Có thể nói, ở Việt Nam cha có một nhân vật lịch sử, một con ngời nào đợc giới nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm và nghiên cứu nhiều nh vậy.Những bài báo, những công trình nghiên cứu
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr ờng đại học vinh
Vinh - 2007
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn này đợc thực hiện tại trờng Đại học Vinh Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, Tiến sỹ Trần Văn Minh ngời đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này Tôi xin cảm ơn Trờng
Đại học Vinh, Khoa Sau Đại học, các Giáo s, Tiến sỹ thuộc bộ môn Lý luận ngôn ngữ đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong suốt thời gian học tập.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những ngời thân trong gia đình, cơ quan và các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Luận văn sẽ không tránh khỏi những sai sót, chúng tôi kính mong nhận
đợc nhiều ý kiến quý báu của các thầy giáo, cô giáo và những ngời quan tâm
đến vấn đề này.
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Mục lục
Trang Mở đầu ……… ……… 1
1 Lý do chọn đề tài ……….1
2 Lịch sử vấn đề… ………2
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu ……….4
4 Phơng pháp nghiên cứu ……….5
5 Đóng góp của luận văn… ……… 5 6 Bố cục luận văn ……… 6
Chơng 1: Một số giới thuyết chung……… …… ……… 7
1.1 Danh ngôn và danh ngôn Hồ Chí Minh………7
1.1.1 Danh ngôn……… 7
1.1.2 Danh ngôn Hồ Chí Minh……… 9
1.1.2.1 Xuất xứ danh ngôn Hồ Chí Minh……… 10
1.1.2.2 Nội dung của danh ngôn Hồ Chí Minh……….10
1.1.2.3 ý nghĩa của việc nghiên cứu danh ngôn Hồ Chí Minh………… 28
1.2 Sơ lợc về sự nghiệp Hồ Chí Minh……… ……… 28
1.2.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc………28
1.2.2 Hồ chí Minh - nhà văn hoá lớn……… 33
1.2.3 Hồ Chí Minh - một bậc thầy sử dụng ngôn ngữ……… 37
1.3 Về các đơn vị ngôn ngữ đợc khảo sát trong danh ngôn Hồ Chí Minh….44 1.3.1 Từ thuần Việt và từ Hán Việt……… 44
1.3.2 Phụ từ và quan hệ từ……….45
1.3.3 Thành ngữ và tục ngữ……… 46
1.3.4 Câu……… 48
Chơng 2: Danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ từ ngữ ………… … …… .50
2.1 Từ thuần Việt và từ Hán Việt trong danh ngôn Hồ Chí Minh………50
2.1.1 Từ thuần Việt trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… 50
2.1.2 Từ Hán Việt trong danh ngôn Hồ Chí Minh………53
2.2 Phụ từ và quan hệ từ trong danh ngôn Hồ Chí Minh…… ……… .56
2.2.1 Phụ từ trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… 56
Trang 42.2.2 Quan hệ từ trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… 60
2.3 Thành ngữ trong danh ngôn Hồ Chí Minh ……… ………… ……… 63
Chơng 3: Danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ diễn đạt……… 68
3.1 Cấu tạo câu trong danh ngôn Hồ Chí Minh…… ………… ……… 68
3.1.1 Câu đơn bình thờng ……… 68
3.1.2 Câu đơn đặc biệt ……… 71
3.1.3 Câu ghép trong danh ngôn Hồ Chí Minh………… ……… 74
3.2 Cách dùng tục ngữ trong danh ngôn Hồ Chí Minh ……… ……… 78
3.3 Một số biện pháp tu từ trong danh ngôn Hồ Chí Minh…… ……
.85 ………
3.3.1 Biện pháp so sánh trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… 85
3.3.2 Biện pháp điệp cú pháp (cú pháp sóng đôi) trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… …… 90
3.2.3 Biện pháp đối trong danh ngôn Hồ Chí Minh……… 93
3.2.3 Biện pháp lặp đầu và lặp cuối ……… 97
3.3 Về các danh ngôn Hồ Chí Minh bằng văn vần……….102
Kết luận ……… ………
……… 106
Tài liệu tham khảo……… ……… 109
Tài liệu khảo sát ……… ……… 113
Phụ lục ……… …… .114
Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong bốn chục năm gần đây, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã không
ngừng mở rộng và phát triển về nội dung lẫn quy mô Bắt đầu từ các cơ quan tuyên huấn của Đảng, sau đó đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, nhất
là các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội - nhân văn (trong đó có ngôn ngữ học) Nhiều đề tài khoa học trọng điểm quốc gia đợc thực hiện, nhiều cuộc hội thảo khoa học đợc tổ chức, nhiều cuộc thi tìm hiểu về Chủ tịch
Hồ Chí Minh đợc phát động, thậm chí một số đơn vị đã thành lập trung tâm nghiên cứu về Hồ Chí Minh Tất cả bắt nguồn từ “nghiên cứu về Hồ Chí Minh
Trang 5đã trở thành một bộ môn khoa học nghiên cứu chuyên ngành ở nớc ta” [46;
tr48]
Có thể nói, ở Việt Nam cha có một nhân vật lịch sử, một con ngời nào
đợc giới nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm và nghiên cứu nhiều nh vậy.Những bài báo, những công trình nghiên cứu về t tởng, đạo đức, phong cách
Hồ Chí Minh đã đợc công bố và đến nay vẫn còn nguyên giá trị
1.2 Trong cuộc đời hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngôn ngữ là
ph-ơng tiện quan trọng giúp Ngời truyền bá lý tởng cách mạng trong sự nghiệplớn lao của mình
Đối với Hồ Chí Minh, ngôn ngữ không chỉ là thứ của cải vô cùng lâu
đời, vô cùng quí báu của dân tộc mà còn là một trong những công cụ khôngthể thiếu trong công tác tuyên truyền, giác ngộ ý thức giai cấp, phát triển vàcủng cố nhận thức xã hội trong cán bộ nhân dân Vì thế những bài viết, nhữngbài nói của Ngời giản dị, chân thực nhng sâu sắc, có sức lay động, thuyết phụclòng ngời Nhiều câu nói, câu viết đã trở thành những khẩu hiệu hành độngcách mạng, chân lý sống của thời đại
1.3 Hiện nay “T tởng Hồ Chí Minh”đã trở thành một môn học bắt buộc ở
các trờng chuyên nghiệp Các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là cán bộ, đảngviên và thanh niên đang hởng ứng tích cực phong trào “Học tập và làm theotấm gơng đạo đức Hồ Chí Minh” Vì vậy, việc nghiên cứu về ngôn ngữ Hồ ChíMinh là một trong những vấn đề lý luận quan trọng giúp chúng ta hiểu thêm vềcuộc đời cũng nh sự nghiệp của Ngời Với đề tài “Danh ngôn Hồ Chí Minh từgóc độ ngôn ngữ ”, chúng tôi mong muốn tìm hiểu thêm việc sử dụng ngônngữ của Ngời, đồng thời qua đó hiểu thêm về nội dung (lý tởng, đạo đức, nhâncách …) của Ngời
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về Hồ Chí Minh là đề tài vô tận của khoa học xã hội nhânvăn, trong đó có ngôn ngữ học Trớc đây, khi nói đến Hồ Chí Minh ngời ta th-ờng nói về một thiên tài với tầm vóc to lớn của thời đại nhng gắn liền với mộtphong cách giản dị, đời thờng Gần đây các nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữhọc cũng đã quan tâm nhiều đến phong cách nghệ thuật hoặc phong cách ngônngữ của Ngời Đến nay đã có rất nhiều bài viết nghiên cứu về ngôn ngữ Hồ ChíMinh dới nhiều góc độ đã đợc công bố: Hoài Thanh (1955), Trần Thanh Mại(1960), Phong Lê (1986-1999), Nguyễn Đăng Mạnh (1997) đi sâu khai thácphong cách ngôn ngữ văn chơng Hồ Chí Minh; Hoàng Tuệ (1976), Lờ AnhHiền (1980), Nguyễn Như í (1988), Lờ Anh Trà (1990), Nguyễn Lai (1996)
Trang 6… tỡm hiểu phong cỏch ngụn ngữ của Người qua cỏc bài viết, bài núi Cỏc tỏcgiả: Nguyễn Phan Cảnh (1965), Nguyễn Kim Thản (1970), Đào Thản – HoàngVăn Hành (1980), Lớ Toàn Thắng - Nguyễn Hoàng Cổn (1988)…đi sõu khỏmphỏ những nột đặc sắc trong ngụn ngữ Hồ Chớ Minh Cỏc tỏc giả như HoàngTuệ (1980), Nguyễn Thiện Giỏp (1988), Lờ Kinh Khiờn (1980)…tỡm hiểunhững bài học về cỏch viết, cỏch dựng phương thức tập Kiều, cỏch dựng thànhngữ…trong cỏc bài viết của Người Sự đa dạng trong ngụn ngữ Hồ Chớ Minh
do sự tiếp xỳc ngụn ngữ cũng được cỏc tỏc giả như Nguyễn Huy Thụng(1988), Phan Văn Cỏc (1980), Đặng Anh Đào (1990)…đặt vấn đề nghiờn cứu
Danh ngôn là những câu nói, câu viết nổi tiếng cả về nội dung lẫn hìnhthức Nghiên cứu danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ ngôn ngữ sẽ góp phần xác
định rõ thêm các đặc điểm về phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh
Về đặc điểm phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh, có thể khái quát thànhnhững nét chính sau qua các công trình nghiên cứu đã đợc công bố
- Trong bài “Phong cách thơ văn Hồ Chí Minh” [64; 207-299] tác giảNguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Phong cách văn chơng của thơ, văn Hồ ChíMinh là sự ngắn gọn, hàm xúc, linh hoạt, sáng tạo, hoàn toàn làm chủ trongviệc sử dụng các hình thức thể loại và ngôn ngữ, các bút pháp và các thủ phápnghệ thuật khác nhau “Tác giả còn sẵn sàng vợt qua độ số của câu, của chữ vàpha trộn một cách thoải mái văn ngôn với bạch thoại, tiếng Việt, tiếng Anh,tiếng Nga, tiếng Đức với chữ Hán ”[223]
Cùng chung với quan điểm của Nguyễn Đăng Mạnh, các tác giả NguyễnThiện Giáp, Lê Nh Tiến có bài viết “Những bài học về cách Chủ tịch Hồ ChíMinh sử dụng thành ngữ tiếng Việt”[19] Cù Đình Tú trong “Hồ chủ tịch dùngthành ngữ, tục ngữ” [64, tr 872- 876] đã nghiên cứu cách sử dụng thành ngữ,tục ngữ, sử dụng ngôn ngữ của Ngời để phục vụ công tác tuyên truyền trongnhững lần nói chuyện với quần chúng, với mọi tầng lớp trong xã hội Tác giảkhẳng định: Thái độ của Ngời đối với thứ vốn quý đó là tiếp thu có chọn lọc,
có sửa đổi, có sáng tạo
Đào Thản và Hoàng Văn Hành trong bài “Những nét đặc sắc trongngôn ngữ của Hồ Chí Minh” [64; 752 - 741] đa ra nhận xét: Một trong những
đặc điểm quan trọng trong việc dùng ngôn ngữ Hồ Chủ tịch là: tận dụng đợclối diễn đạt hết sức quen thuộc với nhân dân trong mọi hoàn cảnh nói năng vàmọi đối tợng một cách có hiệu quả nhất
Trang 7Lê Anh Trà [64; tr388 - 403], khi nghiên cứu đặc điểm cách viết, cách
sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn chính luận của Hồ Chí Minh cho thấy,Ngời thích viết những bài ngắn gọn “Những từ Hồ Chủ tịch dùng là những từthông thờng của quần chúng hoặc là những từ đã đợc thông dụng trong quầnchúng Đặc biệt Hồ Chủ tịch hay dùng những thành ngữ cụ thể và giàu hình
ảnh” Tác giả khẳng định: “Phong cách ngôn ngữ trong lối viết của Ngời làgiản dị, trong sáng, gọn gàng, học hỏi lời ăn tiếng nói của nhân dân, nhng có
đề cao nhất định” [401]
Cùng chung quan điểm đó, Nguyễn Văn Tu trong bài “ Hồ Chí Minh sửdụng tài tình từ vựng để đả kích kẻ thù”[64], nghiên cứu cách dùng từ, sự sửdụng sáng tạo truyền thống ngôn ngữ dân tộc của Bác Nguyễn Đình Thi trong
dễ hiểu, dễ nhớ.”, “Lối đặt câu của Bác vừa sáng rõ lại vừa tinh tế chính xác”,
“Câu văn của Bác nhiều vẻ, linh hoạt, nên sinh động, dễ gây cảm xúc hứngthú, quần chúng thích đọc, thích nghe” Hoài Thanh [64; tr252 - 256] đã khẳng
định: Câu văn của Bác rất ngắn gọn, bình dị, quần chúng và theo lệ th ờng củanhững câu thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Nh vậy có thể thấy đặc điểm nổi bật của phong cách ngôn ngữ Hồ ChíMinh là tính giản dị, trong sáng và gần gũi với tất cả các tầng lớp nhân dân Sựgiản dị trong sáng đó bắt nguồn từ sự kết hợp tinh tế giữa giá trị truyền thốngngôn ngữ dân tộc với sự linh hoạt sáng tạo của Bác Vì vậy phong cách ngônngữ của Hồ Chí Minh vừa có giá trị tình cảm lại vừa mang chất “thép”
Khá nhiều khía cạnh về đặc điểm ngôn ngữ Hồ Chí Minh đã đợc cácnhà nghiên cứu quan tâm đến Tuy nhiên, có thể nói, cho đến nay cha có mộtcông trình nghiên cứu tổng quát, toàn diện về phong cách ngôn ngữ của HồChí Minh, trong đó mảng danh ngôn Hồ Chí Minh hầu nh đang còn bỏ ngỏ
Đề tài: “Danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ ngôn ngữ” nhằm góp phần nhỏ bévào một công việc to lớn là nghiên cứu về di sản ngôn ngữ Hồ Chí Minh
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn này là 517 danh ngôn đợc tập hợp
trong sách “Danh ngôn Hồ Chí Minh” (Nhiều tác giả Nhà xuất bản văn hóa
-Thông tin - 2000)
Trang 83.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề:
a) Phân tích đặc điểm ngôn ngữ của 517 danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ từngữ và diễn đạt
b) Tìm hiểu một số nét đặc sắc trong cách sử dụng ngôn ngữ trong danh ngôn
Hồ Chí Minh
4 Phơng pháp nghiên cứu
Các phơng pháp nghiên cứu chính đợc sử dụng trong luận văn này là:
1 Phơng pháp thống kê - phân loại đợc dùng khi khảo sát định lợng các danhngôn
2 Phơng pháp phân tích đợc dùng để phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trongdanh ngôn
5 Đóng góp của luận văn
Cố gắng giải quyết các nhiệm vụ nêu trên của đề tài, chúng tôi hi vọngluận văn này sẽ góp phần nhỏ bé vào công việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ ChíMinh:
- Nghiên cứu danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ ngôn ngữ, đề tài góp phần lýgiải vì sao nhiều câu Bác viết hoặc nói đã trở thành những câu nói nổi tiếng đivào lòng ngời; đồng thời chúng ta cũng học tập đợc cách nói, cách viết ngắngọn, giản dị, súc tích dễ hiểu và đầy tính triết lý của Bác
- Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần vào việc thấy rõ hơn cuộc đời, sự nghiệpcủa Hồ Chủ tịch và những t tởng cách mạng đợc thể hiện qua danh ngôn củaNgời
6 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 113 trang chính văn, 04 trang phụ lục Ngoài các phần
mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ sử dụng từ ngữ
Chơng 3: Danh ngôn Hồ Chí Minh từ góc độ diễn đạt
Trang 9
-Chơng 1 một số Giới thuyết chung
1.1 Danh ngôn và danh ngôn Hồ Chí Minh
1.1.1 Danh ngôn
1.1.1.1 Khái niệm danh ngôn
Trong giới nghiên cứu khoa học, việc đi đến thống nhất một khái niệm,một định nghĩa là vấn đề luôn luôn đợc đợc quan tâm Một vấn đề có baonhiêu nhà nghiên cứu thì có bấy nhiêu cái nhìn khác nhau với những quan
điểm khác nhau Đối với quan niệm Danh ngôn là gì? Hay hiểu nh thế nào là
danh ngôn? cho đến nay cũng đã có rất nhiều quan điểm đa ra.
