DÂN SỐ
Một vài vấn đề cơ bản về dân số
Thuật ngữ “dân số học” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp, với "demos" có nghĩa là nhân dân và "grapho" là mô tả Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong ngữ cảnh khoa học vào năm 1855, trong tác phẩm “Các thành phần thống kê của con người hoặc dân số học so sánh” của nhà khoa học Pháp A Ghiarơ Sau đó, dân số học đã được công nhận chính thức tại Hội nghị quốc tế về vệ sinh học và dân số học diễn ra ở Giơnevơ.
Dân số học, ra đời vào năm 1882 và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, là khoa học nghiên cứu về dân số Nó tập trung vào việc phân tích các quy luật tái sản xuất dân cư trong bối cảnh lịch sử và xã hội cụ thể của một vùng lãnh thổ nhất định.
Dân số học được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Vào năm 1953, các nhà khoa học từ 8 quốc gia (Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Italy, Thụy Điển, Brazil, Ấn Độ) đã hợp tác viết cuốn sách “Nghiên cứu dân số”, nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về dân số học như một khoa học và nghề nghiệp của thế kỷ XX Trong cuốn sách, dân số học được định nghĩa là “nghiên cứu số lượng, phân bố và cơ cấu dân số cùng với các biến động tự nhiên, cơ học và xã hội của nó” Năm 1958, Liên Hợp Quốc cũng xác định rằng dân số học là khoa học nghiên cứu về dân số, tập trung vào quy mô, cơ cấu và sự phát triển của dân số.
1.1.2 Đối tượng nghiên cứu của dân số học Đối với khoa học dân số thì vấn đề đầu tiên khi nghiên cứu một dân cư nào đó là Quy mô của nó, tức là tổng số dân Ở đây, mỗi con người không phân biệt già, trẻ, nam, nữ đều là một đơn vị để nghiên cứu Tuy tất cả thành viên của một dân cư đều có điểm chung là cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhưng họ thường khác nhau về giới tính hoặc độ tuổi Vì vậy, sẽ hiểu biết chi tiết hơn về một dân cư nếu phân chia tổng số dân thành nhóm nam và nhóm nữ hoặc các nhóm khác nhau về độ tuổi, tức là nghiên cứu cơ cấu (cấu trúc) của dân cư theo giới tính và độ tuổi Dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ số lượng như quy mô và cơ cấu được gọi là dân số học
Dân số luôn biến động với sự sinh ra và mất đi của con người Ví dụ, năm 1994 tại Việt Nam, cứ mỗi giờ có khoảng 103 trẻ em được sinh ra để thay thế cho 50 người qua đời Sự thay đổi này diễn ra liên tục qua các năm, dẫn đến sự tăng trưởng dân số từ 17,7 triệu người vào năm 1931, trong đó 49% là nam, lên 64,4 triệu người vào năm 1989, với tỷ lệ nam giảm xuống còn 48,6%.
Sự đổi mới liên tục của dân số, do các sự kiện sinh và tử, được gọi là biến động tự nhiên hay tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp Trong lĩnh vực dân số học, tái sản xuất dân số được hiểu theo cách này là một trong những quan điểm quan trọng.
Sự biến động dân số chỉ có thể thấy rõ trên quy mô toàn cầu, trong khi ở các khu vực nhỏ hơn thường xảy ra tình trạng di cư Di cư là quá trình mà người dân rời khỏi một vùng để đến sinh sống tại một vùng khác, dẫn đến sự thay đổi dân số tại khu vực đó theo thời gian.
5 gian có sự thay đổi Sự thay đổi dân số xảy ra do tác động của di dân gọi là biến động cơ học
Biến động xã hội là một khía cạnh quan trọng của dân cư, không chỉ liên quan đến quy mô và cơ cấu tuổi, giới tính mà còn bao gồm sự thay đổi liên tục về trình độ giáo dục, cơ cấu nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân Theo thời gian, con người trải qua quá trình lớn lên, đi học, làm việc, thay đổi nơi ở và kết hôn, tạo nên những biến động xã hội trong cộng đồng.
Sự đổi mới liên tục của một cộng đồng dân cư là hệ quả của ba loại biến động chính: biến động tự nhiên (sinh và tử), biến động cơ học (di chuyển vào và ra) và biến động xã hội Điều này được gọi là tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng.
Nhiệm vụ của dân số học là xác định các quy luật trong quá trình tái sản xuất dân số Do phạm vi nghiên cứu của dân số học rộng và có những cách tiếp cận khác nhau, nên có nhiều định nghĩa khác nhau về lĩnh vực này.
Dân số học là một lĩnh vực khoa học xã hội nghiên cứu các sự kiện sinh và chết, chịu ảnh hưởng không chỉ bởi yếu tố sinh học mà còn bởi hiểu biết, thái độ và hành vi của con người cùng với các yếu tố kinh tế - xã hội khác Con người sử dụng khoa học để kiểm soát sinh sản, chống lại bệnh tật và kéo dài tuổi thọ Hôn nhân và di cư thể hiện rõ bản chất xã hội trong dân số học.
1.1.3 Một số học thuyết về dân số
Thomas Rober Malthus (1766-1834) là một nhà kinh tế học và mục sư người Anh, nổi tiếng với những nghiên cứu có hệ thống về dân số Trong tác phẩm "Bàn về dân số" xuất bản năm 1798, ông đã đề cập đến vấn đề "nhân mãn", dẫn đến việc thuyết Malthus thường được gọi là thuyết nhân mãn.
Nội dung cơ bản của thuyết này:
- Dân số nếu không được kiểm soát sẽ tăng theo cấp số nhân với bội số là 2 (2.4.8.16.32…) còn lương thực thực phẩm chỉ tăng theo cấp số cộng (1.2.4.6.8…)
Sự gia tăng dân số diễn ra ổn định, trong khi nguồn lương thực và thực phẩm bị giới hạn bởi những điều kiện khó khăn như diện tích đất canh tác và năng suất sản xuất.
