Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có vấn đề về đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi m
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để tạo ra và phát huy lợi thế cạnh tranh quốc tế của Việt Nam về nguồn lực con người trong quá trình toàn cầu hoá Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, của hệ thống chính trị
xã hội, của toàn dân, trong đó các nhà giáo là những người trực tiếp thực hiện và giữ vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng giáo dục Tổ chức Văn hoá và giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) cũng đã khuyến cáo rằng mọi cuộc cải cách giáo dục đều bắt đầu từ người giáo viên
Qua việc nghiên cứu nền giáo dục của các quốc gia trên thế giới ta có thể xem xét, học hỏi những điều hay, những kinh nghiệm quý báu và áp dụng một cách thích hợp vào thực tế nền giáo dục Việt Nam nhằm đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướngchuẩn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có vấn đề về đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình giáo dục (sau 2015), vấn đề nghiên
cứu các mô hình, kinh nghiệm của Phần Lan về “chính sách đào tạo và sử dụng hiệu quả đội ngũ giáo viên” là một việc cần thiết trong bối cảnh hiện nay, qua đó Việt Nam
có thể học tập kinh nghiệm và vận dụng vào điều kiện cụ thể của đất nước
PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Khái quát chung về đất nước Phần Lan
Phần Lan tên chính thức là Cộng hòa Phần Lan, nằm trong khu vực Bắc Âu, phía Đông và Đông Nam giáp Nga, phía Bắc giáp Na Uy, phía Tây giáp Thuỵ Điển, phía Nam và Tây Nam là vịnh Phần Lan, biển Baltic và vịnh Bothnia Thủ đô: Helsinki Diện tích: 338.145 km2, rừng chiếm 69%, đất canh tác 8%
Dân số: 5,8 triệu người(6/2009) Ngôn ngữ: 91,6% số dân có tiếng Phần Lan là tiếng
mẹ đẻ; 5,5% có tiếng Thuỵ Điển; tiếng Sami là tiếng mẹ đẻ của khoảng 1.700 người Phần Lan từng là một phần của Thụy Điển và từ năm 1809 là khu vực tự trị thuộc
đế quốc Nga Đến năm 1917, Phần Lan chính thức trở thành quốc gia độc lập
Trang 2Theo các nghiên cứu hiện nay về các chỉ số quân sự, chính trị, kinh tế, xã họi, Phần Lan được đánh giá là quốc gia ổn định thế giới Phần Lan là một trong nhữn quốc gia hàng đàu về chă sóc y tế, chế tạo công nghệ cao, mức tăng trưởng GDP và bảo vệ nhân quyền.
Hiện nay nền giáo dục Phần Lan luôn được xếp nhòm hàng đầu thế giới Theo chương trình đánh giá sinh viên quốc tê(PISA), năm 2000, học sinh Phần Lan sđứng đầu tuyeetk đối về kỹ nămng đọc hiểu và trong nhóm đứng đầu về Toán vầ khoa học tựnhiên Năm 2003, Phần Lan đứng sau Hàn Quốc về giải quyết tình huống Năm 2006, học sinh Phần Lan lại vươn lên các quốc gia trong khối hợp tác phát triển kinh
tế(OECD) gồm 57 quốc gia để đứng đầu trong cuộc điều tra giáo dục PISA Về giáo dục đại học, Phần Lan được diễn đàn kinh tế thế giới(WEF) xếp dẫn đầu thế giới về số lượng tuyển sinh và chất lượng xếp thứ hai về Toán và giáo dục khoa học
Ngoài thành tích đứng đầu các bảng xếp hạng, có một số đánh giá trong báo cáo củaOECD đã gây được sự chú ý chuyên gia giáo dục thế giớ và những tiêu chí rất khó vượt qua đối với các nước:
Thứ nhất, trong tất cả các môn thi, sự chênh lệch trình độ giữa các sinh viên Phần Lan (giữa học sinh kém nhất và học sinh giỏi nhất) là nhỏ nhất so với các nước OECD.Nói cách khác trình độ học sinh Phần La đồng đều nhất
Thứ hai, sự khác biệt về trình độ giữa các trường dự thi là rất nhỏ-sự chênh lệch giữatrường giỏi nhất và trường kém nhất chỉ 5%
Thứ ba, danh tiếng của trường không ảnh hưởng đến kết quả thi cử Trong khi ở các nước khác, học sinh ở trường có tiếng, trường chuyên, trường ở các thành phố lớn thì kết quả thi của học sinh trường đó thường cao hơn ở các trường ít danh tiếng và
trường ở tỉnh, huyện
Thứ tư, hoàn cảnh gia đình không ảnh hưởng đến trình độ của học sinh
Thứ năm, số giờ học ở trường của học sinh Phần Lan ít hơn nhiều so với mức trung bình của các nước OECD
Hệ thống giáo dục hiện nay chủ yếu dựa trên những cải cách từ những năm 1970, theo đó hệ thống giáo dục từ trung học được chia thành hai loại hình song song và liên thông là giáo dục chuyên đề học vấn và giáo dục hướng nghiệp Tôn giáo là một phần
Trang 3trong chương trình học ở Phần Lan Tất cả học sinh đều học về tôn giáo Các học sinh không theo tô giáo nào thì được tham gia một khóa học về triết lý cuộc sống.