Trong “Từ điển bách khoa Việt Nam tập I” cho rằng: Danh ngôn (văn),lời nói có tính triết lý, chứa đựng một đạo lý, một chân lý, hay một suy nghĩtốt đẹp về cuộc sống, về con ngời, đợc nhiều ngời thừa nhận” [61] Theo quan
điểm này danh ngôn là lời nói có tính triết lý đợc đa lên hàng đầu và nhất thiếtnhững lời nói ấy phải chứa đựng đợc một đạo lý, một chân lý hiển nhiên hoặcmột suy nghĩ tốt đẹp về cuộc sống cũng nh về con ngời, và những triết lý ấy,vấn đề đạo đức ấy, những suy nghĩ tốt đẹp về con ngời, về cuộc sống phải đợcmọi ngời thừa nhận, nghĩa là chúng phải mang tính thuyết phục cao
Trang 10Nguyễn Nh ý cho rằng: “Danh ngôn là câu nói ngắn gọn, sâu sắc củamột nhà t tởng, nhà hoạt động chính trị xã hội hay nhà khoa học, văn nghệ sỹnổi tiếng về con ngời và cuộc sống” [66] Theo Nguyễn Nh ý, danh ngôn trớchết phải là những câu nói đạt ở mức độ cấu trúc ngắn gọn, nội dung súc tích cóchiều sâu nhng đó không phải là câu nói của ngời bình thờng mà nhất thiếtnhững câu nói đó phải là câu nói của những con ngời nổi tiếng Nội dung củanhững câu nói đề cập đến con ngời và cuộc sống Nh vậy, tác giả này đã mởrộng ngoại diên của nội dung danh ngôn: không bó hẹp trong một lĩnh vực nào
đó mà đề cập đến con ngời và cuộc sống nói chung
Danh ngôn là “Lời nói hay và nổi tiếng” [63] Theo quan niệm này,danh ngôn là những lời nói hay và nổi tiếng Quan điểm không bó hẹp về cấutrúc của danh ngôn nhng quan tâm đến nội dung của câu danh ngôn, và lạiphải đảm bảo, đó phải là câu nổi tiếng Đã là những câu nói hay thì ngầm hiểuphải là những câu nói mang nội dung sâu sắc và đậm tính triết lý đợc nhiều ng-
ời tâm đắc, có sức sống với thời gian
- “Danh: nổi tiếng Ngôn: lời nói, lời nói hay, có ý nghĩa tốt đẹp, đợc nhiềungời nhắc đến” [28] Bửu Kế giải thích rõ theo lối chiết tự để nêu cách hiểucủa mình về danh ngôn Tác giả đã khẳng định: danh ngôn phải là câu nói nổitiếng và là câu nói hay, có ý nghĩa tốt đẹp và những lời nói đó phải đợc nhiềungời nhắc đến Cách hiểu này của Bửu Kế tơng tự với quan niệm trong “ViệtNam Tân từ điển” cùng với một số tác giả khác (nh: Nguyễn Lân [34], HoàngPhê [40], Phan Văn Các [6], Chu Bích Thu [47]) khi họ giải nghĩa: “Danhngôn là lời nói hay đợc nhiều ngời truyền tụng”
Nguyễn Văn Đạm quan niệm đầy đủ hơn: “Danh ngôn là lời nói hay, nhậnxét sâu sắc về con ngời, có tác dụng truyền thụ đạo đức cao thợng, đợc ngời
đời truyền tụng” [16] Tác giả cũng khẳng định: “Danh ngôn là lời nói hay
nh-ng đó là lời nói chứa đựnh-ng nội dunh-ng, là nhữnh-ng nhận xét sâu sắc về con nh-ngời vànhững lời nói đó có tác dụng truyền thụ đạo đức cao thợng và điều cốt lõi,những lời nói đó đợc ngời đời tuyền tụng, nó phải có sức sống với thời gian”.Tác giả Hoàng Thúc Trâm đa ra định nghĩa ngắn gọn: “Danh ngôn là lời hay,lời thiện” [54]
Giáo s Đào Duy Anh cho rằng: “Danh ngôn là lời nói minh chính đợc mọingời đều truyền tụng - Lời nói có nghiệm” [1; tr196] Theo Đào Duy Anh,danh ngôn là lời nói rõ ràng và đúng đắn, có giá trị về đạo đức và cũng khẳng
định nó phải đợc ngời đời chấp nhận và truyền tụng và sức sống của nó là tínhminh chính của câu nói Nh thế cũng cha đủ, tác giả còn đa ra điều kiện cần và
đủ để có thể xem là câu danh ngôn, câu nói đó phải là câu nói có kinh nghiệm.Qua đó tác giả đã ngầm khẳng định: những câu nói có thể đợc xem là danh
Trang 11ngôn thì câu nói đó phải là của ngời có kinh nghiệm, ngời có kinh nghiệm mới
đa ra đợc những lời nói có kinh nghiệm
Nguyễn Lơng Ngọc và nhóm tác giả trong “Từ điển học sinh cấp 2” cũnggiải nghĩa: “ Danh ngôn là lời nói, câu văn có ý nghĩa sâu sắc đợc xã hộitruyền tụng [38; tr123] Danh ngôn không chỉ tồn tại bằng miệng mà cònbằng hình thức văn tự Những câu nói đó phải có ý nghĩa sâu sắc và đợc ngời
đời ca ngợi và lu truyền qua thời gian Nói chung các định nghĩa đều thốngnhất và cho rằng, danh ngôn là những câu nói có ý nghĩa, những câu nói hay,nổi tiếng đợc ngời đời ca ngợi và lu truyền ở mức độ đầy đủ hơn, chúng ta cóthể hiểu: Danh ngôn là những câu nói nổi tiếng, của những ngời nổi tiếng có ýnghĩa tốt đẹp, mang tính triết lý về cuộc sống, về con ngời đợc ngời đời truyềntụng
1.1.1.2 Các loại danh ngôn
Đặng Ngọc Long đã phân biệt các loại: Danh ngôn hành động, danhngôn về hạnh phúc, danh ngôn về đấu tranh xã hội, danh ngôn về thiên nhiên,danh ngôn về lao động, danh ngôn về học tập, danh ngôn về tài năng và sángtạo, danh ngôn về tình bạn, tình yêu [32]
1.1.2 Danh ngôn Hồ Chí Minh
Phi-đen cát-xtrô từng nói: “ ở dân tộc Việt Nam chúng ta có thể nhậnthấy sự giáo dục của Đảng cách mạng và những dấu ấn tuyệt vời để lại trongtrái tim và tâm hồn của nhân dân Việt Nam - đó là những lời dạy của Ngời”[42; tr 92] Bằng sự nghiệp vĩ đại của mình, Bác đã để lại cho nhân dân, đất n-
ớc ta không chỉ một nền độc lập vững bền, một cuộc sống tự do mà còn một ttởng anh minh, một tấm gơng đạo đức cao cả, một tình thơng bao la Tất cả đ-
ợc đúc kết bằng những lời nói mang ý nghĩa chân thực và sâu sắc, những lờidạy, lời khuyên nhủ ân tình về cuộc sống, về cách mạng Đó là những lời nói,những quan điểm có giá trị, đợc xem là những danh ngôn của Ngời
Trong cuốn “Danh ngôn Hồ Chí Minh”, (Nhà xuất bản Văn hoá - Thôngtin) có 517 danh ngôn Danh ngôn Hồ chí Minh gồm có 8 nội dung sau:
Về vai trò con ngời và ý nghĩa việc xây dựng con ngời
Về đánh giá con ngời
Về bồi dỡng đạo đức
Về bồi dỡng con ngời và trí tuệ
Về chăm lo lợi ích và đời sống vật chất của con ngời
7541819633
Trang 121.1.2.1 Xuất xứ các danh ngôn Hồ Chí Minh
517 danh ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc trích ra 307 văn bản củaNgời trong bộ sách “Hồ Chí Minh toàn tập” Đó là những bài viết, bài nói,gồm: bản báo cáo tại các hội nghị, báo cáo chính trị, diễn văn khai mạc, bếmạc tại các kỳ Đại hội Đảng, Hội nghị của Chính phủ, Hội nghị Ban chấphành Trung ơng Đảng, bài khai mạc các lớp chính trị, lớp bồi dỡng Đảng viên,các lớp Đại học, th gửi cán bộ đảng viên, bài nói chuyện với cán bộ đảng viênlâu năm, các bài nói chuyện với các tầng lớp nhân dân, bài nói chuyện với cán
bộ lão thành cách mạng, Hội phụ nữ, các thầy cô giáo, học sinh, sinh viên,thanh thiếu nhi, bài phát biểu đón đoàn đại biểu các nớc anh em, các bài viết
về đạo đức cách mạng Thậm chí đó còn là những vần thơ “ngâm ngợi chokhuây” trong những ngày tù ngục
1.1.2.2 Nội dung của danh ngôn Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không chỉ là tấm gơng cách mạng tuyệt vời, chiến sỹ lỗilạc của phong trào cách mạng giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế mà còn
là một nhà văn hoá lớn Những quan điểm về lý luận và thực tiễn cách mạngViệt Nam, những giá trị t tởng và những phẩm chất đạo đức của Ngời đã trởthành tài sản quý báu của nhân dân ta và nhân loại tiến bộ 517 danh ngôn của
Hồ Chí Minh đợc lựa chọn từ di sản ngôn ngữ của Ngời đã phần nào thể hiện
đợc những giá trị t tởng ấy Đó là cái nhìn toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về con ngời, về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng,
về ý nghĩa việc xây dựng con ngời, cách đánh giá con ngời, tinh thần bồi dỡng
đạo đức, bồi dỡng con ngời và trí tuệ, công tác chăm lo lợi ích và đời sống vậtchất của con ngời, về sự đoàn kết nhất trí, lòng yêu nớc và lối sống của con ng-
Hồ Chí Minh luôn đặt niềm tin vào con ngời nhng đồng thời cũng đòihỏi rất cao ở con ngời Ngời tìm mọi cách để phát huy mọi tiềm năng trí tuệ,
Trang 13phẩm chất đạo đức của con ngời Chính xuất phát từ quan điểm đó, Ngời chorằng con ngời là mục tiêu và cũng là động lực của cách mạng Quan điểm củaNgời xuất phát từ nguyên lý triết học “Mỗi con ngời không thụ động hởng sựphát triển mà là chủ thể của quá trình phát triển, là động lực của quá trình pháttriển” [44; tr636]
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, “trong bầu trời không có gì quí bằngnhân dân” Con ngời - nhân dân luôn luôn là trung tâm của sự nghiệp cáchmạng, là lực lợng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Ngời thờng nói:
“Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân” Ngời cũng đã khẳng định
địa vị và quyền làm chủ của nhân dân Theo Ngời, Không có lực lợng nhân
dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong; có lực lợng nhân dân thì việc khó mấy, to mấy làm cũng đợc [2; tr7] ;“ Lực lợng toàn dân là lực lợng vĩ
đại hơn hết Không ai chiến thắng đợc lực lợng đó” [4, tr8]
Không có một lực lợng nào mạnh nh lực lợng của quần chúng Xuấtphát từ điểm ấy, Ngời luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng con
ngời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trớc
hết cần có con ngời xã hội chủ nghĩa [5, tr8] Con ngời là trung tâm Vậy nên,
Ngời coi việc ơm trồng những con ngời xã hội chủ nghĩa, việc bồi dỡng thế hệcách mạng cho đời sau là công việc trọng đại của đất nớc, của dân tộc Vàtrong chiến lợc vì tơng lai Ngời đã đa ra thông điệp
Vì lợi ích mời năm thì phải trồng cây Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngời [7; tr8]
Đó là suy nghĩ mang tầm chiến lợc hết sức sâu sắc, có ý nghĩa lâu dàitrong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nớc, dân tộc Nói đúng hơn, đó
là những suy nghĩ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân ta
Con ngời trong t tởng Hồ Chí Minh vừa là động lực, vừa là mục tiêu củacách mạng Những câu danh ngôn của Hồ Chí Minh về con ngời vẫn cònnguyên giá trị t tởng trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hiện nay
b Về đánh giá con ngời
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng phân biệt rạch ròi, “Trên đời này chỉ cóhai giống ngời, giống ngời bị bóc lột và giống ngời bị bóc lột”; “Trên quả đất
có hàng muôn triệu ngời Song số ngời ấy có thể chia thành hai hạng, ngờiThiện và ngời ác” Con ngời trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh lànhững con ngời thuộc mọi lứa tuổi, giới tính, tầng lớp: Già, trẻ, thanh thiếunhi; công, nông, binh, trí, từ đảng viên tới quần chúng… Họ đều là những lựclợng cách mạng rất to lớn Điều quan trọng hơn, Ngời luôn có cái nhìn thấu
đáo ở mọi góc độ của tất cả các tầng lớp từ cao xuống thấp, từ sang đến hèn
Trang 14Ai ai cũng có những mặt mạnh, mặt yếu Ngời khẳng định: Ai cũng có lòng tự
trọng, tự tin Không có lòng tự trọng, tự tin là ngời vô dụng [8; tr 9]
Ngời quan niệm, đã là ngời lao động, đã có hoạt động thì khó tránh khỏikhuyết điểm, sai lầm, dù ngời đó có là kẻ thông minh lỗi lạc nh thế nào đichăng nữa Chỉ có kẻ ngồi không mới không thể mắc sai lầm mà thôi Ngời
còn khuyến khích: Làm việc mà có sai lầm còn hơn là sợ sai lầm mà khoanh
tay ngồi không [10; tr10].