- Với tình hình trên, tất yếu dẫn nhân loại đến nghèo khổ, sa sút về đạo đức và tội ác phát triển
Để giải quyết vấn đề dân số, cần tiến hành các cuộc chiến tranh hạn chế, dịch bệnh và hiểm họa, những yếu tố này sẽ góp phần giảm số dân và cân bằng dân số với sản xuất lương thực và các tư liệu sinh hoạt khác.
Mặc dù là người tiên phong trong việc nghiên cứu vấn đề dân số và cảnh báo về nguy cơ gia tăng dân số nhanh chóng, ông không thể dự đoán được những tiến bộ trong sản xuất cũng như việc kiểm soát tỉ lệ sinh thông qua các biện pháp kế hoạch hóa gia đình và giải phóng phụ nữ Sự thiếu niềm tin vào khả năng của con người đã dẫn đến những biện pháp không nhân đạo mà ông đề xuất.
1.1.3.2 Thuyết dân số tối ưu
Lý thuyết dân số tối ưu cho rằng, các dân tộc trên thế giới có thể chia thành 3 loại chính:
- Các dân tộc có dân số quá ít
- Các dân tộc có dân số quá đông
- Các dân tộc có dân số vừa phải
Tình hình dân số trên thế giới và khu vực Đông Nam Á
1.2.1 Quy mô dân số thế giới ngày càng lớn, tốc độ gia tăng còn nhanh Đầu Công Nguyên, số dân trên thế giới có khoảng 270 – 300 triệu người Lịch sử dân số nhân loại trải qua hàng triệu năm mới xuất hiện tỉ người đầu tiên Thời gian có thêm 1 tỉ người ngày càng rút ngắn (từ 123 năm đến 33 năm, 13-14 năm, 12 năm) Năm 1804, dân số thế giới đạt 1 tỉ người đầu tiên Năm 2011, dân số thế giới đạt 7 tỉ người Năm 2013, tăng lên 7,137 tỉ người Dự báo đến năm 2025 sẽ đạt xấp xỉ 8 tỉ người Để thể hiện nhịp độ tăng dân số người ta sử dụng chỉ số: thời gian tăng dân số gấp đôi
Bảng 1.1 Khoảng thời gian dân số tăng gấp đôi và khoảng thời gian dân số tăng thêm 1 tỉ người
Số dân TG (tỉ người) 1 2 3 4 5 6 7 8
Thời gian tăng thêm 1 tỉ ng (năm) 123 33 14 13 12 12 14 Thời giang tăng gấp đôi (năm) 123 47 51
Từ đầu thế kỉ XX, đặc biệt là sau năm 1950, quy mô dân số đã tăng nhanh chóng, đạt mức kỉ lục trong 65 năm qua nhờ vào các công nghệ y tế công cộng như thuốc kháng sinh, chất dinh dưỡng, thuốc tiêu chảy và vacxin Sự cải thiện này đã dẫn đến việc giảm nhanh chóng tỷ lệ tử vong, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, trong khi tỷ lệ sinh mặc dù có giảm nhưng chậm hơn, gây ra hiện tượng “bùng nổ dân số” Do đó, việc thúc đẩy chương trình dân số và sức khỏe sinh sản trở thành một vấn đề cấp bách.
Hiện nay, mức gia tăng dân số trên thế giới có hơi chững lại song vẫn ở mức cao
1.2.2 Dân số thế giới tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển
Sự chênh lệch quy mô dân số giữa các nhóm nước sẽ gia tăng trong vài thập kỷ tới, với 95% dân số tăng hàng năm đến từ các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Hiện tại, dân số của các nước này đã chiếm hơn 2/3 tổng dân số thế giới và dự kiến sẽ đạt 4/5 vào cuối thế kỷ này.
Dân số các nước đang phát triển đang gia tăng mạnh mẽ, dẫn đến hiện tượng "bùng nổ dân số" Thực chất, bùng nổ dân số là sự gia tăng nhanh chóng của số dân toàn cầu kể từ thập niên 50 của thế kỷ XX.
Sự chênh lệch dân số giữa các nước phát triển và đang phát triển xuất phát từ sự khác biệt trong tốc độ phát triển kinh tế - xã hội từ thế kỷ XVIII Mặc dù có xu hướng giảm trong những năm cuối thế kỷ này, nhưng tốc độ gia tăng dân số ở các nước đang phát triển vẫn cao, dẫn đến số dân ngày càng vượt trội so với các nước phát triển.
Châu Á là khu vực có dân số đông nhất thế giới, với nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó Trung Quốc và Ấn Độ là hai quốc gia đông dân nhất Đồng thời, dân số châu Phi cũng đang gia tăng nhanh chóng và liên tục.
Tình hình dân số ở Việt Nam
1.3.1 Dân số nước ta đông
Thống kê dân số tại Việt Nam trong các triều đại phong kiến thường không chính xác, chủ yếu dựa vào hệ thống quản lý hành chính từ tỉnh đến huyện, phủ, tổng, xã, thôn qua sổ đinh, chỉ ghi nhận nam giới từ 18 tuổi trở lên.
Theo tài liệu lịch sử, vào khoảng 2000 năm trước Công nguyên, dưới triều đại vua Hùng, dân số Việt Nam ước tính khoảng 1 triệu người Đến những năm đầu thế kỷ 20, con số này đã tăng lên 13 triệu người.
Từ năm 1945 đến 1975, miền Nam Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra dân số quan trọng, trong khi miền Bắc thực hiện hai cuộc tổng điều tra nhân khẩu vào năm 1960 và 1974 Việc kết hợp với kê khai hộ tịch và hộ khẩu đã giúp đảm bảo độ tin cậy cao cho các số liệu thống kê.
Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975, Việt Nam mới có được số liệu chính xác về dân số Do chi phí cao cho việc điều tra toàn bộ dân cư, các quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, thường thực hiện tổng điều tra dân số mỗi 10 năm Đến nay, Việt Nam đã tiến hành 4 đợt tổng điều tra dân số vào tháng 4 của các năm 1979, 1989, 1999 và 2009.
Dân số Việt Nam trước thập kỷ 60 phát triển chậm do tỷ lệ tử vong cao Từ năm 1960 đến 1980, dân số tăng nhanh, đánh dấu thời kỳ bùng nổ dân số Kể từ năm 1980, tốc độ tăng trưởng dân số chậm lại Hiện tại, Việt Nam có hơn 90 triệu người, đứng thứ 3 Đông Nam Á, thứ 8 châu Á và thứ 14 thế giới, với hơn 60 triệu người trong độ tuổi lao động Mặc dù tỷ suất gia tăng tự nhiên giảm còn 1%/năm, mỗi năm vẫn có thêm gần 1 triệu người, trong đó khoảng 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động.
Hình 1.1: Biều đồ dân số Việt Nam giai đoạn 1980 – 2004
Dân số trung bình năm 2014 của cả nước ước tính 90,73 triệu người, tăng 1,08% so với năm 2013 (90 triệu người), đứng hàng thứ 3 ở Đông Nam Á (ĐNA) và hàng thứ 14 thế giới
- Thuận lợi: Với dân số đông, nước ta có nguồn lao động dồi dào, đồng thời đây là thị trường tiêu thụ rộng lớn
- Khó khăn: Trong điều kiện của nước ta hiện nay, dân số đông lại là trở ngại cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân
1.3.2 Dân số tăng nhanh và cơ cấu dân số trẻ
* Dân số còn tăng nhanh
- Dân số nước ta tăng nhanh, đặc biệt là vào nửa cuối thế kỷ 20, đã dẫn đến hiện tượng bùng nổ dân số
Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên của Việt Nam đã có sự giảm sút rõ rệt qua các giai đoạn, từ 2,1% trong giai đoạn 1979 - 1989 xuống chỉ còn 1% vào năm 2014 Mặc dù tỉ lệ này giảm, nhưng mỗi năm, dân số vẫn tăng thêm hơn 1 triệu người, cho thấy sự gia tăng dân số vẫn diễn ra mạnh mẽ.
Sự gia tăng dân số nhanh chóng tạo ra áp lực lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, ảnh hưởng đến việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời làm giảm chất lượng cuộc sống của người dân.
* Cơ cấu dân số trẻ
Dân số Việt Nam hiện đang trẻ và có sự biến đổi nhanh chóng về cơ cấu theo nhóm tuổi Theo số liệu năm 2014, tỷ lệ dân số từ 0 đến 14 tuổi chiếm 24,3%, trong khi đó, nhóm tuổi từ 15 đến 64 tuổi chiếm 70,1%.
Lực lượng lao động Việt Nam chiếm 60% dân số, với khoảng 53 triệu người từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế vào năm 2014 Mỗi năm, số lượng lao động tăng thêm khoảng 1,15 triệu người, điều này tạo ra thách thức trong việc sắp xếp việc làm cho họ.
1.3.3 Phân bố dân cư chưa hợp lý
Mật độ dân số trung bình là 271 người/km 2 (năm 2013) nhưng phân bố chưa hợp lý giữa các vùng
* Giữa đồng bằng với trung du miền núi
Khoảng 75% dân cư Việt Nam sống tại các vùng đồng bằng phì nhiêu ven sông lớn và biển Đặc biệt, đồng bằng sông Hồng có mật độ dân số cao nhất cả nước, đạt 971 người/km².
Dân cư ở trung du miền núi chiếm 25% tổng dân số, trong khi vùng núi và cao nguyên có diện tích lớn nhưng dân số lại rất ít, không đạt mức trung bình của cả nước Mật độ dân số thấp nhất thuộc về vùng Tây Bắc, chỉ với 89 người/km².
* Giữa thành thị với nông thôn
Dân cư Việt Nam phân bố không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, với dân số thành thị đạt 30,04 triệu người, chiếm 33,1%, trong khi dân số nông thôn lên tới 60,69 triệu người, chiếm 66,9% Tổng số dân số nam là 44,76 triệu người (49,33%), và dân số nữ là 45,97 triệu người (50,67%).
Sự phân bố dân cư không đều xuất phát từ nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội, bao gồm lịch sử định cư, điều kiện tự nhiên, và trình độ phát triển kinh tế - xã hội.
Sự phân bố dân cư không hợp lý gây khó khăn trong việc sử dụng lao động và khai thác tài nguyên Chẳng hạn, các khu vực miền núi giàu tài nguyên lại thiếu lao động, trong khi đó, các đồng bằng với diện tích hạn chế lại có quá nhiều người, dẫn đến tình trạng thừa lao động.
Sự gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế
Sản xuất vật chất là hoạt động quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, bao gồm sản xuất đồ vật và sản xuất con người Hai dòng sản xuất này tuy khác nhau nhưng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau, với dân số vừa là người sản xuất vừa là người tiêu dùng Cơ cấu dân số ảnh hưởng lớn đến quy mô và cấu trúc sản xuất tiêu dùng Tiến bộ trong sản xuất, như cơ giới hóa và tự động hóa, làm giảm nhu cầu lao động giản đơn, nâng cao trình độ tay nghề và thúc đẩy giảm tỷ lệ sinh Đồng thời, sự phát triển này cũng nâng cao mức sống, giảm tỷ lệ tử vong và tăng tuổi thọ.