2.2 Cơ cấu quản lý giáo dục Phần Lan
Bộ Giáo dục là cơ quan quản lý giáo dục cao nhất ở Phần Lan Chính sách giáo dục của Phần Lan hướng tới sự linh hoạt trong quản lý Quản lý giáo dục chủ yếu dựa vào nguyên tắc phân quyền và hỗ trợ Các hướng dẫn và chỉ đạo từ Trung ương được đưa ra ở cấp quản lý Trung ương nhưng việc tiến hành các chuẩn đó lại do cấp địa phương Chính phủ, Bộ Giáo dục và Hội đồng quốc gia về giáo dục của Phần Lan chịu trách nhiệm tiến hành chính sách giáo dục ở cấp quản lý Trung ương Chính phủ và BộGiáo dục đưa ra các quyết định về hệ thống giáo dục, về việc thành lập các cơ sở giáo dục trung học, cao đẳng, đại học, đưa ra định mức, chỉ tiêu cho từng khu vực và từng vùng đối với giáo dục hướng nghiệp
Hội đồng giáo dục quốc gia của Phần Lan quản lý việc phát triển các mục tiêu giáo dục, quản lý nội dung và phương pháp phù hợp với định hướng của Bộ giáo dục Hội đồng giáo dục đề ra và thông qua chương trình quốc gia cho giáo dục cơ bản; giáo dụctrun g học phổ thông đại trà; đào tạo hướng nghiệp và tiến hành đánh giá kết quả học tập
Cùng với Bộ Giáo dục, còn có các cơ quan, tổ chức chuyên biệt hỗ trợ hoạt động, như Hội đồng giáo dục cho người trưởng thành, Hội đồng đánh giá giáo dục cao đẳng, đại học, Ủy ban giáo dục, đào tạo hướng nghiệp và hội đồng tư vấn thanh niên Những
cơ quan chuyên môn này hỗ trợ Bộ Giáo dục trog những vấn đề thuộc chuyên môn củamình cũng như đánh giá lĩnh vực giáo dục của chính mình Những lĩnh vực giáo dục lớn, ngoài phạm vi của Bộ Giáo dục là: Chương trình chăm sóc trẻ em(Bộ Y tế và xã hội); đào tạo quân sự(Bộ Quốc phòng) và đào tạo cảnh sát, biên phòng và cứu hỏa(Bộ Nội vụ)
Để quản lý theo vùng, Phầ Lan được chia thành 6 tỉnh Mỗi tỉnh có một cơ quan quản lý, trong đó, sở giáo dục và văn hóa chịu trách nhiệm về các vấn đề giáo dục và văn hóa Trong những năm qua trách nhiệm của chính quyền tỉnh đã giảm đi nhiều; chỉcòn quản lý về hệ thống tuyển sinh quốc gia trong tỉnh(đến cuối 2007) và phân bổ các khoản trợ cấp nhà nước đặc biệt Quản lý ở địa phương có quyền tự chủ cao trong điều
Trang 4hành và có quyền thu thuế Cơ quan quản lý địa phương có vai trò và trách nhiệm lớn trong việc lập kế hoạch, sắp xếp và đánh giá các chương trình Khoảng 60% các cơ sở giáo dục do các hội đồng địa phương điều hành(thường là hai hoặc nhiều hơn các hội đồng kết hợp).
