quyết được Chính điều này đòi hỏi đường lối đối ngoại của ta cũng phải hướngtới sự hợp tác đa phương và nước ta cũng phải có trách nhiệm tham gia hợp tác giảiquyết các vấn đề toàn cầu; qua đó mà tranh thủ các nguồn lực của thế giới giải quyếtcác vấn đề tương tự trong nước Đánh giá tổng quát bối cảnh quốc tế trong thời giantới, Đảng ta nhận định rằng: Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, phản ánhđòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc Do đó, đường lối đối ngoại tất yếu phảihướng tới góp phần đấu tranh cho hoà bình, ổn định và phát triển trên thế giới, tạođiều kiện quốc tế thuận lợi cho đất nước phát triển

Tình hình trong nước tiếp tục có nhiều chuyển biến tốt, tăng trưởng kinh tế vẫngiữ được nhịp độ khá, văn hoá xã hội và đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện,tình hình chính trị cơ bản ổn định, quốc phòng - an ninh được tăng cường, quan hệđối ngoại không ngừng mở rộng Tuy nhiên, nước ta vẫn còn nhiều khó khăn, yếukém: nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp, tệ nạn

xã hội phát triển, đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn Trong bối cảnh đó,Đại hội IX xác định đường lối đối ngoại: "Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoạiđộc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoa các quan hệ quốc tế Việt Namsẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vìhoà bình, độc lập và phát triển"

Đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệquốc tế theo tinh thần Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồngthế giới được đề ra từ Đại hội VII và được quán triệt tiếp ở Đại hội VIII Nay đườnglối đó vẫn tiếp tục thực hiện, song đã có sự phát triển nhiều mặt

Trang 28

Trước hết, Đảng ta thể hiện quan điểm độc lập tự chủ, không để bất cứ thế lực

nào áp đặt, lôi kéo mà tự mình quyết định các vấn đề về đường lối, chính sách, cácquan điểm, mục tiêu và các quyết sách về đối ngoại

Hai là, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế; đa phương

hoá là nói đến quan hệ với nhiều đối tác, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế Tuynhiên, trong nhiều đối tác vẫn phải tính đến tính trọng tâm, trọng điểm, tránh hiệntượng mở rộng tràn lan, thiếu hiệu quả Trọng tâm trong quan hệ của ta là các nướcláng giềng, các đối tác truyền thống, các đối tác chiến lược, các nước lớn Đa dạnghoá là sử dụng nhiều hình thức quan hệ như chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học, quốcphòng, cấp nhà nước, ngành, đa phương, các tổ chức nhân đạo để thực hiện đaphương hoá, tạo điều kiện thuận lợi nhất

Ba là, Đại hội lần này chủ trương: "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin

cậy" thay cụm từ "Việt Nam muốn là bạn của các nước trong cộng đồng thế giới".Điều này phản ánh thế và lực của Việt Nam trong quan hệ quốc tế đã có nhiều tiến

bộ hơn trước, chủ động hơn trước trong các mối quan hệ quốc tế Đồng thời thểhiện sự "cầu thị" trên con đường hội nhập khi Việt Nam sẵn sàng là đối tác tin cậycủa các nước Theo đó, việc xác lập quan hệ chính trị chưa đủ mà còn phải mởrộng kinh tế, văn hoá, khoa học

Đại hội xác định nhiệm vụ đối ngoại trong thời gian tới là: "Tiếp tục giữ vữngmôi trường hoà bình và tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xãhội, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảmđộc lập và chủ quyền quốc gia; đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranhchung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xãhội Đây là sự tiếp nối lô gíc đường lối đối nội của chúng ta, khi đặt nhiệm vụ pháttriển kinh tế là trung tâm Trên thực tế, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáchỉ có thể thành công trong điều kiện hoà bình, ổn định, vì thế nhiệm vụ của côngtác đối ngoại phải hướng tới xây dựng môi trường thuận lợi cho thực hiện hainhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Điểm mới trong Nghị quyết lầnnày là Đảng đã xác định đối ngoại phải góp phần bảo đảm độc lập và chủ quyềnquốc gia, bởi nguy cơ tiềm tàng từ chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫnluôn luôn là thách thức đối với cách mạng Việt Nam

Để mở rộng quan hệ nhiều mặt, song phương và đa phương trong quan hệ quốc

tế, Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định các nguyên tắc để chỉ đạo hoạt độngđối ngoại bảo đảm đúng hướng đó là, "tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn

Trang 29

lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc

đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng cùng có lợi; giải quyết bất đồng và tranh chấp bằngthương lượng hoà bình; làm thất bại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt

và cường quyền So với các kỳ đại đại trước, Đại hội IX đã bổ sung thêm một sốnguyên tắc cho phù hợp với tình hình quốc tế hiện nay đó là nguyên tắc "khôngdùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực" và "làm thất bại mọi âm mưu và hành độnggây sức ép, áp đặt và cường quyền" Sự bổ sung, phát triển này là phù hợp với bốicảnh tình hình quốc tế trong những năm gần đây bởi Mỹ và các thế lực hiếu chiếnluôn luôn tìm cách áp đặt các giá trị của Mỹ và các nước phương Tây đối với cácnước, các quốc gia có chủ quyền, môt mặt bao vây, cô lập về kinh tế chính trị, mặtkhác chúng sẵn sàng dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, do vậy chúng ta phảikiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu và hành động gây sức ép, áp đặt vàcường quyền xuất phát từ bất cứ phía nào Cuộc đấu tranh này đòi hỏi tất cả cáchoạt động đối ngoại về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá phải tỉnh táo và nhạybén Những nguyên tắc trên cần phải được vận dụng, quán triệt trong tất cả mọihoạt động đối ngoại, trên mọi lĩnh vực, mọi ngành, mọi cấp, đồng thời chúng tacũng kiên quyết đấu tranh phê phán những biểu hiện hợp tác vô nguyên tắc trongquan hệ đối ngoại

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là một nội dung quan trọng trong đường lốiđối ngoại của Đảng ta trong thời gian tới và là một vấn đề mới trong Văn kiện Đạihội IX, phản ánh sự nhận thức đúng đắn xu thế toàn cầu hoá kinh tế hiện nay Mặc

dù quá trình toàn cầu hoá kinh tế đang bị một số nước phát triển và các tập đoànkinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, nên có nhiều mặt tiêu cực, ảnh hưởng đếnđộc lập và chủ quyền của các nước đang phát triển; nhưng nó cũng tạo ra nhiều cơhội cho các nước mở rộng thị trường kinh doanh, khai thác về vốn, công nghệ,kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước phát triển, nhằm đẩy mạnh sản xuấttrong nước, nâng cao đời sống của nhân dân Tham gia vào các quan hệ kinh tếtoàn cầu, sẽ có điều kiện đan cài lợi ích, tạo nên thế và lực mới, tăng tính cạnhtranh của nền kinh tế, tạo nên thế và lực mới để bảo vệ nền kinh tế độc lập củamình; đồng thời còn tạo ra vị trí xứng đáng để tranh bị phân biệt đối xử và quantrọng hơn là sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp vừa để bảo vệ lợi ích của mình,vừa tăng độ tin cậy cho đối tác Chính vì thế mà hầu hết các nước trên thế giới đều

đã và đang tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WT0)

Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là quá trình mở cửa nền kinh tế, tham dự phâncông hợp tác quốc tế, tạo điều kiện kết hợp các nguồn lực trong nước và ngoài nước,

mở rộng không gian và môi trường để phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trongquan hệ kinh tế quốc tế Đó là quá trình điều chỉnh chính sách, luật lệ trong nước chothích ứng với tình hình và luật pháp quốc tế Đối với nước ta hiện nay liên quan tớiviệc điều chỉnh một loạt chính sách như tự do hoá thương mại và đầu tư, tổ chức sắp

Trang 30

xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, hạ giá thành sản phẩm các loại hàng hoá sản xuấttrong nước để nâng cao tính cạnh tranh, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, trình độchuyên môn của người lao động là những điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho hộinhập kinh tế quốc tế.

Quan điểm của Đảng ta là: "Chủ động hội nhập kinh tế thế giới và khu vực theotinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độclập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốcgia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường" [23, tr.120] Quan điểmcủa Đảng ta xác định muốn "chủ động hội nhập" trước hết phải phát huy nội lực đểhội nhập quốc tế có hiệu quả Điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ biện chứng giữayếu tố nội lực và yếu tố ngoại lực, trong đó ngoại lực là rất quan trọng nhưng nộilực bao giờ cũng là nhân tố quyết định Nội lực không mạnh, không vững chắc thìkhông thể hấp thụ được nguồn ngoại lực mà quốc tế mang lại cho chúng ta Muốntiến hành hội nhập có hiệu quả, giữ vững độc lập tự chủ, định hướng xã hội chủnghĩa và bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trước hết phải bắt đầu từ nội lực, từkhả năng cạnh tranh của nền kinh tế Nếu nội lực không được phát huy để

có những điều kiện cần thiết đảm bảo cho quá trình hội nhập diễn ra đúng lộ trình đãxác lập, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế không được nâng lênthì không thể nói đến khả năng giữ vững độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập.Mặt khác, để hỗ trợ tốt việc phát huy đầy đủ nội lực, nâng cao sức cạnh tranh củanền kinh tế, cần đẩy nhanh quá trình hội nhập để thu hút các nguồn lực từ bênngoài cho phát triển kinh tế - xã hội trong nước

Trong hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả của quá trình hội nhập cũng là mộtquan điểm hết sức quan trọng, bởi với điểm xuất phát thấp của nền kinh tế việctham gia hợp tác trên lĩnh vực gì, lựa chọn hình thức nào để hội nhập càng cần phảiquan tâm đến hiệu quả Hiệu quả là thước đo quan trọng nhất để đánh giá hội nhậpthất bại hay thành công

