1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU MỘT SỐ LOẠI DỊCH BỆNH GÂY RA Ở NGƯỜI VÀ GIA SÚC GIA CẦM

30 579 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu một số loại dịch bệnh gây ra ở người và gia súc gia cầm
Tác giả Hoàng Thị Xuân
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Nam
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Y học
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 192 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU MỘT SỐ LOẠI DỊCH BỆNH GÂY RA Ở NGƯỜI VÀ GIA SÚC GIA CẦM

Trang 1

MỞ ĐẦU

Lịch sử nhân loại đã ghi nhận nhiều hiện tượng tự nhiên gây thiệt hại về người và tài sản mà người ta gọi là những tai biến thiên nhiên Phân theo nguồn gốc phát sinh thì có nhiều loại tai biến thiên nhiên khác nhau, trong đó tai biến

do sinh vật được xem là một trong những loại tai biến gây thiệt hại hàng đầu, đáng sợ nhất đối với loài người

Đối với những tai biến do sinh vật, con người vừa là nguyên nhân quan trọng trong việc thúc đẩy, gây ra các thảm họa dịch bệnh cũng như mất cân bằng sinh thái, con người cũng đồng thời là nạn nhân của các thảm họa do sinh vật

đó Con người đang cố gắng tìm mọi cách để cứu lấy mình trước thảm họa do sinh vật

Tìm hiểu về nguyên nhận, hậu quả của những tai biến do sinh vật là việc làm hết sức cần thiết Có thể nói sự hiểu biết về những tai biến do sinh vật có ý nghĩa rất lớn trong việc tự bảo vệ mình của con người Bài báo cáo của nhóm tìm hiểu về những tai biến do sinh vật cũng không nằm ngoài mục đích đó

NỘI DUNG

Trang 2

1.Khái niệm và đặc điểm chung của các tai biến do sinh vật

1.1 Khái niệm

Sinh vật là một cơ thể sống, nó thưc hiện các quá trình chuyển động, trao đổi chất, sinh trưởng, sinh sản và phản ứng đối với các kích thích bên ngoài Tuy nhiên, không phải mọi cơ thể sống đều giống nhau Nhiều sinh vật không có khả năng tự chuyển động và phản ứng trực tiếp đối với môi trường đã gây biến động quá lớn, tăng hoặc giảm về số lượng loài, sản lượng cá thể vượt quá khả năng tự điều chỉnh, dẫn đến sự phá vỡ cân bằng sinh học tạo nên tai biến sinh

1.2 Đặc điểm chung của các tai biến do sinh vật

- Xảy ra trong giới sinh vật, trong đó có con người Nguyên nhân do sinh vật và nạn nhận cũng là sinh vật

- Tai biến xảy ra có tính lây lan không có một giới hạn xác định về mặt không gian

- Tai biến do sinh vật thường xảy ra khó dự đoán trước được thời điểm Thường không có dấu hiệu để nhận biết

- Loại tai biến này gây ra hậu quá khó lường, không có một tài liệu hay một

hệ thống nào có thể phân cấp về mức độ tàn phá của nó

- Tai biến do sinh vật gây thiệt hại về người và của thông qua con đường sinh học và các chuyển hóa sinh – hóa học trong cơ thể sinh vật

2 Nguyên nhân dẫn tới tai biến do sinh vật

2.1 Con người

Là một trong những tác nhân chính tạo ra ngày càng nhiều môi trường thuận lợi cho nhiều dịch bệnh mới có điều kiện lây nhiễm thuận lợi hơn trước rất nhiều

- Dân số gia tăng làm cạn kiệt nguồn tài nguyên địa phương cùng sự tàn phá rừng, đã xô đẩy nhiều nông dân vào sống tại các đô thị trong các khu nhà ổ chuột thiếu vệ sinh, thiếu tiện nghi, thiếu nước sạch, các bãi rác thải dễ nảy sinh dịch bệnh