Tình hình gia tăng dân số và tăng trưởng kinh tế ở các nước cho thấy rằng nhiều quốc gia chậm phát triển có mức GNP bình quân đầu người thấp nhưng tỉ lệ gia tăng dân số lại cao Ngược lại, các nước phát triển với GNP bình quân đầu người cao lại có tỉ lệ gia tăng dân số thấp, đặc biệt là tỉ lệ sinh.
Tỉ lệ gia tăng GNP bình quân đầu người được tính bằng tỉ lệ gia tăng GNP trừ đi tỉ lệ gia tăng dân số Để nâng cao chỉ tiêu GNP trên đầu người, tổng sản phẩm quốc dân cần phải tăng nhanh hơn tỉ lệ gia tăng dân số Việc giảm tốc độ gia tăng dân số sẽ góp phần làm tăng GNP tính trên đầu người Hiện tại, các nước có thu nhập thấp đang đối mặt với tỉ lệ gia tăng dân số cao, điều này hạn chế sự gia tăng GNP bình quân đầu người Ngược lại, các nước phát triển thường có tỉ lệ gia tăng dân số thấp hơn.
Tỷ lệ gia tăng dân số thấp đã tạo điều kiện cho GNP bình quân đầu người tăng nhanh Tuy nhiên, sự biến đổi này cũng dẫn đến khoảng cách ngày càng xa giữa các nước đang phát triển và các nước đã phát triển về chỉ tiêu GNP/người Nền kinh tế có ảnh hưởng lớn đến quá trình gia tăng dân số, thể hiện rõ trong sự chênh lệch giữa các quốc gia.
Khi nền kinh tế phát triển, điều này tạo ra nguồn lực cần thiết để cải thiện giáo dục và y tế Sự phát triển của giáo dục và y tế không chỉ nâng cao nhận thức của người dân mà còn giúp họ hiểu biết hơn về các kỹ thuật hạn chế sinh đẻ, từ đó góp phần giảm tỷ lệ sinh.
Nền kinh tế hiện đại yêu cầu người lao động có trình độ cao, khiến cha mẹ chú trọng nâng cao trình độ học vấn cho con cái hơn là chú ý đến số lượng Ở các quốc gia phát triển, hệ thống bảo hiểm xã hội và phúc lợi tốt giúp cha mẹ yên tâm hơn về tương lai, giảm bớt nhu cầu có nhiều con, đặc biệt là con trai.
Dân số và các vấn đề xã hội
1.5.1 Dân số và giáo dục
1.5.1.1 Ảnh hưởng của dân số đến giáo dục
Dân số là yếu tố quan trọng trong giáo dục, ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu và chất lượng của hệ thống giáo dục Sự thay đổi về dân số tác động trực tiếp đến sự phát triển số lượng và chất lượng giáo dục Ở các nước phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số cao và cơ cấu dân số trẻ có thể dẫn đến những thách thức nghiêm trọng cho sự phát triển của nền giáo dục.
- Quy mô và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô hệ thống giáo dục
Quy mô dân số lớn có tác động trực tiếp đến sự phát triển của giáo dục, khi tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường (kí hiệu là e) ổn định hoặc giảm chậm Điều này dẫn đến nhu cầu giáo dục phổ thông (G) phụ thuộc vào quy mô dân số (P).
G: Quy mô của nhu cầu giáo dục
P: Quy mô dân số e: Tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường trong tổng số dân
Sự thay đổi quy mô dân số có tác động trực tiếp đến quy mô giáo dục Cụ thể, tốc độ tăng dân số cao đồng nghĩa với việc số lượng học sinh trong độ tuổi đến trường cũng gia tăng Ví dụ, vào năm 2010, hai quốc gia A và B đều có dân số 55 triệu người, cho thấy mối liên hệ giữa dân số và giáo dục.
Vào năm 2015, dân số nước A đạt 70,4 triệu người, tăng 2,5%, trong khi nước B có 62,58 triệu người, tăng 1,3% Nếu 20% dân số là trẻ em trong độ tuổi đến trường, thì nước A có khoảng 14,8 triệu trẻ em (70,4 triệu x 20%), còn nước B có 12,5 triệu trẻ em (62,58 triệu x 20%) Điều này cho thấy quy mô dân số là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của quy mô giáo dục.
Tác động gián tiếp của quy mô và tốc độ tăng dân số thể hiện rõ ràng qua ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, đồng thời ảnh hưởng đến mức đầu tư cho giáo dục.
- Cơ cấu theo tuổi cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của giáo dục
Các nước đang phát triển thường có dân số trẻ, dẫn đến tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học cao gấp đôi so với các nước phát triển Điều này có nghĩa là, mặc dù số dân tương đương, nhưng với cấu trúc tuổi khác nhau, các nước nghèo phải cung cấp giáo dục cho số lượng trẻ em lớn hơn so với các nước giàu.
Tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học ở nước B chỉ đạt 15%, tương đương với 9,78 triệu trẻ em, thay vì 12,5 triệu như tính toán trước đó Điều này cho thấy cơ cấu dân số trẻ góp phần làm gia tăng nhu cầu giáo dục Ở nhiều nước đang phát triển, mức sinh cao dẫn đến cơ cấu dân số trẻ với tháp tuổi mở rộng ở đáy Do đó, quy mô giáo dục tương ứng với dân số này có số lượng học sinh cấp I lớn hơn cấp II và cấp III Ngược lại, ở các nước có cơ cấu dân số già, số lượng học sinh cấp I lại ít hơn cấp II và cấp III.
Phân bố địa lý dân số có ảnh hưởng lớn đến hệ thống giáo dục, đặc biệt là ở các thành phố và vùng đông dân Tại những khu vực này, kinh tế phát triển đồng nghĩa với việc trẻ em có nhiều cơ hội đến trường hơn, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống giáo dục Ngược lại, nhiều quốc gia chưa chú trọng đến việc phát triển giáo dục ở các vùng hẻo lánh, khiến cho việc thu hút giáo viên đến làm việc tại những nơi này trở nên khó khăn.