Đối với nông dân, Ngời nhìn thấy họ là những ngời có nhiều kinh
nghiệm và có nhiều sáng kiến: Có ngời cho là dân ngu khu đen Thế là tầm“ ”
bậy Dân rất thông minh Quần chúng kinh nghiệm, sáng kiến rất nhiều Chỉ cần mình có biết học hay lợi dụng mà thôi. [15; tr11]
Đối với giai cấp công nhân, Ngời khẳng định: Chỉ có giai cấp công
nhân là dũng cảm nhất, cách mạng nhất, luôn luôn gan góc đơng đầu với bọn
đế quốc thực dân [13; tr11] Ngời đã nhìn thấy đợc tính cách mạng và sự giác
ngộ cao của giai cấp công nhân Đây không phải là cái nhìn mang tính chủquan mà dựa trên nguồn gốc, bản chất của giai cấp Họ cùng với nông dân hợplại sẽ làm thành một lực lợng cách mạng to lớn
Đối với phụ nữ, Ngời đánh giá: Phụ nữ Việt Nam ta sẵn có truyền thống
đấu tranh anh dũng và lao động cần cù [52; tr23].
Đối với Thanh niên, Ngời khẳng định: Thanh niên ta rất hăng hái Ta
biết hợp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lợng rất mạnh mẽ [ 54; tr 23]; .tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.[33; tr
17]
Với trẻ em Bác hiểu tâm lý và quá trình phát triển của trẻ:
Trẻ em nh búp trên cành
Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan [ 55; tr24 ]
Với những kẻ lầm đờng lạc lối hay có sai lầm, và ngay cả binh lính địch,lòng yêu thơng, sự đánh giá nhìn nhận của Ngời đối với họ cũng rất khoan
dung: Năm ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài Nhng ngắn dài đều hợp
nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu ngời cũng có ngời thế này thế khác,
nh-ng thế này thế khác đều dònh-ng dõi tổ tiên ta Vậy nên ta phải khoan hồnh-ng đại
độ, ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc” [34; tr 17]
Hoặc: Ai cũng có tính tốt và tính xấu [19; tr12]; Mỗi con ngời đều có
thiện và ác ở trong lòng [29, tr 16]; Ngời đời không phải thần thánh, không
ai tránh khỏi khuyết điểm [37; tr 18]Giữa thiện và ác, tốt và xấu, u điểm và khuyết điểm, điều quan trọng là chúng ta cần phải có thái độ đúng đắn, độ lợng
để giúp cho những phần xấu, ác, khuyết điểm mất dần đi nhờng lại cho cái
Trang 15thiện, cái tốt, cái đẹp, cái u điểm đợc phát triển Không nên nhìn những
khuyết điểm, những cái xấu, những mặt hạn chế của mỗi ngời mà có những
đánh giá sai lầm, những cái nhìn thiếu thiện cảm, thiên lệch, điều đó càng dẫn
đến chỗ làm cho họ bi quan, ức chế sự cầu tiến và có thể dẫn tới những hậuquả rất lớn nh phản nghịch, sự chống đối…Cái tốt đẹp, cái thiện, mặt u điểm
cần đợc nhân rộng, đợc khuyến khích, Bài học này không những có ý nghĩatrong việc dụng ngời mà còn có ý nghĩa trong giáo dục và đào tạo con ngời.Bên cạnh đó, Ngời cũng khẳng định:
Hiền dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên” [35; tr17]
Đặc biệt Ngời nhấn mạnh, hoàn cảnh có thể cho ta cách nhìn nhận đánh
giá con ngời chính xác nhất: Hoạn quá đầu thuỷ kiến trung
Nghĩa là: Qua cơn hoạn nạn mới rõ ngời trung [24; tr14]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn con ngời bằng cái nhìn độ lợng, đầy tìnhthơng và lòng vị tha, sự tin tởng vào những gì tốt đẹp nhất mà trong mỗi ngời
đều có
c Về bồi dỡng đạo đức
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luônquan tâm đến vấn đề đạo đức và việc tu dỡng đạo đức, đặc biệt là đạo đức cáchmạng
Đạo đức gắn liền với bản chất con ngời và đời sống xã hội, đồng thời nó đợcxem là biểu hiện của đặc trng về nhân cách văn hoá Đối với Chủ tịch Hồ ChíMinh, cái đức đợc xem là cái cốt lõi của con ngời và cuộc sống Đó là đạo đứccá nhân, đạo đức xã hội, đạo đức truyền thống, đạo đức hiện đại, đạo đức dântộc và tinh hoa nhân loại Điều quan trọng nhất là vấn đề bồi dỡng đạo đức ấy
đợc thể hiện cụ thể nh thế nào
Cái đức, theo Ngời đó là: Sự biết ơn của những thế hệ sau đối với những
ngời đã ngã xuống vì sự nghịêp giải phóng dân tộc: Ăn quả phải nhớ kẻ trồng
cây … chúng ta phải nhớ đến anh hùng, liệt sỹ của Đảng ta, của dân ta [63;tr26]
Bồi dỡng đạo đức nhằm tạo ra đợc ý thức, tinh thần trách nhiệm nhữngcán bộ, đảng viên, quần chúng đối với tập thể, sự trung thành với sự nghiệp
của Đảng, của Tổ quốc: Bất kỳ ở địa vị nào, làm công tác gì, chúng ta đều là
đầy tớ của nhân dân phải cố gắng thực hiện cần, kiệm, liêm, chính [65;
Trang 16trên xuống, từ cấp dới lên, toàn dân đều hăng hái tham gia, để giáo dục nhau,
để cùng nhau tẩy trừ ba nạn kia (nạn tham ô, lãng phí, bệnh quan liêu), để dọn đờng cho những thắng lợi mới [69; tr 28], Phải khiêm tốn và gần gũi anh
em, làm gơng mẫu về mọi mặt Phải trau dồi đạo đức cách mạng, phải thờng xuyên phê bình và tự phê bình Tuyệt đối chớ tự cao, tự đại cho mình là giỏi rồi [72; tr29] Bởi vì Ngời cho rằng: Có tài phải có đức Có tài không có
đức, tham ô hủ hoá có hại cho nớc Có đức mà không có tài nh ông Bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì đợc ai [110; tr43].
Tuy nhiên Ngời cũng đã nhìn nhận thấy rõ vấn đề hai mặt và thực tế củacuộc sống, sự khó khăn khi gặp phải những cám dỗ của đời thờng dễ làm cho
con ngời ta nhụt chí và làm cho con ngời ta dễ đánh mất mình: Có thể những
ngời đi kháng chiến thì rất anh dũng, trớc bom đạn không chịu khuất phục,
nh-ng đến khi trở về thành thị lại bị tiền bạc, gái đẹp quyến rũ, mất lập trờnh-ng, sa vào tội lỗi [111; tr43] Ngời cho rằng đạo đức ấy ảnh hởng rất nhiều đến sự
nghiệp đổi mới xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng thuần phong mỹ tụccủa dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới Cho nên giữ vững đợc đạo đức đều
là ngời cao thợng; không sa ngã trớc giàu sang, không khuất phục trớc uy lực,luôn chính trực Quan niệm này của Ngời đã trở thành công cụ tinh thần điềuchỉnh và định hớng cho hành động của toàn Đảng, toàn dân ta đi đúng theochuẩn mực của đời sống mới, tránh lối sống phi đạo đức, phi Con Ngời khôngthể chấp nhận đợc Chính vì thấy đợc sự khó khăn trong việc gìn giữ và trau
dồi đạo đức Ngời còn nêu rõ: Học cái tốt thì khó, ví nh ngời ta leo núi phải
vất vả, khó nhọc mới lên đến đỉnh Học cái xấu thì dễ, nh ở trên đỉnh núi trợt chân một cái là ngã nhào xuống vực sâu [142; tr54].
Đối với thanh niên, Bác đã nêu lên vai trò của thanh niên đối với Tổ
quốc: Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nớc nhà đã cho mình những
gì Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nớc nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nớc là nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nớc nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?.[184; tr67]
Đối với thiếu nhi, Bác đã coi sự thật thà dũng cảm, lòng kính yêu cha
mẹ, kính thầy, yêu bạn, đoàn kết, chăm ngoan học giỏi là đạo đức cốt lõi củathiếu nhi Muốn làm và có đợc những tiêu chuẩn đạo đức ấy thiếu nhi phải cố
gắng thực hiện tốt: Các em cần phải rèn luyện đức tính thành thật và dũng
cảm ở trờng thì kính thầy, yêu bạn, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau ở nhà, thì yêu kính và giúp đỡ cha mẹ ở xã hội thì tuỳ sức mình mà tham gia những việc
có lợi ích chung [78, tr31] Đó là nội dung giáo dục toàn diện đợc đúc kết
một cách sâu sắc, cụ thể và dễ hiểu, phù hợp với lứa tuổi thiếu nhi Với tinhthần “ tuổi nhỏ làm việc nhỏ tuỳ theo sức của mình” [Tiếng Việt lớp 2, tập II
Trang 17NxbGD, năm 2005, tr10] Làm theo lời Bác, các em sẽ chuẩn bị tinh thần vànăng lực của con ngời xã hội chủ nghĩa, phấn đấu trở thành con ngoan, trògiỏi, cháu ngoan Bác Hồ.
Về việc bồi dỡng đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đa ra những phơngpháp trau dồi đạo đức hết sức cụ thể và tỷ mỉ
Với bản thân mình: Không nên tự mãn, tự túc mà phải cần học hỏi để tiến bộ,phải siêng năng, tiết kiệm Đối với đồng chí: phải thân ái giúp đỡ, nhng khôngche đậy những điều dở, học cái hay, sửa chữa cái dở, không đố kỵ, không coikhinh những kẻ không bằng mình, không nên có lối hiếu danh, hiếu vị… Đốivới công việc: phải có đầu t, thái độ làm việc tận tuỵ, cẩn thận, biết nhìn xatrông rộng để thấy đợc hiệu quả của việc làm, tránh đem lại sự tổn thất hoặcthất bại khác bên cạnh những thành quả đã đạt đợc vì lẽ, có những việc làmthành công trớc mắt nhng thất bại về sau Nên có sự tổng kết lại những việc đãlàm, cần có sự suy xét bản thân Đối với nhân dân: cần phải hiểu đợc nguyệnvọng của quần chúng nhân dân, cần có thái độ thân ái, tôn kính nhân dân, cầnlàm cho dân yêu, dân tin Đối với đoàn thể: “Khi nguy hiểm cần phải hy sinhvì đoàn thể” [44; tr845]
Điều cốt lõi trong t tởng của Ngời trong vấn đề đạo đức và bồi dỡng đạo
đức theo Ngời trớc hết: “Muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp thì cần phải tiêudiệt những thói h tật xấu của xã hội cũ còn xót lại”, đồng thời cần phải “bồi d-ỡng con ngời xã hội chủ nghĩa” là con ngời có đạo đức “cần, kiệm, liêm chính,chí công vô t, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng” [44;tr266] Trong xây dựng cái mới phải biết kế thừa và phát triển những đức tínhtốt đẹp của tổ tiên ta nh lòng yêu nớc, yêu lao động, thơng yêu, đùm bọc lấynhau, đoàn kết lao động và chiến đấu Học tập những gơng tốt của anh em bèbạn, những ngời quanh mình, học tập nhân dân, học tập các nớc anh em Ngờigià phải biết làm gơng, ngời đi trớc phải dìu dắt và bồi dỡng ngời đi sau, già,trẻ, trai, gái, cán bộ, công, nông, binh mỗi ngời đều phải xác định đợc chomình trách nhiệm đối với bản thân, với ngời thân, với Tổ quốc
Nh vậy, vấn đề đạo đức Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là ba mối quan hệchính: với mình, với ngời, với việc Ngời còn khẳng định sức mạnh tinh thần,
đạo đức của con ngời, con ngời cần đạo đức, cách mạng cần đạo đức Nhữngquan niệm về đạo đức của Ngời cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Chủ tịch
Hồ Chí Minh là ngời biết nhìn xa trông rộng, đúng nh nhà sử học ngời Mỹ bàJstenson khẳng định: “Hồ Chí Minh tiêu biểu cho nền đạo đức của ngày mai”[49; tr91]
d Về bồi dỡng con ngời và trí tuệ
Trang 18Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định mục đích của sự nghiệp cách mạng, làgiải phóng dân tộc, xây dựng một xã hội mới không bất công; một xã hội giàumạnh, công bằng văn minh, với những con ngời có phẩm chất tốt đẹp, có trình
độ phát triển toàn diện
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng mọi sự bắt nguồn từ con ngời, thông ờng chúng ta nghĩ một cách rất đơn giản: muốn xây dựng chế độ xã hội chủnghĩa thì xoá bỏ chế độ ngời bóc lột ngời bằng cách tổ chức và quản lý theophơng thức xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở và vật chất, cải tiến kỹ thuật Nhng với
th-Ngời: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có ngời xã hội chủ nghĩa [296; tr104], Ngời cho rằng: “ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu [288; tr102] T t-
ởng giáo dục toàn diện, bồi dỡng con ngời về mọi mặt phẩm chất cũng nh vềtài năng trí tuệ là một bộ phận quan trọng trong t tởng nhân văn Hồ Chí Minh.Ngời vạch rõ, mọi ngời đều cần phải ra sức học tập đó là nhiệm vụ cách mạng,
là lòng yêu nớc Ngời chỉ rõ: “Sự ngu dốt là một trong những chỗ dựa chủ yếu
của chế độ t bản chủ nghĩa ” [ 329, tr103] Vì vậy để chiến thắng đợc sự ápbức bóc lột của chủ nghĩa t bản không có con đờng nào khác là con đờng cách
mạng Mà “Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhân dân
lao động, chứ không phải của anh hùng cá nhân [317; tr 111] Chính vì điều
đó, Ngời đã kêu gọi mọi ngời cùng nhau học tập: Từ trên xuống dới mọi ngời
phải cố gắng nghiên cứu học tập [328; tr 114] Ngời kêu gọi từ cán bộ đảng
viên, giáo viên, công nhân, nông dân, ngời cha biết chữ, ngời cha biết tính,
ng-ời đã có tri thức, thanh niên, học sinh… tham gia vào phong trào học tập, Ngời
nói: Học hành là vô cùng Học càng nhiều biết càng nhiều càng tốt.[277; tr98].
