1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vị thế của thành phố biên hòa trong vùng thành phố hồ chí minh từ góc độ phân tích không gian địa lý

139 611 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính điều này đã thôi thúc các nhà quy hoạch đô thị phải xây dựng chiến lược quy hoạch đô thị mới mở rộng không gian phát triển cho thành phố nhằm giải phóng sức ép về các vấn đề KT - X

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH

TP.HỒ CHÍ MINH - 2012

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu

và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực

Những kết quả của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Phạm Thùy Trang

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng

dẫn khoa học - TS Vũ Chí Đồng đã tận tình chỉ bảo trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Địa lý; Ban Giám

Hiệu; Phòng Khoa học công nghệ và Sau đại học cùng các phòng, ban của trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến: Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn miền Nam; Cục thống kê tỉnh Đồng Nai; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai; Sở xây dựng tỉnh Đồng Nai và các cơ quan, cá nhân đã giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu trong quá trình đi thực địa

Tp Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2012

Tác giả

Trần Phạm Thùy Trang

Trang 5

DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

VKTTĐPN Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

TTCN Trung tâm công nghiệp

KT – XH Kinh tế - xã hội

Trang 6

DANH MỤC BẢN ĐỒ

Bản đồ 2.1: Sức hút của hai siêu đô thị [25] 40

Bản đồ 2.2: Cấu trúc đô thị đến năm 2020 41

Bản đồ 2.3: Diện tích các khu công nghiệp vùng thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ 53

Bản đồ 2.4: Hiện trạng sử dụng đất Vùng thành phố Hồ Chí Minh 56

Bản đồ 2.5: Hiện trạng giao thông Vùng thành phố Hồ Chí Minh 61

Bản đồ 2.6: Vùng thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực Đông Nam Á 66

Bản đồ 2.7: Bản đồ Vùng TP.HCM trong Tiểu vùng Sông Mê Kông và Vùng TP.HCM trong Vùng quốc gia 67

Bản đồ 2.8: Sơ đồ năm cực phát triển theo định hướng phát triển không gian của Vùng thành phố Hồ Chí Minh tầm nhìn đến năm 2050 [50] 78

Bản đồ 2.12: Hiện trạng tổng hợp vùng thành phố Hồ Chí Minh [50] 83

Bản đồ 2.13: Sơ đồ định hướng phát triển không gian Vùng thành phố Hồ Chí Minh 84

Trang 7

Bảng2.4: Nhiệt độ không khí trong 1 năm của TP Biên Hòa [54] 72

Bảng 3.1: SWOT về điều kiện tự nhiên của thành phố Biên Hòa 87

Bảng 3.2: SWOT về hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường của thành phố Biên Hòa 92

Bảng 3.3: Chiến lược WO (Weaks - Opportunities) 99

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Biểu đồ thể hiện tốc độ đô thị hóa của TP.HCM so với Hà Nội và cả nước giai đoạn 1995 – 2010 39

Biểu đồ 2.2: Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa của TP.HCM năm 2005 44

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ thể hiện dân số và mật độ dân số các địa phương trong Vùng TP.HCM năm 2010 (Phân tích số liệu từ nguồn Tổng cục thống kê 2011 [48]) 47

Biểu đồ 2.4: Biểu đồ thể hiện thu nhập bình quân và tăng trưởng bình quân của các địa phương trong Vùng TP.HCM năm 2001 và 2005 (giá thực tế) 49

Biểu đồ 2.5: Biểu đồ tăng trưởng GDP của vùng TP.HCM giai đoạn 2001 – 2005 (giá so sánh 1994) 50

Biểu đồ 2.6: Biểu đồ cơ cấu GDP của vùng TP.HCM giai đoạn 2001 – 2005 (giá

thực tế) 51

Biểu đồ 2.7: Biểu đồ GDP ngành công nghiệp của vùng TP.HCM và cả nước (giá

so sánh 1994) [52] 51

Biểu đồ 2.8: Biểu đồ dân số thành thị và nông thôn TP.HCM 1995 – 2009 [48] 70

Biểu đồ 2.9: Biểu đồ cơ cấu kinh tế theo thành phần và theo ngành của TP.HCM năm 2010 (%) [48] 71

Biểu đồ 2.10: Biểu đồ cơ cấu GDP phân theo ngành của thành phố Biên Hòa năm

2005 (%) [53] 73

Trang 9

M ỤC LỤC

Tên đề tài: 1

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1/ Lý do chọn đề tài: 1

2/ Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu: 4

3/ Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 6

4/ Hệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu: 7

5/ Lịch sử nghiên cứu đề tài: 16

6/ Những đóng góp của luận văn: 17

7/ Cấu trúc của đề tài: 17

PHẦN NỘI DUNG 19

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 19

1.1/ Vị thế (situation): 19

1.1.1/ Vị thế địa lý: 19

1.1.2/ Vị thế đô thị: 21

1.1.3/ Các yếu tố ảnh hưởng vị thế đô thị: 22

1.2/ Đô thị (city): 23

1.2.1/ Lịch sử hình thành đô thị : 23

1.2.2/ Đô thị ở Việt Nam: 25

1.2.3/ Khái niệm đô thị: 25

1.2.4/ Phân biệt một số khái niệm liên quan “đô thị”: 26

1.2.5/ Phân loại đô thị ở Việt Nam: 27

1.2.6/ Chức năng đô thị (urban function): 28

1.3/ Quy hoạch (planning): 29

1.3.1/ Quy hoạch : 29

1.3.2/ Quy hoạch đô thị : 29

1.3.3/ Quy hoạch vùng: 30

 Tiểu kết chương 1: 34

Trang 10

Chương 2 : VỊ THẾ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG VÙNG THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÍCH KHÔNG GIAN ĐỊA LÝ 36 2.1/ Tổng quan về tổ chức lãnh thổ ở Việt Nam: 36 2.2/ Phát triển vùng thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế: 37 2.3/ Tổ chức không gian vùng thành phố Hồ Chí Minh: 43 2.3.1/ Thực trạng điều kiện tự nhiên của vùng thành phố Hồ Chí Minh: 43 2.3.2/ Thực trạng kinh tế - xã hội của vùng thành phố Hồ Chí Minh: 46 2.3.3/ Thực trạng hệ thống đô thị và cơ sở hạ tầng trong Vùng thành phố

Hồ Chí Minh: 58 2.3.4/ Vị thế của Vùng thành phố Hồ Chí Minh trong khu vực quốc gia và

quốc tế: 63 2.4/ Siêu đô thị thành phố Hồ Chí Minh,hạt nhân của vùng thành phố Hồ Chí Minh: 70 2.5/ Cấu trúc không gian thành phố Biên Hòa: 72 2.5.1/ Hiện trạng về đặc điểm tự nhiên của TP Biên Hòa: 72 2.5.2/ Hiện trạng về đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Biên Hòa: 72 2.6/ Tiền đề phát triển vị thế TP.Biên Hòa: 73 2.6.1/ Xác định mối quan hệ nội tỉnh và nội vùng hình thành và phát triển thành phố Biên Hòa: 73 2.6.2/ Tính chất đô thị: 74 2.6.3/ Mục tiêu phát triển của thành phố Biên Hòa: 74 2.7/ Vị thế của thành phố Biên Hòa trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ phân tích không gian địa lý: 75 2.7.1/ Thành phố Biên Hòa đang mở rộng đô thị để nâng tầm vị thế trong

tỉnh Đồng Nai và trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh : 75 2.7.2/ Vị thế về vị trí và vai trò của thành phố Biên Hòa trong Vùng thành

phố Hồ Chí Minh : 79

Tiểu kết chương 2: 85

Chương 3: PHÂN TÍCH ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TRONG VÙNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 87

Trang 11

3.1/ Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với sự phát triển

nâng cao vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh : 87

3.1.1/ Phân tích SWOT về điều kiện tự nhiên của TP Biên Hòa – Đồng Nai: 87

3.1.2/ Phân tích SWOT về hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường của thành phố Biên Hòa: 92

 4 chiến lược phát triển cơ bản cho TP.Biên Hòa sau khi phân tích SWOT: 97

3.2/ Định hướng phát triển không gian đô thị cho thành phố Biên Hòa: 103

3.2.1/ Cơ cấu đô thị : 103

3.2.2/ Tổ chức các khu chức năng đô thị : 104

3.2.3/ Về tổ chức cảnh quan đô thị : 108

3.3/ Định hướng phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật của TP Biên Hòa 108

3.3.1/ Định hướng giao thông : 108

 Tiểu kết chương 3: 111

PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 113

1/ Khẳng định vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh: 113 2/ Kiến nghị nhằm nâng cao vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng đến tương lai năm 2020: 114

3/ Kết luận: 117

TÀI LIỆU THAM KHẢO 120

PHẦN PHỤ LỤC 124

Trang 12

dạng, địa hình cao và bằng phẳng, thổ nhưỡng tốt, khí hậu thuận hòa ít thiên tai…

Nhờ đó, TP.Biên Hòa đã thu hút dân cư tập trung đông với mật độ là 2.647 người/km2

(1/4/2009) [21], thuộc nhóm các thành phố có mật độ dân số cao thứ hai

cả nước, chỉ kém đô thị đặc biệt – thành phố trực thuộc trung ương là TP Hồ Chí Minh với (3.419 người/km2) (năm 2009) [48] Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên và KT - XH đã đưa TP.Biên Hòa trở thành một thành phố công nghiệp quan

trọng của vùng Đông Nam Bộ và cả nước

Lớn hơn đô thị Biên Hòa về nhiều mặt, TP.HCM là một cực hút quan trọng

của cả nước và toàn bộ khu vực phía Nam Quy mô và mức độ phát triển của TP.HCM thực sự đã vượt ra khỏi phạm vi không gian địa lý của thành phố và tác động đến nhiều đô thị và các tỉnh lân cận Chính điều này đã thôi thúc các nhà quy

hoạch đô thị phải xây dựng chiến lược quy hoạch đô thị mới mở rộng không gian phát triển cho thành phố nhằm giải phóng sức ép về các vấn đề KT - XH của bản thân TP.HCM, đồng thời tạo tiền đề để phát triển mối liên kết giữa TP.HCM và các