Mật độ dân số có tác động lớn đến số lượng và chất lượng giáo dục Khi mật độ dân số quá cao, số lượng trẻ em trong độ tuổi đi học tăng lên, dẫn đến tình trạng quá tải và học sinh phải học ca 3 Ngược lại, ở những khu vực dân cư thưa thớt, số trẻ em đi học không đủ, thường xuất hiện hình thức dạy học lớp ghép Bên cạnh đó, khoảng cách từ nhà đến trường cũng là một yếu tố gây khó khăn cho ngành giáo dục.
- Các yếu tố dân số khác ảnh hưởng đến hệ thống giáo dục
Tuổi kết hôn, mức sinh, tỷ lệ tử vong và di cư có tác động đáng kể đến hệ thống giáo dục Cụ thể, việc kết hôn muộn giúp kéo dài thời gian học tập, trong khi kết hôn sớm ở những người đang học có thể dẫn đến việc nghỉ học hoặc gián đoạn quá trình học.
1.5.1.2 Ảnh hưởng của giáo dục đến dân số
Giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đến dân số thông qua các yếu tố như kết hôn, sinh, chết và di dân Tuy nhiên, hiệu quả của giáo dục đối với dân số không phải là ngay lập tức, mà cần thời gian để được kiểm nghiệm Chẳng hạn, việc giảm mức sinh bắt đầu từ sự chuyển biến nhận thức từ quan niệm truyền thống "đông con hơn đông của" sang "gia đình ít con, ấm no hạnh phúc", dẫn đến việc chấp nhận và thực hiện các biện pháp tránh thai và sinh ít con Bên cạnh giáo dục, còn nhiều yếu tố khác cũng góp phần vào sự chuyển biến này.
Giáo dục có ảnh hưởng lớn đến hôn nhân, thể hiện qua quyền lựa chọn bạn đời, độ tuổi kết hôn lần đầu và quyết định ly hôn Những thanh niên có trình độ học vấn cao, đặc biệt là phụ nữ, thường có khả năng lựa chọn người bạn đời theo ý muốn, xác định thời điểm kết hôn và đưa ra quyết định ly hôn khi cần thiết.
- Ảnh hưởng của giáo dục tới mức sinh
Sinh sản không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn là một sự kiện quan trọng, đồng thời là một bài toán đầu tư lớn về kinh tế, thời gian và sức lực của con người Sự hiểu biết càng cao sẽ giúp con người có những quyết định đúng đắn hơn trong quá trình này.
Năng lực điều chỉnh hành vi sinh sản là quyền cơ bản của mỗi công dân, cho phép họ sinh sản hoặc hạn chế sinh sản một cách tự nguyện và tự giác Quyền này không chỉ phụ thuộc vào sự hiểu biết của mỗi người mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của xã hội.
Kế hoạch hóa gia đình không phải là kiến thức tự nhiên mà được hình thành qua tuyên truyền và giáo dục Giáo dục phổ thông giúp mọi người biết đọc, biết viết, từ đó tiếp nhận thông tin về dân số và kế hoạch hóa gia đình, hiểu rõ lý do cần hạn chế sinh sản Đối với phụ nữ, giáo dục nâng cao năng lực làm việc và địa vị xã hội, dẫn đến việc họ thường kết hôn muộn và sinh ít con Nam giới cũng dễ chấp nhận quan hệ bình đẳng trong việc chia sẻ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình Nghiên cứu cho thấy, trình độ học vấn cao hơn tương ứng với tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai cao hơn, dẫn đến số con ít hơn Tuy nhiên, học vấn của phụ nữ cần đạt đến một ngưỡng nhất định mới có ảnh hưởng rõ rệt đến mức sinh, như ở Châu Á, mức sinh giảm khi phụ nữ học hết cấp 1 và chuyển sang cấp 2.
MÔI TRƯỜNG
Hiện trạng khai thác tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên bao gồm tất cả các nguồn vật liệu, năng lượng và thông tin có trên Trái Đất cũng như trong vũ trụ, mà con người có thể khai thác để phục vụ cho cuộc sống và phát triển.
Tài nguyên có hai nhóm:
- Tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các yếu tố tự nhiên như khoáng sản, đất đai, nước, sinh vật,…
Tài nguyên nhân văn, hay còn gọi là tài nguyên con người, bao gồm sức lao động, trí tuệ, thông tin, các công trình kinh tế - kỹ thuật, cũng như phong tục và tập quán của xã hội Trong khi đó, tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội.
Tài nguyên thiên nhiên là các thành phần tự nhiên được sử dụng để đáp ứng nhu cầu xã hội, bao gồm vật chất hình thành từ quá trình phát triển của tự nhiên, sinh vật và con người Chúng cung cấp nguyên liệu và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Tài nguyên thiên nhiên có tính hai mặt: vừa liên quan đến trình độ phát triển lực lượng sản xuất, vừa là vật thể tự nhiên bị chi phối bởi quy luật tự nhiên Khi trình độ lực lượng sản xuất tăng cao, số lượng và khả năng sử dụng tài nguyên cũng sẽ thay đổi liên tục.
2.1.2 Phân loại tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên rất đa dạng và được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau a Phân loại tài nguyên theo các thuộc tính tự nhiên
Tài nguyên đất Tài nguyên nước
Tài nguyên khí hậu Tài nguyên sinh vật
Tài nguyên khoáng sản Tài nguyên năng lượng
Tài nguyên biển và đại dương b Phân loại tài nguyên theo khả năng có thể bị hao kiệt trong quá trình sử dụng của con người
- Tài nguyên không bị hao kiệt
Tài nguyên tái tạo như năng lượng Mặt trời, năng lượng gió, không khí, năng lượng địa nhiệt và tổng trữ lượng nước của thế giới có trữ lượng lớn và ổn định Tuy nhiên, việc sử dụng không hợp lý các nguồn năng lượng này có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường.