Trách nhiệm trong việc cấp kinh phí cho hoạt động giáo dục và xây dựng trường được chia ra giữa Chính phủ và chính quyền địa phương hoặc các nhà cung cấp giáo dục Tỷ
lệ trợ cấp Chính phủ phụ thuộc vào nguồn thu thuế ở địa phương Trợ cấp của Nhà nước cho đầu tư giáo dục là từ 25% đến 50% chi phí theo tính toán Các tiêu chí cấp kinh phí được xác định theo số lượng học sinh hoặc chỉ số về hiệu quả hoạt động và theo định giá của đơn vị trên một chỉ số do Bộ Giáo dục ban hành Các trường đại học được cung cấp tài chính trực tiếp từ nguồn ngân sách Nhà nước Lương của giáo viên
do trường hoặc nhà cung cấp giáo dục trả, thường là Hội đồng địa phương Trợ cấp củachính phủ vẫn áp dụng cho các trường do tư nhân điều hành
2.3 Khái quát hệ thống giáo dục Phần Lan
2.3.1.Giáo dục cơ bản
Giáo dục phổ thông của Phần lan gồm 9 năm học bắt buộc ở hệ thống trường học toàn diện và 3 năm học không bắt buộc ở trường THPT hoặc trường nghề Trước khi vào lớp 1, trẻ em được gửi đến các trung tâm chăm sóc trẻ và học sinh 6 tuổi học một năm dự bị tiểu học Học sinh chính thức vào lớp vào lúc 7 tuổi Tương tự như ở các trường tiểu học ở Việt Nam, trong 6 năm đầu học sinh Phần Lan ở mỗi lớp chỉ học với một giáo viên dạy tất cả các môn học Ba năm tiếp theo, học sinh học các môn học khác nhau với các giáo viên bộ môn khác nhau
Ở trường học toàn diện, học sinh chưa có quyền lựa chọn mà phải học các môn do
Bộ giáo dục quy định Tuy nhiên, do ngoại ngữ được xem là kỹ năng cơ bản nhất, bắt đầu từ lớp 3(10 tuổi), học sinh được quyền lựa chọn học tiếng Thụy Điển hoặc tiếng Anh Vào lớp 7(14 tuổi) nhọc sinh bắt buộc phải lựa chọn một ngôn ngữ thứ 3(nếu đã chọn tiếng Anh thì bắt buộc phải chọn tiếng Thụy Điển hoặc ngược lại) Như vậy, hết chương trình bắt buộc(17 tuổi), học sinh đa thạo 3 thứ tiếng là Phần Lan, Thụy Điển vàtiến Anh Hoàn thành chương trình giáo dục cơ bản 9 năm, học sinh có được trình độ như nhau, nhưng bước đầu đã có sự phân loại về năng khiếu
Trang 5Hệ thống toàn diện: Bảo đảm cho học sinh ngoài kiến thức cơ bản, học sinh được học các kỹ năng đẻ áp dụng vào các kiến thức và thức tế Ngoài các môn học bắt
buộc(Toán, Lý, Hóa, Khoa học, ) học sinh dần dần được quyền lựa chọn các môn họcphụ
Vào những năm cuối của giáo dục cơ bản, từ việc thụ động theo học các môn học bắt buộc, học sinh dần dần được chủ động hơn trong việc lựa chọn các học phần theo
sở thích Ngoài các học phần bắt buộc theo quy định toàn quốc(Toán, Lý, Hóa, Khoa học, ), học sinh được tự chọn 20% số giờ học Một năm học, trong tổng số trung bình
30 học phần, học sinh có thể học 6 học phần tự chọn(như vi tính, thiết kế website, nấu
ăn, thiết kế thời trang, âm nhạc, hội họa, thể thao, )
Có khoảng 20 học phần tự chọn khác nhau cho mỗi năm học Hệ thống đã được thiết
kế để học sinh càng học lên cao thì càng nhiều sự lựa chọn
2.3.2.Giáo dục trung học
Sau khi hoàn thành giáo dục cơ bản, học sinh được quyền chọn lựa giữa trường THPT và trường nghề Mặc dù không bắt buộc, phần lớn học sinh đều theo học ở giáo dục trung học Trường THPT chuẩn bị cho học sinh vào đại học, cho nên tất cả các môn học đều hướng đến nghiên cứu tổng quát.Cuối bậc học này,học sinh phải tham giamột kỳ thi tốt nghiệp toàn quốc, kỳ thi này nhằm phân loại sinh viên vào đai học Các trường nghề chủ yếu phát triển năng lực nghề và học sinh phải hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp để vào đại học kỹ thuật (polytechnic)