Trong hội nhập cần bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa,bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc vừa phảnánh một yêu cầu có tính phổ biến đối với mọi quốc gia, đồng thời cũng nói lên đặcthù của nước ta trong quá trình hội nhập, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa của sựphát triển hiện nay Trong điều kiện mà các nước tư bản phát triển đang chi phốitoàn cầu hoá, các thế lực thù địch đang lợi dụng chủ trương mở rộng hợp tác quốc

tế của ta để chống phá độc lập, chủ quyền, định hướng xã hội chủ nghĩa của nước

ta thì yêu cầu này trở nên quan trọng và bức thiết hơn

Những yêu cầu trên đây đòi hỏi việc lựa chọn bước đi và hình thức hội nhậpkhông trái với lợi ích dân tộc, không chệch hướng xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh

Trang 31

vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Ngoài ra, quá trình hội nhập kinh tế còn phảibảo đảm về hiệu quả môi trường, đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững.

Để mở rộng và phát triển quan hệ đối ngoại trong thời gian tới, Đại hội IX củaĐảng xác định: "Coi trọng và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước

xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tácvới các nước láng giềng Nâng cao hiệu quả và chất lượng hợp tác với các nướcASEAN, cùng xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình, không có vũkhí hạt nhân, ổn định, hợp tác cùng phát triển

Tiếp tục mở rộng quan hệ với các nước bạn bè truyền thống, các nước độc lậpdân tộc, các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi, Trung Đông và Mỹ la tinh,các nước trong phong trào không liên kết " [23, tr.121]

Thúc đẩy quan hệ đa dạng với các nước phát triển và các tổ chức quốc tế Đẩymạnh hoạt động ở các diễn đàn đa phương Tích cực giải quyết vấn đề toàn cầu,ủng hộ và cùng nhân dân thế giới đấu tranh nhằm loại trừ hoàn toàn vũ khí hạtnhân, vũ khí sinh học và mọi phương tiện chiến tranh hiện đại giết người hàngloạt góp phần xây dựng trật tự chính trị, kinh tế quốc tế dân chủ, công bằng.Củng cố và tăng cường đoàn kết hợp tác với các Đảng Cộng sản và công nhân; tiếptục mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền; mở rộng hơn nữa công tác đối ngoạinhân dân, đẩy mạnh công tác thông tin phục vụ đối ngoại; bồi dưỡng, rèn luyệnbản lĩnh chính trị, đạo đức, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại,

kể cả kinh tế đối ngoại Phối hợp chặt chẽ hoạt đông ngoại giao của Nhà nước,hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân Hoàn thiện cơ chếquản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện

có hiệu quả nhiệm vụ công tác đối ngoại, làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước,con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước ta, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới

Tóm lại, trong những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thế giới có nhiều biến

động to lớn và phức tạp, tác động đến toàn bộ đời sống nhân loại như: sự phát triểnmạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hoákinh tế, sự thích nghi và phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cũng như sựkhủng hoảng, tan rã của các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô Cùngnhững vấn đề toàn cầu khác, đã tác động mạnh mẽ đến tất cả các nước, các quốcgia trên thế giới Đối với Việt Nam, sau thắng lợi mùa xuân 1975, Đảng đã lãnhđạo cách mạng Việt Nam giành được những thành quả quan trọng Tuy nhiên, cáchmạng Việt Nam cũng đứng trước nhiều khó khăn, thử thách đòi hỏi Đảng phải đổi

Trang 32

mới tư duy, đưa đất nước vượt qua khó khăn thách thức Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI (12/1986) là một thời điểm lịch sử đáng ghi nhớ, mở ra một giai đoạnmới với những chuyển biến quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội,cũng như đường lối quốc tế và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ViệtNam Đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới từng bước được định hình, phát triển vàhoàn chỉnh, đường lối đó đã được triển khai thành công trong hiện thực cuộc sống.Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại được hình thành với quá trình đổi mới "toàndiện, đồng bộ" đất nước Các nghị quyết của Đảng trong các năm 1986 - 1988 trênlĩnh vực đối ngoại đánh dấu một bước phát triển hết sức quan trọng trong đổi mới

tư duy nhận thức về các vấn đề quốc tế và đối ngoại của Đảng ta Trong đó Nghịquyết 13 Bộ Chính trị (20/5/1988) được đánh dấu như một bước chuyển có ý nghĩachiến lược tạo ra sự đột phá trong quá trình đổi mới tư duy đối ngoại

