Câu 1: Tại sao phải giáo dục dân số và môi trường cho học sinh và sinh viên? Câu 2: Để GDDS và MT có hiệu quả cao thì GV, HS, nhà trường cần phải có được những điều kiện gì?
Trang 1Câu 1: Tại sao phải giáo dục dân số và môi trường cho học sinh và sinh viên?
Dân số và môi trường trong những năm gần đây đã đang và trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới Việc gia tăng dân số đã gây sức ép nặng nề tới môi trường toàn cầu Quá trình hoạt động công nghiệp đã ngày càng làm cho tài nguyên bị cạn kiệt, ô nhiễm môi trường và hậu quả cuối cùng là làm suy thoái chất lượng cuộc sống của cộng đồng Đã đến lúc phải thay đổi tư duy và nhận thức về thế giới Làm thế nào để ngăn ngừa những hiểm họa chính
do con người gây nên? Phát triển như thế nào “ thõa mãn nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng các thế hệ của tương lai? Giữ gìn tài ngyên
và môi trường trong sạch cho muôn đời sau Đang là vấn đề nhức nhối Mà một trong những biện pháp tối ưu ,bền vững nhất là GDDS và MT cho HS, SV đang được các nước trên thế giới áp dụng và xem như là chính sách hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đât nước
Dân số chính là nguồn nhân lực, là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh
tế - xã hội Việc bảo đảm dân số ổn định, phát triển kinh tế - xã hội bền vững, thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng và của mỗi thành viên trong xã hội không ngừng được cải thiện là mục tiêu và yêu cầu đặt ra đối với mọi dân tộc, mọi đất nước, nhất là trong thời điểm hiện nay Theo số liệu thống kê dân số thế giới đã vượt quá ngưỡng 6 tỉ Hiện tại, cứ mỗi mỗi giây trên trái đất có 4,4 triệu trẻ em ra đời ở các quốc gia Nam Á, Trung Đông, và Châu Phi đang ở vị trí dẫn đầu một cách không mong muốn Theo tốc độ gia tăng dân số như hiện nay liên hợp quốc
dự tính năm 2012 DS thế giới sẽ 7 tỉ người năm 2050 sẽ là 9,2 tỉ người
Việc dân số tăng quá nhanh đã để lại những hệ lụy hết sức nghiêm trọng Sự gia tăng dân số đã gây sức ép lớn tới tài nguyên thiên nhiên và môi trường trái đất
do khai thác quá mức các nguồn tài nguyên phục vụ cho các nhu cầu của con
Trang 2người Gia tăng dân số cơ học tạo ra các nguồn rác thải lớn, đồng thời gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, nhất là tại khu vực đô thị và các làng nghề……Ngày nay loài người đang đối mặt với các vấn đề lớn có tính cầu bảo vệ hòa bình , dân số, ô nhiếm môi trường, đói nghèo trong đó vấn đề dân số được xem là nguyên nhân chung của các vấn đề còn lại Dân số thế giới tăng nhanh và không đều nảy sinh nhiều vấn đề khó giải quyết
+ Áp lực đô thị hóa: DS tập trung về đô thị ngày càng nhiều thì nhu cầu về chỗ ở, công việc, thu nhập, trường học, phương tiện đi lại….Không ít các đô thị đã và đang phải đương đầu với những khu vực cực kì mất an ninh Vấn đề giao thông cũng trở nên quá tải
+ Áp lực dân số già tại Châu Âu: Việc tỉ lệ gia tăng tự nhiên thấp đã dẫn đến tình trạng thiếu nguồn lao động bổ sung cho tương lai cũng như các vấn đề về phúc lợi
xã hội, hưu trí chăm sóc cho người già đang là một vấn đề nan giải ở các nước này
+ Gia tăng khoảng cách giàu nghèo: Dân số tăng nhanh tình trạng nước nghèo càng đông hơn Ở châu phi có khoảng 34 trong tổng số 53 nước nghèo nhất trên thế giới Theo số liệu thống kê của ngân hàng thế giới ở Mĩ La Tinh tính có khoảng 260 triệu người nghèo chiếm 60% dân số