Trang 3

- Sự di dân ồ ạt từ vùng này snag vùng khác, sự rút ngắn khoảng cách nhờ phương tiện giao thông hiện đại cũng làm lan nhanh bệnh dịch đi khắp nơi Ví

dụ như bệnh lao, bệnh Sat…

- Sự đói nghèo chiếm 30% nhân loại với 1,3 tỉ người sống thiếu thốn hoàn toàn và suy kiệt vì thiếu dinh dưỡng triền mien, không đủ sức đề kháng lại các tác nhân nhiễm trùng đặc biệt ở Châu Phi nơi có 50% dân số đói kém và luôn bị nạn nói hoành hành

- Đói kém dẫn đến thất học nên trình độ học vấn của con người thấp, khả năng nhận biết cũng như phòng tránh các bệnh dịch thấp Ngược lại con người còn ra sức tàn phá tự nhiên, làm ô nhiễm môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh phát sinh và lây lan một cách nhanh chóng không kiểm soát được

- Với lối sống hiện đại ngày nay cũng làm cho các tác nhân gây nhiễm trùng bùng phát thành dịch lớn trong vài giờ Với nền kinh tế toàn cầu, sự phát triển thương mại quốc tế và du lịch…giữa các nước bằng đường không, chỉ cần vài giờ, thực phẩm tươi sống nhiễm trùng hoặc một dịch sẽ lan truyền rât nhanh

- Lối sống tập trung với các quán hàng công cộng, bếp ăn tập thể trong các trường học, bệnh viện… trở thành những ổ dịch tiềm tàng vì hội tụ nhiều tác nhân gây bệnh

- Di cư, mở rộng quan hệ quốc tế: Sự thay đổi môi trường sống làm cơ thể con người thay đổi, dễ mắc bệnh, mềm bệnh được phát tán rộng khắp tạo thành dịch

- Giáo dục, tuyên truyền về sức khỏe ở các nước kém phát triển chưa được chú trọng những kiến thức về sức khỏe, bệnh tật và ý thức tự bảo vệ sức khỏe chưa được trang bị đầy đủ dịch bệnh lây lan nhanh chóng phổ biến trên phạm vi rộng

2.2 Tự nhiên

Sự thay đổi bất thường của thời tiết và khí hậu ở các vùng nhiệt đới đã gia tăng sự sinh sản của muỗi và côn trùng gây nên nhiều loại bệnh Các đợt nắng

Trang 4

nóng kéo dài, nhiệt độ không khí tăng, gây nên những tác động tiêu cực đối với sinh vật và con người, gây hủy diệt nghiêm trọng

3 Một số loại tai biến sinh vật thường gặp và những tác động của nó

3.1 Các dịch bệnh do các loại virut, vi khuẩn hoặc sinh vật ngoại ký sinh gây ra

Bệnh dịch là một sự bùng phát của một loại bệnh không thể khống chế, lan rộng với tốc độ cao và ảnh hưởng nghiêm trọng, gây nguy hại tới loài người Một đại dịch là một bệnh dịch lan tràn toàn cầu

3.1.1 Bệnh dịch hạch:

a.Nguyên nhân:

Bệnh do trực khuẩn Yersinapestis gây ra, lưu hành trong quần thể động vật thuộc những loài gặm nhấm (chủ yếu là chuột) và bọ chét ký sinh trên chúng Từ

đó, bệnh lây truyền sang người qua trung gian bọ chét nhiễm khuẩn

b Phương thức lây truyền:

* Trong tự nhiên, bệnh dịch hạch lan truyền theo các con đường sau: chủ yếu lây qua đường máu

- Đường máu: Lây qua vết đốt của côn trùng Chủ yếu là do bọ chét Xenopsylla cheopis Thứ yếu là: chấy, rận, rệp Bọ chét hút máu làm lan truyền bệnh trong các giống chuột và từ chuột sang người

- Đường tiêu hoá: Thực phẩm, nước bị ô nhiễm do chuột trực tiếp gieo rắc mầm bệnh vào Đường lây này trên thực tế ít nguy hiểm vì trực khuẩn dịch hạch

dễ bị chết khi đun sôi, nấu chín

- Đường hô hấp: Từ bệnh nhân dịch hạch thể phổi có thể lây trực tiếp cho người xung quanh qua các giọt đờm, nước bọt bắn ra khi bệnh nhân ho, hắt hơi, nói chuyện

- Đường da, niêm mạc: Qua tiếp xúc trực tiếp với vùng da tổn thương (hiếm gặp)

c Biểu hiện và hậu quả của bệnh:

Trang 5

Bệnh dịch hạch ở người gồm các thể bệnh: thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết, thể phổi và thể màng não, thường gặp hơn cả là thể hạch (chiếm hơn 90% các thể bệnh).