đô thị khác trong vùng, tạo cơ hội phát triển mới cho cả vùng liên tỉnh bao gồm lãnh

thổ của TP.HCM và 7 tỉnh lân cận có mối liên hệ phát triển KT - XH một cách mật

Trang 13

thiết nhất với TP.HCM gồm Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang TP.HCM cần một “không gian” rộng hơn cho

một đô thị đang đà tăng trưởng nhanh và mạng lưới các đô thị trong vùng liên tỉnh cũng cần yếu tố ngoại vùng làm chất xúc tác cho sự phát triển của mình Kết hợp

những nhu cầu thực tiễn đó chiến lược quy hoạch phát triển Vùng TP.HCM đến năm 2020 và tầm nhìn 2050 được Chính phủ duyệt Quyết định số 589/QĐ-TTg ngày 20/5/2008 để thành lập Vùng thành phố Hồ Chí Minh Trong không gian mới

của Vùng thành phố mới, TP.HCM với khả năng phát triển mạnh, trở thành một

“siêu đô thị”* giữ vai trò là đô thị trung tâm có sức ảnh hưởng lớn đối với các đô thị trong mạng lưới đô thị của vùng, đồng thời siêu đô thị này cũng chịu tác động trở

lại từ các đô thị trong hệ thống ở nhiều lĩnh vực khác nhau với nhiều mức độ

Biên Hòa là một thành phố trong hệ thống Vùng TP.HCM có mối liên hệ khá

chặt chẽ với TP.HCM do khoảng cách địa lý rất gần (30 kilomet) và cùng nằm trên

trục đường QL.1A, trục đường xương sống và mang tính chiến lược phát triển KT -

XH của cả nước Với vị trí địa lý và giao thông trong tầm ảnh hưởng của thành phố trung tâm, TP.Biên Hòa có nhiều lợi thế và đồng thời chịu không ít sức ép do tốc độ phát triển của TP.HCM đối với sự phát triển của mình Nhìn chung, TP.Biên Hòa là

một đô thị phát triển khá thành công và đạt danh hiệu đô thị loại II từ năm 1993 theo quyết định 219-TTg Thành phố đã duy trì tốc độ phát triển kinh tế ổn định với

mức thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 2.460 USD/năm [21] và xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng – kỹ thuật tương đối hoàn thiện… dù chưa theo kịp sự năng động, hiệu quả và nhịp độ phát triển KT - XH như TP.HCM

Như vậy, vị trí địa lý thuận lợi đó đã góp phần tạo nên vị thế địa lý rất quan

trọng cho TP.Biên Hòa trong tỉnh Đồng Nai nói riêng, vùng ĐNB nói chung và Vùng TP.HCM trong tương lai Nhưng hiện tại, có vẻ như là vị thế của TP Biên

*Siêu đô thị: metropolis, “Siêu đô thị” để nói đến thành phố “mẹ”, thủ phủ vùng, thành phố trung tâm lớn nhất của vùng thành phố lớn hay không gian siêu đô thị (metropolitan area), có sức hút, tầm ảnh hưởng lớn đến các đô thị “vệ tinh” thuộc

mạng lưới đô thị trong vùng thành phố lớn

Trang 14

Hòa trong Vùng TP.HCM đang giảm so với một số đô thị trung tâm của tỉnh khác trong Vùng?*, phải chăng là sức hút đô thị đang giảm dần và vị thế thành phố công nghiệp cũng không còn huy hoàng như xưa nữa? Nhìn các đô thị xung quanh TP.Biên Hòa, có thể thấy được TP.Vũng Tàu đã thay đổi diện mạo rất nhiều và

xứng đáng là thành phố du lịch biển và công nghiệp dầu khí, thị xã Thủ Dầu Một

của tỉnh Bình Dương tuy là thành phố trẻ nhưng đã thể hiện sự năng động, hiện đại

với các chính sách thu hút nhân lực và đầu tư có hiệu quả; trong khi đô thị láng

giềng Biên Hòa chưa thay đổi được nhiều và ngày càng kém thu hút hơn (tỉ lệ nhập

cư giảm, tốc độ tăng trưởng GDP giảm ) Sự chênh lệch này về lâu dài có làm

giảm vị thế của TP Biên Hòa trong tỉnh Đồng Nai và trong Vùng TP.HCM trong tương lai không? Giải pháp cho vấn đề này không chỉ đơn giản là đẩy mạnh tăng trưởng GDP bằng mọi cách để TP.Biên Hòa trở lại vị thế xưa, mà còn chú ý đến

vấn đề quy hoạch phát triển đô thị vì “tốc độ chẳng quan trọng nếu bạn đang đi lầm đường” (Mahatma Gandhi); do đó, quy hoạch TP.Biên Hòa không chỉ nghiên cứu

để phát triển cho riêng Biên Hòa mà còn phải phù hợp với không gian quy hoạch

của Vùng TP.HCM đến năm 2030 và tầm nhìn 2050

Mặt khác, Việt Nam nói chung và Vùng TP.HCM nói riêng, là những vùng lãnh thổ mà Thế giới đã nhận định và cảnh báo là sẽ bị ảnh hưởng bởi hiện tượng

biến đổi khí hậu toàn cầu với mức độ cực kỳ nghiêm trọng Vì thế, bất kỳ nghiên

cứu về tự nhiên hay kinh tế - xã hội, chúng ta, những nhà địa lý, rất quan tâm kết

hợp nghiên cứu sự phát triển của lãnh thổ trong các diễn biến của biến đổi khí hậu trong khu vực mình đang nghiên cứu Hạt nhân của Vùng TP.HCM chính là TP.HCM, một thành phố có tên trong một số kịch bản dự báo các vùng đất bị ngập

do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố năm

2009 Trong khi TP.HCM được dự báo là sẽ bị ngập ở một ở phần lớn lãnh thổ phía

*

Một ví dụ: Gia tăng dân số trung bình năm của Bình Dương là 3,2%/năm thời kỳ

1994 – 1999, tăng vọt lên 8,3%/năm thời kỳ 2000-2004 và 8,7% thời kỳ 2004-2009; trong khi đó chỉ số tương ứng của tỉnh Đồng Nai là 2,1 - 2,0 và 2,5%/năm (Nguồn: www.gso.gov.vn; phân tích số liệu: Trần Phạm Thùy Trang)

Trang 15

đông nam, thì TP.Biên Hòa, giáp ranh với TP.HCM về phía đông bắc, lại là vùng đất có phần lớn địa hình cao và bằng phẳng Liệu điều đó có là cơ hội để TP.Biên Hòa phát huy vị thế hay nói cách khác, với địa hình cao và bằng phẳng như vậy, TP.Biên Hòa có “thu hút” TP.HCM hướng sự phát triển về TP.Biên Hòa trong lúc tìm không gian mới cho thành phố đang quá tải?

Như vậy, việc đánh giá vị thế của TP.Biên Hòa trong hiện tại và tương lai là

việc rất cần thiết và ý nghĩa đối với sự phát triển của TP.Biên Hòa và cả Vùng TP.HCM

Thông qua đề tài địa lý về vị thế của TP.Biên Hòa trong Vùng TP.HCM, ngoài phân tích riêng Biên Hòa với những tiềm năng cần khơi dậy, phân tích Vùng TP.HCM với cấu trúc không gian trung tâm và các vệ tinh, cấu trúc hướng tâm và các vành đai; tác giả cũng mong nhận thấy vị thế đô thị, các mối liên hệ của một đô

thị trong vùng thành phố lớn và có khả năng vươn đến tầm quốc tế như một thành

phố toàn cầu (thành phố toàn cầu – global city, như trường hợp của New York, London, Paris ) Để thực hiện hành trình phát triển đó, ngoài yếu tố nội lực của đô

thị còn phải dựa trên một nền tảng tổ chức không gian siêu đô thị (metropolitan area) và tổ chức vùng lãnh thổ phù hợp) Việc thành lập Vùng TP.HCM là một bước tiến thể hiện sự năng động của công tác quy hoạch và phát triển đô thị của nước ta nhằm xây dựng các cực đô thị lớn tạo động lực cho các vùng khác trong cả nước cũng như để phát triển hướng tới tầm cao khu vực Đông Nam Á và quốc tế

Đó chính là lý do học viên chọn đề tài Vị thế của TP.Biên Hòa trong Vùng TP.HCM t ừ góc độ phân tích không gian địa lý để làm đề tài luận văn cao học của

Trang 16

của đồ án quy hoạch, vị thế và tiềm năng phát triển của các đô thị bên trong vùng sẽ

có nhiều thay đổi tích cực Vị thế đô thị là vị thế so sánh nên để làm rõ vị thế của TP.Biên Hòa cần phải so sánh một hoặc nhiều đô thị khác trong vùng Do đề tài có

phạm vi lớn hơn yêu cầu của một luận văn cao học, nên tác giả không có điều kiện phân tích sâu về thành phố được so sánh, chỉ khi cần thiết mới đưa số liệu so sánh làm rõ vấn đề Trong số 7 thành phố có khả năng tạo cực của mạng lưới đô thị Vùng TP.HCM , Thủ Dầu Một là một đô thị phù hợp để so sánh làm rõ vị thế của TP.Biên Hòa