+ Hiểm họa sinh thái gia tăng về môi trường: Bùng nổ dân số gắn liền với việc sử dụng, khai thác đến cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được cũng như tình trạng ô nhiễm môi trường rắn lỏng khí…
Hiện nay chúng ta ai cũng biết rằng dân số tăng quá nhanh đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng một trong số đó là tác dộng mạnh đến môi trường tất cả đều do những tác động của con người trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hôi gây nên Tác động của con người bắt đầu từ mỗi cá nhân, mỗi gia đình và xã hội nó
Trang 3xảy ra thường xuyên liên tục khắp mọi nơi, mọi chỗ.Tác động đó không chỉ thông qua các hoạt động kinh tế - xã hội, du lịch, vui chơi, giải trí Vì vậy GDDS Và GDMT cũng phải được thực hiện ở tất cả các lĩnh vự kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa là quốc sách hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới
GDDS theo thuật ngữ của UNESCO dùng để chỉ một chương trình giáo dục
nhằm cung cấp cho người học những tri thức về mối quan hệ giữa dân số, môi trường, tài nguyên và chất lượng cuộc sống trên cở sở đó hình thành thái độ hành
vi đúng đắn với các vấn đề sinh đẻ có kế hoạch, quy mô gia đình hợp lí, phát triển dân số hợp lí hiểu biết và tự giác chấp hành các chính sách chủ trương của quốc gia về dân số
GDMT là quá trình nhận thức ra giá trị và sáng tỏ các quan điểm, phát triển các
kĩ năng, thái độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh GDMT đòi hỏi thực hành( áp dụng thực tiễn) trong việc ra quyết định và tự xây dựng nguyên tắc về hành vi về các vấn đề có lien quan đến chất lượng môi trường
>> Vậy tại sao phải giáo dục dân số và môi trường cho học sinh và sinh viên ?
GDDS và GDMT là chính sách chiến lược trong quá trình xây dựng một xã hội bền vững của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Là một nước đang phát triển Việt Nam hiện nay sự tăng nhanh dân số đã trở thành vấn đề gay gắt có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và môi trường Trong chiến lược này chúng ta tập trung ưu tiên vào GDMT và GDDS ở trường học vì đây là nơi thu hút toàn bộ thế hệ trẻ, thế hệ tương lai cả đât nước
Trang 4 Thứ nhất : GDDS và MT cho học sinh, sinh viên không những đạt
được kết quả trước mắt mà còn đạt được những lợi ích lâu dài
- Bởi lẽ sinh viên, học sinh là chủ nhân tương lai của đất nước là thế hệ trẻ được dục ban đầu và các kiến thức này không chỉ có ý nghĩa khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường mà nó sẽ theo mãi các em cho đến sau này khi các em lập gia đình, trưởng thành >> Ít tốn chi phí và thời gian cho việc giáo dục dân sô
và môi trường cho các tầng lớp khác (trung niên, trưởng thành hơn) vì đã được đào tạo ngay từ ban đầu
- Mặc khác : GDDS và MT đưa vào trong nhà trường có ý nghĩa chiến lược lâu dài vì ngay từ đầu sẽ hình thành cho học sinh, các chủ nhân tương lai của đất nước những kiễn thức, thái độ hành vi đúng đắn về vấn đề dân số và môi trường thấm nhuần tư tưởng rằng hạnh phúc và sự giàu có nằm trong giới hạn quy mô gia đình và chính đối tượng này sau này sẽ quyết định đến quy mô gia đình hợp lí có thể là tăng số con đối với quốc gia phát triển, giảm số con đối với quốc gia đang phát triển phù hợp với cơ cấu dân số từng quốc gia
Thứ hai: HS, SV trong nhà trường là bộ phận phù hợp nhất trong xã hội để