+Thể hạch :

Biểu hiện :

Người bị nhiễm bệnh phát bệnh đột ngột, có dấu hiệu ớn lạnh, mệt mỏi, đau

cơ, đau bụng, buồn nôn và đau đầu Sau đó, bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát với các triệu chứng đặc trưng là nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sưng hạch Hạch có thể to bằng ngón tay cái hoặc bằng quả trứng gà, lúc đầu đau và cứng chắc, sau đó, hạch mềm hóa mủ Thể hạch có thể tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn huyết, thể phổi hoặc viêm màng não thứ phát

Hậu quả:

Nếu không được điều trị sớm và thích hợp, thể hạch rất dễ tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn tối cấp với sốt cao 40-41oC, tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc, huyết áp giảm, mạch nhanh, nhỏ, vật vã, rối loạn tinh thần, hôn mê, thường bệnh nhân chết trong vòng 3-5 ngày

+ Dịch hạch thể phổi :

Biểu hiện: Bệnh nhân sốt cao, rét run, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, bứt

rứt.Khoảng 24 giờ sau bệnh nhân sẽ thấy đau tức ngực, khó thở, thở nhanh nông.Ho có đờm nhầy và loãng sau đặc dần, có máu hoặc có nước bọt

Hậu quả: thường xuất hiện tràn dịch màng phổi, có biến chứng phù phổi

cấp, tỷ lệ tử vong cao

 Cái chết Đen (năm 1347- năm 1351):

Cái chết Đen là tên gọi của một đại dịch xảy ra ở châu Á và châu

Âu trong thế kỷ 14 mà đỉnh điểm là ở châu Âu từ năm 1348 đến năm 1350 “Cái chết đen” được coi là một trong những đại dịch chết chóc nhất trong lịch sử nhân loại,

Nguyên nhân: sự bùng phát của bệnh dịch hạch gây ra bởi vi khuẩn

Yersinia pestis, tác nhân chính gây bệnh là do bọ chét truyền bệnh từ chuột sang

Trang 6

người và xuất phát từ một thuyền buôn trên biển Đen truyền vào thành phố Mesina (đảo Cicile, Italia) Đại dịch này là sự tổng hợp của 4 dạng dịch bệnh chết người: dịch hạch, sốt thương hàn, nhiễm trùng máu, viêm phổi

Hậu quả: dịch bệnh tàn sát với tốc độ kinh hoàng: Từ lúc phát ban đến lúc

tử vong chỉ trong khoảng 8-12 giờ gây ra một hậu quả kinh hoàng Tại rất nhiều thành phố đông dân, tỷ lệ thiệt mạng đã vượt quá 50% dân số Khoảng một nửa dân số Paris, tức 100.000 người, đã thiệt mạng vì “Cái chết đen”, đại dịch cũng khiến dân số thành phố Firenze ở Ý giảm từ chừng 120.000 người xuống còn 50.000 người vào năm 1338, ít nhất 60% dân số các thành phố Hamburg và Bremen đã thiệt mạng Ước tính châu Âu đã phải mất tới 150 năm để phục hồi dân số như trước thời gian xảy ra đại dịch

 Đại dịch hạch Ju Xtinian (năm 541 và năm 588)

Dịch hạch được ghi nhận đầu tiên ở Ai Cập và nhanh chóng lan sang Thổ N

hĩ Kỳ Chỉ trong 2 năm, đại dịch hạch giết chết 40% dân số Thổ Nhĩ Kỳ Nhà sử học Porôcô Pilút ghi lại rằng, vào lúc cao điểm, mỗi ngày dịch hạch giết chết 10