Trở lại vấn đề chính, TP.Biên Hòa là một thành phố lớn với quy mô dân số và quy mô kinh tế khá lớn và tốc độ tăng trưởng khá nhanh về các mặt Trong khi đó,

vị thế hiện nay của TP.Biên Hòa chưa thực sự tương xứng với tiềm năng đó nên TP.Biên Hòa, cần được quy hoạch để làm mới lại vị thế và củng cố cho Biên Hòa thêm sức cạnh tranh với các thành phố khác trong hệ thống thành phố thuộc Vùng TP.HCM trong tương lai

Vị thế địa lý khác với vị trí địa lý Trong khi vị trí mang tính tuyệt đối và hầu như không đổi, thì vị thế địa lý lại có tính tương đối và thay đổi theo thời gian Trong địa lý học phân biệt hai khái niệm: vị thế (situation) với vị trí (position): Vị trí có tính tuyệt đối, là duy nhất; Vị thế luôn có tính tương đối vị thế thay đổi theo

thời gian; trong khi đó vị trí không thay đổi, nhưng một thời gian dài thì có thể thay đổi xét về phạm vi, về qui mô”[54] Vì lẽ đó, vị thế của TP.Biên Hòa là một đề tài luôn có tính mới do nó đòi hỏi phải được cập nhật và nghiên cứu sau một thời gian phát triển nhất định Nghiên cứu vị thế Biên Hòa là việc đánh giá lại những thuận

lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên và KT - XH của TP.Biên Hòa, nhằm khai thác

hiệu quả và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn của thành

phố Hành trình tìm lại vị thế đô thị là việc cần thiết để đánh giá chất lượng của TP.Biên Hòa và tìm kiếm nguyên nhân khiến vị thế TP.Biên Hòa trở nên thay đổi

Giả thuyết đặt ra là: liệu có phải vì TP.Biên Hòa có vị trí quá gần cực hút trung tâm nên các nhu cầu học hành, giải trí, làm việc, mua sắm… của dân cư Biên Hòa đã được đáp ứng ở TP.HCM, do đó, nhu cầu cần nâng cấp hiện đại cho TP.Biên Hòa

Trang 17

không còn tính cấp thiết nữa; hoặc do chính sách đầu tư ưu tiên theo khu vực kéo dài suốt nhiều thập kỷ qua đã khiến nguồn vốn và nhân lực cao cấp luôn được ưu tiên cung cấp cho TP.HCM, làm cho sự chênh lệch giữa đô thị trung tâm và đô thị

vệ tinh ngày càng xa nhau hơn? Hoặc liệu có phải do TP Biên Hòa chưa khai thác

hiệu quả các tiền đề phát triển, nên sau khi bước qua giai đoạn phát triển “tăng tốc” thì hiện giờ đang bị “giảm tốc” và mất dần vị thế? (mà trong phạm vi bài này tác giả chưa bàn việc giảm tốc, nếu có, là tiêu cực hay tích cực!)

Để tìm ra lời giải cho vấn đề của TP Biên Hòa, học viên chọn phương pháp

tiếp cận địa lý tổng hợp để nghiên cứu làm sáng tỏ vị thế của TP.Biên Hòa trong Vùng TP.HCM nhằm mục đích định hướng tổ chức phát triển không gian TP.Biên Hòa từ góc độ phân tích không gian địa lý dựa trên quan điểm phát triển bền vững

đô thị

2.2/ Nhi ệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đô thị và vùng đô thị; các lý thuyết về vùng, phân vùng và quy hoạch vùng; giới thiệu quan niệm vị thế địa lý của đô

thị và phân tích những yếu tố quan trọng có thể dùng để đánh giá vị thế của một

đô thị

- Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên và KT - XH của TP Biên Hòa để tạo thuận lợi cho việc quy hoạch không gian phát triển cho TP Biên Hòa

- Dự báo vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng TP.HCM trong tương lai

3/ Gi ới hạn phạm vi nghiên cứu:

- V ề mặt không gian địa lý: TP Biên Hòa và Vùng TP.HCM

- V ề mặt thời gian: số liệu hiện trạng được lấy từ năm 2000 đến nay, đặc biệt các

số liệu năm 1995, 2009 nhằm nghiên cứu sự thay đổi - đây là các số liệu điều tra dân số định kỳ 10 năm; số liệu dự báo đến 2020 đối với TP.Biên Hòa và Vùng TP.HCM

- Về mặt nội dung: 4 nội dung cơ bản sau đây:

+ Nghiên cứu lý thuyết về vị thế và các yếu tố đánh giá vị thế đô thị trong hệ thống đô thị vùng

Trang 18

+ Phân tích vị thế của TP.Biên Hòa trong hệ thống đô thị của Vùng TP.HCM + Sử dụng các phương pháp phân tích không gian địa lý và các phương pháp liên quan khác để nghiên cứu và đánh giá vị thế đô thị

+ Kiến nghị đối với việc nâng cao vị thế Biên Hòa trong Vùng TP.HCM Phân tích vị thế của đô thị là một lĩnh vực nghiên cứu mới và rộng nên chắc chắn không thể chỉ hoàn thành bởi một cá nhân được và nhất là một học viên bậc thạc sĩ Do đó, trong khuôn khổ một luận án thạc sĩ, học viên chưa thể đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng TP.HCM như các

dự án lớn hay các công trình quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị; vì thế luận văn

sẽ giới thiệu cách tiếp cận vấn đề, áp dụng lý thuyết để đưa vào thực tế, phác thảo phần nào vị thế của TP Biên Hòa trong Vùng TP.HCM - về vị trí, vị thế, hệ thống

đô thị, cấu trúc không gian vùng - và đặc biệt chú trọng sử dụng các khái niệm và các phương pháp phân tích không gian địa lý để có một kết quả nghiên cứu mang bản sắc của ngành địa lý

4/ H ệ thống quan điểm và phương pháp nghiên cứu:

4.1/ H ệ thống quan điểm nghiên cứu:

4.1.1/ Quan điểm không gian:

“Không gian - (space) là phạm vi của một vùng hay một khu vực thường được thể hiện dưới dạng bề mặt đất.” (từ điển địa lý Oxford University Press, 1997) Không gian là thuật ngữ không chỉ quen thuộc trong ngành địa lý học mà các ngành khoa học như vật lý, toán học, thiên văn học…cũng quen dùng thuật ngữ “không gian”, điều đó cho thấy không gian là một khái niệm khá đầy đủ nội hàm để định danh cho khu vực địa lý trên trái đất Do đó, bàn về vấn đề quy hoạch vùng cần thiết

phải xem xét qua lăng kính của quan điểm không gian

“Không gian địa lý là bộ phận của bề mặt đất được các xã hội loài người sử

dụng và tổ chức lại để làm cho nó tái sản xuất theo nghĩa rộng, không chỉ để ở, để

tự nuôi sống mà còn là nơi thực hiện hàng loạt các hoạt động xã hội phức tạp” (R Brunet) [54] Đồng tình với ý kiến của R Brunet, GS Đặng Văn Phan nhận định:

“không gian là hệ thống các mối quan hệ và đồng thời là một sản phẩm xã hội có tổ

Trang 19

chức” Khái niệm không gian trong địa lý học khá phức tạp, không dễ dàng định vị hay đo đạc như không gian trong toán học hay lý học [36]

Như vậy, quan điểm không gian yêu cầu người nghiên cứu phải chú ý đến toàn bộ ý nghĩa nội hàm và ngoại diện của từ “không gian” Và nói một cách ngắn

gọn nhất chính là một khu vực lãnh thổ bất kỳ trên bề mặt trái đất luôn tồn tại ba

loại không gian trùng lên nhau: không gian vật thể (môi trường tự nhiên) – không gian văn hóa, xã hội – không gian kinh tế, mà ở đó con người vừa là nhân tố lệ thuộc bên trong, vừa là chủ thể cải tạo và phát triển không gian

4.1.2/ Quan điểm hệ thống:

Tiếp cận hệ thống và phân tích hệ thống thể hiện tính ưu việt trong viêc nghiên cứu các đối tượng phức tạp (bao gồm nhiều phần tử cấu tạo thành) khác nhau về chất lượng (bản chất), tồn tại, hoạt động và phát triển theo những quy luật khác với vô số các mối liên hệ qua lại (trực tiếp và gián tiếp) mà không phải bao giờ chúng ta cũng có thể lượng hóa được Vùng thành phố là một đối tượng phức tạp

thực sự về nhiều phương diện, nên nghiên cứu nó cần phải đặt trong quan điểm hệ

thống để đảm bảo cái tổng thể và cái bộ phận là các thành phố tuy là đối tượng nghiên cứu riêng nhưng luôn phải được đặt trong một hệ thống phát triển chung, không thể tách rời

Mỗi một phân hệ trong cơ cấu lãnh thổ tồn tại, hoạt động và phát triển theo

những quy luật chung và quy luật đặc thù, thường xuyên tương tác với nhau thông qua sự trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin

Các quá trình và hiện tượng nói trên thường đan xen, chồng lấp nhau và nhiều khi còn hạn chế, loại trừ và triệt tiêu lẫn nhau, làm giảm hiệu quả hoạt động

của toàn hệ thống Cho nên nhà nghiên cứu khi nghiên cứu một bộ phận, khía cạnh cũng phải chọn vị trí “đứng” phù hợp để có thể bao quát toàn cảnh của cái tổng thể

4.1.3/ Quan điểm lịch sử - viễn cảnh:

