Vấn đề toàn cầu: Bùng nổ dân số và những hậu quả
Trang 1Đ TÀI: BÙNG N DÂN S Ề Ổ Ố
BÀI BÁO CÁO TỔ 2
Trang 2CẤU TRÚC MỞ ĐẦU NỘI DUNG KẾT LUẬN1.Khái 2.Các 3.Biểu 4
Trang 3Chùm ảnh về thế giới chật chội
Trang 4I MỞ ĐẦU
Vấn đề toàn cầu là những vấn đề có tính toàn thế giới và tính toàn nhân loại, có hậu quả vô cùng nghiêm trọng, đe dọa sự sống còn đối với loài người và là những vấn đề chỉ có thể dựa vào nỗ lực chung của toàn nhân loại mới giải quyết được Từ khi lịch sử loài người bắt đầu, dân số loài người không ngừng gia tăng mặc dù tốc độ và đặc điểm gia tăng khác nhau ở từng châu lục, từng quốc gia, và chịu tác động của nhiều yếu tố, bùng nổ dân số là một trong các giai đoạn của mô hình quá độ dân số, nó diễn ra như một xu thế tất yếu, nhưng cùng với sự tiến bộ của xã hội loài người tốc độ gia tăng dân số quá nhanh, hiện tượng bùng nổ dân số đã, đang tác động sâu sắc về mọi mặt đối với kinh tế- xã hội toàn cầu, trở
thành một trong những vấn đề nóng mang tính toàn cầu hiện nay.
Trang 5II NỘI DUNG
1 Những khái niệm chung
- Dân số là tập hợp của những con người đang sống ở một vùng địa lý hoặc một không gian nhất định, thường được đo bằng một cuộc điều tra dân số
-Bùng nổ dân số là sự gia tăng dân số quá nhanh trong một thời gian ngắn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội của con người
-Quá độ dân số là một quan niệm được sử dụng rộng rãi để lý giải sự thay đổi các kiểu sản xuất dân cư trên thế giới Người đầu tiên đưa ra quan niệm này là nhà dân số học người Pháp
A Ladry cùng với việc sử dụng thuật ngữ "Cách mạng dân số" ra đời vào những năm 1909 -1934 Tư tưởng này được F.W Notestein, nhà dân số học Hoa kỳ, kế tục và trình bày cụ thể hơn vào năm 1945
- Mô hình quá độ dân số :
Trang 6Gia tăng TN
Mức sinh Mức tử
MÔ HÌNH QUÁ ĐỘ DÂN SỐ
MÔ HÌNH QUÁ ĐỘ DÂN SỐ
Trang 72 Các thời kì dân số
- Trong lịch sử loài người số dân tăng lên không ngừng, tuy
nhịp độ có khác nhau Chỉ ở một vài thời điểm tương đối ngắn như chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, thì nhịp độ gia tăng dân số thế
giới bị suy giảm
- Nhìn chung, lịch sử phát triển dân số thế giới bao gồm bốn
thời kỳ như sau:
Thời kỳ trước khi có sản xuất
- Dân số tăng rất chậm do trình độ phát triển lực lượng sản xuất còn thấp kém và con người còn bị lệ thuộc nhiều vào tự nhiên
Môi trường tự nhiên đã là giới hạn của sự phát triển dân số trong thời kỳ này
Trang 8Thời kỳ từ đầu nông nghiệp đến cách mạng công nghiệp
- Với cuộc Cách mạng đồ đá mới làm xuất hiện chăn nuôi, trồng trọt và chuyển hoạt động của con người từ săn bắt, hái lượm sang sản xuất các sản phẩm nông nghiệp Công cụ bằng đá được thay thế bằng đồng, bằng sắt.
- Khu dân cư lớn hàng triệu người tập trung tại các trung tâm văn minh dựa trên cơ sở nền nông nghiệp được tưới nước như Ai Cập (7 triệu người), Ấn Độ, Trung Quốc.