Giáo dục cơ bản và Giáo dục Trung học được chính quyền địa phương cấp ngân sách theo phê duyệt của cấp trên dựa trên số lượng học sinh Học sinh học ở bậc giáo dục cơbản và giáo dục trung học rất nhiều quyền lợi Những quyền lợi quan trọng nhất là chă sóc y tế và ăn trưa tại trường Học sinh bậc giáo dục cơ bản còn được cấp sách và đồ dùng học tập miễn phí, được hưởng dịch vụ xe đưa đón nếu ở xa Học sinh trung học phải tự mua sách và đồ dùng học tập
Ở Phần Lan cũng có trường tư nhưng không được Nhà nước khuyến khích Việc thành lập trường tư đòi hỏi phải có quyết định của Hội đồng Nhà nước Khi thành lập, các trương tư được cấp ngân sách tương tự như đối với trường công có cùng quy mô.các trường tư bị cấm thu học phí, phải tuyển sinh trên cơ sở giống như các trường công
Trang 6và thêm vào đó, phải cung cấp cho học sinh tất cả các quyền lợi như các học sinh ở trường công Chính vì vậy, hầu hết các trường tư hiện nay ở Phần Lan đều là các
trường của các tổ chức tôn giáo
2.3.3 Giáo dục đại học
Giáo dục bậc đại học ở Phần Lan là miễn phí và tự chọn Chính phủ tạo điều kiện cho sinh viên được vay vốn để chi phí cá nhân trong quá trình học tập Có 2 hệ thống giáo duc Đại học gồm: Đại học chuyên về học thuật(universities) và Đại học chuyên về
kỹ thuật, bách khoa(polytechnics) Kỳ thi tuyển sinh quốc gia được dùng để tuyển chọnhọc sinh vào các trường đại học Các trường đại học kỹ thuật, bách khoa tập trung chủ yếu vào những kỹ năng thực hành và ít khi phải nghiên cứu, họ tham gia vào những dự
án phát triển công nghiệp Ví dụ, ngành bác sĩ sẽ theo học và tốt nghiệp đại học chuyên
về học thuật(universities), trong kho y tá sẽ theo học chuyên về kỹ thuật(polytechnics).Tuy nhiên, nếu y tá muốn tiếp tục học nâng cao thì vẫn có thể theo học ở các trường đại học chuyên về học thuật Chương trình cử nhân thường kéo dài từ 3 đến 4 năm Tùy mỗi chương trình nhưng phần lớn sinh viên khi hoàn thành cử nhân có thể tiếp tục theo học thạc sỹ
Những cử nhân tốt nghiệp tại các đại học kỹ thuật, bách khoa (polytechnic) có thể tiếp tục học thạc sỹ tại các đại học chuyên về học thuật(universities) Thời gian chươngtrình thạc sỹ thường kéo dài khoảng hai năm và bằng cấp của sinh viên tốt nghiệp thạc
sỹ polytechnic có giá trị tương đương sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành học thuật
2.4 Những cải cách trong giáo dục Phần Lan
Từ những năm của thập niên 1970, Phần Lan đã chấm dứt hoàn thành việc phân loại học sinh , thi chuyển cấp và hai hệ thống trường học song song(parallel system-cấp 1 và 2) như Việt Nam và đa số các nước khác để chuyển sang hệ thống trường học toàn diện(comprehensive schools) Hệ thống này phát triển theo quy mô toàn diện, đảmbảo cho mọi nghười có cơ hội công bằng trong giáo dục, không phân biệt giới tính, địa
vị xã hội, dân tộc, theo Hiến pháp Khi đó, hệ thống trường song song được thay bằngchương trình giáo dục quốc gia 9 năm cơ bản Sự đổi mới đã dần dần được công nhận
ở Phần Lan khoảng từ năm 1972 đến năm 1977, bắt đầu từ phía Bắc và kết thúc ở phía Nam Trách nhiệm về chương trình giáo dục cơ bản gần như được trao hoàn toàn cho
Trang 7chính quyền địa phương, cho những nhà cung cấp giáo dục Chỉ có một số ít trường đặc biệt và các trường đại học là do Nhà nước điều hành.