- Tài nguyên có thể bị hao kiệt
Tài nguyên tự nhiên là những vật thể và hiện tượng có số lượng và chất lượng thay đổi trong quá trình sử dụng Chúng có thể bị hao kiệt và được phân loại thành tài nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không thể phục hồi.
Tài nguyên phục hồi là những tài nguyên tự nhiên có khả năng tái tạo liên tục, cho phép con người sử dụng bền vững Những tài nguyên này bao gồm rừng, động vật, độ phì của đất và nước ngọt, và nếu được quản lý khôn ngoan, chúng có thể tự duy trì và thậm chí gia tăng Việc áp dụng các biện pháp hợp lý như bón phân, canh tác thông minh và trồng cây họ đậu có thể cải thiện độ phì của đất, trong khi lai tạo và chuyển đổi gen giúp tăng số lượng loài sinh vật.
Tài nguyên không có khả năng phục hồi là những nguồn lực có giới hạn về khối lượng, bao gồm khoáng sản và nhiên liệu, và chúng bị hao hụt dần trong quá trình sử dụng mà không thể tái tạo Những tài nguyên này được hình thành qua lịch sử địa chất kéo dài, do đó, việc tiết kiệm và sử dụng hiệu quả là rất cần thiết để bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này.
Quan niệm về tính có thể bị hao kiệt của tài nguyên thiên nhiên chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào quy mô lãnh thổ trong quá trình đánh giá.
Trên quy mô toàn cầu, nước ngọt không phải là tài nguyên bị hao kiệt nhờ vào vòng tuần hoàn ẩm giữa đại dương, khí quyển và lục địa Tuy nhiên, ở các khu vực nhỏ, nước ngọt trở thành tài nguyên khan hiếm do bị khai thác quá mức và ô nhiễm, dẫn đến tình trạng không thể phục hồi.
2.1.3 Các loại tài nguyên thiên nhiên
Khoáng sản là nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng, bao gồm các dạng như than đá, dầu mỏ, kim loại và khoáng vật, được sử dụng chủ yếu trong các ngành công nghiệp Chúng tồn tại ở ba trạng thái: rắn (quặng, đá), lỏng (dầu mỏ, nước khoáng) và khí (khí đốt), đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển của nền kinh tế hiện đại Con người đã khai thác và sử dụng khoáng sản từ rất lâu, và chúng được phân loại thành bốn nhóm chính.
- Khoáng sản nhiên liệu: dầu mỏ, than, khí đốt, đá cháy (còn gọi là băng cháy), quặng phóng xạ,
- Khoáng sản kim loại: quặng sắt, đồng, thiếc, nhôm, titan, mangan,…
- Khoáng sản phi kim: apatit, photphorit,
Trữ lượng khoáng sản trên Trái Đất là hữu hạn, và sự gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cùng với tiến bộ kỹ thuật đã mở rộng quy mô khai thác khoáng sản, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên Hàng năm, hàng trăm tỉ tấn quặng được khai thác, con số này ngày càng gia tăng do sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp Tỉ lệ các nguyên tố sinh ra khoáng sản có ích thường thấp và phân bố không đều, tạo ra sự chênh lệch giữa các nước giàu và nghèo khoáng sản Để khai thác và chế biến khoáng sản, cần có vốn đầu tư lớn cho khoa học, công nghệ thăm dò và xây dựng ngành công nghiệp Các nước có ngành công nghiệp khai khoáng phát triển thường là những nước giàu, trong khi các nước đang phát triển dù có nhiều khoáng sản nhưng thiếu vốn và công nghệ hiện đại, khiến phần lớn khoáng sản của họ bị khai thác bởi các công ty nước ngoài.
Theo thống kê của Viện Tài nguyên thế giới (tháng 8/1998) cho biết việc khai thác khoáng sản diễn ra mạnh làm suy giảm nguồn tài nguyên này
Bảng 2.1: Số năm còn khai thác được của một số khoáng sản trên thế giới Loại khoáng sản
Nguồn: Lê Văn Trưởng, 2005
Tác động của hoạt động khai khoáng đối với môi trường và con người:
Tạo ra bụi chủ yếu trong quá trình nổ mìn, đào đất, bốc xúc, vận chuyển khoáng sản
Tạo ra khí độc hại từ khối khoáng sản đang khai thác và vật liệu nổ mìn bao gồm khí metan, CO2, CO, khí trơ,…
Môi trường nước đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do các dòng thải từ khai thác, mang theo cát, bùn và các chất độc hại như kim loại nặng, dầu mỡ và hóa chất Nước ngầm trong các moong, lò, giếng và nước khoan cũng bị ô nhiễm bởi các chất rắn lơ lửng Hơn nữa, việc đào moong và khai thác đã dẫn đến suy kiệt và hạ thấp mực nước ngầm, làm ô nhiễm các tầng chứa nước ngọt.
- Môi trường đất, sinh thái, cảnh quan,…
Khai thác khoáng sản tạo ra lượng lớn đất bóc và phế thải, yêu cầu diện tích lưu trữ lớn và gây nhiều tác động tiêu cực đến môi trường.
Khu vực khai thác khoáng sản thường bị mất lớp đất màu mỡ, dẫn đến tình trạng xói mòn nghiêm trọng, gây khó khăn cho việc tái phủ xanh rừng và đe dọa sự sống của nhiều loài động vật quý hiếm.