000 người Sau đó dịch lan rộng ra khắp miền

Đông của Địa Trung Hải, khiến 1/4 dân số trong khu vực chết Đại dịch hạch quay trở lại và bùng phát vào năm 588, với tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn và lan rộng sang Ấn Độ và châu Âu Số người thiệt mạng lên đến hơn 25 triệu người

Trang 7

virus làm cho vắc-xin ngừa cúm cũng phải được điều chỉnh hàng năm nhằm có thể ngăn ngừa được các biến thể của virus cúm A và B.

b Phương thức lây truyền:

- Bệnh lây tryền qua đường hô hấp, qua không khí giọt nhỏ qua ccas giọt nhỏ nước bọt hay dịch tiết mũi họng của bệnh nhân có chứa virut cúm qua ho, hắt hơi Vi rút vào cơ thể qua đường mũi họng

- Tỷ lệ lây lan càng mạnh khi tiếp xúc trực tiếp và mật thiết, đặc biệt ở nơi tập trung đông người như trường học,nhà trẻ Trong điều kiện thời tiết lạnh và

ẩm thấp, tế bào đường hô hấp của người dễ bị tổn thương, làm tăng tính cảm nhiễm với bệnh

c Biểu hiện:

- Chảy nước mũi, nước mũi, nghẹt mũi, hắt xì,đau tai, ngứa và khô cổ họng, và ho

- Ăn không ngon, mệt mỏi

- Khả năng vị giác và khứu giác có thể bị giảm, khan giọng, nói nhưnghẹt mũi

- Người lớn có thể bị nóng sốt nhẹ, nhưng trẻ em có thể bị nóng nhiều hơn

d Hậu quả:

- Bệnh cúm là một bệnh gây tàn phá nặng nề và là bệnh lý hô hấp cấp, tàn phá đời sống con người từ rất lâu

- Sau khi khỏi bệnh bệnh nhân chắc chắn sẽ suy yếu cơ thể nói chung Đường thở và phổi bị tổn thương cũng cần một thời gian lâu dài để hồi phục

- Đại dịch cúm nặng nề gần đây nhất là đại dịch cúm “Tây Ban Nha” vào năm 1918-1919 đã giết chết khoảng 20 - 40 triệu người trên toàn thế giới

- Bình thường hàng năm, có khoảng 10% dân số thế giới nhiễm cúm, tức là khoảng 600 triệu người

 Đại dịch cúm châu Á 1957-1958

Nguyên nhân: Đại dịch cúm châu Á do chủng virus cúm týp A/H2N2 gây

ra Được xác định đầu tiên ở Trung Quốc vào cuối tháng 2-1957, rồi nhanh

Trang 8

chóng lan ra khắp thế giới ngay trong năm đó và đến tháng 6-1957 thì dịch cúm châu Á lan tới Mỹ

Hậu quả: toàn thế giới có khoảng 1 triệu người chết, riêng ở Mỹ số người

tử vong khoảng 72.000 người

 Đại dịch SARS 2002-2003.

- SARS (Hội chứng hô hấp cấp tính nặng) là bệnh đường hô hấp gây viêm

phổi không điển hình ở những người bị nhiễm Viêm phổi không điển hình gây sưng và suy yếu phế nang, làm giảm cung cấp máu tại chỗ cũng như ức chế vận chuyển oxy

- Mặc dù nguyên nhân chưa được xác định, song các nhà khoa học cho rằng bệnh do virut mới thuộc họ coronavirus gây ra Cũng có ý kiến cho rằng virut bắt nguồn từ động vật, nhưng dường như nó không có gì giống với các virut đã thấy ở trên người và động vật

- Các triệu chứng

+ Sốt cao trên 38 ° C

+ Ho, thở nông, khó thở, đau đầu hoặc đau họng

Nếu có một trong các vấn đề trên, cần đi khám bệnh ngay lập tức

- Lây nhiễm

+ Virut có thể lây lan qua dịch hô hấp do hắt hơi

+ Vi rút cũng có thể lây lan gián tiếp như tiếp xúc với những đồ vật có dính dịch bài tiết của cơ thể chứa vi rút như điện thoại, tay xoay cửa bị nhiễm vi rút Bởi vì vi rút có thể sống từ 3-6 giờ ở ngoài cơ thể người