GDDS và MT vì các em đang trong quá trình phát triển, nhận thức và hành vi GDDS và MT cho thanh thiếu niên, đặc biệt là vị thành niên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách công dân, đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu chính sách dân số quốc gia đạt được một cách bền vững
- GDDS nhằm tạo cho người học có được một kiến thức và sự hiểu biết rộng rãi hơn về các vấn đề dân số và điều chú ý mang lại sự thay đổi trong thái độ và hành vi của họ nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống
Trang 5- GDDS hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó không chỉ là cung cấp một số tri thức,
kĩ năng để nhận biết và phân tích các vấn đề của nhân khẩu học, của kế hoạch hóa gia đình mà GDDS còn góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của người công dân tương lai Giáo dục dân số - sức khoẻ sinh sản (GDDS
- SKSS), giáo dục giới tính có quan hệ rất mật thiết với giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục pháp luật
+ GDDS - SKSS cùng với các mặt giáo dục khác đảm bảo cung cấp cho thanh thiếu niên những phương thức ứng xử đúng đắn trước mọi vấn đề bức xúc có ý nghĩa toàn xã hội và toàn cầu; định hướng cho học sinh tiếp thu tốt những chuẩn mực xã hội trong lĩnh vực này và biến những chuẩn mực đó thành giá trị trong mỗi học sinh, trên cơ sở đó giúp cho học sinh có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác
+ GDDS - SKSS giúp thanh thiếu niên biết sống lành mạnh, tuân thủ những yêu cầu của đời sống xã hội trong lĩnh vực dân số và giữ vững được bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam, có khả năng đề kháng để chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống trong u thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay.Mặt khác, GDDS - SKSS được thực hiện tốt thì chất lượng cuộc sống của cá nhân, của gia đình, của toàn xã hội được nâng lên Điều đó có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển nòi giống, đến tương lai của dân tộc
>> Với những lý do trên, có thể nói GDDS - SKSS là một vấn đề vừa có ý nghĩa chiến lược lâu dài vừa có tính cấp bách Thanh thiếu niên trong các nhà trường cần được tiếp cận GDDS - SKSS một cách có hệ thống với mục tiêu và nội dung xác định từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh Làm được như vậy, công tác giáo dục - đào tạo trong các nhà trường sẽ tạo ra những điều kiện vững chắc cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục
Trang 6nhân cách toàn diện cho thế hệ trẻ và thực hiện mục tiêu chính sách dân số quốc gia
Thứ ba: HS, SV lại chiếm số đông nhất trong nhóm dân cư nằm trong độ
tuổi lao động sự thành đạt trong tương lai của họ cũng như của một quốc gia phụ thuộc vào nhiều sự phát triển bền vững về năng lực và trình độ nhận thức của các em
- Đối với các nước đang và chậm phát triển HS, SV được xem là lứa tuổi chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu dân số của mỗi nước Mà tuổi trẻ chính là lực lượng lao động hay nói cách khác là động lực của sự phát triển Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn niềm tin vào thế hệ trẻ trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc, Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên” Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết, Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên” Vậy nên, Thanh niên chúng ta chính là nguyên khí của quốc gia, là vận mệnh của dân tộc Qua đó cho