Thời kỳ từ cách mạng công nghiệp tới chiến tranh thế giới thứ hai
- Nét nổi bậc của thời kỳ này là việc chuyển cư quốc tế được thực hiện với quy mô lớn dẫn tới những thay đổi đáng kể trong sự phân bố dân cư thế giới.
Trang 9Thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai
- Nhìn chung, sự gia tăng dân số thể giới liên tục đã dẫn tới bùng
nổ dân số Nhưng sự phát triển dân số diễn ra rất khác nhau giữa các khu vực trên thế giới Các nước kinh tế phát triển đã trải qua thời kỳ biến đổi dân số và đi vào thời kỳ có dân số ổn định Trong khi đó ở các nước đang phát triển dân số vẫn tăng với nhịp độ cao
Trang 103 Biểu hiện bùng nổ dân số thế giới
- Dân số thế giới tăng nhanh, nhất là ở nửa sau thế kỉ XX Năm 2009 dân số thế giới là 6810 triệu người
Biểu đồ quy mô dân số thế giới qua các thời kì
Đầu CN1650 1830 1930 1960 1975 1987 1999 2003 2005 2007 2009 0
Trang 11Thời gian dân số tăng gấp đôi và tăng thêm 1 tỉ người của thế giới
(Dân số học đại cương – Nguyễn Minh Tuệ)
Trang 12- Sự bùng nổ dân số hiện nay trên thế giới diễn ra chủ yếu ở các nước đang phát triển Các nước này chiếm khoảng 80% dân số và 95% số dân gia tăng hàng năm của thế giới.
Trang 13• Dự báo trong tương lai:
- Dân số thế giới năm 2017 sẽ là 7 tỷ người.
- Dân số thế giới năm 2050 sẽ là 9 tỷ người
- Số dân tại các quốc gia kém phát triển sẽ tăng từ 5,3
tỷ lên đến 7,8 vào năm 2050.
- Dân số của các nước phát triển sẽ gần như không
thay đổi và duy trì ở mức 1,2 tỷ.
Trang 144 Nguyên nhân bùng nổ dân số
• Mức tử trên thế giới giảm mạnh :
- Do áp dụng rộng rãi các công nghệ y tế công cộng như thuốc kháng sinh và chất dinh dưỡng, thuốc tiêu
chảy , vắcxin ở các nước.
- Chất lượng cuộc sống tăng cao, trình độ văn hóa
được nâng lên.
- Phong tục tập quán và tâm lí xã hội:
Ở một số nước đặc biệt là các nước phương Đông vẫn còn những quan niệm lạc hậu như trọng nam khinh nữ, trời sinh voi sinh cỏ, sinh con quý tử,muốn có con trai, muốn đông con.
Trang 15- Nhân tố kinh tế xã hội:
+ Điều kiện sống và mức sống thấp dẫn đến mức sinh cao
+ Trình độ công nghiệp hóa và đô thị hóa thấp
thường có mức sinh cao.
+ Ở các nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, nhu cầu lao động tay chân cao cũng là nguyên nhân dẫn đến việc đông con.
Trang 165 Hậu quả của bùng nổ dân số
Hậu quả của bùng nổ dân số
Y tế
và chăm sóc sức khỏe
Thu nhập
và mức sống
Cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Ô nhiễm môi trường
Phát triển bền vững
Tốc
độ phát triển kinh tế
Tiêu dùng
và tích lũy
Trang 17
- Kinh tế: tỉ lệ người thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao, thiếu vốn để đầu tư phát triển kinh tế
Trang 18• Xã hội: không đảm bảo được các vấn đề văn hóa, y tế, giáo
dục, thu nhập cho con người, chất lượng cuộc sống thấp
- Một kết quả nghiên cứu của Ấn Độ cho thấy nếu dân số tăng
13 triệu người thì xã hội phải tăng 2,5 triệu nhà ở; 126 nghìn trường học, 372 nghìn giáo viên, 188 triệu mét vải, 12,5 triệu tấn lương thực thực phẩm và hơn 4 triệu việc làm
- Đời sống khó khăn, từ đó dẫn đến sự gia tăng các tệ nạn xã hội: trộm cướp, giết người,mại dâm
Trang 19* Nghèo đói
- Thế giới còn 1,2 tỉ người có mức thu nhập dưới 1 đôla mỗi ngày (1/5 dân số thế giới)
- 2,8 tỉ người dưới 2 đôla/ngày (51%)
- 600 triệu trẻ em sống trong đói nghèo
Trang 21được (chấn thương, tiêu chảy,…)
- Mỗi năm có một nửa triệu phụ nữ chết
vì thai sản = Cứ 1 phút có một người mẹ
bị chết
- 1/3 số người chết ở các nước đang phát triển có nguyên do từ nghèo đói
Trang 22*Chất lượng cuộc sống thấp, cơ sở vật chất phục vụ cuộc sống thiếu thốn
Cuộc sống trong các khu ổ chuột
Không đủ trường lớp để học tập
Cơ sở y tế thiếu thốn
Trang 234 Hậu quả của bùng nổ dân số
• Môi trường: tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm.