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991) Đảng Cộng sản Việt Nam vớichủ trương "đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại" và thông điệp "ViệtNam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoàbình, độc lập và phát triển" đã phát triển tư duy đối ngoại của Đảng lên một tầm caomới, đưa hoạt động đối ngoại vào thời kỳ mới, thời kỳ mở rộng và phát triển cácquan hệ quốc tế Tiếp đến, là các Hội nghị Trung ương ba (6/1992), Hội nghị giữanhiệm kỳ (01/1994) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội IX của Đảng

đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới như vấn đề "chủ động hội nhập kinh tếquốc tế và khu vực" theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tácquốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dântộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường và tưtưởng "Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy" là những nội dung Đại hội IX

bổ sung, phát triển phù hợp với tình hình mới vừa phản ánh xu thế chung của thờiđại, đồng thời cũng khẳng định vị thế và thực lực của nước ta trên trường quốc tế.Đổi mới tư duy đối ngoại là một bộ phận quan trọng của đường lối đổi mới, làmột lĩnh vực nhay cảm và phức tạp Nhưng với bản lĩnh vững vàng, với tầm nhìn xa,trông rộng, lại được vũ trang bằng thế giới quan khoa học Mác -Lênin, thấm nhuần

tư tưởng Hồ Chí Minh "dĩ bất biến, ứng vạn biến", Đảng ta đã từng bước đổi mới

tư duy, phát triển đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng một cách đúng đắn,sáng tạo, đưa cách mạng vượt qua khó khăn thử thách Đối ngoại đã cùng các lĩnhvực khác góp phần to lớn tao ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam vữngbước tiến vào thế kỷ XXI

Chương 2 ĐẢNG CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THEO TƯ DUY MỚI - THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM

Trang 33

2.1 Quá trình Đảng chỉ đạo thực hiện đường lối đối ngoại theo tư duy mới từ 1986 đến 2001

Trên cơ sở đổi mới tư duy đối ngoại, các hoạt động ngoại giao của Đảng vàNhà nước ta trong giai đoạn từ 1986 đến 2001, cũng được triển khai một cách tíchcực chủ động, chuyển mạnh từ đối đầu sang đối thoại, từng bước phá thế bao vây

cô lập của các thế lực thù địch, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại, chủđộng hội nhập quốc tế và khu vực Quá trình đó vừa bám sát đường lối, quan điểm

và chính sách đối ngoại của Đảng, đồng thời vừa thể hiện tính năng động, sáng tạotrong từng mối quan hệ, trong từng đối tượng và từng thời điểm lịch sử cụ thể, với

sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa hoạt động ngoại giao của Nhà nước với hoạtđộng đối ngoại của Đảng và đối ngoại nhân dân Quá trình đó thể hiện ở những nộidung sau:

2.1.1 Chỉ đạo đổi mới quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực

- Chỉ đạo giải quyết vấn đề Cămpuchia

Cămpuchia là một nước láng giềng, nằm chung trên bán đảo Đông Dương, cóchung đường biên giới dài hơn 1000 km, có chung dòng sông Mê Kông chảy qua hainước, có vùng biển giàu tiềm năng Quan hệ giữa hai nước được xây dựng từ rất sớm

và được phát triển tốt đẹp trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ Đáng tiếc là sau cuộckháng chiến chống Mỹ, thế lực cầm quyền phản động Pôn pốt, Iêng-xa-ri được sựhậu thuẫn của các thế lực phản động quốc tế đã gây ra tội ác diệt chủng ởCămpuchia và gây chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam Để giúp nhân dânCămpuchia loại trừ họa diệt chủng, quân tình nguyện Việt Nam đã cùng quân đội vànhân dân Cămpuchia giải phóng Cămpuchia khỏi họa diệt chủng xây dựng lại đấtnước Tuy nhiên, các thế lực phản động đã nhân cơ hội này xuyên tạc, vu khống ViệtNam "xâm lược Cămpuchia"

Nhận thức được tính chất phức tạp và mức độ nhạy cảm của vấn đềCămpuchia, một mặt, Đảng ta luôn luôn coi trọng việc đoàn kết, giúp đỡ nhân dânCămpuchia, thực hiện nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạngCămpuchia.Mặt khác, từng bước thực hiện việc rút quân tình nguyện về nước, tôn trọng quyền

tự quyết của dân tộc Cămpuchia

Để tạo ra bước đột phá cho toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam, đăc biệt

từ sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị, khoá VI, Đảng và Nhà nước ta đã tích cựcphối hợp với Đảng và Chính phủ Cộng hoà nhân dânCămpuchia thúc đẩy đối thoại

Trang 34

với các bên hữu quan, nhanh chóng tìm kiếm một giải pháp chính trị mà các bên cóthể chấp nhận được.