ta thấy được vai trò to lớn của học sinh, sinh viên họ chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, bắt nhịp cùng thời đại là hạt nhân của xã hội chính vì vậy cần GDDS và MT cho HS, SV là điều rất cần thiết
Thứ tư : Trường học là môi trường thuận lợi nhất để tiến hành GDDS và
GDMT cho các em nó có khả năng tiếp cận tới từng cá nhân của học sinh thông qua chương trình, kế hoạch học tập một cách có khuôn khổ và quy cũ có hệ thống trong nhà trường là một biện pháp GDDS và MT cơ bản nhất, vững chắc
và lâu dài nhất vì thế hiệu quả giáo dục mang lại rất cao
Trang 7- Sinh viên và học sinh là những người đang còn ngồi trên ghế nhà trường, việc tiếp thu những kiến thức mới thông qua thực tiễn cuộc sống và kiến thức một cách tự lập là một vấn đề rất khó khăn so với những người trưởng thành Chính vì vậy GDDS và MT cho các em trong nhà trường sẽ mang lại hiệu quả cao
- Chúng ta biết rằng GDDS và MT là một lĩnh vực tri thức tổng hợp có tính chất liên ngành bao gồm những nội dung khoa học và kiến thức cơ bản được kết hợp lại dựa trên thành tựu của nhiều nhà khoa học và kĩ thuật khác nhau nên GDDS và MT được gọi là một hệ thống khoa học tri thức tích hợp trên cơ sỡ các kiến thức về dân số học, sinh học, tâm lí xã hội.Thông qua các hệ thống kiến thức
đã được chọn lọc và các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng khả năng nhận thức của học sinh, sinh viên >> Từ đó giúp các em có cái nhìn đúng đắn, nắm bắt được một cách vững chắc các kiến thức có hệ thống về GDDS và GDMT một cách có hiệu quả và áp dụng vào thực tiễn tốt hơn
+ Đối với bậc mầm non: Trang bị cho các em các kiến thức phổ thông sơ đẳng về dân số và môi trường Ví dụ như sinh con nhiều sẽ nghèo đói, hay vứt rác bữa bãi sẽ gây ô nhiễm môi trường >> Hình thành thói quen cho học sinh giữ gìn
vệ sinh cơ thể, lớp học, không nói chuyện hay vứt rác bừa bãi
+ Đối với bậc trung học cơ sỡ: Phát triển sự hiểu biết của học sinh về những khái niệm dân số, chính sách dân số quốc gia, môi trường, phát triển môi trường bền vững
Phát triển sự hiểu biết của học sinh về mối quan hệ giữa dân số và môi trường Đưa ra các ví dụ cụ thể cho học sinh hiểu thông qua tranh ảnh và video Ví dụ như chặt phát rừng gây lũ lụt Dân số tăng nhanh gây ô nhiễm môi trường…
Trang 8 Cung cấp cho học sinh các vấn đề về hôn nhân, sinh sản từ đó hình thành cho học sinh nhận thức về việc sinh đẻ có kế hoạch thông qua các bộ môn như sinh học, GDCD…
+ Đối với bậc phổ thông: Học sinh cấp ba đã có ý thức cao hơn, các em đã có sự thay đổi lớn về mặt cơ thể và nhận thức chính vì vậy cần:
Cung cấp cho học sinh các kiến thức về lý thuyết dân số, chính sách dân số
và môi trường quốc gia Mối quan hệ của nó đối với sự phát triển kinh tế với
môi trường và tài nguyên thiên nhiên Ví dụ như các chính sách phát triển kinh
tế bền vững đi đôi với bảo vệ môi trường Sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bền vững
Phát triển sự hiểu biết của học sinh sâu hơn về vấn đề sức khỏe sin sản, AIDS bệnh lây truyền vì đây là lứa tuổi có ảnh hưởng rất lớn, các em đã có sự phát triển hoàn thiện về cơ thể ,cũng như quan hệ tình dục
Ví dụ Tố chức các hoạt động trong nhà trường liên quan đến vấn đề SKSS vị
thành niên để các em trực tiếp trao đổi kinh nghiệm, ý kiến của nhau từ đó có biện pháp phòng tránh kịp thời
Cuối cùng một trong những việc cần, rất quan trọng để trang bị cho các em
“ học phải đi đôi với hành” trang bị cho các em những kĩ năng cần thiết chuyển