Học để cho kịp thời đại, học để thực hiện cuộc cách mạng Ngời đã động viên
mọi ngời: Bất kỳ hoàn cảnh nào, đảng viên và cán bộ cần phải cố gắng học
tập để nâng cao trình độ văn hoá, tri thức [243; tr88]
Học tập bồi dỡng trí tuệ, cần phải học tập một cách nghiêm túc, biết tậndụng mọi thời cơ, thời gian để học hỏi, tích luỹ kiến thức cho cá nhân mình,
“Học để tự sửa chữa t tởng, học để tu dỡng đạo đức cách mạng, học để tin
t-ởng, học để hành” [50, tr97] Học là một việc hết sức cần thiết Ngời đã chỉ rõ: Biết chữ biết tính, thì làm việc gì cũng dễ dàng hơn Một ngời không biết chữ, biết tính thì nh nửa mù nửa quáng Biết rồi, ta học thêm [245, tr88] Tri thức
và trí tuệ là cái vô cùng, càng học càng thấy thiếu, càng thấy cần phải tìm hiểuthêm, khám phá thêm
Trong nội dung về bồi dỡng con ngời và trí tuệ những câu nói của Ngời
đã toát lên một t tởng giáo dục rất rõ Đó là quan điểm giáo dục toàn diện.Theo Ngời giải phóng dân tộc cần phải có đạo đức căn bản vì không có đạo
đức thì không thể làm đợc một việc gì có ích Để có thể có đợc một con ngời
Trang 19phát triển toàn diện thì việc học đạo đức không thể thiếu bên cạnh học tri thứckhoa học Trong phong trào chống giặc dốt, các lớp bình dân học vụ đợc mở
ra Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: Bình dân học vụ không những dạy học,
dạy viết mà còn phải chú trọng dạy đạo đức công dân [244; tr88].
Ngời cũng khẳng định rõ, dù sự nghiệp cách mạng của chúng ta cóthắng lợi trớc mắt đó là thắng kẻ thù xâm lợc nhng nhiệm vụ khó khăn hơn đó
là công cuộc xây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa, muốn thực hiện đợc mục
tiêu cách mạng ấy thì: mỗi đảng viên đều phải cố gắng học tập văn hoá,“
học tập khoa học và kỹ thuật” [267, tr95] Nhiệm vụ bồi dỡng con ngời “vừa
hồng, vừa chuyên” luôn luôn đợc Ngời quan tâm, đề cao Ngời rất coi trọng
kinh nghiệm, thực hành nhng Ngời cũng khẳng định: Có kinh nghiệm mà
không có lý luận thì cũng nh một mắt sáng, một mắt mờ [265; tr95]; Không có
lý luận thì lúng túng nh nhắm mắt mà đi [283; tr100] Kinh nghiệm có đợc từ
trải nghiệm và thực tiễn nhng muốn có đợc lý luận dứt khoát cần phải học tập
Việc bồi dỡng con ngời Ngời đề cao vai trò, tác dụng của phơng phápgiáo dục, Ngời nhắc nhở trong phơng pháp giáo dục cần coi trọng khâu ban
đầu: óc của những ngời tuổi trẻ trong sạch nh một tấm lụa trắng Nhuộm
xanh thì nó sẽ xanh Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ [305; tr107]; Dạy trẻ cũng nh trồng cây non Trồng cây non đợc tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này các cháu thành ngời tốt” [273; tr97]
Trong công tác giáo dục Ngời nêu cao vai trò của ngời thầy: Nhiệm vụ
giáo dục quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục không có giáo dục [ 303, tr107] Ngời xem ngời thầy là nhà kiến thiết,
ngời thầy là ngời đặt nền móng cho mọi sự khởi nguyên Bên cạnh đó Ngời
đánh giá cao vai trò của thế hệ trẻ, vì họ là chủ nhân tơng lai: Non sông Việt
Nam có trở nên tơi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cờng quốc năm châu đợc hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu [304; tr107].
Theo Ngời dù việc học tập là một việc làm rất cần thiết nhng học tập
cũng cần phải cần có suy xét, tính toán: Nên học cái gì?
Học để làm gì?
Học thế nào? [336; tr116}
Hiện nay toàn Đảng, toàn dân đang tích cực thực hiện sự nghiệp đổimới, thực chất đó là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực đời sốngxã hội Quan điểm về bồi dỡng con ngời và trí tuệ của Hồ Chí Minh luôn làkim chỉ nam cho công cuộc xây dựng văn hoá xã hội nớc ta
đ Về chăm lo lợi ích và đời sống vật chất của con ngời
Trang 20Chủ tịch Hồ Chí Minh suốt cuộc đời mong mỏi giải phóng dân tộc đem
đến cuộc sống ấm no cho quần chúng nhân dân; mong muốn xây dựng mộtnhà nớc của dân, do dân, vì dân Dù trong hoàn cảnh nào, Ngời cũng thể hiện
sự trăn trở, những nỗi lo toan cho cuộc sống của quốc dân, đồng bào
Trong Hội nghị lần thứ IX mở rộng của Ban Chấp hành Trung ơng Đảnglao động Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở nhiệm vụ của Đảng ta:
Phải luôn luôn nhớ rằng: điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống của nhân dân [361; tr 126].
Quan niệm của Ngời là Có thực mới vực đợc đạo [354; tr123] là Dĩ thực vi“
tiên” Mọi vấn đề cần giải quyết trớc mắt là có cơm ăn, mới nói đến cách
mạng, nói đến xây dựng chủ nghĩa xã hội Chính vì vậy trong hoàn cảnh vôcùng khó khăn của dân tộc Ngời xem cái đói cũng nh là giặc: “Giặc đói” cũngtàn phá ghê gớm không khác gì “giặc ngoại xâm” Vậy nên nhiệm vụ của toàn
Đảng, toàn dân, của cán bộ đảng viên đó là cùng nhau thực hành tiết kiệm,tăng gia sản xuất cứu đói Ngời luôn là ngời đi đầu trong phong trào thực hànhtiết kiệm và mẫu mực trong phong trào tăng gia sản xuất Ngời kêu gọi cán bộ,
đảng viên: Cán bộ từ trên xuống dới từ Bác đến cán bộ xã đều là đầy tớ của
nhân dân, không phải là vua là quan nh ngày trớc mà đè đầu cỡi cổ nhân dân Tức là cán bộ phải chăm lo đời sống của nhân dân [341; tr118] Ngời
xem nhiệm vụ trọng trách của Đảng và Chính phủ là phải lo cho đợc cuộc sống
về vật chất cũng nh tinh thần cho nhân dân: Chính sách của Đảng và Chính
phủ là phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi [342; tr119]
Đối với dân tộc Việt Nam đặc trng nền khinh tế là “dĩ nông vi bản” thì
nhiệm vụ cách mạng trớc mắt của Đảng cần phải thực hiện cho đợc Ngời cày
có ruộng [345; tr 120] Thực hiện đợc điều đó nghĩa là Đảng đã giải phóng
đ-ợc đại đa số đồng bào ta Chúng ta tranh đđ-ợc tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết
đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của
tự do, của độc lập khi mà dân đợc ăn no, mặc đủ [347; tr120] Nhiệm vụ đó
của Đảng và cán bộ, đảng viên thực sự là lớn lao, những cán bộ, đảng viên cầnphải có ý thức hy sinh quên mình, Ngời kêu gọi cán bộ, đảng viên cần phải
thắng đợc bản thân mình: Đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân
lên trên hết, trớc hết Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao
đạo đức cách mạng, bồi dỡng t tởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng
và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân [352; tr122] Cán bộ, đảng
viên cần có tinh thần “ Chí công vô t” và “Lo trớc thiên hạ, vui sau thiên hạ”
[359; tr125] Việc chăm lo lợi ích, đời sống cho quần chúng cũng cần phải
Trang 21phân minh, công bằng, là tiêu chuẩn hàng đầu Ngời đã đặt ra trong lu thôngphân phối:
Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng;
Không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên [367; tr128].
Dù câu nói của Ngời trong hoàn cảnh nào cũng toát lên một giá trịnhân sinh lớn Đó là sự quan tâm, chăm lo mu cầu hạnh phúc cho nhân dân,mong muốn xây dựng một xã hội trong đó con ngời đợc tự do, thoát nạn bầncùng, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, đợc học hành, có cuộc sống sung sớng, hạnhphúc trên cơ sở một cuộc sống vật chất ngày càng cao, là tâm nguyện suốtcuộc đời của Hồ Chí Minh
của dân, quan điểm: Dễ mời lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong [1; tr7]
của Ngời đã đợc kế thừa từ Nguyễn Trãi: “Lật đợc thuyền mới biết sức dân
nh nớc”
Ngay từ những ngày đầu trên con đờng tìm đờng cứu nớc, Ngời đã xác
định: Cách mạng Việt Nam là bộ phận trong cách mạng thế giới Ai làm cách
mạng trong thế giới đều là đồng chí của dân Việt Nam cả Đã là đồng chí, thì sung sớng cực khổ phải có nhau [373; tr131] Ngay trong Di chúc, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã viết “ Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quí báu của Đảng
và của nhân dân ta” và điều mong muốn cuối cùng của Ngời vẫn là vấn đề
đoàn kết, mong toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết ớc mong suốt cả một cuộc
đời hy sinh cho độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc và tình hữu ái vô sản của
Hồ Chí Minh không phải là một ớc muốn cao sang mà đơn giản chỉ là chân lý:
đoàn kết Chính vì vậy Ngời đã tham gia Quốc tế cộng sản và chỉ đạo cuộccách mạng dân tộc không chỉ với t cách là Ngời con của đất nớc đứng lên giảiphóng dân tộc mà còn với vai trò là một lãnh tụ của phong trào cộng sản quốc
Trang 22tế, Ngời đã từng kêu gọi: Dù ở châu á, châu Phi hay châu Mỹ La Tinh, các
dân tộc đấu tranh cho hoà bình và nhân dân các nớc chiến đấu để tự giải phóng đều chung một mặt trận [374; tr131]; Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới [380; tr133] Đối với
phong trào cách mạng trong nớc, Ngời tin tởng nếu có sự đồng lòng nhất trí
của nhân dân thì cuộc kháng chiến kiến quốc nhất định thành công: Đoàn kết
là sức mạnh; Đoàn kết là lực lợng vô địch [376 - 377; tr132] Mọi ngời cần
phải có tinh thần giúp đỡ lẫn nhau: Ngời đến trớc phải rớc ngời đến sau [389;
tr135]
Đoàn kết dân tộc, tôn giáo Ngời cũng hết sức quan tâm Trong báo cáo
về dự thảo hiến pháp sửa đổi tại Quốc hội nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà
khoá I kỳ họp thứ II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao quan điểm: Nớc ta là
một nớc thống nhất gồm nhiều dân tộc Các dân tộc sống trên đất nớc Việt Nam đều bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ [386; tr134] Trên thực tế, nhìn vào
những bớc thăng trầm của lịch sử dân tộc, nếu không có đoàn kết dân tộc,
đoàn kết tôn giáo thì sự nghiệp cách mạng của chúng ta không thể đi đếnthắng lợi
Tinh thần đoàn kết, còn đợc thể hiện ở mối quan hệ giữa văn hoá với sự
nghiệp cách mạng: Văn hoá với chính trị có quan hệ mật thiết với nhau Có
chính trị mới có văn hoá [394; tr136] Nhng văn hoá lại có tầm quan trọng
trong cuộc sống của quốc dân, văn hoá phải đảm nhiệm vai trò: Soi sáng cho
quốc dân đi [393; tr136] Hồ Chí Minh cho rằng Văn nghệ cũng là một mặt
trận, những văn nghệ sỹ cũng là những chiến sỹ trên mặt trận đấu tranh ấy
Bất kỳ trong hoàn cảnh nào, tinh thần đoàn kết cũng đợc Ngời xem làkhẩu hiệu hành động cách mạng Bởi đó là chìa khoá cho sự hoá giải sự kỳ thị,phân biệt, chia rẽ Tinh thần đoàn kết đại đoàn kết, đại hoà hợp của Chỉ tịch
Hồ Chí Minh đã trở thành di sản của dân tộc Việt Nam và loài ngời tiến bộtrên thế giới
g Về lòng yêu nớc
Hồ Chí Minh là con ngời của lòng yêu nớc thơng dân ở Ngời lúc nàocũng canh cánh một nỗi lòng vì dân, vì nớc
Ngời từng nói: “Bất kỳ bao giờ, ở đâu, tôi cũng theo đuổi một mục
đích, làm cho ích quốc, lợi dân”; “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tộtbậc là làm cho nớc ta đợc hoàn toàn độc lập, dân tộc ta hoàn toàn đợc tự do,
đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học hành” Trong Di chúc
Trang 23Ngời để lại cho thế hệ sau Ngời đã thể hiện rõ ý nguyện của mình: “Suốt đờitôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.Nay phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì ân hận, chỉ tiếc rằng không
đợc phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa ” [17; tr140]
Vững tin ở con đờng mình đi, lý tởng mình chọn lựa, Bác có đủ nghị lực
và niềm tin vào chính mình vào quốc dân đồng bào, vào truyền thống yêu nớc,của mọi thế hệ, của kiều bào, thậm chí của cả những ngời con lầm đờng lạc
lối, tin vào một tơng lai tơi sáng của sự nghiệp cách mạng: Các đồng bào của
mình tuy c trú ở nơi đất khách quê ngời nhng lòng vẫn yêu mến cố hơng Tổ quốc [399; tr138] Ngời tin rằng dù ở đâu, con ngời cũng có gốc rễ, họ không
thể quên đợc nguồn cội nơi đã sinh ra mình Dù ở đâu họ cũng một lòng hớng
về cố hơng, họ sẽ cổ vũ động viên cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Ngời tin: “ Con ngời dù xấu, tốt, văn minh hay dã man đều có tình” Sựtin tởng ấy dựa trên sự vị tha, cái nhìn tốt đẹp về con ngời của Bác Ngay với
kẻ bán nớc, Ngời đánh thức ở họ tình yêu nớc với gốc rễ, cội nguồn “ ConHồng cháu Lạc” Ngời biểu dơng tinh thần hy sinh vì độc lập, tự do của các
gia đình gơng mẫu: Gia đình không có gì quí hơn con Loài ngời không có gì
quý bằng Tổ quốc Những gia đình có bao nhiêu con đều hiến cả cho Tổ quốc
là những gia đình gơng mẫu vẻ vang Dân tộc có những gia đình nh thế thì nhất định tự do độc lập [416; tr142] Lòng tin của Ngời đã tăng thêm quyết
tâm cho sự nghiệp giải phóng dân tộc: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nớc.
Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi hẳn lên, nó kết tinh lại thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lớt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ bán nớc và lũ cớp nớc [410; tr141] Quyết tâm của dân
tộc đã đợc Ngời thể hiện: Hễ còn một tên thực dân trên đất nớc Việt Nam, thì
Việt Nam cứ đánh cho đến thắng lợi hoàn toàn, đánh cho đến độc lập thống nhất thực sự [419; tr143]; Dù phải đốt cả dãy Trờng Sơn cũng phải cơng quyết giành độc lập [433; tr146]; Không có gì quý hơn độc lập tự do [429;
tr145] Đó là chân lý sống của mọi dân tộc, mọi thời đại Vì mục tiêu độc lập
tự do ấy, toàn dân tộc phải cùng nhau nhất trí hiệp lực, quyết không lùi bớc,tấn công đến thắng lợi cuối cùng, thậm chí đến “giọt máu cuối cùng” để có đ-
ợc độc lập, tự do Ngời đã tạo niềm tin, hun đúc cho toàn dân tộc ý chí và lòngquyết tâm:
Không có việc gì khó, Chỉ sợ lòng không bền, Đào núi và lấp biển, Quyết chí ắt làm nên [426; tr144].
Trang 24Đối với Ngời, tình yêu nớc không chỉ thể hiện ở tinh thần chiến đấu trênchiến trờng, sự hy sinh gian khổ trong chiến đấu, lao động sản xuất Đối vớiNgời, tình yêu nớc và tình yêu dân tộc còn đợc thể hiện trong việc giữ gìn vàlàm trong sáng ngôn ngữ của dân tộc Tiếng nói, là linh hồn của một dân tộc.Ngôn ngữ còn thì dân tộc còn Nếu ngôn ngữ của dân tộc bị mất thì dân tộc đó
không thể tồn tại Bởi lẽ: Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc,
chúng ta phải hết sức gìn giữ lấy nó, chớ để bệnh nói chữ át nó đi [465;
tr153] Việc chống nói chữ là một trong những biểu hiện của tình yêu nớc.Việc làm phong phú và trong sáng thêm tiếng nói dân tộc là việc làm thiết thựcthể hiện lòng yêu nớc, bảo vệ di sản dân tộc
Ngời còn cho rằng muốn thực hiện đợc sứ mệnh, nhiệm vụ cách mạng
thì trớc hết mỗi ngời cần phải có tinh thần Chí công vô t; Vì nớc quên nhà, vì
công quên t [469; tr154], cần phải dẹp bỏ t tởng hẹp hòi [467; tr154] vì ngời
mà hẹp hòi thì ít kẻ giúp [450; tr150] Muốn cải tạo xã hội thì phải cải tạo mình [441; tr148] Là ngời cách mạng thì phải nhớ rằng: Nớc lấy dân làm gốc; bao nhiêu lợi ích đều vì dân [443; tr148].
Đối với Ngời, lòng yêu nớc, cội nguồn dân tộc là gốc rễ của sức mạnhtinh thần cách mạng của cả một dân tộc Trong xã hội văn minh, hiện đại ngàynay, t tởng đó càng có thêm giá trị Đó là động lực thúc đẩy sự nghiệp đổi mớicủa đất nớc, là động lực tạo ra quyết tâm đem lại sự ổn định của một thể chếchính trị, sự cờng thịnh của nền kinh tế, sự thống nhất, vững bền của văn hoá -xã hội ở một quốc gia
h Về lối sống.
Hồ Chí Minh là một vị Chủ tịch nớc, nhng ở Ngời luôn toát lên mộtphong cách sống hết sức giản dị, khiêm tốn, lão thực, đời thờng, yêu truyềnthống, chuộng hoà bình, yêu lẽ phải, yêu cái đẹp và sống vì mọi ngời
Anilenđu Sacơrabôrôty (Tiến sỹ Triết học ấn độ) đã từng ca ngợi HồChủ tịch là một con ngời hết sức giản dị và trong sáng Lối sống đó không phảichỉ là của riêng Ngời mà trở thành mẫu mực của một nhân cách lớn, một tráitim của chung dân tộc Việt Dù ở đâu, nói về cái gì, Ngời cũng hớng mọi ngờitới lý tởng cao đẹp, hành vi nhân ái, vì mọi ngời, hớng mọi ngời nhìn về một t-
ơng lai tơi sáng mà ở đó mỗi cá nhân tự ngời làm chủ cuộc sống của mình và
có trách nhiệm lo chung sự nghiệp của dân tộc: Ngày nay, chính chúng ta là
ngời chủ Chúng ta làm chủ cuộc sống mới do chúng ta xây dựng nên Chúng
ta làm chủ tơng lai của mình và của con cháu mìmh [497; tr164] Ngời nhắc
nhở những đảng viên: … Không đợc quên lý tởng cao cả của mình là: suốt đời
làm cách mạng phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thắng lợi hoàn toàn trên Tổ quốc và trên thế
Trang 25giới [498; tr165] Điều đó thể hiện trách nhiệm của những ngời cộng sản;
không chỉ có mục tiêu chiến đấu và xây dựng nền độc lập và chủ nghĩa xã hội
ở dân tộc mình mà còn có tinh thần quốc tế vô sản, đấu tranh vì sự nghiệp giảiphóng cho cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới
Ngời muốn: nhân dân Việt Nam tin tởng chắc chắn ở tơng lai rực rỡ
của mình [502; tr166] một nếp sống lành mạnh, vui tơi, một nếp sống xã hội chủ nghĩa [503; tr166] Muốn vậy mọi ngời cùng chung sức xây dựng nếp
sống mới, thực hiện đời sống văn minh, tình làng nghĩa xóm, phụ nữ cần phải
xung phong [506; tr167] thanh niên cần phải gánh vai chính trong xây dựng đời sống mới và thực hiện đúng đắn luật hôn nhân và gia đình [507;
tr167] Tất cả nhân dân trong xã nh một gia đình lớn Trong gia đình, phải
trên kính dới nhờng, thơng yêu giúp đỡ nhau Đối với những ngời già yếu, neo
đơn, thơng binh, gia đình liệt sỹ, hợp tác xã phải khéo tìm cách chia công việc cho họ để họ cùng làm đợc, đồng thời phải chú ý giúp đỡ họ [511; tr169] Chủ
tịch Hồ Chí Minh luôn có ý niệm và suốt đời mong muốn xây dựng một xã hội
đầy tình nhân ái, sự yêu thơng đùm bọc giữa ngời và ngời, mọi ngời đều ấm
no, hạnh phúc ai cũng đợc học hành Điều mong muốn ấy đợc Ngời nhắn nhủ
qua Di chúc Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân ta
đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nớc Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới [516; tr170] Và Ngời cũng đã rất tự hào với bè bạn trên thế giới, nhất là
những ngời bạn Mỹ đấu tranh vì tự do, hoà bình và chính nghĩa, chống chiến
tranh rằng: Vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc mình, vì muốn sống
hoà bình hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới, cả với nhân dân Mỹ, toàn dân chúng tôi đoàn kết nhất trí, kiên quyết chống đế quốc Mỹ xâm lợc.
[515; tr171] Một lối sống hết sức rõ ràng: yêu chính nghĩa, biết phân biệt đâu
là bạn, đâu là thù, toàn thể dân tộc cùng chung mục đích lý tởng quyết tâmphấn đấu cho mục tiêu, lý tởng đã chọn:
Không có việc gì khó
Quyết chí ắt làm nên [490; tr162]
Yêu chuộng hoà bình, yêu tự do, xem tự do là vốn quý:
Trên đời hàng vạn điều cay đắng,
Cay đắng chi bằng mất tự do? [ 511; tr169]
Ngay đối với bản thân mình, khi ngục tù lao khổ, Ngời đã từng bộc bạchvới chính bản thân mình một ý chí kiên cờng, một niềm tin sắt đá, một nụ cờilạc quan và vui mừng khi nghĩ tới tơng lai của cách mạng, của dân tộc Tất cảkhông có gì lay chuyển đợc việc thực hiện lý tởng:
Kiên trì và nhẫn nại,
Trang 26Không chịu lùi một phân, Vật chất tuy đau khổ,
Không nao núng tinh thần [486; tr162]
Ngời cho rằng, trong cuộc sống để có đợc thành công thì nhất định phải
trải qua thử thách, khổ luyện: Gian nan rèn luyện sẽ thành công [484; tr161]
Những câu nói của Ngời về lối sống dù xuất phát trong hoàn cảnh nàocũng thể hiện tinh thần đạo đức cách mạng, sự quyết tâm vì độc lập dân tộc, vì
tự do, tình yêu chính nghĩa, sự hy sinh cái riêng cho sự nghiệp chung của dântộc Và đặc biệt là tinh thần lạc quan cách mạng sự quyết tâm tất thắng củaNgời
1.1.2.3 ý nghĩa của việc nghiên cứu danh ngôn Hồ Chí Minh
Nghiên cứu các danh ngôn Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa theo ớng đi sâu tìm hiểu con ngời và t tởng của Ngời - nhà cách mạng lỗi lạc, nhàvăn hoá lớn của dân tộc
h-Trong hạn định của đề tài này, chúng tôi đi tìm hiểu danh ngôn Hồ Chí Minh
từ góc độ ngôn ngữ góp phần đánh giá toàn diện hơn, có cái nhìn tổng hợp,
đầy đủ hơn về phong cách ngôn ngữ của Hồ Chí Minh Bởi lẽ đây là những câunói chọn lọc, nổi tiếng có thể đợc xem là tiêu biểu nhất trong di sản ngôn ngữcủa Ngời
1.2 Sơ lợc về sự nghiệp Hồ Chí Minh
1.2.1 Chủ tịch Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc anh hùng giải phóng dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra trong thời buổi dân tộc Việt Nam đanglầm than tủi cực dới ách thống trị của thực dân Pháp Lớp lớp sỹ phu yêu nớc
đã đứng lên chiến dấu giành lại độc lập, tự do, nhng đều thất bại Sứ mệnh lịch
sử đặt ra cho dân tộc, cho mỗi ngời dân yêu nớc, cũng nh cho các dân tộc bị ápbức trên thế giới lúc bấy giờ là tìm ra con đờng cứu nớc, cứu dân Đó là tháchthức lớn của thời đại
Ngời lớn lên trong một nhà nho nghèo yêu nớc, lại đợc hởng nền giáohuấn yêu nớc và gần dân của gia đình, truyền thống đấu tranh bất khuất của
đất Lam Hồng Vốn có t chất thông minh, t duy độc lập, Ngời đã ôm ấp chí lớnyêu nớc, cứu nớc, cứu dân, lại không đi theo con đờng cũ của các bậc tiền bối.Ngời đã quyết chí sang phơng Tây để tận mắt thấy đất nớc của kẻ đã đến thôntính dân tộc mình, mong tìm ra con đờng giải phóng dân tộc
Ngời đã đến Pháp rồi qua nhiều nớc khác ở châu Âu, á, Phi, Mỹ la tinh
và đã tìm ra một sự thật: ở các châu lục, các nớc giàu mạnh cũng nh các nớcthuộc địa đói nghèo đâu đâu cũng có những ngời bị áp bức Cũng trong nhữngnăm bôn ba ấy, Ngời đã mở rộng tri thức của mình Ngời quan tâm nghiên cứu
Trang 27các t tởng triết học và chính trị, đặc biệt là t tởng cách mạng và văn hoá của
n-ớc Pháp Trải qua học tập, nghiên cứu và đặc biệt là qua thực tiễn đấu tranhcách mạng của nhiều lục địa, đã dần hình thành ở Nguyễn ái Quốc một luận
điểm: Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng conngời, giải phóng nhân loại
Năm 1917, cách mạng tháng 10 Nga thành công báo hiệu bình minh củamột thời đại mới Năm 1920, Lê-Nin kêu gọi “Vô sản trên toàn thế giới và cácdân tộc bị áp bức liên hiệp lại!” Nguyễn ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Lênin- con đờng cứu nớc đúng đắn là con đờng cách mạng vô sản Ngời đã tìm
ra lý tởng cho bản thân và cho dân tộc ở Đại hội Tua, một ngời dân thuộc địa
đã trở thành một trong những ngời sáng lập ra Đảng cộng sản Pháp ngay ởchính quốc Với việc tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa, Ngyễn ái Quốc là mộtngời dân mất nớc không chỉ lo giải phóng cho dân tộc mình mà còn lo chophong trào đấu tranh của các nớc anh em Chủ nghĩa yêu nớc đã gắn liền vớichủ nghĩa quốc tế chân chính Độc lập dân tộc đã gắn liền với chủ nghĩa xãhội
Nguyễn ái Quốc - nhà yêu nớc Việt Nam trở thành ngời cộng sản ViệtNam đầu tiên và cũng là ngời đầu tiên truyền bá và vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác - Lê nin trên bán đảo Đông Dơng Tìm ra con đờng cứu nớc là cônglớn đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của Ngời
Theo t tởng của Gớt “Khởi thuỷ là hành động”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
có quan điểm lời nói phải đi đôi với hành động, lý luận đi đôi với thực tiễn,không những tìm hiểu thế giới mà còn phải cải tạo thế giới
Ngời là nhà chiến lợc thiên tài và còn là nhà tổ chức vĩ đại Nguyễn áiQuốc là ngời đầu tiên viết lên “Bản án chế độ thực dân”, và cũng là ngời cùngvới dân tộc mình thi hành bản án
Đối với cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là con ngời củanhững quyết định lịch sử ở những bớc ngoặt lịch sử Ngời sáng lập ra Đảngcộng sản Đông Dơng, tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam và các Đảngcách mạng khác trên bán đảo Đông Dơng Đảng cộng sản Việt Nam đã trởthành đội quân tiên phong dẫn dắt giai cấp và dân tộc trên mọi chặng thắng lợicủa cách mạng
Ngời cùng với Trung ơng Đảng quyết định tổng khởi nghĩa vũ trang, đacách mạng tháng Tám đến thành công, lập ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộnghoà Và trong lúc nhà nớc còn non trẻ, với thù trong giặc ngoài, giặc đói, giặcdốt hành hoành Hồ Chủ tịch đã kêu gọi toàn dân chống giặc đói, giặc dốt vớinhững phong trào hành động “Tuần lễ vàng”, “Hũ gạo tiết kiệm”, “bình dânhọc vụ” đa dân tộc thoát khỏi tình trạng cấp bách Ngời cùng với Đảng lãnh
Trang 28đạo cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, giảiphóng trên toàn miền Bắc Ngời cùng với Trung ơng Đảng lãnh đạo cuộc
kháng chến chống Mỹ cứu nớc Không có gì quý hơn độc lập, tự do “ ” Cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nớc đi đến thắng lợi cuối cùng với chiến dịch HồChí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc, mở đờng cho cả nớc đi lênchủ nghĩa xã hội
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy đợc nhân dân là lực lợng quyết địnhthắng lợi của cách mạng Dân chúng (lực lợng công, nông) là gốc của cáchmạng Có lực lợng của dân, việc to mấy, khó khăn mấy cũng làm đợc, lý tởngcách mạng đã đi vào lòng đông đảo quần chúng nhân dân thì biến thành sứcmạnh vật chất, không máy bay, đại bác nào chống lại đợc Ngời đã tiếp thu t t-ởng của nhà chiến lợc thiên tài Nguyễn Trãi “ Lật đợc thuyền mới biết sức dân
nh nớc” Sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã tìm ra đợc hình thức tốtnhất để tổ chức nhân dân Ngời đã sáng lập ra lực lợng vũ trang “từ nhân dân
mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”; sáng lập chính quyền nhân dân ngay từ buổi
đầu, trong khói lửa của cuộc kháng chiến từ trung ơng đến cơ sở do nhân dânbầu ra, vì dân mà phục vụ Với quan điểm, biết dựa vào sức mạnh của toàn dânthì có thể chiến thắng mọi kẻ thù Ngời đã lãnh đạo toàn dân cả nớc làm nêncuộc chiến tranh nhân dân thần thánh: Lấy chính nghĩa thắng phi nghĩa, lấy ít
địch nhiều, lấy yếu địch mạnh, một nớc nhỏ mà thắng hai đế quốc to là Pháp
và Mỹ Ngời coi sức mạnh chủ yếu là ở toàn dân, coi trọng sức mạnh to lớncủa sự đồng tình và ủng hộ quốc tế, của cả loài ngời tiến bộ, kể cả nhân dântiến bộ Pháp và Mỹ Đoàn kết các lực lợng ấy lại thành một lực lợng tổng hợp
to lớn, đấu tranh toàn diện, kể cả chính trị, kinh tế, ngoại giao Ngời nói: Đoàn
kết là lực lợng vô địch [376; tr132 ].
Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công, thành công, đại thành công [375; tr131]
ở Ngời, lòng yêu nhân dân, yêu nhân loại không bao giờ thay đổi Ngời
là một hình mẫu cao đẹp của con ngời mới trong thời đại mới, một biểu tợngcủa chủ nghĩa nhân văn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một tấm gơng tuyệt vời vềngời Cộng sản Ngời luôn mong muốn, “ làm sao cho nớc ta đợc hoàn toàn
độc lập, dân ta hoàn toàn đợc tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, aicũng đợc học hành” Ngời lại nói: “ Nớc độc lập mà dân không đợc hởng hạnhphúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì” Hoài bão lớn nhất của Ngời làgiành đợc độc lập, thống nhất cho Tổ quốc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, xâydựng một xã hội mới tốt đẹp, trong đó mọi ngời đều đợc ấm no hạnh phúc, tự
do, bình đẳng Để đa đất nớc khỏi tình trạng lạc hậu, đói nghèo, khôi phục vàphát triển nền kinh tế của đất nớc, Ngời đã cho rằng đó là một nhiệm vụ chính
Trang 29trị vô cùng lớn lao và nặng nề Để làm đợc điều đó, Ngời đã đề cao tinh thầnchí công, vô t của cán bộ đảng viên và kêu gọi tinh thần gơng mẫu của cán bộ
đảng viên: Cán bộ xung trớc
Làng nớc theo sau [398; tr138]
Bên cạnh cuộc kháng chiến giành độc lập cho dân tộc Một cuộc cáchmạng mới đó là công cuộc đổi mới toàn diện từ chiến lợc quân sự đến t tởng,văn hoá nhằm đem lại tự do, ấm no cho nhân dân, đó cũng chính là t tởng lớncủa Ngời Đây là một sự nghiệp lớn hoàn toàn mới mẻ và cực kỳ khó khăn màdân ta phải tự mình phải tìm tòi khai phá và sáng tạo Đây là một thách thứcmới nữa của thời đại với dân tộc Đại hội lần thứ VI Đảng cộng sản Việt Nam
đã chỉ ra đờng lối đổi mới toàn diện: đổi mới t duy trớc hết là t duy về kinh tế,
đổi mới tổ chức và cán bộ nhằm giải phóng lực lợng sản xuất, giải phóng conngời lao động, khắc phục những tệ nạn tập trung quan liêu, trình độ quản lýyếu kém, đã từng gây khó khăn trong một thời gian dài Xây dựng một xã hội
“do dân, vì dân”, phù hợp đặc điểm về mọi mặt của xã hội Việt Nam và xu ớng phát triển của thời đại, làm cho dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, dânchủ văn minh
h-Chủ trơng của h-Chủ tịch Hồ Chí Minh là theo con đờng của chủ nghĩa Mác- Lênin và với phơng châm không ngừng đổi mới sáng tạo Ngời đã đa ra nhận
định “Phải có tinh thần sáng tạo phải tìm tòi cái mới, thực hiện cái mới, thìviệc gì cũng làm đợc” Nhân dân Việt Nam vốn có t chất độc lập, sáng tạo.Chúng ta sẽ thực hiện đổi mới theo hớng đúng đắn, hợp với thực tiễn của nớcnhà, không bắt trớc dập khuôn mà học tập chọn lọc kinh nghiệm của các nớc.Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, “để cuộc chiến đấu chống lại những gì cũ kỹ, hhỏng để tạo ra những cái gì mới mẻ, tơi tốt là cuộc chiến đấu khổng lồ, cầnphải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lợng vĩ đạicủa nhân dân” [64; tr24]
Trong việc xây dựng xã hội Hồ Chí Minh đã sớm đề ra nhiệm vụ đấutranh không khoan nhợng với những tệ nạn quan liêu, tham ô, hối lộ, lãngphí… Ngời coi nguy hiểm nh một thứ giặc “nội xâm” Đổi mới phải coi trọngchiến lợc con ngời Con Ngời vừa là mục đích vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa cuộc cách mạng Phải đào tạo và sử dụng nhân tài, không đợc lãng phínhân tài Phải đặt lên vị trí hàng đầu vấn đề khoa học, kỹ thuật, phát triển vănhoá, nâng cao trình độ văn hoá của toàn dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách để làm giàu vốn tri thức củamình, của dân tộc mình, bằng những giá trị tinh thần của các nớc trên thế giới.Nhân dân Việt Nam sẽ thực hiện đổi mới trong quan hệ quốc tế, mở rộng quan
hệ hợp tác về kinh tế cũng nh khoa học, công nghệ và văn hoá Tăng cờng
Trang 30đoàn kết với bè bạn quốc tế, với các nớc anh em, các nớc yêu chuộng hoà bình
và công lý, góp phần xứng đáng vào cuộc đấu tranh chung vì một nền hoà bìnhchân chính, vì độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội Do đó, chúng ta không ngạcnhiên khi thấy Ngời có thể lãnh đạo, hớng dẫn, tổ chức chỉ đạo cuộc đấu tranhchống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quân phiệt Nhật và Tởng Giới Thạch xảoquyệt một cách thành công Sự ủng hộ toàn tâm của nhân dân làm cho ViệtNam đánh đuổi đợc các ách áp bức, cảm hoá đợc bè lũ tay sai và bè lũ củachúng tiến tới hoàn thành thống nhất đất nớc Ngời không còn sống để chứngkiến thành tựu vĩ đại này nhng Ngời đã tiên đoán và tin tởng mạnh mẽ trong Dichúc của Ngời Điều đáng kính trọng Ngời đó là lòng hiểu biết rộng rãi và sựtin tởng tuyệt đối vào nhân dân cũng nh vào toàn nhân loại và ý chí quyết tâmvững chắc của Ngời đạt tới mục đích lý tởng cao cả mà Ngời đã đề ra trớcnhân dân mình
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngời anh hùng giải phóng dân tộc, một chiến sỹcách mạng, suốt cuộc đời mình đấu tranh không mệt mỏi cho hoà bình và hữunghị giữa các dân tộc trên thế giới
1.2.2 Hồ chí Minh - nhà văn hoá lớn
Từ những năm 20 cho đến cuối đời, Hồ Chí Minh đã hoạt động khôngmệt mỏi trên mặt trận văn hoá Ngời thức tỉnh dân tộc bằng ý thức và truyềnthống văn hoá dân tộc, bằng sức mạnh của tinh hoa văn hoá nhân loại mà đỉnhcao là chủ nghĩa Mác - Lê Nin, bằng việc kêu gọi xoá bỏ những yếu tố phảnvăn hoá, Hồ Chí Minh đã khơi dậy truyền thống bốn ngàn năm lịch sử của cha
ông, liên kết dân tộc bằng sợi dây văn hoá dân tộc và văn hoá thời đại
Ngay từ buổi đầu khai sinh ra nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Ngời
đã chủ trơng một trong những công việc cấp bách là phát triển văn hoá, nângcao dân trí Chống giặc dốt đi đôi với chống giặc ngoại xâm; trớc hết là xoánạn mù chữ, tất cả ngời Việt Nam phải biết đọc biết viết “Mọi ngời Việt Nam
đều phải biết đợc những quyền hạn của mình, phải có kiến thức mới tham gia
đợc công cuộc xây dựng đất nớc”.[ 44; tr21] Ngời luôn coi trọng các vấn đế
văn hoá xã hội, coi đó là nội dung rất cơ bản của chiến lợc con ngời Vì lợi ích
mời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng ngời [7; tr8].
Trong những năm kháng chiến, Ngời hết sức coi trọng vấn đề kiến quốc, xâydựng đời sống mới, nền văn hoá mới, đảm bảo mọi quyền tự do, dân chủ chocông dân, nhng nghiêm cấm lợi dụng các quyền tự do, dân chủ đễ xâm phạmlợi ích của nhà nớc, của dân Nền văn hoá mà Ngời chủ trơng, kết hợp nền vănhoá truyền thống của dân tộc đợc phát triển với nền văn hoá tinh hoa của nhânloại, thấm nhuần chủ nghĩa yêu nớc và chủ nghĩa quốc tế chân chính Phải làm
Trang 31cho “văn hoá đi sâu vào tâm lý quốc dân”, đi sâu vào đời sống mới: “ Văn hoáphải chống tham nhũng, lời biếng phù hoa, xa xỉ Văn hoá phải làm thế nàocho mọi ngời dân Việt Nam, từ già đến trẻ, cả đàn ông và đàn bà, ai ai cũnghiểu nhiệm vụ của mình và hởng hạnh phúc mà mình nên đợc hởng” [44]
Ngời cho rằng học hỏi là vô cùng vô tận, dốt nát cũng là kẻ địch Nềngiáo dục có phát triển thì mới xây dựng đợc con ngời mới, đặc biệt là thế hệtrẻ; mới tiến lên trên con đờng vô tận của khoa học kỹ thuật, mới xây dựng đợcchủ nghĩa xã hội, mới sánh vai đợc với các dân tộc trên thế giới Học để làmviệc Học để làm ngời Học phải đi đôi với hành
Chủ tịch Hồ Chí Minh thờng xuyên quan tâm đến giáo dục lý tởng, giáodục đạo đức: (cần, kiêm, liêm chính, chí công, vô t) Ngời khẳng định: “ Mộtdân tộc biết cần, kiệm, liêm, chính, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh vềtinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”
Sự nghiệp văn hoá quan trọng nhất của Ngời là đã lãnh đạo toàn dân
đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới, giành lại cho nhân dân ta nhữngquyền sống của con ngời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần cùng với loài ng-
ời loại trừ một trở lực to lớn trên con đờng tiến lên thế giới văn minh, xoá đimột vết nhơ trong lịch sử là chế độ thuộc địa
Con đờng và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh hoà quyện làm mộtvới sự nghiệp văn hoá của Ngời Đó là con đờng chủ nghĩa yêu nớc đến chủnghĩa Mác - Lê nin Sự nghiệp đó đã làm cho nớc ta độc lập, dân ta đợc làmchủ, mọi ngời đợc ấm no, hạnh phúc Ngời luôn lấy quan điểm dân tộc làm
điểm xuất phát và coi đó là cái gốc của sức mạnh Hồ Chí Minh rất hiểu truyềnthống văn hoá dân tộc, Ngời luôn nói đến tinh thần yêu nớc chân chính củanhân dân ta, Ngời nói: “ Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa”.[48; tr12] Ngời hiểu nhân cách và bản sắc của con ngời Việt Nam ở chỗ: conngời Việt Nam luôn có ý thức, trách nhiệm, bổn phận của mỗi cá nhân trongquan hệ làng, nớc Con ngời Việt Nam yêu nớc đã biết đoàn kết, tự lực, tự c-ờng, kiên cờng, bất khuất, tự tin mà khiêm tốn, giản dị Đó là dân tộc giàu lòngbác ái, vị tha: “ Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cờng bạo”,trọng lẽ phải, yêu cái đẹp Đó là một dân tộc có nền văn hoá văn nghệ lâu đờivới nguồn văn nghệ quần chúng dân gian đồ sộ, với Nguyễn Trãi, Nguyễn
Du… Chính từ cái nhìn sâu sắc đó, Hồ Chí Minh đã phát huy truyền thống vănhoá dân tộc, khơi gợi ở mỗi ngời Việt Nam tinh thần dân tộc, sự đoàn kết nhấttrí trong công cuộc cách mạng, từ đó dẫn đến những thắng lợi hết sức vẻ vang
Việt Nam là một nớc tơng đối đồng nhất về mặt xã hội, toàn bộ nhândân cùng chung nền văn hoá Việt Nam Tuy nhiên, sự tồn tại của nhiều dân tộc
ít ngời thực sự tạo ra nhiều khó khăn trong việc hình thành một xã hội liên kết
Trang 32Tuy vậy, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc liên kết nhiều sắc thái văn hoávào một nền văn hoá Việt Nam chung Nhờ sự hiểu biết sâu sắc và tôn trọngnhững đặc điểm văn hoá khác nhau, Ngời đã hoàn thành nhiệm vụ này Trongviệc làm, trong lời nói của Ngời, ta có thể nhìn thấy rõ hình ảnh t tởng của nhàngôn ngữ, nhà thơ, nhà văn, nhà nghệ sỹ, Ngời đem lại nhiều nguồn cảm xúccho nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam Cuộc đời của Ngời mang ảnh hởng củanhững giá trị truyền thống dân tộc, có những đóng góp vào việc tạo ra nền vănhoá Việt Nam hiện đại.