Các quá trình KT - XH không ngừng vận động trong không gian và biến thiên theo thời gian Để định hướng đúng đắn sự phát triển tương lai của chúng cần

kết hợp quan điểm lịch sử và quan điểm viễn cảnh Những tác động của sự phát

Trang 20

triển kinh tế, xã hội đến sự hình thành và phát triển của một đô thị và một vùng đô

thị là quá trình lâu dài vừa chịu tác động của quy luật tự nhiên lẫn quy luật xã hội nên quan điểm này giúp ta dự đoán phần nào viễn cảnh tương lai của một vùng đô

thị khi đã phát triển đến một ngưỡng thay đổi nhất định Hiện trạng phát triển và xu hướng phát triển là cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lí và phát triển các đô thị trong vùng thành phố trong tương lai

Quan điểm lịch sử - viễn cảnh cho phép nghiên cứu, xem xét các quá trình tự nhiên, dân số, KT - XH trong quá trình vận động biến đổi theo thời gian và trong không gian Do vậy, vận dụng quan điểm này vào nghiên cứu tổ chức không gian sẽ cho phép tìm ra những phương thức tác động hợp lý đối với từng đối tượng cụ thể

và tìm ra những giải pháp tối ưu, hài hòa trong việc hoạch định các kế hoạch phát triển KT - XH của Vùng TP.HCM nói chung, cũng như từng thành phố cấu thành trong vùng nói riêng

4.1.4/ Quan điểm động học (dynamics):

Quan điểm về động học ở đây không phải đơn thuần là sự tự hình thành và tự

vận động phát triển đô thị của thành phố hay vùng thành phố mà vấn đề chính ở đây

là sự lựa chọn nơi cư trú nơi làm việc của người dân đã khiến cho thành phố hay vùng thành phố được chọn có được vị thế quan trọng như thế nào Ta có thể dễ dàng

nhận thấy là trước kia khi xã hội bắt đầu phân tầng về mặt cấu trúc, con người lựa

chọn ngôi nhà ở những vị trí quan trọng nhất, cụ thể là trong nội thị qua quan điểm

“nhất cận thị, nhị cận giang” Về sau, sự phát triển năng động hiện đại ngày nay lại khiến người ta có xu hướng quyết định ngược lại, chọn nhà ở ngoại thành, do khoảng cách vật lý ngày càng được giải quyết tốt hơn nhờ các hệ thống phương tiện giao thông hiện đại và nhu cầu về không gian ở cũng yêu cầu rộng hơn với môi trường tốt hơn Chính sự lựa chọn và quyết định của người dân đã ảnh hưởng đến

sự thay đổi cấu trúc đô thị[38]

Trang 21

4.1 5/ Quan điểm tầm nhìn - chiến lược:

Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT - XH thường là những hiện tượng kinh

tế - xã hội, chúng luôn ở trạng thái vận động, có tính phát triển và thay đổi theo

những quy luật của kinh tế - xã hội, rất khác với quy luật và đối tượng của địa lý tự nhiên Đặc biệt là vấn đề quy hoạch đô thị, bản thân “đô thị” luôn biến đổi mà “quy

hoạch” lại là công việc phải dự đoán tương lai phát triển của “đô thị” nên người nghiên cứu cần sử dụng quan điểm tầm nhìn – chiến lược để có thể nhận ra được

những hướng phát triển của đô thị trong tương lai và dựng nên những bản đồ quy

hoạch không gian nhằm phục vụ và hỗ trợ tốt nhất cho sự phát triển của đô thị Quy

hoạch đô thị mà không lấy quan điểm tầm nhìn – chiến lược làm cơ sở lý luận, khi

đó, sản phẩm quy hoạch có thể sẽ vô tình tạo nên những trở ngại nhất định hoặc

thậm chí mâu thuẫn với chiến lược phát triển đô thị, như thế, đô thị sẽ bị giảm tốc

độ (dù không phải mọi trường hợp giảm tốc độ đều là biểu hiện tiêu cực) hoặc phát triển không đúng định hướng, gây nhiều tổn thất về KT - XH cho đô thị, lãng phí

thời gian…mà hiệu quả cao nhất khó thực hiện được

4.1.6/ Quan điểm sinh thái và bền vững:

Quan điểm sinh thái là một quan điểm tương đối mới, được phát sinh và phát triển theo nhu cầu xã hội Trước đây người ta quan tâm nhiều đến quan điểm kinh tế

vì lúc đó mục tiêu phát triển kinh tế quan trọng hơn các mục tiêu khác, nhưng từ khi

sự phát triển tăng mạnh cả về tốc độ, quy mô lẫn chất lượng thì dường như mọi sự tăng trưởng đều có xu hướng vượt tầm kiểm soát theo hướng tiêu cực đối với môi trường thì lúc này các nghiên cứu đều phải chú trọng đến quan điểm sinh thái để tìm

lại mức độ cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Nói như vậy không có nghĩa là quan điểm kinh tế không còn quan trọng nữa, chỉ là bên cạnh sự phát triển kinh tế, con người hiện đại còn gánh vác thêm trách nhiệm đối với môi trường, và chính từ quan điểm phát triển kinh tế hài hòa với môi trường sinh thái

mà hiện nay có quan điểm kinh tế sinh thái

Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững

về cả ba mặt KT - XH – môi trường Như ta đã biết, sự phát triển kinh tế mà bỏ mặc

Trang 22

yếu tố môi trường thì sự phát triển kinh tế đó không thể bền vững được Và sự phát triển kinh tế và môi trường, nói cho đến cùng thì sẽ không có ý nghĩa nào nếu không phải vì sự phát triển xã hội! Do đó, ba mặt KT - XH– môi trường luôn hiện

diện cùng nhau trong mọi vấn đề của mọi thời đại [4]

Những quan điểm nêu trên sẽ chỉ đạo và chi phối toàn bộ cơ cấu và nội dung các nghiên cứu về tổ chức không gian KT - XH ở nước ta trong thời kỳ hiện đại, đặc biệt là sự quy hoạch và phát triển Vùng TP.HCM

4.1.7/ Quan điểm tổng hợp lãnh thổ:

Lý thuyết về các tổng hợp thể sản xuất – lãnh thổ cho phép nhận thức đầy đủ hơn các mối liên hệ chặt chẽ, các mối tương quan phụ thuộc lẫn nhau, quy định lẫn nhau giữa các đối tượng, giữa các phần tử, các quá trình diễn ra trên một địa bàn lãnh thổ nhất định trong một tổng thể duy nhất, hoạt động theo những chức năng,

những mục tiêu xác định nhằm đạt được hiệu quả KT - XH và sinh thái

Nhận thức sâu sắc xu hướng tất yếu của sự hình thành các thể, dạng tổng hợp

thể sản xuất – lãnh thổ, vận dụng quan điểm tổng hợp là con đường tốt nhất và có

hiệu quả nhất để nghiên cứu quy luật hình thành các trung tâm, các thành phố lớn, vùng thành phố…

Đối tượng nghiên cứu là các thành phố phân bố trên một không gian nhất định là Vùng TP.HCM và có đặc trưng lãnh thổ riêng Áp dụng quan điểm tổng hợp lãnh thổ cho phép xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, phát hiện ra quy luận phát triển, các nhân tố trội tác động đến sự phát triển của đô

thị và vùng đô thị

4.1.8/ Quan điểm quy hoạch xây dựng vùng:

Trước kia sự phát triển xã hội lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên được sở

hữu trong giới hạn lãnh thổ đã phân định, ngày nay, những cuộc cách mạng khoa

học – kỹ thuật – công nghệ đã thay đổi nhiều khái niệm phát triển xã hội Trong bối

cảnh hội nhập toàn cầu, bất cứ đơn vị hay lãnh thổ nếu muốn phát triển hiệu quả và

bền vững đều cần liên kết với các đơn vị hay lãnh thổ khác có sự tương đồng về vị trí địa lý hoặc KT – XH trong một khu vực có quy mô lớn hơn Để thực hiện được

Trang 23

mục tiêu phát triển bền vững và hiệu quả về các mặt kinh tế - xã hội - môi trường,

mỗi lãnh thổ cần có quy hoạch tổng thể định hướng cho sự phát triển chuyên ngành bên trong lãnh thổ, và do đó, quan điểm quy hoạch vùng được chú trọng nghiên

cứu Toàn bộ quá trình quy hoạch đi từ lý thuyết đến thực tiễn bởi lý thuyết chính là quan điểm quy hoạch tổng thể vùng và được hiện thực hóa, cụ thể hóa trên thực tiễn

bởi quan điểm quy hoạch xây dựng vùng

Quan điểm quy hoạch xây dựng vùng có phần nào thích ứng với tình hình chuyển biến mới trong phát triển hệ thống lãnh thổ KT - XH Việt Nam hiện nay, nên không tránh khỏi khuynh hướng tập trung chủ yếu vào các vùng trọng điểm, các

đô thị lớn, các hành lang công nghiệp, KCN tập trung, khu chế xuất, khu công nghệ cao và vô tình lãng phí những nguồn lực từ các điểm nhỏ xung quanh đó “Các mối liên h ệ liên ngành và liên vùng theo lãnh thổ dường như chưa được quan tâm thích đáng, như mối liên hệ giữa công nghiệp với nông nghiệp, thành thị với nông thôn, vùng tr ọng điểm với các vùng nông-lâm nghiệp rộng lớn”[51] mà nguyên nhân tạo

sự phát triển tập trung không đồng bộ này là do sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải, các tuyến đường chỉ tập trung vào một vùng đô thị đầu mối nào đó, còn các tuyến đường xa nối các vùng kinh tế khác nhau còn hạn chế Thành lập vùng thành phố chính là giải pháp khắc phục những tồn tại của việc quy hoạch vùng trước đây tạo ra, vì quy hoạch vùng thành phố yêu cầu phải có tầm nhìn xa hơn cũng như chi phí đầu tư lớn hơn để tập trung vào những tuyến đường giao thông vươn xa ra khỏi phạm vi một đô thị và nối liền các đô thị trong vùng thành phố với nhau như một hệ thống trọn vẹn, giúp cho sự phát triển không bị ngăn trở hoặc giới

hạn như trước

4.2/ Các phương pháp nghiên cứu:

4.2.1/ Phân tích không gian địa lý:

Theo từ điển địa lý (Oxford University Press, 1997) “không gian (space) là

ph ạm vi của một vùng hay một khu vực thường được thể hiện dưới dạng bề mặt trái đất Mối quan hệ không gian giữ vị trí trung tâm trong địa lý học Ở đây, cần phân

bi ệt hai khái niệm không gian tuyệt đối và không gian tương đối: không gian tuyệt

Trang 24

đối là không gian khách quan, còn không gian tương đối là không gian được nhận

th ức bởi con người hay xã hội và có liên quan tới những mối liên hệ giữa những sự

ki ện và khuynh hướng của những sự kiện đó”[51]

Khái niệm “không gian” được các nhà khoa học Anh và châu Âu phân ra làm

3 loại: không gian toán học, không gian địa lý, không gian kinh tế Để cụ thể hóa hơn khái niệm không gian, thì người ta dùng từ không gian địa lý, không phải không gian xa lạ không xác định, không phải không gian vũ trụ hay trừu tượng mà không gian cụ thể gắn liền với lãnh thổ (không gian) KT - XH của một nước, một vùng cụ thể và trong một hình thái xã hội nhất định Vậy, không gian địa lý là

"không gian lãnh thổ được xã hội sử dụng và quy hoạch nhằm tái tạo xã hội”[37] Phương pháp phân tích không gian là tổng thể những phương pháp toán học

và thống kê nhằm xác định về bản chất, về tính chất, về lượng của những địa điểm (nơi chốn) và những mối quan hệ trong không gian giữa địa điểm này và những nơi khác trong một tổng hợp thể lãnh thổ, mà ngành địa lý thường thể hiện qua các quá trình làm việc với bản đồ và so sánh đối chiếu vói thực tiễn

Trang 25

sở thực tiễn Nó giúp ta đánh giá một cách đầy đủ, chính xác tài liệu đã có, đồng thời bổ sung kịp thời những nội dung mới được phát hiện trong quá trình khảo sát

thực địa

4.2.4/ Phương pháp lịch sử:

Mọi nghiên cứu hay phát minh mới của con người trong thời đại hiện đại ngày nay dù muốn hay không luôn xuất phát hay manh nha từ những ý tưởng của người đi trước Dĩ nhiên không phải người đi sau sẽ tiếp bước chính xác trên những

dấu chân của người đi trước mà chúng ta biết kế thừa những điều tốt hay những ý tưởng tích cực cho nghiên cứu của mình và chọn lọc những tinh hoa để phát triển theo hướng riêng mà cá nhân mình cảm nhận được

Mặc dù đề tài vị thế của thành phố còn chưa được nhiều người nghiên cứu nhưng vị thế luôn có, đã có từ lâu và nó thay đổi theo thời gian những tài liệu viết trước về các thành phố cũng như quá trình hình thành, vận động phát triển của đô

thị… , tuy không dùng từ “vị thế” nhưng thực sự đã cho thấy vị thế của các thành

phố, là cơ sở để người đi sau tiếp tục nghiên cứu về hiện trạng và xu hướng phát triển của đô thị và chùm đô thị trong tương lai Sự kế thừa là điều rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu khoa học, nó giúp người nghiên cứu sau giảm bớt các

khối lượng công việc và thời gian một cách hiệu quả nhất

4.2.5/ Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh:

Đối với các nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, việc thu thập và tổng hợp các số liệu sẽ là những dẫn chứng, minh họa cho vấn đề nghiên cứu Vì vậy, tổng hợp thống kê và phân tích, so sánh số liệu thống kê để làm rõ thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của đô thị sẽ là cơ sở để đưa ra những giải pháp phát triển đô

thị sau này

4.2.6/ Phương pháp thống kê toán học:

Đôi khi các số liệu đã thu thập nhưng chưa thể đưa ra những quy kết chính xác cho hiện tượng, người nghiên cứu cần phải biết cách biến đổi các số liệu dựa trên những cách thức thống kê hoặc tổng hợp hóa, đơn giản hóa các thông số hoạt động, các mối liên hệ đa dạng phức tạp của các đối tượng nghiên cứu địa lý kinh tế

Trang 26

xã hội trong thực tiễn, làm nổi bật các đặc trưng cơ bản, quy luật vận động của đối tượng

Sử dụng toán học để hỗ trợ cho việc đánh giá vấn đề một cách chính xác và khoa học Từ đó kết quả tính toán đó, chúng ta có thể định hướng chiến lược, xác định các mục tiêu phát triển trước mắt và lâu dài của TP Biên Hòa ở Đồng Nai một cách khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp với hiện thực và xu thế phát triển của hiện thực

4.2.7/ Phương pháp bản đồ - biểu đồ:

Phương pháp bản đồ truyền thống được sử dụng phổ biến trong các nghiên

cứu kinh tế - xã hội, đặc biệt là các chuyên ngành địa lý tự nhiên, địa lý KT - XH và nhiều môn học khác Các nghiên cứu địa lý KT - XH được khởi đầu bằng bản đồ và

kết thúc cũng bằng bản đồ, vì được coi là “ngôn ngữ” có khả năng biểu hiện tổng

hợp, ngắn gọn, súc tích và trực quan về đối tượng nghiên cứu mà các nhà khoa học khác chuyên ngành nghiên cứu có thể cùng “đọc và hiểu” nhau, và cũng “mở” hơn,

vì đọc lại tự mình cảm nhận, khám phá ra những điều “ẩn” trong bản đồ Trong vài trường hợp nhất định, trực quan sinh động sẽ chuyển tải được nhiều thông điệp và cũng khắc sâu ấn tượng tích cực hơn

Phương pháp biểu đồ dễ dàng sử dụng hơn, phổ thông hơn phương pháp bản

đồ, mục đích là để làm cho các bảng số liệu mang tính trực quan hơn, minh họa rõ ràng hơn cho phần nội dung chính được nói tới, người xem sẽ nhanh chóng nhận ra

diễn biến hay xu hướng phát triển của hiện tượng đang được phân tích

4.2.8/ Phương pháp chuyên gia:

Phương pháp này được học viên dùng khi cần ý kiến của chuyên gia hiện đang công tác thực tế ngành kiến trúc, quy hoạch xây dựng, quy hoạch kinh tế - xã

hội, địa lý và chuyên ngành tổ chức lãnh thổ, … để cập nhật những ý kiến chuyên ngành về các vấn đề thuộc quy hoạch và đô thị trong quá trình các chuyên gia thực

hiện dự án quy hoạch phát triển đô thị Kiến thức của nhân loại là vô hạn, chỉ có khả năng nhận thức của một cá nhân con người là hữu hạn vì thế rất cần thiết phải lắng

Trang 27

nghe các ý kiến chuyên môn của các chuyên gia trong các vấn đề liên quan đề tài để tránh nhận thức và suy diễn sai lạc

5/ L ịch sử nghiên cứu đề tài:

Vị thế : Là đặc điểm địa lý cơ bản của một nơi chốn, của một không gian, là

kết quả của mối quan hệ của nơi đó, của không gian đó với nơi khác, với không gian khác Vị thế được phân tích so sánh với một địa phương, một vùng, và rộng hơn có thể là tòan thế giới [54]

Vị thế của đô thị là một đề tài khá mới trên thế giới và cũng chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Tiến sĩ Hoàng Hữu Phê - GS Patrick Wakely, bài

“V ị thế, chất lượng và sự lựa chọn khác: Tiến tới một Lý thuyết mới về Vị trí Dân

cư đô thị”[37], tuy nhiên, bài báo chỉ giới thiệu về vấn đề “vị thế của nhà ở trong đô

thị”

Một bài báo khác có liên quan là bài “Cực – Đơn cực, đa cực” của tác giả Vũ

Chí Đồng [24] đã bàn đến một số yếu tố tạo cực của đô thị – đây chính là yếu tố tạo nên vị thế của đô thị trong tổ chức lãnh thổ Ở đây có khái niệm về cực: “cực là điểm nút tụ lại và tỏa đi của các luồng” và “tạo cực (cực hóa) là hành động hút, tập trung thành m ột điểm”[54]

Theo tác giả: “cực, tạo cực là tổng hợp của nhiều cấu trúc cơ sở của không gian bao g ồm các trung tâm, hạt nhân, điểm nút, các mối quan hệ tương hỗ, các

lu ồng, hút, bị hút, các mạng lưới, các phạm vi ảnh hưởng Nói đến cực thì không

ch ỉ nói đến điểm trung tâm mà phải biết điểm này thu hút nơi nào, tỏa ra đâu, các

lu ồng gì – luồng hàng hóa, thông tin, hay di dân, phương tiện gì, quan hệ giữa vùng

có c ực này với vùng có cực khác ”[24]

Vì vậy, nghiên cứu vị thế đô thị chính là nghiên cứu sức hút của đô thị để trở thành cực trong mạng lưới đô thị