hóa lí thuyết thành hành động Ví dụ tích cực tham gia dọn vệ sinh khu vực
mình đang sống, tham gia phong trào tuyên truyền giáo dục dân số và môi trường
+ Đối với sinh viên: Sau khi các em đã được trang bị các kiến thức , kĩ năng ở các lớp dưới Như thế không có nghĩa là đủ mà lên đến giảng đường đại học các
em sẽ còn tiếp tục được thấy cô giáo cung cấp thêm nhiều kiến thức về dân số và
Trang 9môi trường lồng ghép qua các bộ môn như tâm lí, giáo dục giới tính, giáo dục dân
số và môi trường và quan trọng hơn là các em sẽ được thực hành và cọ xác với thực tiễn nhiều hơn
Sinh viên sẽ được nhà trường tạo điều kiện nhiều hơn để tìm hiểu các vấn
đề về dân số và môi trường thông qua các câu lạc bộ, các tổ chức dân số và môi trường trong nước và trên thế giới
Sinh viên cũng sẽ được tiếp xúc trực tiếp, trao đổi các vấn đề dân số và môi trường với các chuyên gia trong và ngoài nước từ đó có cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn vấn đề dân số và môi trường
Sinh viên biến kiến thức lý thuyết sang thực hành bày tỏ quan điểm, biện pháp giáo dục dân số và môi trường thông qua các đề tài nghiên cứu có tính thực dụng cao……
>>> Như vậy chúng ta có thể thấy rằng việc GDDS và MT cho HS SV trong nhà trường rất quan trong Là nơi truyền tải kiến thức hợp lí, khoa học để các em nắm vững một cách dễ dàng, khoa học và hợp lí Đặc biệt có tính bền vững cao
Thứ năm: Đưa GDDS vào trường học ngay từ nhỏ thực chất là một biện pháp
GDDS cho toàn thể công nhân tương lai của đất nước
GDDS và MT cho thanh thiếu niên đặc biệt là vị thành niên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách công nhân, đẩm bảo thực hiện chính sách phát triển kinh tế với dân số và môi trường một cách bền vững
Thứ sáu : GDDS và MT trong nhà trường tạo cơ hội để những kiến thức và
chính sách dân số đến tận từng gia đình vì hầu hết các gia đình đều có con em
đi học ở các nhà trường
Trang 10- Đối với những nước nghèo và kém phát triển khả năng đến trường của học sinh là rất ít vì cuộc sống vẫn còn khó khắn Con số đó mới chỉ tăng trong những năm gần đây còn những lứa tuổi trước do hoàn cảnh khó khăn không được đến trường Như vậy thông qua Trường học một mặt có thể giáo dục dân số cho các
em học sinh mặc khác thông qua học sinh có thể truyền đạt lại cho các thành viên trong gia đình mà các em học được ở nhà trường Từ đó góp phần giáo dục dân số
có hiệu quả và sâu rộng hơn
Thứ bảy : GDDS và MT trong nhà trường làm cho giáo viên, cán bộ, công nhân viên chức trong nhà trường có hiểu biết về DS – KHHGD giúp họ có thái
độ và hành vi sinh sản phù hợp với chính sách dân số nhà nước
- Thông qua việc GDDS và MT trường cho HS , SV giáo viên cũng sẽ có khả năng học hỏi, tiếp thu trau dồi kinh nghiệm Trang bị cho mình hơn nữa những kiến thức về dân số và môi trường bổ sung những kiến thức còn thiếu
để từ đó điều chỉnh những hành vi của minh sao cho đúng đắn phù hợp với hoàn cảnh đất nước và xã hội Đồng thời là tấm gương sáng để học sinh noi theo
- Ví dụ: Thông việc giảng dạy cho học sinh kiến thức về SKSS, kế hoạch hóa gia đình thì giáo viên cần hiểu và chủ động Tuân thủ theo chính sách của nhà nước mỗi gia đình chỉ nên sinh 2 con Có kế hoạch sinh đẻ phù hợp Giáo viên thực hiện tốt khi đó học sinh mới tôn trọng và thực hiện tốt >> việc GDDS
và MT mới mang lại hiệu quả cao.GDDS và MT đóng vai trò then chốt để đạt được cuộc sống có chất lượng thông qua sự hình thành con người lương tâm trách nhiệm