ở Hồ Chí Minh có sự kết tinh văn hoá dân tộc với nền văn hoá tiên tiến,hiện đại của chủ nghĩa Mác - Lê nin, có sự hội tụ của các nền văn hoá
Đông,Tây, Kim, Cổ… Hồ Chí Minh đã kết hợp đợc trong bản thân Ngờinhững đức tính của Mác- Lê nin và các lãnh tụ cách mạng khác trên thế giới.Ngời đại diện cho những phẩm chất vốn có của nhân dân Việt Nam - bình dị,chuyên cần, yêu quí trẻ thơ, tin tởng thanh niên, tin tởng vào nhân dân, thẳngthắn, trung thực, chân thành, một ý trí mạnh mẽ và nhân văn, kết hợp với nhiệttình và tinh thần cách mạng Quan điểm của Ngời là: Cái gì tốt của Đông ph-
ơng hay Tây phơng phải học lấy để tạo nên một nền văn hoá Việt Nam Sự kếthợp tính dân tộc và tính nhân loại trong quan điểm văn hoá của Ngời nhằm h-ớng tới mục tiêu xây dựng một nền văn hoá vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội “Hồ Chí Minh chủ trơng làm khởi sắc và tăng cờng truyền thống văn hoáViệt Nam, gắn bó với các nền văn hoá khác trên thế giới Các bài thơ, tiểu luận
và diễn văn của Ngời phản ánh một sự hiểu biết sâu sắc về lịch sử văn minhnhân loại và một niềm tin thuỷ chung đối với bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc,quốc gia, kể cả dân tộc mình và các dân tộc trên thế giới”.[49; tr34] Trên thực
tế “Ngời tiếp thu đợc những giá trị tinh thần, t tởng nhân đạo của nhiều nềnvăn hoá cổ, kim, đông, Tây Trớc con mắt của bạn bè trên thế giới, Nguyễn áiQuốc là con ngời kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, một con ngời uyên thâm” [44;tr18] Theo tiến sỹ Matmét (nguyên giám đốc UNESCO khu vực Châu á TháiBình Dơng), “ Hồ Chí Minh là nhà văn hoá lớn” [57; tr18] ôxip mandenxtam(Liên xô) còn cho rằng, từ con ngời Nguyễn ái Quốc toả ra một thứ văn hoámới, “có lẽ là văn hoá của tơng lai”[ 57; tr16]
Hồ Chí Minh là một nhà văn hoá lớn vì cuộc đời và sự nghiệp của Ngời
là tấm gơng về nhân sinh quan và thế giới quan cao đẹp, làm sáng lên một chủnghĩa nhân văn trùng với những ớc mơ cổ truyền của dân tộc Việt Nam và cácdân tộc yêu chuộng hoà bình, kết tinh những t tởng và tình cảm lớn của loàingời tiến bộ
1.2.3 Hồ Chí Minh – anh hùng giải phóng dân tộc một bậc thầy sử dụng ngôn ngữ
Trang 33Trong những di sản tinh thần mà Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta,
có di sản vô cùng phong phú, vô cùng quí báu là di sản ngôn ngữ Khôngnhững các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong nớc mà các nhà khoa học nớcngoài đều cho rằng Hồ Chí Minh đợc xem là bậc thầy trong việc sử dụng ngônngữ
Trớc hết cần phải thấy rằng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vềngôn ngữ xuất phát từ phơng pháp luận của triết học, từ quan điểm của Mác -Enghen và Lê nin: ngôn ngữ là sản phẩm của xã hội loài ngời, chứ không phải
là cái do thợng đế ban cho “ ngôn ngữ cổ xa nh ý thức vậy” “Nó là hiện thực
trực tiếp của t duy” Lê nin cũng đã chỉ ra nhiều vấn đề thuộc về bản chất ngôn
ngữ Lê nin khẳng định: “Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất củacon ngời” và Ngời cũng đã kêu gọi giữ gìn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc
Kế thừa quan điểm đó, cùng với tình yêu dân tộc, yêu tiếng mẹ đẻ, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã không ngừng học hỏi, sáng tạo và vân động mọi ngời cùngphát huy tiếng nói dân tộc, đem lại vị trí xứng đáng của tiếng Việt Ngời thấy
rõ tầm quan trọng của tiếng nói dân tộc trong sự tồn tại của dân tộc Trong bàinói chuyện của mình Hồ Chủ tịch đã đặc biệt chú ý đến những vấn đề nh: phảinhận thức thế nào về quan hệ giữa ngôn ngữ và vận mệnh dân tộc; vai trò củangôn ngữ không chỉ trong giao tiếp bình thờng, mà còn trong đấu tranh cáchmạng, trong sự nghiệp xây dựng văn hoá xã hội Theo Pauxtôpxki “Tình yêuchân chính đối với quê hơng đất nớc không thể tách rời tình yêu đối với ngônngữ dân tộc” Hồ Chí Minh đã khẳng định “Ngôn ngữ là thứ của cải vô cùnglâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó,làm cho nó phát triển ngày càng rộng khắp” Đó cũng là cơ sở của nhiều chủtrơng chính sách của Đảng, nhà nớc về văn hoá và ngôn ngữ Hồ Chí Minh đã
đa ra các quan điểm có tính chất nguyên tắc nh: Dựa vào bản thân nó để pháttriển nó là chính, vay mợn là phụ Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa cácdân tộc về mọi mặt trong đó có ngôn ngữ Bên cạnh đó, Ngời còn nêu ra quan
điểm về sự giữ gìn trong sáng của tiếng Việt, trong điều kiện chính trị xã hộiphức tạp, có nhiều tác động lớn đến văn hoá, xã hội, chính trị, ngôn ngữ Đó là
sự tác động của văn hoá Hán, ngôn ngữ Hán, văn hoá Pháp, ngôn ngữ Pháp.Việc bảo vệ và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt không chỉ thể hiện lòngyêu nớc, ý chí tự cờng dân tộc mà còn gắn liền với sự nghiệp bảo vệ nền độclập của đất nớc Tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc Việt đợc thể hiện trong cáchnói của quần chúng Ngời nhận xét: “Cách nói của quần chúng rất đầy đủ, rấthoạt bát, rất thiết thực, mà lại rất giản đơn Anh em đi tuyên truyền cha học đ-
ợc lời nói đó, nên khi viết, khi nói khô khan, cứng nhắc, không hoạt bát, khôngthiết thực” và khuyên chúng ta nên học cách nói của quần chúng Muốn thực
Trang 34hiện đợc điều đó chúng ta phải nghiên cứu để nắm lấy cái quy luật bên trongcủa ngôn ngữ: “ Phải nghiên cứu cách đặt từ của mình, nghiên cứu thêm cách
đặt thêm từ mới của mình”, đồng thời với những từ không dịch đợc thì phảivay mợn tiếng của các nớc, nhng chỉ vay mợn khi cần thiết, đã vay mợn thìphải vay mợn cho đúng” Phải chống quan điểm tự ti và thói xính dùng chữ,lạm dụng tiếng nớc ngoài Chính Ngời là tấm gơng làm giàu thêm vốn từ dântộc Một con ngời không thể tạo ra đợc ngôn ngữ nhng cách sáng tạo của cánhân có thể đóng góp cho sự phát triển ngôn ngữ, thậm chí còn tạo nên sự ảnhhởng đến chiều hớng phát triển của ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là mộtcon ngời nh thế Chúng ta thử phân tích một số dẫn dụ về cách sử dụng từ, ngữcủa Hồ Chí Minh để thấy rõ tài năng ngôn ngữ của Ngời
Có thể nói, tiếng Việt cung cấp phơng tiện từ ngữ đủ để Hồ Chí Minhdiễn đạt t tởng, tình cảm một cách thích hợp Các từ đợc lựa chọn và đợc đặt
đúng chỗ trong chuỗi kết hợp chiều ngang, tạo nên sự diễn đạt rõ nhất Trong
“Sửa đổi lề lối làm việc”, Ngời viết:“ Sinh hoạt xa hoa, tiêu sài bừa bãi Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào … Việc nào dễ
thì tranh lấy cho mình, việc nào khó thì đùn cho ngời khác Gặp nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh” [4; tr43] Ta khó tìm ra đợc những từ khác để thay thế những từ nh: Xa hoa, bừa bãi, xoay, tranh lấy, đùn, trốn tránh, trong đoạn văn
trên Có những từ Ngời dùng rất dân dã, chân chất, dễ hiểu theo cách nói, cách
diễn đạt của quần chúng: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào.”; “Xem nhiều sách để mà loè, để làm ta đây, thế không phải là biết lý luận” Với vật
liệu sẵn có của tiếng nói dân tộc, Ngời đã sáng tạo ra một số từ mới, mà hiện
nay chúng ta đã quen dùng nh: vùng trời, vùng biển, chữ thập đỏ, giặc đói,
giặc dốt, …
Tính đại chúng, sự dân chủ hoá trong ngôn ngữ của Ngời còn đợc thểhiện rất thành công trong sử dụng thành ngữ, tục ngữ Các đơn vị ngôn ngữnày có tính gọt giũa, chứa đựng nội dung súc tích, là kết tinh của trí tuệ quầnchúng Việc sử dụng thành ngữ, tục ngữ này làm cho câu viết, câu nói trở nên
dễ hiểu, có tính thuyết phục mạnh mẽ và tính dân tộc đậm đà “Nghe Ngời căndặn: “ phải ra sức thi đua cày sâu cuốc bẫm, làm cỏ bỏ phân” vì rằng “ cày sâucuốc bẫm, thóc đầy lẫm khoai đầy bồ”, “ Thêm gánh phân thì thêm cân thóc”,ngời nông dân nh nghe thấy lời chỉ bảo ân cần của bậc lão nông” [51; tr12-13]
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một cách triệt để thành ngữ, tục ngữ
vào nói và viết nh: Yêu nớc thơng nòi, gan vàng dạ sắt, một lòng một dạ, tấc
đất tấc vàng, sai một ly đi một dặm , Song Ngời cũng dùng chúng một cách
sáng tạo thêm nh thêm, bớt một số yếu tố để nhấn mạnh vào những phơng diện
Trang 35nào đó của sự vật, của tình thế, của hoàn cảnh: “Đồng bào Nam bộ là dân nớc
Việt Nam Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ
thay đổi”.[1; tr 221] Ngời còn lẩy thành ngữ, tục ngữ rất tài tình Nói về cảnh
túng thiếu xác xơ của nhân dân lao động trớc đây, nhân dân ta có câu: Tiền“
vào nhà khó nh gió vào nhà trống” Hồ Chủ tịch đã vận dụng thành ngữ đó để
diễn tả mối quan hệ giữa sản xuất và tiết kiệm một cách có lý và hóm hỉnh: “
Sản xuất mà không biết tiết kiệm khác nào nh gió vào nhà trống” [ 1; 220]
Nói về tình đồng bào, ta có câu: “Nhiễu điều phủ lấy giá gơng,
Ngời trong một nớc phải thơng nhau cùng”
Trong “ Th gửi nguỵ binh ngày 15 - 1 – anh hùng giải phóng dân tộc 1951”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
Nhiễu điều phủ lấy giá gơng Con Hồng cháu Lạc phải thơng nhau cùng.[448; tr150]
Bên cạnh việc ca ngợi và tôn vinh sự cô đọng, hàm xúc của thành ngữ,tục ngữ của dân tộc, Ngời cũng đã thẳng thắn phê phán những câu thành ngữ
tục ngữ đã lỗi thời nh: “Nói, cấy tha thừa thóc, cấy dày cóc đợc ăn là không
đúng, là bảo thủ” Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sáng tạo ra đợc những thành ngữ,
tục ngữ mới nh: Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết Thành công, thành công đại
thành công Không có gì quí hơn độc lập tự do; Trung với Đảng, hiếu với dân;
…
Nội dung các đơn vị ngôn ngữ này đã trở thành phơng hớng tu dỡng và
chân lý hành động của mỗi chúng ta, của nền đạo đức Việt Nam hiện đại.Lẩy Kiều, tập Kiều, là một trong những phong cách sử dụng ngôn ngữ rấtriêng của Ngời trong thơ ca, đàm thoại mà ngay cả trong văn chính luận.Trong “Bài diễn văn tiễn đồng chí chủ tịch Liên Xô Vô-rô-xi-lốp”, Ngời viết :
“ Quan sơn muôn dặm một nhàVì trong bốn biển đều là anh em”
(So sánh với câu 2435
“ Sao cho muôn dặm một nhàhoặc câu 2874 “Quan san nghìn dặm thê nhi một đoàn” trong truyệnKiều)
Trong các bài nói và viết, Ngời còn sử dụng cách đặt những câu đơn,câu ngắn, nh “Cán bộ ta nói chung đều tốt” [252; tr90], điểm này phù hợp với
t duy của ngời Việt Nam Nhiều khi, Bác cũng dùng câu mang tính hội thoại,
tạo nên sự giao cảm dễ dàng với ngời nghe: Chính phủ ta hứa với dân sẽ gắng
sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc … Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”[240; tr86] Những
câu nói kiểu này thờng rất dễ đi vào lòng ngời Tính cân đối cú pháp giữa các
vế câu và các thành phần câu làm cho câu văn trở nên hấp dẫn
Trang 36Trong nói và viết, để thuyết phục ngời nghe, Ngời còn sử dụng kiểu mócxích để tạo ra lập luận chặt chẽ Chẳng hạn, về dân chủ và chuyên chính, Ngờinói: “ Nh cái hòm đựng của cải thì phải có khoá Nhà thì phải có cửa Khoá vàcửa cốt đề phòng kẻ gian ăn trộm Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân,chuyên chính là cái khoá, cái của đề phòng kẻ phá hoại Nếu không có khoá,phòng không có cửa thì sẽ bị mất cắp hết Cho nên có cửa thì phải có khoá, cónhà thì phải có cửa Thế thì dân chủ thì phải có chuyên chính để gìn giữ lấydân chủ” Lập luận ấy không chỉ dẫn ngời đọc đến một kết luận đúng đắn màcòn mạng tính thuyết phục, tính lo gíc cao Những lập luận, những căn cứ Ngời