Ngày 26 tháng 5 năm 1988, Bộ Quốc phòng Việt Nam ra tuyên bố rút 5 vạnquân và rút Bộ Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchia về nước Quântình nguyện Việt Nam còn lại ở Cămpuchia đặt dưới sự chỉ huy của Cộng hoà nhândân Cămpuchia Trong đợt rút quân này, Việt Nam đã rút hết số quân đóng gầnbiên giới Cămpuchia - Thái Lan Việc làm đó có tác động tích cực, làm chuyểnbiến thái độ của Thái Lan và các nước ASEAN khác Tiếp đó, ngày 06 tháng giêngnăm 1989, trong dịp dự lễ kỷ niệm chiến thắng 7 tháng giêng của Cămpuchia, tạiPhnôm Pênh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh tuyên bốViệt Nam sẽ rút hết quân tình nguyện về nước trong tháng 9 năm 1989 nếu có mộtgiải pháp chính trị về vấn đề Cămpuchia Với những chuyển biến nhanh chóngtrong quan hệ quốc tế và sự phát triển tốt đẹp của tình hình Cămpuchia, ngày 05tháng 4 năm 1989, Việt Nam tuyên bố sẽ rút hết quân tình nguyện về nước trongnăm 1989 dù có giải pháp hay không Ngày 26 tháng 9 năm 1989 Việt Nam hoànthành việc rút quân tình nguyện tại Cămpuchia về nước

Việc Chính phủ Việt Nam rút quân sớm hơn dự kiến đã tạo đà thúc đẩy xu thếđối thoại, tăng sức ép đối phương đi vào giải pháp, vô hiệu hoá con bài đòi "ViệtNam rút quân" dùng để chống phá ta Quân tình nguyện Việt Nam ở Cămpuchiarút hết về nước đã làm thay đổi cơ bản tính chất cuộc đấu tranh ở Cămpuchia thànhcuộc đấu tranh nội bộ giữa các lực lượng liên quan của Cămpuchia

Ngày 16, 17 tháng 7 năm 1991, Hội đồng dân tộc tối cao SNC họp tại Bắc Kinhgồm 12 thành viên do Xi ha núc làm chủ tịch

Ngày 26 - 28 tháng 8 năm 1991, SNC họp tại Thái Lan, chấp nhận toàn bộ vănkiện khung và dự thảo hiệp định do P5 đưa ra

Ngày 21 - 23 tháng 10 năm 1991, Hội nghị quốc tế về Cămpuchia họp vòng haitại trung tâm Hội nghị quốc tế Kle'ber, Paris, để ký kết các văn kiện về giải phápchính trị toàn bộ cho vấn đề Cămpuchia Đoàn đại biểu ViệtNam do Bộ trưởngNgoại giao Nguyễn Mạnh Cầm dẫn đầu Việc Hiệp định Paris được ký kết chínhthức chấm dứt tình trạng đối đầu căng thẳng giữa nước ta với các nước đã lợi dụngvấn đề Cămpuchia để thực hiện chính sách bao vây, cấm vận Việt Nam và tiến hànhchiến tranh phá hoại nhiều mặt nhằm làm suy yếu Việt Nam; bảo đảm được sự ổnđịnh và độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Cămpuchia, phù hợp với lợi íchlâu dài của Việt Nam Nhân dân Việt Nam có thêm điều kiện để tập trung khắc phụckhó khăn về kinh tế - xã hội; ký kết Hiệp định Paris về Cămpuchia trong đó ViệtNam là một bên đàm phán thể hiện vai trò to lớn cuả Việt Nam trong các vấn đềquốc tế ở khu vực Đối với nhân dân Cămpuchia, Việt Nam đã làm tròn nghĩa vụquốc tế của mình Quan hệ của Việt Nam với những nước có liên quan đến vấn đề

Trang 35

Cămpuchia, cũng như với các nước trong và ngoài khu vực đang đứng trước nhữngtriển vọng mới Giải quyết trọn vẹn vấn đề Cămpuchia là một mắt xích quan trọngnhất để Việt Nam mở cửa với thế giới ở thời điểm lịch sử đó.

Từ đây, quan hệ truyền thống Việt Nam - Cămpuchia bước sang giai đoạn mới,xây dựng mối quan hệ láng giềng thân thiện giữa hai nước trên cơ sở tôn trọng độclập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộcủa mỗi nước, không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, giải quyết mọi vấn đềtrong quan hệ giữa hai nước bằng con đường hoà bình, hợp tác, bình đẳng, cùng cólợi và cùng tồn tại hoà bình

Việt Nam tích cực ủng hộ nhân dân Cămpuchia xây dựng lại đất nước, đồng thờiủng hộ mạnh mẽ Cămpuchia gia nhập ASEAN Việt Nam đã làm hết sức mình đểCămpuchia trở thành thành viên chính thức ASEAN vào tháng 4 năm 1999 ViệcCămpuchia trở thành thành viên ASEAN góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hữunghị, hợp tác và phát triển ở Đông Nam châu Á

- Chỉ đạo bình thường hoá và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc

Trung Quốc là một nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Namhơn 1000 km, có chung vùng lãnh hải rộng lớn, giàu tiềm năng Trung Quốc là mộttrong năm nước thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc Việt Nam và TrungQuốc đã có quan hệ truyền thống lâu đời, đặc biệt có quan hệ tốt đẹp trong haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Tuy nhiên, sau thắng lợi vĩ đại củacuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam năm 1975, vì nhiều lý dokhác nhau mà nhà cầm quyền Trung Quốc đã đi ngược lại lợi ích và nguyện vọngcủa nhân dân hai nước làm cho quan hệ hai nước ngày càng xấu đi Đăc biệtnghiêm trọng là họ đã phát động cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc tháng 2 năm1979 Từ đó quan hệ hai nước luôn luôn ở tình trạng đối đầu, căng thẳng

Dưới ánh sáng của đường lối đổi mới nói chung, đường lối chính sách đốingoại của Đảng và Nhà nước ta nói riêng Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương đàmphán với Trung Quốc nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, từng bướcthúc đẩy hợp tác, hữu nghị, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước trên tinhthần bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau

Để tạo không khí thuận lợi thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt Trung, năm 1988, Quốc hội Việt Nam đã sửa lời nói đầu trong Hiến pháp, đề nghịhai bên chấm dứt hoạt động vũ trang tại biên giới đất liền và hải đảo, không bênnào đóng quân trên các điểm cao dọc biên giới hai nước, giảm quân cách xa biêngiới để tránh xung đột và tạo điều kiện cho nhân dân hai bên biên giới qua lại thămhỏi bà con, họ hàng thân thích Việt Nam mở cửa khẩu cho nhân dân hai bên qualại, không tuyên truyền có hại cho bình thường hoá quan hệ hai nước

Trang 36

-Đáp ứng lại thái độ thiện chí của Việt Nam, ngày 12 tháng 8 năm 1990, trongchuyến thăm chính thức Singapo, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Lý Bằngtuyên bố: "Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thường hoá quan hệ với ViệtNam và thảo luận các vấn đề như cuộc tranh chấp quần đảo Trường Sa" Một ngàysau, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười hoan nghênh tuyên bố trên của Thủtướng Lý Bằng và khẳng định Việt Nam: "Sẵn sàng bình thường hoá quan hệ vớiTrung Quốc và giải quyết vấn đề giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình".Đồng thời, phía Việt Nam đề nghị tổ chức cuộc gặp cấp cao giữa hai nước nhằmthảo luận việc bình thường hoá quan hệ và các vấn đề liên quan.

Trung Quốc đã mời Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng thăm Trung Quốc không chính thức.Cuộc gặp giữa các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam đã diễn ra tại Thành Đôtrong hai ngày mồng 3 và 4 tháng 9 năm 1990 Tại cuộc gặp này các nhà lãnh đạohai nước đã trao đổi ý kiến về vấn đề bình thường hoá quan hệ Việt Nam - TrungQuốc, mặt quốc tế của vấn đề Cămpuchia và các vấn đề hai bên cùng quan tâm.Tiếp theo đó, từ ngày 18 đến 28 tháng 9 năm 1990, Đại tướng Võ Nguyên Giápthăm Trung Quốc với tư cách là khách quý đặc biệt của Chính phủ Trung Quốctham dự lễ khai mạc Á vận hội lần thứ 11 Kết thúc chuyến thăm, trên đường vềđến Hữu nghị quan, Đại tướng Võ Nguyên Giáp bầy tỏ mong muốn tình hữu nghịtruyền thống vốn có giữa hai nước sẽ sớm được khôi phục và phát triển để Hữunghị quan muôn đời là Hữu nghị quan

Tháng 3 năm 1991, Thủ tướng Lý Bằng tuyên bố "quan hệ Việt - Trung đã tanbăng"

Sau cuộc gặp cấp Thứ trưởng, rồi chuyến thăm Trung Quốc của Bộ trưởngNgoại giao Việt Nam, tháng 11 năm 1991 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam

Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt đã thăm hữu nghị chínhthức Trung Quốc theo lời mời của các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng và Chínhphủ Trung Quốc Cuộc đi thăm này có ý nghĩa rất quan trọng đối với quan hệ Việt

- Trung Hai bên đã ra thông cáo chung và ký kết một số hiệp định Thông cáochung khẳng định cuộc gặp cấp cao Việt Nam - Trung Quốc đánh dấu việc bìnhthường hoá chính thức quan hệ giữa hai nước Thông cáo chung khẳng định hainước Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thânthiện trên cơ sở các nguyên tắc: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổcủa nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hoà bình Hai Đảng Cộng sản Việt Nam

và Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các nguyên tắc độc lập, tựchủ, hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ

Trang 37

của nhau Thông cáo chung còn đề cập việc thương lượng giải quyết vấn đề biêngiới, vấn đề kiều dân và khẳng định lập trường của Việt Nam về vấn đề Đài Loan.Sau khi bình thường hoá, quan hệ giữa hai nước phát triển nhanh chóng vàngày càng toàn diện Đặc biệt hàng năm các đoàn cấp cao của Đảng và Nhà nướchai nước thường xuyên thăm, làm việc và trao đổi các vấn đề hai bên cùng quantâm Tháng 12 năm 1992 Thủ tướng Lý Bằng thăm Việt Nam, tháng 11 năm 1994,Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân TrungHoa Giang Trạch Dân thăm Việt Nam; tiếp đó tháng 12 năm 1999, Thủ tướng ChuDung Cơ thăm Việt Nam.