Mỗi quan tâm đến nhu cầu của từng học sinh cũng như sự lựa chọn của học sinh đều phải được các trường tính tới khi xây dựng chương trình giảng dạy(curriculum), lựa chọn nội dung, sách giáo khoa, phương pháp giảng dạy, phương pháp và các công
cụ đánh giá học sinh Tất cả những yêu cầu này đòi hỏi phải có một chương trinh giảngdạy linh hoạt, theo đặc điểm từng trường và do từng giáo viên thiết kế, cùng với việc giảng dạy phải thực sự vì học sinh và lấy học sinh làm trung tâm, có chế độ tư vấn và bắt buộc phải có cơ chế giáo viên giúp đỡ các học sinh cá biệt hay yếu kém Từ đó chotới nay, hệ thống được dần hoàn thiện và tới thập niên 1990 áp dụng cho toàn bộ học sinh trong độ tuổi, kể cả những học sinh khuyết tật hoặc thiểu năng trí tuệ
Năm 1985, hệ thống xếp nhóm theo trình độ đã bị hủy bỏ và quyền được học cao lên được mở ra cho tất cả mọi người Các nhà cung cấp giáo dục ngày càng có nhiều cơhội quyết định cách thức tổ chức việc giảng dạy Mười năm sau, nhiều trường đưa ra hình thức xếp nhóm học sinh linh hoạt, theo đó, học sinh với các trình độ khác nhau học theo nhóm của mình Tuy nhiên, có thể chuyển đổi từ nhóm này sang nhóm khác ngay cả ở giữa năm học Khi đánh giá học sinh để cấp bằng tốt nghiệp sẽ áp dụng các tiêu chí giống nhau, không kể nhóm mà học sinh đó theo học
Cùng với việc chuyển sang hệ thống giáo dục toàn diện, một thay đổi quan trọng
mang tính quyết định thành công giáo dục Phần Lan hiện nay là việc đào tạo giáo viên trong hệ thống giáo dục toàn diện chuyển hoàn toàn sang cho các trường đại học
Trước đó, giáo viên được đào tạo trong trường sư phạm(như ở Việt Nam hiện nay) Chuyển việc đào tạo giáo viên sang các trường đại học cho phép các khoa trong trườngđại học chọn được những sinh viên chuyên khoa thật xuất sắc nhất, có tâm huyết nhất
để đào tạo trở thành giáo viên Thay vì tuyển sinh đại trà vào các trường sư phạm, các chuyên khoa Toán, Lý, Hóa, Sinh, Khoa học, có điều kiện lựa chọn những sinh viên xuất sắc nhất để đào tạo trở thành giáo viên đứng lớp, giáo viên bộ môn, giáo viên đặc biệt hoặc chuyên gia tư vấn Trên thực tế, chỉ 10% số sinh viên đăng ký được chọn để học trở thành giáo viên Thay vì đào tạo tại trường sư phạm, giáo viên được đào tạo tại khoa đào tạo giáo viên phối hợp với các chuyên khoa trong trường đại học
Trang 8Năm 1994, một thay đổi lớn đã được tiến hành nhằm giảm vai trò quản lý Nhà nướctrong việc quyết định nội dung và mục đích giảng dạy Hội đồng Giáo dục Quốc gia của Phần lan chỉ đặt ra những mục tiêu và nội dung rất rộng cho hoạt động giảng dạy các môn học khác nhau Người cung cấp giáo dục và cuối cùng là các trường tự đặt ra chương trình học của mình trên cơ sở chương trình học cốt lõi của quốc gia Trong những kế hoạch này, có thể xem xét nhu cầu ở địa phương và tận dụng các đặc điểm đặc biệt của trường Hệ thống thanh tra trường học chấm dứt Cơ quan quản lý Nhà nước trong giáo dục tin tưởng và trao quyền cho những nhà cung cấp giáo dục và giáo viên nhiều hơn, cũng như trao cho họ quyền quyết định nhiều hơn trong việc lựa chọn tài liệu giảng dạy tốt nhất hiện có trên thị trường Quá trình này tạo cơ hội cho cạnh tranh tự do về tài liệu giảng dạy và phát triển của giáo viên theo chương trình học Việcthực hiện các mục tiieu quốc gia được đánh giá một cách có hệ thống thông qua các khảo sát quốc gia và quốc tế về thành tích học tập.