Một bài nghiên cứu của tác giả Lê Đức An “Bàn về tài nguyên vị thế của đới

b ờ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ” [2] có bàn chi tiết hơn về “vị thế” và khẳng định vị thế

là “tài nguyên” để khai thác và phát triển KT – XH như các dạng tài nguyên khác

Trang 28

Ngoài ra, bản thuyết minh tổng hợp Quy hoạch xây dựng Vùng TP.HCM giai đoạn 2005 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2050 của Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn Miền Nam – 2009 [50] là tài liệu có đề cập trực tiếp đến vị thế của Vùng TP.HCM nhưng bản thuyết minh chỉ mới dừng lại ở việc nêu lên vị thế chung của

cả Vùng mà chưa đi vào phân tích vị thế của các đô thị trong Vùng

Biên Hòa là một thành phố có quy mô kinh tế - dân số tương đối lớn, nên có

vị thế nhất định trong tỉnh Đồng Nai, vùng ĐNB, VKTTĐPN và Vùng TP.HCM Vị

thế của đô thị Biên Hòa hầu như là một đề tài khá mới và cũng khá hiếm trong các lĩnh vực nghiên cứu, nên có thể khẳng định, sách viết về TP Biên Hòa thực ra là không ít, nhưng hiện nay, sách hoặc đề tài nghiên cứu khoa học bàn về vấn đề vị thế

của TP.Biên Hòa từ góc độ phân tích không gian địa lý vẫn còn rất hiếm

6/ Những đóng góp của luận văn:

Phân tích vị thế của đô thị là một lĩnh vực nghiên cứu mới và rộng nên chắc

chắn không thể chỉ hoàn thành bởi một cá nhân được và nhất là một học viên bậc

thạc sĩ Do đó, trong khuôn khổ một luận án thạc sĩ, học viên chưa thể đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện về vị thế của thành phố Biên Hòa trong vùng TP.HCM như các dự án lớn hay các công trình quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị; vì thế

luận văn sẽ giới thiệu cách tiếp cận vấn đề, áp dụng lý thuyết để đưa vào thực tế, phác thảo phần nào vị thế của thành phố Biên Hòa trong vùng TP.HCM - về vị trí,

vị thế, hệ thống đô thị, cấu trúc không gian vùng - và đặc biệt chú trọng sử dụng các khái niệm và các phương pháp phân tích không gian địa lý để có một kết quả nghiên

cứu mang bản sắc của ngành địa lý Và góp phần bổ sung về mặt lý thuyết cũng như đóng góp nhỏ bé cho công tác nghiên cứu Biên Hòa và vùng TP.HCM sau này

Trang 29

7/ C ấu trúc của đề tài:

Ph ần mở đầu:

Ph ần nội dung:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Chương 2: Vị thế của TP.Biên Hòa trong vùng TP.HCM từ góc độ

phân tích không gian địa lý

Chương 3: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức đối với

s ự phát triển nâng cao vị thế của TP Biên Hòa trong vùng TP.HCM

Trang 30

v ới không gian khác Vị thế được phân tích so sánh với một địa phương, một vùng,

và r ộng hơn có thể là toàn thế giới.” (theo “Les mots de la géographie” từ điển địa

Theo tác giả Nguyễn Chu Hồi, “Vị thế là những lợi thế so sánh về phương

di ện địa lý, là khả năng khai thác các giá trị vật chất và phi vật chất của một lãnh

th ổ nhất định”[30] So sánh định nghĩa của từ điển địa lý Pháp và của tác giả

Nguyễn Chu Hồi, cả 2 định nghĩa đều có những ý kiến hỗ trợ nhau Định nghĩa của

từ điển Pháp nhấn mạnh đến yếu tố không gian của từ vị thế, giải thích được sự hình thành vị thế Định nghĩa của Nguyễn Chu Hồi lại khẳng định vị thế là lợi ích, lợi thế

so sánh về phương diện địa lý Kết hợp cả 2 định nghĩa này ta có thể hiểu rõ được khái niệm và ý nghĩa của vị thế Trong địa lý học, các nhà địa lý phân biệt rõ hai từ:

vị thế - situation với vị trí - position

+ Vị trí địa lý (geographic position): có tính tuyệt đối, là duy nhất, không thay đổi

theo thời gian (trừ trường hợp xét trong một thời gian dài thì có thể thay đổi về

phạm vi, về qui mô.)

Trang 31

Nói đến vị trí địa lý của một quốc gia hay một lãnh thổ trong thời hiện đại, người ta không chỉ đơn giản đề cập đến vị trí trong tọa độ địa lý thông thường mà còn xét nó trong bản chất kinh tế, trong sự cạnh tranh nhất định

Cùng với vị trí địa lý, các phương diện khác như văn hóa, xã hội, kinh tế, quân sự, chính trị… nếu ở tình trạng thuận lợi thì cũng sẽ là những lợi thế so sánh quan trọng, có ảnh hưởng nhất định đối với sự phát triển của một lãnh thổ hay một

quốc gia cả về tốc độ lẫn định hướng phát triển kinh tế - xã hội Từ đây xuất hiện danh từ chung để chỉ lợi thế so sánh tổng hợp các phương diện của một vùng địa lý

gọi là vị thế địa lý

+ Vị thế địa lý (geographic situation): luôn có tính tương đối (so với không gian

xung quanh), tùy trường hợp thì có thể có tính chia sẻ, tính lịch sử: vị thế thay đổi theo thời gian, do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động

Vị thế địa lý là thuật ngữ thể hiện được rõ ràng hơn, nhiều tầng ý nghĩa hơn

về khía cạnh không gian (bao gồm cả không gian kinh tế - không gian văn hóa – không gian xã hội) của một vùng lãnh thổ; trong khi vị trí địa lý chỉ đơn giản xác định chính xác địa điểm tọa độ địa lý và phạm vi lãnh thổ của vùng lãnh thổ đó mà không nói được khả năng hay tiềm năng phát triển của vùng lãnh thổ về nhiều mặt

Do đó, theo Roger Brunet, việc phân tích vị thế là “rất cần thiết để đánh giá chất lượng của một nơi.” [54]

Trong thời đại khoa học kỹ thuật, một quốc gia dù nhỏ về diện tích và dân số nhưng nếu tạo được một nền KT - XH phát triển và trình độ khoa học – kỹ thuật

hiện đại thì vẫn có được vị thế cao trên trường quốc tế, đồng thời tạo được lợi thế

cạnh tranh khá rõ ràng trước các nước đối phương, kể cả đó là nước có diện tích và dân số rất lớn Ví dụ gần nhất trong khu vực ĐNA là đảo quốc sư tử Singapore, một đất nước nhỏ bé và thiếu tài nguyên mà có thể lớn mạnh vươn lên vị trí dẫn đầu trong khu vực, Singapore đã thành công trong việc tạo nên vị thế mới có thể cạnh tranh trước các đối thủ lớn

Trong xu hướng hợp tác quốc tế, vị thế địa lý ngày càng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn, nhằm xác định vị thế so sánh giữa hai hay nhiều lãnh thổ

Trang 32

trong các mối quan hệ song phương và đa phương trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính

trị, văn hóa và xã hội Vị thế địa lý ngày nay không chỉ đơn giản cần sự nỗ lực tối

đa của riêng một quốc gia, một vùng hay một đô thị mà quan trọng nhất là vị thế trong mối tương quan với các thành phố, vùng, hay các quốc gia chung quanh, vì

thế giới ngày nay không tồn tại độc lập mà phải có sự hợp tác, đầu tư lẫn nhau để đảm bảo hướng tới sự phát triển bền vững chung cho toàn nhân loại và cho cả hành tinh này

1.1.2/ V ị thế đô thị:

Hầu hết quốc gia nào cũng tồn tại hai loại hình phân bố dân cư cơ bản là

quần cư nông thôn và quần cư thành thị Trong đó, quần cư thành thị là hình thức

quần cư có mức độ tập trung cao hơn về các mặt dân cư, kinh tế (phi nông nghiệp), văn hóa và xã hội so với quần cư nông thôn

Các đô thị đều có vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH của một khu v ực, một quốc gia Đô thị là cơ sở kinh tế tạo ra thu nhập khá cao cho cư dân

đô thị, bên cạnh đó, các đô thị không tồn tại cô lập, mà mỗi đô thị là một hạt nhân

cơ bản trong nền kinh tế - xã hội, có mối liên hệ qua lại mật thiết với các đô thị khác t ạo thành mạng lưới đô thị và là bộ phận của hệ thống đô thị lớn hơn Như

v ậy, mỗi đô thị là một đơn vị kinh tế quan trọng trong hệ thống kinh tế - xã

h ội”(Phạm Thị Xuân Thọ, Địa lý đô thị, 2008) [46]

Do đó, thành thị có điều kiện hội nhập sớm và dễ dàng hơn nông thôn, nên

vấn đề vị thế địa lý của đô thị có nhu cầu được quan tâm nghiên cứu và đánh giá

cấp bách hơn nông thôn trong thời kỳ hội nhập

Vị thế địa lý của đô thị trong quá trình phát triển đô thị thời hội nhập là một

vấn đề tương đối phức tạp, bởi vì một đô thị có rất nhiều lĩnh vực cần đánh giá vị

thế như vị trí, phạm vi lãnh thổ, kinh tế, chính trị, đối ngoại, văn hoá, xã hội … Nói như thế nghĩa là vị thế được “áp dụng” không kể là trên phương diện “ranh giới

cứng” (ranh giới hành chính trên biển, đất liền, không trung, lòng đất…) mà cả trên

“ranh giới mềm” (ranh giới về mặt thị trường, hàng hóa, chất xám, khoa học kỹ thuật, tài chính, ngân hàng, quân sự và văn hóa) Nếu hai ranh giới “cứng – mềm”

Trang 33

này bị “uy hiếp” nghĩa là vị thế đô thị đó chưa đủ mạnh, cần nghiên cứu chiến lược

để nâng cao vị thế hơn nữa

Ý nghĩa của vị thế đối với sự phát triển đô thị :