Trang 24- Hiện nay trên thế giới có 1,1
tỷ người chưa được sử dụng nước
*Thiếu nước sạch
Trang 25*Suy giảm tài nguyên rừng
Diện tích rừng trên thế giới suy giảm nghiêm trọng Trong thế kỉ XX, diện tích rừng đã giảm gần một nửa
Đầu thế kỉ XX: 6 tỉ ha
Năm 1958: 4,4 tỉ ha
Năm 1973: 3,8 tỉ ha
Năm 1995: 3,5 tỉ ha
Trang 266 Giải pháp
• Xây dựng chính sách dân số phù hợp
• Ban hành các giải pháp về luật:
- Việt Nam qui định mỗi gia đình chỉ có 1-2 con.
- Trung Quốc ban hành qui định mỗi gia đình có 1 con từ năm 1979.
• Tuyên truyền các biện pháp tránh thai.
• Xây dựng hệ thống tuyên truyền dân số đến tận cơ sở
• Nâng cao chất lượng cuộc sống.
Trang 277 Liên hệ với Việt Nam
• Việt Nam có tốc độ gia tăng dân số nhanh và từ nửa sau thế kỉ 20 bước vào giai đoạn bùng nổ dân số
Biểu đồ dân số Việt Nam thời kì 1900 - 2009
1900 1921 1931 1941 1951 1965 1979 1989 1999 2005 2007 2009 0
Trang 28• Theo ý kiến của nhiều chuyên gia dân số thì số dân tăng thêm mỗi năm đang có xu hướng giảm dần Dù vậy, với quy mô và tốc độ tăng dân số như hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước có
số dân khá đông, đứng thứ 14 trên thế giới Trong đó, mật độ phân bổ dân cư khá cao : gấp 6 lần so với tiêu chuẩn quốc tế
• Như vậy, với thực trạng dân số Việt Nam như hiện nay, này đòi hỏi sự quan tâm phối hợp giải quyết ở mọi cấp độ nhằm hạn chế tình trạng tăng dân số với tốc độ chóng mặt, cũng như góp phần đưa dân số Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng ổn định
Trang 29III KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay thì bùng nổ dân số vẫn đang được coi là một trong các vấn đề mang tính toàn cầu Đó không chỉ do lỗi của bất kỳ một quốc gia nào, mà là trách nhiệm chung của toàn nhân loại Chính vì vậy, việc chung tay giải quyết bài toán khó này cần phải có sự phối hợp liên ngành, liên quốc gia và của toàn nhân loại Không một quốc gia nào có thể phát triển mà chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình, để cùng tồn tại và phát triển thì lợi ích chung, lợi ích quốc tế phải được đặt lên hàng đầu Tất cả các quốc gia, cùng với Liên Hợp Quốc và các tổ chức phi chính phủ cần phải cùng nhau đưa ra các kế hoạch, giải pháp có hiệu quả cho vấn đề này, cam kết và đồng thời thực hiện đầy đủ vai trò của mình, hướng tới một mục đích chung
cuối cùng: “phát triển bền vững”.