Về phía Việt Nam, năm 1993 Chủ tịch nước Lê Đức Anh, năm 1994 Chủ tịchQuốc hội Nông Đức Mạnh, năm 1995, 1997 Tổng Bí thư Đỗ Mười, năm 1998 Thủtrướng Phan Văn Khải; đặc biệt, tháng 3 năm 1999, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêuthăm Trung Quốc, hai bên đã ký thông cáo chung trong đó có nêu lên 16 chữ làmphương hướng chung cho quan hệ hai nước: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàndiện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" Tiếp đó đến năm 2000 Thủ tướng PhanVăn Khải, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã thăm và làm việc với Ban lãnh đạoTrung Quốc

Cùng với các đoàn cao cấp, là những cuộc tiếp xúc, thăm viếng trao đổi kinhnghiệm giữa đại diện các ngành, các địa phương của hai nước diễn ra thường xuyên.Nhân dân hai nước tham gia du lịch, trao đổi buôn bám ngày càng phát triển Do đó,kim ngạch buôn bán hai chiều ngày càng tăng, từ 226 triệu USD năm 1992 đến năm

2000 là 2,957 tỷ USD và năm 2001 là hơn 3 tỷ USD Năm 2000 Việt Nam xuấtkhẩu sang Trung Quốc 1,534 tỷ USD và nhập từ Trung Quốc 1,423 tỷ USD Tínhđến tháng 4 năm 2001 Trung Quốc đã đầu tư vào Việt Nam 96 công trình với tổng

số vốn 185,77 triệu USD [7, tr.346]

Trong các chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1997 vàcủa Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu năm 1999, lãnh đạo cấp cao hai nước thoả thuậnkhẩn trương đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới trên đất liền trước năm 2000

về phân định vịnh Bắc Bộ trong năm 2000 Thực hiện các thoả thuận đó, sau 16vòng đàm phán cấp chuyên viên, 6 vòng cấp chính phủ, ngày 30 tháng 12 năm

1999 tại Hà Nội Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đã ký kết hiệp ước về biên giớitrên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc Song song với đàm phán hiệp ước biêngiới trên đất liền, cuộc đàm phán về phân định vịnh Bắc Bộ cũng được tiến hànhqua 8 vòng đàm phán cấp chuyên viên, 4 vòng cấp chính phủ, ngày 25 tháng 12năm 2000 tại Bắc Kinh Bộ trưởng Ngoại giao hai nước ký hiệp định phân địnhvịnh Bắc Bộ

Việc ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ làmốc quan trọng trong quan hệ hai nước, giải quyết một vấn đề tồn tại lâu năm, là

Trang 38

cơ sở pháp lý quan trọng để hai nước tăng cường và đẩy mạnh giao lưu buôn báncũng như thúc đẩy các mối quan hệ về chính trị, văn hoá, an ninh, quốc phòng.Thực hiện mục tiêu xây dựng biên giới Việt - Trung thành biên giới hoà bình - hữunghị và ổn định lâu dài.

- Chỉ đạo phát triển quan hệ "đặc biệt" Việt Nam - Lào

Lào là một nước láng giềng, có chung đường biên giới, cùng nằm trên bán đảoĐông Dương, hai nước đã có lịch sử bang giao từ lâu đời và đặc biệt phát triểntrong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cũng như trong thời kỳ hoàbình xây dựng đất nước Quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Lào được nhân dânhai nước và các thệ hệ lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai bên chung sức xây đắp Đặcbiệt trong thời kỳ đổi mới, hai nước đã có nhiều biện pháp thực tế nhằm củng cố,phát triển và đổi mới quan hệ, thắt chặt tình đoàn kết lâu đời giữa nhân dân hainước, nâng cao hiệu quả và chất lượng của sự hợp tác, đồng thời quan tâm giảiquyết dứt điểm những vấn đề còn tồn tại Từ năm 1990, các cuộc thăm viếng, làmviệc của các nhà lãnh đạo cao cấp của hai nước thường xuyên hơn và hiệu quả hơn.Các cuộc đi thăm của Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công, Tổng Bí thưNguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, Tổng Bí thư ĐỗMười, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, Chủ tịch nước Lê Đức Anh, Chủ tịch nước TrầnĐức Lương, Thủ tướng Phan Văn Khải Cố Chủ tịch Cay xỏn phôn vi hản, Chủtịch Nu hắc Phun xa vẳn, Chủ tịch Khăm tày xi phan đon và Thủ tướng S Keobuôn phanh của Lào thăm chính thức Việt Nam đã đưa quan hệ đặc biệt Việt -Lào lên một tầm cao mới