Sự phát triển của đô thị chính là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên vị

thế của đô thị, nhưng chính vị thế lại tác động trở lại sự phát triển của đô thị theo quan hệ tương hỗ trong nhiều mặt Khi chưa có vị thế hoặc vị thế còn yếu, đô thị sẽ khó khăn trong việc thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở và hạ tầng kỹ thuật, hay đầu tư phát triển KT - XH và thu hút lao động chất lượng cao cho đô thị Nhưng khi

có vị thế cao, đô thị đó mặc nhiên có đầy đủ sự tín nhiệm cũng như dễ dàng có được các cơ hội đầu tư, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên nhiều mặt trận kinh

tế, chính trị, văn hóa và xã hội

1.1.3/ Các y ếu tố ảnh hưởng vị thế đô thị:

Theo từ điển địa lý bản tiếng Pháp, việc phân tích vị thế là “rất cần thiết để đánh giá chất lượng của một nơi” [54] Bởi vì “tất cả các địa điểm đều có liên quan đến địa điểm khác trong một phạm vi không gian nhất định, liên quan với các con đường giao thông, liên quan với các địa điểm lân cận có ranh giới giáp với nhau”; ngoài ra, “hầu hết các địa điểm được coi như những mắt lưới nằm trong một mạng lưới và phạm vi liên kết về mặt không gian đó tạo nên các đặc điểm khác biệt của các địa điểm, và đồng thời tạo nên động lực phát triển của chúng”[54] Như vậy, vị

thế của đô thị không phải chỉ được quyết định bởi nội lực (sức mạnh về kinh tế - khoa học – kỹ thuật – xã hội) của chính đô thị đó mà còn phụ thuộc vào những yếu

tố đặc trưng có liên quan bao gồm đặc điểm lịch sử, đặc điểm xã hội, trình độ sản

xuất vật chất, vị trí địa lý, thế mạnh về tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn…của các đô thị lân cận! Những yếu tố liên quan này sau khi được nghiên cứu

và hệ thống lại, sẽ định ra được thứ bậc hay mức độ phát triển của đô thị cần phân tích vị thế trong mạng lưới đô thị của vùng (city net)

Phân tích, đánh giá vị thế địa lý của một đô thị là một công việc khá phức tạp

vì vị thế đô thị phụ thuộc vào nhiều quan điểm khác nhau tùy lĩnh vực đang bàn tới

và nhiều yếu tố khác nhau: phạm vị hình thành nên đô thị; kích thước của đô thị đó

Trang 34

(hay còn gọi là trọng lượng đô thị); cấu trúc đặc trưng, cơ sở hạ tầng, chức năng chính; phương tiện; các chiến lược đô thị hướng tới

Những yếu tố này, đôi khi là cụ thể mà đôi khi lại khá trừu tượng và lại không đồng nhất về một số quan điểm giữa các đô thị trong một nước hoặc trên thế giới, nên việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá và học tập kinh nghiệm gặp nhiều khó khăn

Do giới hạn về tài liệu tham khảo cũng như số liệu thu thập được nên trong phạm vi của đề tài, tác giả chỉ lựa chọn những yếu tố cơ bản để đánh giá vị thế thành phố Biên Hòa trong vùng TP.HCM

1.2/ Đô thị (city):

1.2.1/ L ịch sử hình thành đô thị :

Quá trình hình thành đô thị trong lịch sử nhân loại có thể khái quát trải qua 3 giai đoạn sau đây :

Giai đoạn thứ nhất : Trong giai đoạn này các điểm dân cư và đô thị chưa

hình thành Loài người đã trải qua một giai đoạn dài hàng triệu năm trong lịch sử với cuộc sống gắn bó với thiên nhiên, hoạt động bằng phương thức săn bắt thú rừng, hái lượm những loại sản vật có sẵn trong tự nhiên Lúc này con người chưa biết trồng trọt, chăn nuôi mà chỉ tận dụng những sản vật có sẵn trong tự nhiên Con người sống du canh, du cư, các thị tộc, bộ lạc rày đây mai đó trong những khu rừng, những nơi có sản vật tự nhiên

Giai đoạn thứ hai : Trong quá trình phát triển của lịch sử loài người, con

người từ bỏ dần cuộc sống du canh, du cư khi nghề trồng trọt, chăn nuôi ra đời Do nhu cầu cuộc sống gắn bó với sản xuất nông nghiệp, con người định cư, lao động và sinh sống trong các điểm dân cư tập trung gọi chung là điểm dân cư nông thôn (làng, bản…)

Giai đoạn thứ ba : Trong quá trình vận động, do kinh tế nông nghiệp phát

triển, con người có nhu cầu sống ngày càng cao hơn, một bộ phận dân cư lao động tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để hoạt động thương nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, quản lý xã hội… những người này và gia đình của họ tập trung lại,

Trang 35

sinh sống tại các địa điểm phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ có đặc điểm chủ yếu là lao động phi nông nghiệp Đó là điểm dân cư đô thị

Như vậy, đô thị được hình thành xuất phát từ lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, do sự phân công lao động xã hội mà chủ yếu là thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động trong nông nghiệp sang lao động phi nông nghiệp

Lịch sử hình thành đô thị ở Việt Nam còn có điểm thú vị là từ “đô thị” trong tiếng Việt nếu được chiết tự sẽ thể hiện lịch sử hình thành của từ “đô thị” cũng gắn liền với lịch sử hình thành đô thị ở nước ta

+ “đô”: kinh đô, kinh thành  thể hiện ý nghĩa hành chính, quân sự

+ “thị”: chợ, phố, phường  thể hiện ý nghĩa kinh tế, xã hội

Dọc theo chiều dài lịch sử đất nước và dân tộc, “đô” và “thị” ở Việt Nam trải qua nhiều biến cố phức tạp mà đến nay các nhà nghiên cứu vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều trong việc phân định “đô” và “thị”, yếu tố nào có trước, yếu tố nào xuất hiện sau, tất cả chỉ có thể cùng chắc chắn một điều là đã có sự “cộng sinh không gian” giữa hai yếu tố này và kết quả tạo ra chính là “đô thị” theo nghĩa cơ bản, bản chất nhất của từ “đô thị” Không bàn đến vấn đề yếu tố nào xuất hiện trước tạo tiền đề cho yếu tố sau, trong mối quan hệ “cộng sinh không gian” này, rõ ràng “thành” (đô) giữ vai trò chủ đạo hạt nhân với những thành quách, cung điện và “thị” (phố, phường, chợ) mang tính bổ trợ, tạo nên lịch sử dài của “đô thị” qua các thời đại lịch

sử đất nước [40]

Dọc theo tiến trình lịch sử, đô thị được nhìn nhận theo tính chất của nền kinh

tế chủ đạo đã sản sinh ra nó Do nền kinh tế công nghiệp có tác động mạnh đến sự phát triển của xã hội thông qua khối lượng vật chất làm ra nên công nghiệp tác động mạnh đến những giai đoạn cách mạng của đô thị và được lấy làm “điểm tựa” để

xem xét tính chất của đô thị Như vậy, xã hội nông nghiệp sẽ sản sinh ra đô thị tiền công nghiệp – pre-industrial city (sản xuất tiểu thủ công nghiệp), xã hội công nghiệp sẽ có đô thị công nghiệp – industrial city (sản xuất công nghiệp), và xã hội hậu công nghiệp sẽ có đô thị hậu công nghiệp – post-industrial city (sản xuất tri thức khoa học và công nghệ)

Trang 36

1.2.2/ Đô thị ở Việt Nam:

Theo Nghị định số 72/2001/NĐ-CP ngày 05/10/2001 của Chính phủ quy định rằng đô thị ở nước ta là các điểm dân cư tập trung với các tiêu chí cụ thể sau:

- Là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định

- Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4000 người

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành, nội thị từ 65% trở lên trong tổng số lao động nội thành, nội thị và là nơi có sản xuất, dịch vụ, thương mại phát triển

- Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn theo quy định đối với từng loại đô thị (ít nhất là bước đầu xây dựng một số công trình công cộng và hạ tầng kỹ thuật cơ bản)

- Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2trở lên

1.2.3/ Khái ni ệm đô thị:

Trong Tiếng Việt hiện đại, chúng ta có một loạt các từ ngữ chỉ “đô thị”: thị

tứ, thị trấn, thị xã, đô thị, thành thị, thành phố, phường Tuy tất cả những từ này đồng chỉ cùng một nghĩa là đô thị nhưng thực ra giữa các từ trên được sử dụng trên thực tế lại có sự khác nhau tương đối về mặt quy mô diện tích, quy mô dân số, trình

độ phát triển của nền kinh tế, mức độ văn minh của xã hội, mức độ hiện đại của hệ thống cơ sở hạ tầng và kỹ thuật…

Đô thị, theo lời Karl Marx, là “sự tồn tại của đô thị khác với một tập hợp rời

r ạc các ngôi nhà Ở đấy (đô thị) cái tổng thể không đơn giản chỉ là tổng số của các

b ộ phận Đó là một cơ thể tự tại của chính nó”[34] Đô thị thường xuất hiện như

một tập hợp các công trình xây dựng nên được gọi là không gian vật thể chứa chấp bên trong cơ thể nó là không gian kinh tế và không gian văn hoá – xã hội, mà thông thường người ta chỉ nhìn thấy “hình dáng” bên ngoài của đô thị những công trình

kiến trúc xây dựng hào nhoáng và quên rằng bên trong “cơ thể” đó còn có những điều làm nên “sự sống” cho một đô thị