+ Bệnh có thể được lây truyền qua không khí

+ Vi rút tồn tại trong phân (và nước tiểu) ở nhiệt độ phòng trong ít nhất 1-2 ngày, thậm chí tới 4 ngày

+ Vi rút mất hoạt tính gây nhiễm sau khi tiếp xúc với các chất tiệt khuẩn và

có thể bị chết ở 56 ° C

- Sự nguy hiểm

Trang 9

Tỷ lệ tử vong khoảng 3 - 5% Có tài liệu cho rằng có thể lên đến 10%, đặc biệt là ở những người cao tuổi Những người bị nhiễm xảy ra viêm phổi có thể gây nhiều biến chứng Thể trạng suy sụp rất nhanh, trong vòng vài ngày.

- Hậu quả:

Năm 2003, virut SARS đã gây nên một cơn ác mộng đối với toàn thế giới Đây là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cực cao và tiềm ẩn nhiều vấn đề mà khoa học cũng không thể xác định được May mắn cho cả thế giới là SARS đã được khống chế kịp thời Virut SARS chỉ tồn tại trong 6 tháng trước khi nó có thể gây

ra hàng trăm cái chết đáng sợ cho con người

3.1.3 Bệnh AIDS

a Khái niệm:

AIDS (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải, hay bệnh liệt kháng) là

một hội chứng của nhiều bệnh nhiễm trùng (ví dụ: lao, viêm phổi, nấm), mà người nhiễm HIV gặp phải do hệ miễn dịch của cơ thể bị tổn thương hoặc bị phá hủy nặng nề Các bệnh này được gọi là các bệnh nhiễm trùng cơ hội AIDS được coi là giai đoạn cuối của quá trình nhiễm HIV Tuy nhiên, mỗi người khi mắc AIDS sẽ có những triệu chứng khác nhau, tùy theo loại bệnh nhiễm trùng

cơ hội mà người đó mắc phải, và khả năng chống đỡ của hệ miễn dịch mỗi người

- Khi số lượng tế bào T CD4+ giảm, người đó dễ mắc một số bệnh mà cơthể người khoẻ mạnh bình thường đủ sức chống lại

c Phương thức lây truyền

Trang 10

- Qua quan hệ tình dục: HIV có thể sống trong tinh dịch của nam giới, dịch

nhờn âm đạo của phụ nữ, vì vậy nếu quan hệ tình dục bừa bãi bằng đường âm đạo, đường hậu môn hay đường miệng mà không có sử dụng “bảo vệ” như bao cao su thì rất dễ dàng nhiễm bệnh HIV

- Qua đường máu: Virut HIV sống trong máu người bệnh, vì vậy bạn sẽ dễ dàng mắc bệnh khi:

+ Dùng chung bơm kim tiêm, dụng cụ tiêm chích mà người bệnh HIV đã

sử dụng

+ Truyền máu phải máu của người mắc bệnh HIV

+ Săm trổ bằng vật dụng đã sử dụng cho người nhiễm HIV

+ Tiếp xúc vết thương hở, rách da thịt với máu, tinh dịch hay dịch âm đạo của người mắc bệnh HIV

+ Do tai nạn y tế: chọc phải kim tiêm đã tiêm cho người nhiễm HIV vào người

- Qua mẹ truyền sang con: Mẹ bị nhiễm HIV mang thai cũng có thể truyền

sang cho con trong lúc mang thai, trong quá trình chuyển dạ và đẻ vì em bé dễ dính máu có nhiễm HIV của mẹ truyền sang, hoặc lúc cho con bú, trong sữa mẹ

có chứa virut HIV truyền sang

d Biểu hiện:

1 Nhóm triệu chứng chính:

- Sụt cân trên 10% cân nặng

- Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng

- Sốt kéo dài trên 1 tháng

2 Nhóm triệu chứng phụ:

- Ho dai dẳng trên 1 tháng

- Ban đỏ, ngứa da toàn thân

- Nổi mụn rộp toàn thân (bệnh Herpes)

- Bệnh Zona (giời leo) tái đi tái lại

Trang 11

- Nhiễm nấm (tưa) ở hầu, họng, kéo dài hay tái phát.