Hai nước không những duy trì đều đặn các cuộc tham khảo ý kiến thườngxuyên giữa lãnh đạo cấp cao hai nước, giữa các bộ, ngành, mà còn duy trì và tăngcường các cuộc tiếp xúc giữa các địa phương, đặc biệt giữa các tỉnh có chung biêngiới để phối hợp hoạt động và giữ vững an ninh biên giới giữa hai nước

Hợp tác toàn diện Việt - Lào không ngừng được củng cố và phát triển cả về bềrộng, lẫn chiều sâu Thỏa thuận về "chiến lược hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học

kỹ thuật đến năm 2000" và các hiệp dịnh song phương khác đã được ký kết, tạokhung pháp lý để tăng cường hợp tác thương mại, kinh tế, văn hoá, khoa học kỹthuật, giáo dục đào tạo, bảo hộ dầu tư, nông nghiệp nông thôn, du lịch, tư pháp,kiểm soát ma tuý giữa hai nước Kim ngạch buôn bán hai chiều năm sau đạt giá trịcao hơn năm trước, từ 73 triệu USD năm 1992 lên 340 triệu USD năm 1999 Hàngchục doanh nghiệp Việt Nam thực hiện dự án giao thông, cầu đường, nông, lâmnghiệp, thuỷ sản, liên doanh đầu tư, buôn bán tại Lào đang làm ăn có hiệu quả Haibên đang tích cực hợp tác, khai thác các lĩnh vực có nhiều triển vọng như sản xuấtvật liệu xây dựng, hoá chất, thuốc chữa bệnh, trồng trọt, du lịch

Ngày đăng: 10/12/2016, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lưu Đình Á (1994), Hãy cảnh giác cuộc chiến tranh thế giới không có khói súng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy cảnh giác cuộc chiến tranh thế giới không cókhói súng
Tác giả: Lưu Đình Á
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1994
2. Ban Đối ngoại Trung ương (1995), Quan hệ đối ngoại và chính sách đối ngoại của nước ta, Đề tài KX-01-12 thuộc chương trình khoa học - công nghệ Nhà nước KX-01, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ đối ngoại và chính sách đốingoại của nước ta
Tác giả: Ban Đối ngoại Trung ương
Năm: 1995
3. Ban Văn hoá tư tưởng Trung ương (1994), Quyết tâm làm thất bại chiến lược"diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: diễn biến hoà bình
Tác giả: Ban Văn hoá tư tưởng Trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốcgia
Năm: 1994
4. Ban chỉ đạo các lớp quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc (2002), Đề cương các bài giảng nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương các bài giảng nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban chỉ đạo các lớp quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
Năm: 2002
5. Bộ Ngoại giao, Vụ ASEAN (1994), Hợp tác các nước ĐNA-ASEAN, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác các nước ĐNA-ASEAN
Tác giả: Bộ Ngoại giao, Vụ ASEAN
Nhà XB: Nhàxuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1994
6. Bộ Ngoại giao (1995), Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Bộ Ngoại giao (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Nhà XB: Nhà xuất bảnChính trị quốc gia
Năm: 2002
10. Nguyễn Mạnh Cầm (1994), "Ba nét nổi bật của hoạt động ngoại giao năm 1993", Tuần báo Quan hệ quốc tế, Số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba nét nổi bật của hoạt động ngoại giao năm1993
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cầm
Năm: 1994
11. Trường Chinh (1994), Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước, của thời đại, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước, củathời đại
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1994
12. Chủ nghĩa tư bản hiện đại (1991), Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Viện Kinh tế thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện Khoa học xã hội Việt Nam và ViệnKinh tế thế giới
Tác giả: Chủ nghĩa tư bản hiện đại
Năm: 1991
13. Trần Quang Cơ (1992), "Đông Nam Á thời kỳ sau Liên Xô", Tạp chí Quan hệ quốc tế, Số 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam Á thời kỳ sau Liên Xô
Tác giả: Trần Quang Cơ
Năm: 1992
14. Trần Quang Cơ (1991), "Vai trò không thể thiếu được trên thế giới ngày nay, bài phát biểu tại Hội nghị Ngoại trưởng các nước không liên kết ACCRĐ 2 - 7/9/1991", Tạp chí Quan hệ quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò không thể thiếu được trên thế giới ngàynay, bài phát biểu tại Hội nghị Ngoại trưởng các nước không liên kếtACCRĐ 2 - 7/9/1991
Tác giả: Trần Quang Cơ
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IV
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1977
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Tập III, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ V
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1982
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1987
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1991
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thờikỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1991
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban Chấp hành Trung ương (khoá VII), Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban Chấphành Trung ương (khoá VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị toàn quốc giữa nhiệmkỳ khoá VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w