2.5 Một số nhận định về nền giáo dục Phần Lan, một vài điểm so sánh với giáo dục Việt Nam
Để một đất nước phát triển văn minh thì giáo dục luôn là nền tảng mà các nhà hoạch
định chính sách hướng đến Muốn có một nền giáo dục tiên tiến thì một trong những tiêu chí quan trọng nhất đó là cần phải có đội ngũ giáo viên xuất sắc nhất
Các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đều có những chính sách để đào tạo và thu hút được đội ngũ giáo viên giỏi nhất Tại Phần Lan nghề giáo viên được xã hội tôn trọng và có tính chọn lọc cao, mọi giáo viên đều phải có bằng thạc sỹ
Ở Phần Lan hiện nay, việc đào tạo giáo viên trong hệ thống giáo dục toàn diện chuyển hoàn toàn sang cho các trường đại học Chuyển việc đào tạo giáo viên sang
các trường đại học cho phép các khoa trong trường đại học chọn được những sinh viên chuyên khoa thật xuất sắc nhất, có tâm huyết nhất để đào tạo trở thành giáo viên Thay
vì tuyển sinh đại trà vào các trường sư phạm, các chuyên khoa Toán, Lý, Hóa, Sinh, Khoa học, có điều kiện lựa chọn những sinh viên xuất sắc nhất để đào tạo trở thành giáo viên đứng lớp, giáo viên bộ môn, giáo viên đặc biệt hoặc chuyên gia tư vấn Trên thực tế, chỉ 10% số sinh viên đăng ký được chọn để học trở thành giáo viên Thay vì
Trang 9đào tạo tại trường sư phạm, giáo viên được đào tạo tại khoa đào tạo giáo viên phối hợp với các chuyên khoa trong trường đại học.
Ở Phần Lan để trở thành giáo viên phải có bằng thạc sỹ, sinh viên học bằng Cử nhân (180 tín chỉ), và tiếp tục học Thạc sỹ (120 tín chỉ)
Một tín chỉ theo chuẩn châu Âu tương đương 27 giờ học Sinh viên sẽ mất khoảng 5 năm để hoàn thành chương trình học 300 tín chỉ này
Riêng với giáo viên dạy mầm non và tiểu học, chương trình thạc sỹ chỉ có 60 tín chỉ Chỉ tiêu sinh viên sư phạm bằng với nhu cầu giáo viên:
Phần Lan chọn lọc kỹ các sinh viên thi vào ngành sư phạm trước khi đào tạo họ và chỉ tiêu tuyển sinh tương đương với lượng giáo viên thiếu trong ngành Ngay khi được tuyển chọn, sinh viên sẽ được Bộ giáo dục thuê và gần như chắc chắn được bảo đảm cóviệc làm Nhờ đó số người được tuyển chọn để đào tạo không nhiều nên chất lượng đào tạo tốt đồng thời sát nhu cầu tuyển dụng khi tốt nghiệp
Phần Lan cũng hạn chế chỉ tiêu tuyển sinh viên sư phạm, sao cho cung bằng cầu Phần Lan là nơi mà nghề giáo được xã hội kính trọng, dạy học là một nghề cao quý nên mang tính chọn lọc rất cao
Ở Việt Nam sinh viên sư phạm nhiều hơn mức nhu cầu giáo viên sẽ khiến cho ngành nghề sư phạm sẽ mất giá trị trong xã hội khi mà lượng sinh viên sư phạm thất nghiệp cao
Hiện nay ở Việt Nam có trên 13 trường chuyên môn đào tạo ngành sư phạm, trên
144 trường có ngành sư phạm Hầu như các tình thành đều có trường đào tạo giáo viên
từ cấp tiểu học đến THPT Mấy năm gần đây các trường này có xu hướng phát triển
mở rộng loại hình đào tạo và quy mô số lượng, khiến số lượng sinh viên tốt nghiệp có
xu hướng càng cao, trong khi đó các trường học hiện đang bão hòa đến dư thường giáoviên Các trường có ngành sư phạm hiện nay đào tạo chủ yếu theo nguyện vọng của người học mà không hề biết đến nhu cầu giáo viên của các trường
Hiện tại Việt Nam có đến hàng chục ngàn giáo viên dư thừa, rất nhiều sinh viên ngành sư phạm không tìm được việc làm phù hợp, nhiều sở giáo dục và đào tạo tuyên
bố không tuyển giáo viên trong thời gian dài, trong đó có Sở Giáo dục-Đào Thừa Thiên
Trang 10Huế Sinh viên sư phạm thất nghiệp, ngành sư phạm mất đi giá trị trong xã hội, khiến tâm lý không xem trọng nghề giáo.