- Nổi hạch ít nhất là 2 nơi trên cơ thể (không kể hạch bẹn) kéo dài trên 3 tháng

- Năm 2004 tổng số người có HIV trên toàn thế giới đã tăng lên đến con số chưa từng có từ trước tới nay: 39,4 triệu người Riêng trong năm 2004, số người

có HIV mới trên thế giới là 4,9 triệu người, còn số người chết vì HIV/AIDS là 3,1 triệu người

-Trong đó người có HIV tăng nhanh nhất hiện nay là ở khu vực Đông Á (50%), tiếp đó là khu vực Trung á (40%), rồi đến khu vực Đông Âu và Ca-ri-bê (Trung Mỹ)

- Dịch HIV/AIDS đang gia tăng một cách nhanh chóng ở Việt Nam.Tính

trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có thêm hơn 100 người bị nhiễm HIV Chỉ tính riêng trong năm 2005, ước tính đã có 37 000 người Việt Nam bị nhiễm HIV.Số người đang sống với HIV năm 2006 là 280 000 người, gấp hơn hai lần con số đó của năm 2000 là 122 000 người Con số trẻ em bị nhiễm và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cũng đang ngày càng gia tăng

3.1.4 Bệnh Lao

a Nguyên nhân: Do vi khuẩn gọi là mycobacterium Người khoẻ mạng bị

truyền vi khuẩn lao qua đường hô hấp trong môi trường không khí từ ho hoặc hắt hơi từ phía người nhiễm bệnh

b Phương thức lây truyền

Trang 12

- Bệnh Lao lây nhiễm qua đường hô hấp do hít phải vi khuẩn Cốc( mang tên nhà hóa học Đức Koch cuối thế kỉ 19 phát hiện ra vi khuẩn Lao) do những người bệnh khi họ thở ra trong không khí.

- Ai cũng có thể mắc bệnh Lao Tuy nhiên những trường hợp dưới đây dễ mắc phải nhất

+ Những người thở chung bầu không khí với người có bệnh( người trong gia đình, người làm việc chung hoặc bạn hữu)

+ Những người nghèo, những người không có nhà

+ Những người di dân đến từ những nơi có nhiều người bị bệnh Lao

+ Những người nghiện rượu và chích thuốc phiện, những người đang bị bệnh tiểu đường, ung thư, bị xuống cân và nhất là những người có vi khuẩn HIV

c.Biểu hiện

- Người bị lao có thể có một số hoặc tất cả các triệu chứng sau đây:

- Cảm thấy mệt mỏi triền miên, ăn không ngon miệng, giảm cân vô cớ, ho kéo dài hơn ba tuần, sốt, ra mồ hôi về đêm Đôi khi người bị lao có thể ho ra đờm vấy máu

- Một người mắc bệnh lao không được điều trị mỗi năm sẽ gây bệnh cho 15 – 20 người khác

Trang 13

- Trẻ em mắc bệnh lao nặng có thể bị tử vong hoặc để lại di chứng tàn tật không phảt triển về thể chất và tihh thần gây ảnh hưởng đến giống nòi.

- Một quốc gia có nhiều người mắc bệnh lao sẽ làm cho quốc gia đó đó chậm phát triển, yếu kém nghèo nàn lạc hậu

Một người bình thường có thể nhiễm bệnh sốt rét qua 3 cách thức sau đây:

- Do muỗi truyền(Phổ biến)