đa ra là hiển nhiên, là chân lý không thể chối cãi, là điều diễn ra trong cuộcsống hàng ngày, ai cũng thấy đợc, ai cũng hiểu và dễ tiếp nhận
Một trong cách viết của Hồ Chủ tịch là cách nói, viết có hình ảnh Đểvấn đề trở nên dễ hiểu, Hồ Chủ tịch thờng sử dụng lối so sánh Trong một lầnnói chuyện với cán bộ, bộ đội ta về phê bình và tự phê bình Chủ tịch Hồ ChíMinh nói: “ Các chú ai cũng có cái khăn mặt Có chủ phong lu hơn lại có thêmmiếng xà phòng Khăn mặt và xà phòng dùng để tắm rửa cho sạch, nghĩa làphải phê bình và tự phê bình” [ 26] Bằng cách so sánh nh vậy, Ngời làm chongời đọc thấy vấn đề đặt ra không những là cần thiết, có lợi ích thiết thực tr ớchết cho chính ngời thực hành phê bình mà còn có thể thực hiện đợc một cách
Hồ thờng sử dụng thành công trong nói và viết
Bác còn sử dụng biện pháp chơi chữ, một biện pháp uyên bác, trongtruyền thống sử dụng ngôn ngữ của ngời Việt Chẳng hạn: về sự có mặt của t-ớng Taylo ở Việt Nam, Ngời viết: “ Kinh nghiệm chứng tỏ rằng một nớc đế
quốc phái đại tớng đi làm đại sứ đó là một cuộc đại bại Tớng Taylo sẽ không tránh khỏi số phận đó Đế quốc Mỹ càng sa lầy ở miền Nam Chẳng những tay
lo mà chân cũng lo để chuồn” [24; tr21] Bác còn dùng lối chơi chữ để phê
bình tế nhị những cán bộ nhiễm bệnh giấy tờ, quan liêu, xa hoa, lãng phí: “
Trang 37Nhiều nơi đã làm tốt, nhng có nơi giấy gửi đi, hình nh chữ bị hao mòn, chữ “tiết kiệm” lại hoá chữ “ tiết canh”! Ngời đa ra dẫn chứng bằng cách, thay đổimột từ, tạo ra nghĩa đối lập , làm cho lời nói vừa dễ hiểu, vừa trào lộng sâu xa.Ngoài ra, có thể nhận thấy sự tài tình trong việc sử dụng ngôn ngữ của Chủtịch Hồ Chí Minh qua những gì Ngời nói hoặc viết cho các đối tợng khácnhau, trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, khi ở trong nớc và khi ở ngoài nớc”.[4; tr186] Những nhân vật nớc ngoài từng đàm phán với Ngời đều thừa nhận
“Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao tinh tế về ngôn ngữ, sắc sảo về t duy, nhấtquán trong quan điểm, không bao giờ nhầm lẫn, thậm chí có tài thuyết phụcngời đối thoại, để đi đến những thoả thuận tởng chừng không thể có lúc ban
đầu” [4; tr187]
Ngời bao giờ cũng tìm đợc cách diễn đạt riêng phù hợp với đối tợnggiao tiếp Với quần chúng công nông Ngời nói nôm na bằng nhiều thành ngữ,tục ngữ, ca dao Với các tri thức Nho học, Ngời sử dụng các từ Hán Việt uyênthâm
Cho đến nay, qua các di ngôn, di văn của Ngời để lại, chúng ta có thểrút ra nhiều bài học về phong cách diễn đạt: “Phải xác định đợc đối tợng, mục
đích của việc nói hoặc viết Đối với từng ngời từng tầng lớp, từng đối tợng phảichọn cách nói cho phù hợp, nhằm đạt đợc mục đích đã đề ra Khi nói hoặc viếtphải tự vấn -Viết cái gì?, viết cho ai?, viết để làm gì? đây là những nguyên tắc
định hớng cho nói và viết” [64; tr189]
Trong hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói và viết về nhiềucác chủ đề khác nhau, cho nhiều đối tợng khác nhau trong và ngoài nớc Xác
định rõ chủ đề , đối tợng và mục đích, Bác đã tìm ra đợc cách nói và viết phùhợp
Với ngời phơng Tây, Ngời có cách viết cách nói rất “Tây”, sâu xa ý nhị,hài hớc, châm biếm.Tiêu biểu là những bài báo chống chủ nghĩa thực dân
“Bản án chế độ thực dân Pháp” là một thí dụ cụ thể: “ Thần công lý từ mẫuquốc sang Việt Nam vì đi đờng xa, nên đã đánh rơi mất quả cân, nên khi đếnnơi chỉ còn cái cán để đánh ngời thuộc địa” [64; tr191] hoặc dùng cách chơichữ thâm thuý của ngời phơng Tây Với ngời phơng Đông, Ngời dùng chữ cổ,hàm xúc thâm thuý Với lãnh tụ Mao Trạch Đông thời ấy, Ngời mừng thọ bằngbốn chữ “ vạn thọ vô cơng” trong lễ sinh nhật Dù nói hay viết bao giờ Ngờicũng có sự cân nhắc, lựa chọn để nói đợc hết ý, hết lòng, thể hiện dụng ý sâuxa
Tất cả những bài nói bài viết của Ngời đều toát lên tính chân thực, ngắngọn, khúc chiết, trong sáng dễ hiểu, dễ cảm Tính chân thực đợc đặt lên hàng
đầu trong cách nói và viết của Hồ Chí Minh Ngời nói: “Báo cáo phải thật thà
Trang 38gọn gàng, rõ ràng, thiết thực Những tài liệu và con số phải phân tích và chứngthật Không nên hàm hồ, bèo nheo Điều gì biết thì nói biết, không biết nóikhông biết Viết phải đúng sự thật, không đợc bịa ra” hoặc “Cha điều tra, changhiên cứu, cha biết rõ, chớ nói, chớ viết Khi không có gì càn viết, chớnói,chớ viết càn”[4] Không những thế, theo Ngời khi nói hoặc viết còn phải
đảm bảo tính ngắn gọn, khúc chiết Ngắn gọn có nghĩa là “ gọn gàng, có đầu
có đuôi, có nội dung cụ thể, thiết thực, thấm thía chắc chắn” [4; tr196] Ngắn,
gọn trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là cô đọng, hàm xúc, lời ít ýnhiều “mỗi câu, mối chữ có một mục đích không phải rỗng tuếch” chỉ với mộtvài từ hoặc một hình ảnh, Ngời có thể trình bày đợc sáng rõ một vấn đề rấtphức tạp, hoặc chuyển tải một hàm ý sâu xa Ngày đầu kháng chiến, so sánhlực lợng của ta với địch, muốn để cho quần chúng thấy đợc triển vọng của quátrình chuyển hoá tơng quan lực lợng, Ngời nói với đồng bào:
… Nay tuy châu chấu đá voi Nhng mai voi sẽ bị lòi ruột ra [ 68;896]
Ngời phê bình các cán bộ nói với quần chúng “ nói mênh mông trời
đất”, “nói bao la thiên địa”, “ nói gì, đâu đâu” làm cho ngời nghe chán ngán, “ngời ngáp, kẻ ngủ gục”, ai cũng muốn kết thúc vấn đề cho mau [1]
Cách nói của Ngời là cách nói của quần chúng giọng nói của truyềnthống ngôn ngữ dân tộc, cho nên nó vang xa, thấm sâu vào lòng của ngờinghe, ngời đọc “ không một chữ nào Bác dùng mà ta có thể thay thế Bởitừng câu, từng chữ Bác đã cân nhắc, mỗi câu đã là mỗi nỗi lòng của Bác để lạicho chúng ta” [43; tr205 ]
1.3 Về các đơn vị ngôn ngữ đợc khảo sát trong danh ngôn Hồ Chí Minh
1.3.1 Từ thuần Việt và từ Hán Việt
1.3.1.1 Từ thuần Việt
Cho đến nay có nhiều định nghĩa về từ thuần Việt Theo Nguyễn Nh ý,
“Từ thuần việt là các từ vốn có từ lâu đời làm thành vốn từ vựng cơ bản của
tiếng Việt” [66; tr1996] Nguyễn Văn Tu định nghĩa: “Từ thuần việt là những
từ đợc dân tộc ta dùng từ thời thợng cổ đến nay Những từ thuần Việt có mốiliên hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ Đông nam á nh: tiếng
Thái, môn Khơ me” [58; tr187] Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Ngoài những
từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và ngôn ngữ
ấn âu, tất cả những từ còn lại thờng đợc gọi là các từ thuần Việt Những từ
đ-ợc gọi là thuần Việt thờng trùng với bộ phận từ gốc tiếng Việt, chúng biểu thị
những sự vật, hiện tợng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu” [20;
tr269]
Trang 39Cũng có ý kiến cho rằng: Vốn từ tiếng Việt có hai bộ phận chủ yếu đó là
bộ phận từ thuần Việt và bộ phận từ gốc Hán (vay mợn từ tiếng Hán qua nhiềuthời kỳ lịch sử) Vốn từ thuần Việt trớc kia vẫn đợc coi là nôm na, chỉ đợcdùng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân ít khi đợc dùng trong vănhọc nghệ thuật Trong luận văn này, chúng tôi hiểu từ thuần Việt là những từ
có nguồn gốc từ lâu đời làm thành vốn từ vựng cơ bản của tiếng Việt và bằngcách loại trừ các từ có nguồn gốc từ ấn âu và có nguồn gốc tiếng Hán, những
từ còn lại là những từ thuần Việt Từ thuần Việt mang sắc thái ý nghĩa cụ thể,sinh động, gợi hình , gợi cảm
1.3.1.2 Từ Hán Việt
Theo Nguyễn Nh ý, “Từ Hán Việt là từ tiếng Hán đã nhập vào hệ thống
từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp, ngữnghĩa của tiếng Việt” [66]
Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, “Từ HánViệt là những từ gốc Hán du nhập vào Tiếng Việt trong giai đoạn 2, mà ngờiViệt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [13; tr254]
Trong luận văn này, chúng tôi khảo sát các từ Hán Việt theo cách hiểucủa Nguyễn Nh ý
1.3.2 Phụ từ và quan hệ từ
1.3.2.1 Phụ từ
Phụ từ, hay còn gọi là trợ từ (Nguyễn Tài Cẩn), ngữ khí từ (Nguyễn KimThản), từ đệm (Đái Xuân Ninh) là nhóm từ đã đợc khá nhiều nhà ngữ pháp họcquan tâm đề cập đến Theo giáo s Đỗ Thị Kim Liên, phụ từ không mang ýnghĩa từ vựng chân thực mà chỉ đi kèm danh từ, động - tính từ để bổ sung ý
nghĩa phụ cho danh từ , động - tính từ: đã, sẽ, đang, những, các, mọi … Về khả
năng kết hợp, phụ từ thờng đi kèm danh từ, động - tính từ để cấu tạo cụm từ.Phụ từ không làm thành phần chính của câu [31; tr60]
Đinh Thanh Huệ cũng quan niệm: “Phụ từ là những từ đi kèm với danh
từ, động từ và tính từ để biểu thị những ý nghĩa ngữ pháp khác nhau cho từ mà
nó đi kèm [24; tr34]
Từ các định nghĩa nh đã nêu trên ta có thể hiểu rằng, phụ từ là những từphụ, không làm thành phần chính trong câu Chúng đợc xem là từ phụ bổ sungcác ý nghĩa ngữ pháp cho các thực từ Trong Ngữ pháp tiếng Việt (Đỗ Thị KimLiên), phụ từ đợc phân thành các hai nhóm: định từ và phó từ
- Định từ là các phụ từ đứng trớc danh từ ( gồm định từ cái chỉ xuất, định từ chỉ lợng mỗi, từng, mọi, mấy; định từ tạo ý nghĩa số những, các, một.)
Trang 40- Phó từ là các phụ từ chuyên đi kèm trớc hoặc sau động, tính từ đợc chiathành 12 tiểu nhóm
Trong luận văn này chúng tôi dựa theo quan điểm của tác giả Đỗ Thị KimLiên để tiến hành khảo sát
1.3.2.2 Quan hệ từ
Theo Đinh Thanh Huệ: “ Quan hệ từ: (còn gọi là từ nối, kết từ; hoặc giới
từ, liên từ) Cùng với trật tự từ, quan hệ từ là phơng tiện ngữ pháp quan trọngtrong tiếng Việt Quan hệ từ dùng để liên kết các từ, ngữ để tạo thành những
đơn vị cú pháp Là những từ không mang ý nghĩa từ vựng mà chỉ có ý nghĩangữ pháp dùng để biểu thị quan hệ ngữ pháp liên hợp hay chính phụ hay tơnghỗ.” [24; tr35 - 36]
Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên: “ Quan hệ từ là những từ không mang ýnghĩa từ vựng chân thực mà chỉ dùng để liên kết từ, cụm từ, kết cấu chủ vị.”[31; 66] Quan hệ từ có khả năng kết hợp: Nó không có khả năng làm thành tốchính của cụm, câu mà thờng xúc tác để tạo cụm từ, vế câu Quan hệ từ (từnối), có chức năng liên kết các từ ngữ, các vế câu làm tăng tính chặt chẽ rànhmạch cho các kết cấu ngữ pháp Trong luận văn này chúng tôi căn cứ quan
điểm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên để thực hiện đề tài
1.3.3 Thành ngữ và tục ngữ
1.3.3.1 Thành ngữ
Khái niệm thành ngữ đã đợc khá nhiều các nhà nghiên cứu nêu ra TheoKiều Văn, “Thành ngữ Tiếng Việt là một tổ hợp từ cố định có cấu trúc từ hoặccâu nhng thuộc cấp độ từ đợc mã hoá, hầu hết đều có tính chất cách điệu nghệthuật và chỉ làm một thành phần trong câu” [62]
Nguyễn Lân quan niệm “ Thành ngữ là những cụm từ cố định dùng đểdiễn đạt một khái niệm” [34; tr5]
Văn Tân cho rằng: “ Thành ngữ là nhóm từ đi với nhau để nói lên một ý
gì” [47; 936]
Nguyễn Lơng Ngọc, Lê Khả Kế và nhóm tác giả cho rằng: “Thành ngữgồm những từ cố định đã có lâu đời trong từ vựng mà nghĩa chung của nó th-
ờng không thể giải thích đợc bằng ý nghĩa các từ tạo nên nó” [38; tr541]
Hoặc theo Hoàng Văn Hành thì: “ Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố
định, bến vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, đợc sửdụng trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là khẩu ngữ” [23]
Ngoài ra còn có nhiều cách hiểu khác nhau của các nhà ngôn ngữ họcnh: Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Tu Mặc dù quan niệm của các tác giảcòn có những chỗ khác nhau, nhng tất cả có chung một nhận xét: Thành ngữ là