Khai thác khoáng sản tạo ra các moong sâu, núi đã thải đã làm thay đổi cơ bản địa hình nguyên thủy, tạo ra các tai biến môi trường
Hoạt động khai thác khoáng sản tạo ra tiếng ồn vượt quá mức cho phép, do ảnh hưởng từ các thiết bị khai thác và nổ mìn, gây tác động tiêu cực đến đời sống của người dân địa phương.
Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi các yếu tố trong môi trường, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, lao động, sản xuất và đời sống Cụ thể, ô nhiễm làm biến đổi tính chất vật lý, hóa học và sinh học của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, gây hại cho sức khỏe con người, tổn hại tài sản văn hóa và làm suy giảm tài nguyên của Trái Đất.
- Phát sinh từ tự nhiên : núi lửa, thiên tai,…
- Phát sinh từ các hoạt động của con người : nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải,…
Ô nhiễm môi trường chủ yếu do các nhân tố như chất hóa học độc hại trong nước thải công nghiệp và sinh hoạt, khí thải COx, SOx, NOx, CFC, cùng với các chất phóng xạ và tiếng ồn.
2.2.1 Ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí là sự có mặt của chất lạ hoặc sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm cho nó không sạch, có mùi khó chịu, bụi làm giảm tầm nhìn,…
Ô nhiễm không khí có thể được gây ra bởi nhiều nhân tố tự nhiên, bao gồm cát bay, bụi từ núi lửa, khói từ các đám cháy, hơi nước biển và bọt muối từ sóng biển, cùng với quá trình phân hủy xác sinh vật Ngoài ra, các hoạt động nhân tạo như công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và phương tiện giao thông cũng đóng góp đáng kể vào ô nhiễm không khí.
Bảng 2.2: Lượng khí thải do hoạt động nhân sinh (đơn vị: triệu tấn)
Nguồn gây ô nhiễm Tác nhân gây ô nhiễm
COx Bụi SOx CnHm NOx
2 Đốt nhiên liệu (than, xăng, dầu, khí đốt, gỗ củi) 1,7 8,1 22,2 0,7 8,8
3 Quá trình sản xuất công nghiệp 8,8 6,8 6,6 4,2 0,2
4 Xử lý chất thải rắn 7,1 1,0 0,1 1,5 0,5
5 Các hoạt động khác (cháy rừng, đốt các sản phẩm, đốt rác thải, hàn kim loại trong xây dựng 15,3 8,8 0,5 3,8 1,6
Nguồn: Lê Văn Khoa (2002), Khoa học môi trường,
NXB Giáo dục HN, Trang 187-188
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2012 ghi nhận khoảng 7 triệu ca tử vong toàn cầu do ô nhiễm không khí Trong số đó, 3,3 triệu ca tử vong liên quan đến ô nhiễm trong nhà, trong khi ô nhiễm ngoài trời gây ra 2,6 triệu ca tử vong, chủ yếu xảy ra ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình tại Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương.
WHO đã xác nhận rằng ô nhiễm không khí đang trở thành mối nguy hiểm lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu, với một trong tám ca tử vong liên quan đến vấn đề này Tiến sĩ Maria Neira nhấn mạnh rằng rủi ro từ ô nhiễm không khí đã vượt xa những gì chúng ta từng nghĩ, đặc biệt là đối với bệnh tim mạch và đột quỵ Bà cho rằng cần có hành động phối hợp để làm sạch môi trường hít thở hàng ngày, vì giảm thiểu ô nhiễm không khí có thể cứu sống hàng triệu người mỗi năm Tiến sĩ Flavia Bustreo cũng khẳng định rằng giải quyết ô nhiễm không khí sẽ giúp ngăn ngừa bệnh tật, đặc biệt là cho phụ nữ, trẻ em và người cao tuổi.
Việt Nam đứng trong top 10 quốc gia có không khí đô thị ô nhiễm nhất thế giới, theo nghiên cứu của các trường đại học Mỹ được công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới tháng trước Vấn đề ô nhiễm bụi mịn trong không khí, chủ yếu do giao thông và xây dựng đô thị, đang trở thành một thách thức nghiêm trọng hiện nay.
Sự lan truyền chất ô nhiễm trong khí quyển bị ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính: điều kiện khí tượng, địa hình khu vực và nguồn thải Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ và phạm vi khuyếch tán của các chất ô nhiễm không khí.
Điều kiện khí tượng ảnh hưởng đến sự lan truyền chất gây ô nhiễm không khí bao gồm hướng gió, phân bố nhiệt độ khí quyển, độ ẩm và chế độ mưa Trong đó, hướng gió là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự di chuyển của các chất ô nhiễm.
Địa hình khu vực đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền chất ô nhiễm, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố nhiệt độ trong khí quyển và hướng gió.
- Đặc điểm nguồn thải có ảnh hưởng mạnh tới sự khuếch tán chất ô nhiễm chịu ảnh hưởng mạnh của địa hình, tốc độ gió,
Nhiệm vụ 1: Làm việc theo cặp, hãy liệt kê:
- Những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường không khí nói riêng
- Những chất chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không khí
Nhiệm vụ 2: Làm việc theo nhóm Sử dụng bảng trên để:
- Cộng theo hàng để tìm ra tổng khối lượng các chất thải theo nguồn gây ô nhiễm
- Cộng theo cột để tìm ra khối lượng chất thải theo tác nhân gây ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường nước, theo Hiến chương châu Âu, là sự biến đổi chất lượng nước chủ yếu do con người gây ra, dẫn đến ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến nhiều lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, và giải trí Khi thành phần và tính chất của nước vượt quá ngưỡng cho phép, ô nhiễm nước trở nên nguy hại, gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho con người như dịch tả, kiết lị, viêm ruột, thương hàn, viêm gan và bại liệt.