- Do truyền máu

- Truyền qua rau thai

Ngoài ra những người tiêm chích ma túy dùng chung bơm kim tiêm cũng

có thể bị mắc căn bệnh này

c Biểu hiện

Cơn sốt điển hình : trải qua 3 giai đoạn

- Giai đoạn rét run : xảy ra dữ dội kéo dài từu 1 đến 2 giờ, bệnh nhân rét

run cầm cập (đắp nhiều chăn, răng va vào nhau) da tái nhợt, môi tím

- Giai đoạn nóng : thân nhiệt tăng vọt 39 – 40 độ ; kéo dài 30 phút đến 1

giờ kèm theo mặt đỏ, mắt xung huyết đỏ, nhức đầu dữ dội, mạch nhanh nhịp thở nhanh, có thể nôn

- Giai đoạn vã mồ hôi : sốt dần dần hạ, bệnh nhân ra nhiều mồ hôi, có cảm

giác khát nước, sau đó cảm thấy dễ chịu dần và trở lại trạng thái gần như bình thường

d.Hậu quả

- Gây thiếu máu: Do Ký sinh trùng vào trong máu nên chúng phá vỡ hàng loạt hồng cầu, dẫn đến thiếu máu, da xanh, môi thâm, mệt mỏi, gầy yếu

- Gan to, lách to

Trang 14

- Trẻ em bị mắc bệnh SR cơ thể còi cọc chậm lớn, kém thông minh.

- Phụ nữ có thai mắc SR dễ gây sẩy thai, đẻ non hoặc khi sinh dễ mắc phải những tai biến

3.1.6 Bệnh dịch tả.

a Nguyên nhân

Nguyên nhân gây ra bệnh tả thường là do nhiễm trùng đường ruột do vi trùng Vibrio cholerae gây ra tiêu chảy nặng kèm theo mất nước và có thể dẫn đến tử vong trong một số trường hợp Robert Koch là người nhận dạng được vi trùng gây bệnh tả vào năm 1883

b Phương thức truyền bệnh

- Bệnh tả chủ yếu truyền qua nguồn thức ăn hoặc nguồn nước bị nhiễm khuẩn Ở các nước phát triển, hải sản thường là nguyên nhân chính, còn ở các nước đang phát triển con đường truyền chủ yếu từ nguồn nước

- Bên cạnh đó là dùng nước nhiễm vi trùng gây bệnh Vi trùng gây bệnh

có nhiều nhất ở trong phân của người bệnh và trong nước thải có chứa phân Ngoài ra cá và các thực phẩm khác từ nước nhiễm vi trùng gây bệnh cũng

có thể là nguồn gây bệnh do nấu ăn không kỹ hoặc ăn hải sản sống Loài vi khuẩn này có thể sống một cách tự nhiên trong bất kỳ môi trường nào

- Bệnh nhân nôn rất dễ dàng (lúc đầu ra thức ăn, sau toàn nước), thường không sốtít khi đau bụng Do mất nước và điện giải, người bệnh mệt lả, bị chuột rút

Bệnh tả có 4 thể:

Trang 15

+Thể không có triệu chứng;

+ Thể nhẹ giống tiêu chảy thường;

+ Điển hình nhất là thể cấp tính như miêu tả ở trên;

+ Thể tối cấp (diễn biến nhanh chóng, bí tiểu, suy kiệt nhanh chóng sau vài giờ và tử vong)

- Ở Pháp, năm 1832, gần 40.000 người dân Paris mắc dịch tả và phần nửa trong số đó đã bỏ mạng; trong số nạn nhân có cả tể tướng Năm 1848-1849, một

số lượng người tương tự cũng đã chết vì dịch bệnh

3.2 Các loại dịch gia súc, gia cầm

a Dich cúm gia cầm:

- Khái niệm

Cúm gà hay cúm gia cầm là một loại bệnh cúm do virus gây ra cho các loài gia cầm (hay chim), và có thể xâm nhiễm một số loài động vật có vú Virus này được phát hiện lần đầu tiên là tại Ý vào đầu thập niên 1900 và giờ đây phát hiện

ở hầu hết các nơi trên thế giới

- Nguyên nhân:

Virus cúm gà có tên khoa học là avian influenza (AI) thuộc nhóm virus cúm A của họ Orthomyxociridae Đây là những retrovirus, mang vật liệu di

Ngày đăng: 03/01/2014, 11:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w