Ở Phần Lan, thời gian biểu học ở trường rất ít, chủ yếu là dành thời gian cho việc tự học, tự nghiên cứu và vui chơi Thế nhưng, học sinh và sinh viên Phần Lan luôn đứng đầu thế giới trong các cuộc khảo sát về chất lượng giáo dục và đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế
Cách dạy của nền giáo giục Phần Lan đã khiến cho học sinh ngay từ cấp tiểu học hiểu được rằng học là để có kiến thức, để có năng lực tự tồn tại trong xã hội chứ khôngphải học là để thi, để lấy điểm, để có thành tích, để hơn thua với bạn bè Khi trẻ đã hiểuđược như vậy thì tất nhiên là chúng sẽ có ý thức tự giác trong học tập và rèn luyện chứ người lớn không cần phải theo dõi chúng suốt cả ngày Vả lại, khi học sinh không phải chịu sức ép về thi cử, về xếp hạng… và giáo viên chỉ có nhiệm vụ biến trường lớp thành thiên đường của trẻ thì tất nhiên là trẻ sẽ ham thích đến trường chứ không còn sợ
đi học và muốn bỏ học nữa Còn giáo viên ở Phần Lan được dạy trong một môi trường giáo dục như thế thì họ hết lòng yêu nghề, yêu trẻ và hết lòng phụng sự nhân dân là điều tất yếu, vì họ không phải chịu bất cứ sức ép nào, giáo viên có quyền tự chủ rất cao, được tự quyết định cách giảng dạy, miễn sao đạt được mục tiêu nhà trường đề ra
Cả giáo viên và học sinh đều có một tâm thế thoải mái, tự do, tự tại như thế thì việc học sẽ trở nên nhẹ nhàng, thú vị, không cần phải bỏ ra nhiều thời gian để học nhồi nhét
vì chính sự nhồi nhét kiến thức sẽ khiến học sinh cảm thấy sợ học, sợ đến trường
Đối chiếu với cách dạy, cách học của nền giáo dục Phần Lan, tôi nhận thấy cách dạy,
cách học của nền giáo dục nước ta lại nhiều vấn đề trái ngược Trong khi ở Phần Lan, người ta đã đến lúc không coi trọng việc thi cử, điểm số, “thi đua”… thì ở Việt Nam lạiquá coi trọng điểm số, thi cử và thi đua… Nếu mọi công dân ở Phần Lan đều hiểu rằngviệc học là để có kiến thức để làm việc, để có cuộc sống tự lập thì hầu hết người dân ở nước ta lại quan niệm học là để đi thi, để lấy điểm, để có bằng cấp, còn sau này có làm được việc gì hay không thì chưa biết, chưa tính đến
Nếu cách dạy, cách học ở Phần Lan khiến cho giáo viên và học sinh cảm thấy nhẹ nhàng vì không phải chịu bất kỳ sức ép nào thì cách dạy và học ở nước ta lại khiến cho
cả thầy và trò cảm thấy rất nặng nề, mệt mỏi vì phải chịu quá nhiều sức ép Đặc biệt là