Trên toàn cầu, ngành công nghiệp và khu dân cư tiêu thụ khoảng 600-700 km³ nước, trong đó khoảng 500 km³ nước thải được xả ra các sông, hồ và biển Lượng nước thải này thường chứa nhiều hóa chất độc hại, chất hữu cơ và vi khuẩn gây bệnh, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng ở nhiều sông hồ trên thế giới.
Ô nhiễm dầu và chất thải công nghiệp đang gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng ở đại dương, gia tăng do sự cố từ các dàn khoan và tàu chở dầu Dầu tràn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh vật biển và hệ sinh thái ven bờ, làm giảm khả năng quang hợp của thực vật biển, từ đó tác động xấu đến chuỗi thức ăn trong hệ sinh thái Các thành phần nhẹ trong dầu gây ô nhiễm không khí khi bay hơi, trong khi kim loại nặng lắng đọng dưới đáy biển, ảnh hưởng đến các loài thủy sinh như san hô Động vật có vú biển và chim bị dính dầu sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì nhiệt độ cơ thể và trao đổi chất, đồng thời ăn phải dầu sẽ dẫn đến chứng mất nước và giảm khả năng tiêu hóa Dầu có thể ngấm sâu vào đất và nước ngầm, gây ô nhiễm lâu dài mặc dù bề mặt có thể không còn dấu hiệu của dầu do thủy triều rửa trôi.
Theo Viện Khoa học và Tài nguyên Môi trường biển, từ năm 1989 đến nay, Việt Nam đã ghi nhận khoảng 100 vụ tràn dầu do tai nạn tàu, với lượng dầu tràn ra biển dao động từ vài chục đến vài trăm tấn Những vụ tràn dầu này thường xảy ra vào tháng 3-4 ở miền Trung và từ tháng 5-6 ở miền Bắc.
Sự cố tràn dầu gây ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái, đặc biệt là rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, đầm phá, vùng triều và các rạn san hô Tình trạng này đe dọa sự sống của nhiều loài sinh vật và làm suy giảm chất lượng nước, dẫn đến những tác động lâu dài đối với môi trường biển.
Phương hướng và chương trình hành động về bảo vệ môi trường
Suy thoái môi trường tác động tiêu cực đến sức khỏe, năng suất lao động và chất lượng cuộc sống Các bộ luật bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn cơ quan quản lý Nhà nước và cá nhân thực hiện khai thác tài nguyên một cách bền vững, nhằm bảo vệ và phát triển môi trường.
2.3.1 Luật bảo vệ môi trường
2.3.1.1 Luật bảo vệ môi trường liên quốc gia
Có nhiều vấn đề toàn cầu hoặc liên quốc gia được thể hiện qua các công ước, tuyên bố, quy định và thông lệ Có ít nhất ba tình huống đáng chú ý liên quan đến những vấn đề này.
Khí quyển và biển cả là những tài nguyên toàn cầu chung, nhưng sự tích tụ khí nhà kính và sự mỏng dần của tầng ozon do khí CFC thải ra đang gây ra những mối đe dọa nghiêm trọng cho môi trường.
Nhiều quốc gia hợp tác quản lý tài nguyên môi trường chung, như các con sông và vùng biển Các hiệp định quốc tế được thiết lập nhằm ngăn chặn việc xả thải chất thải phát xạ và các chất thải khác ra biển Luật quốc tế về vùng ngoài bờ biển quy định rằng mỗi quốc gia có quyền kiểm soát một vùng kinh tế độc quyền kéo dài đến 200 hải lý.
Một số tài nguyên của mỗi quốc gia không chỉ có giá trị đối với riêng quốc gia đó mà còn mang ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng toàn cầu, như các rừng rậm nhiệt đới, các hệ sinh thái độc đáo và các loài sinh vật đặc biệt.
2.3.1.2 Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam
Năm 1991, Việt Nam đã thông qua kế hoạch quốc gia về môi trường và phát triển bền vững Đến tháng 12/1993, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 10/1/1994, nhằm cụ thể hóa điều 29 của Hiến pháp năm 1992 trong quản lý nhà nước về môi trường Luật này giao trách nhiệm cho chính quyền các cấp, các tổ chức kinh tế - xã hội và mọi công dân trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Tính đến tháng 4/1995, đã có 22 nghị định và quyết định được ban hành để hướng dẫn và làm rõ các quy định của Luật bảo vệ môi trường.
Luật bảo vệ môi trường gồm 7 chương, 55 điều
Bộ luật đã thống nhất các thuật ngữ quan trọng trong Luật bảo vệ môi trường, bao gồm môi trường, bảo vệ môi trường, thành phần môi trường, chất thải và chất gây ô nhiễm.
Luật bảo vệ môi trường tập trung vào việc phòng ngừa và ứng phó với suy thoái môi trường, ô nhiễm và các sự cố môi trường.
Luật bảo vệ môi trường có mục tiêu giáo dục mọi tổ chức và cá nhân nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, nhằm hướng tới sự phát triển bền vững.
Bài tập: Thực trạng ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí ), liên hệ thực tế địa phương: Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp giải quyết
Báo cáo này tập trung vào mối liên hệ giữa môi trường và sức khỏe của sinh viên tại nơi học tập Môi trường học tập có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe thể chất và tinh thần của sinh viên, bao gồm chất lượng không khí, tiếng ồn và điều kiện vệ sinh Việc cải thiện môi trường học tập không chỉ nâng cao hiệu suất học tập mà còn giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh lý Sinh viên cần được trang bị kiến thức về bảo vệ môi trường và sức khỏe để có thể xây dựng một môi trường học tập an toàn và lành mạnh Hơn nữa, các cơ sở giáo dục nên chú trọng đến việc tạo ra không gian xanh và các hoạt động thể chất để khuyến khích sinh viên duy trì lối sống khỏe mạnh.