Trang 37

Định nghĩa chung nhất về đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, dân cư sống và làm việc theo phong cách văn minh, hiện đại hơn, có tổ chức chặt chẽ và hiệu quả kinh tế cao hơn, có trình độ văn hóa cao Đó là phong cách, lối sống văn minh của thành thị, tác phong công nghiệp

hiện đại

1.2.4/ Phân bi ệt một số khái niệm liên quan “đô thị”:

+ Đô thị (city): là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã

hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ

lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65% Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã

và thị trấn Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị

+ Đô thị đối trọng: có thể là một đô thị hay một nhóm đô thị đảm nhiệm việc chia sẻ với thành

ph ố đóng vai trò trung tâm đang bị quá tải Đô thị đối trọng phải có dân số tương đối (1/3 hoặc ½

so v ới dân số thành phố trung tâm), có đa chức năng nếu chỉ là một đô thị và nếu là nhóm đô thị thì

m ỗi đô thị phải có một hay hai chức năng chính và có khoảng cách không xa so với thành phố trung tâm, g ấp đôi hoặc gấp ba bán kính thành phố được đối trọng (khoảng 30, 50, 70km)

+ Đô thị vệ tinh (satellite city): là một đô thị hoàn chỉnh có một hệ thống quản lý riêng, độc lập về hành chính nhưng lại nằm trong cơ cấu của một phát triển lớn, nằm trên cùng một lãnh thổ thành phố trung tâm với khoảng cách là 50km (không quá xa để ly tâm mà cũng không quá gần để bị hút vào), ch ịu sự quản lý vĩ mô của thành phố mẹ về định hướng chiến lược và chính trị nhằm đảm bảo không phát triển lệch quỹ đạo chung

+ Vùng đệm: tuy không phải là đô thị nhưng những vùng đệm này có ý nghĩa quan trọng tạo nên

sự độc lập trương đối cho các đô thị và “làm mềm” đi những kiến trúc đô thị vốn rất nặng nề và đơn điệu Vùng phân cách không có hoặc có rất ít các công trình xây dựng, chủ yếu là rừng sinh thái, vành đai xanh, công viên cây xanh, hồ nước, khu động vật hoang dã hoặc khu nghỉ dưỡng sinh thái…Và đối với nhiều quốc gia nó còn có ý nghĩa nhằm hạn chế phát triển đô thị trung tâm

+ Vùng đô thị (metropolitan region): là một phức hợp đa dạng với quy mô lớn gồm có thành phố

lớn (megacity), các thành phố trung bình (city), các thành phố nhỏ, thị trấn nhỏ (town), các khu ở (neighborbood) Trong đó có một thành phố đóng vai trò chủ đạo, ngoài ra có thể có một số thành phố đối trọng, thành phố đồng cấp hay các thành phố vệ tinh mà xen giữa chúng là các khu vực

đệm sinh thái Vùng đô thị là một trung tâm đông dân số bao gồm một đại đô thị và các vùng phụ cận nằm trong phạm vi ảnh hưởng của đô thị này hay nói cách khác là

Trang 38

vùng gồm có hơn một thành phố trung tâm gần sát nhau và vùng nằm trong phạm vi ảnh hưởng của các thành phố trung tâm này Một hoặc nhiều thành phố lớn có thể

phục vụ như một trung tâm hay các trung tâm cho toàn vùng Thông thường vùng

đô thị được đặt tên theo tên thành phố trung tâm lớn nhất hoặc quan trọng nhất trong vùng

1.2.5/ Phân lo ại đô thị ở Việt Nam:

Đô thị là sản phẩm của quá trình phát triển xã hội nên chịu chi phối của các quy luật xã hội khá mạnh Xã hội con người lại không giống nhau giữa các vùng lãnh thổ với điều kiện tự nhiên khác nhau, giữa các dân tộc với những phương thức

sản xuất và trình độ phát triển khác nhau Do đó, đô thị trên thế giới sẽ có sự khác nhau về một số phương diện như: quy mô diện tích, dân số, trình độ hiện đại hóa,

tốc độ đô thị hóa

Căn cứ theo điều 4 trong Nghị định về việc phân loại đô thị của Chính phủ, đô

thị ở Việt Nam được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III,

loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận: a) Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc: cả nước có 2 đô thị đặc biệt

b) Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành: cả nước có

3 đô thị loại I, 8 đô thị loại II

c) Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội

thị và các xã ngoại thành, ngoại thị: cả nước có 13 đô thị loại III

d) Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị: có

65 đô thị và một số thị trấn

e) Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn: 573 đô thị

Ngoài ra, còn căn cứ vào các tiêu chí khác là : cấp quản lý hành chính và phạm

vi ảnh hưởng của sức hút đô thị

Trang 39

1.2.6/ Ch ức năng đô thị (urban function):

Theo một cách nói rất dân gian thì bất cứ thứ gì có trong trời đất đều có chức năng và giá trị riêng, chỉ là con người có nhìn thấy giá trị đặc biệt của tạo vật đó và

sử dụng như thế nào Đô thị, nói cho cùng chính là “sản phẩm văn hoá” do xã hội

con người tạo ra, nên đô thị cũng có chức năng đặc thù tạo nên lý do tồn tại cho đô

thị và vai trò của đô thị trong nền kinh tế - xã hội Đô thị hình thành, phát triển là để đáp lại nhu cầu của sự phát triển xã hội Đô thị quy thuộc vào một hệ thống và xác

định chức năng của mình tuỳ thuộc hệ thống đó Vậy, “chức năng đô thị là tập hợp các d ấu hiệu phản ánh vai trò và vị thế của đô thị thông qua các hoạt động của

nó”[44] Còn G Chabot định nghĩa cụ thể hơn : “chức năng của đô thị được quy định bởi những hoạt động chủ yếu làm cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nó

Nh ững hoạt động này đem lại nguồn lợi cho đô thị”[42]

“Ch ức năng đô thị sẽ làm phân biệt các quần cư đô thị với quần cư nông thôn cũng như giữa các quần cư đô thị với nhau.” [46] Chính các chức năng của đô

thị sẽ quy định những hoạt động xã hội và lối sống chung của mỗi đô thị và đồng

thời chức năng của đô thị cũng xác lập nên vị thế của đô thị trong mạng lưới các đô

thị trong một tổ chức không gian nhất định nào đó, bởi vì chức năng đô thị là dấu

hiệu (hay tập hợp các dấu hiệu) để chứng tỏ nguồn gốc và vai trò nổi trội của đô thị được nảy sinh một cách tự nhiên theo quy luật phát triển của xã hội trong quá trình hình thành và phát triển đô thị

Dù có nhiều cách phân loại chức năng khác nhau giữa các tác giả nghiên cứu

về đô thị học, nhưng tựu chung lại các đô thị sẽ có thể có một hay nhiều chức năng, bao gồm những chức năng sau:

+ Chức năng hành chính: quân sự - chính trị - thủ đô

+ Chức năng kinh tế: sản xuất – thương mại – dịch vụ

+ Chức năng văn hoá: văn hoá - tôn giáo

Mỗi đô thị đều có chức năng đặc trưng riêng gọi là đô thị đơn chức năng, đồng thời thế giới cũng xuất hiện ngày càng nhiều những đô thị đa chức năng, có đủ các chức năng chính và phụ, cùng tồn tại chung trên một không gian xã hội và bổ

Trang 40

trợ lẫn nhau vì sự phát triển chung của đô thị Nếu như lúc đầu mới hình thành, TP.HCM là đô thị đơn chức năng với vai trò chính là trung tâm thương mại – dịch

vụ thì nay đã trở thành đô thị đa chức năng bao gồm cả lĩnh vực kinh tế và văn hóa Không có điều kiện phát triển như TP.HCM, TP.Biên Hòa thủy chung vẫn duy trì đường hướng phát triển của riêng mình với chức năng quan trọng từ lúc mới trưởng thành đến nay là thành phố công nghiệp và hiện nay Biên Hòa vẫn đảm bảo sức

sống của một thành phố công nghiệp có tiếng trên toàn quốc

1.3/ Quy ho ạch (planning):

1.3.1/ Quy ho ạch :

“Quy ho ạch là một tập hợp các công tác đồng bộ nhằm phân bố có căn cứ dân cư, sinh hoạt, xây dựng, thiết bị và những phương tiện giao thông liên lạc trải

r ộng trên lãnh thổ” (P.Merlin) Đây là một định nghĩa ngắn gọn, hàm xúc và chính

xác về “quy hoạch” và được các nhà quy hoạch đô thị Việt Nam nhấn mạnh thêm

tính không gian trong định nghĩa như sau : “bố trí, sắp xếp các yếu tố không gian khác nhau c ủa đô thị lên trên mặt bằng lãnh thổ dưới dạng bản đồ không gian hai chi ều.” [40] Điều đó có nghĩa quy hoạch là quy hoạch không gian (spatial

planning), là lập các bản vẽ quy hoạch Vì thế, có thể nói, quy hoạch là một hoạt động rất phức tạp và chịu sự tác động từ nhiều chiều nhiều nguồn khác nhau nên quá trình quy hoạch thường khá dài, có thể 10 hoặc 20 năm tùy tình hình cụ thể thực

tế của từng vùng lãnh thổ được quy hoạch.Quy hoạch là để hành động và hành động này nhằm mục đích làm thay đổi một vùng lãnh thổ KT - XH nào đó trong tương lai, đặc biệt là về mặt không gian [49]

1.3.2/ Quy ho ạch đô thị :

“Quy hoạch đô thị”, thực tế là cho đến nay chưa có định nghĩa nào về nó được mọi người nhất trí, tuy vậy mỗi một nhà nghiên cứu trên thế giới lại cố gắng đóng góp những định nghĩa đúng nhất theo hiểu biết cá nhân cho ngành khoa học quy hoạch này, như Keeble (1964) đã định nghĩa “quy hoạch là sự kết hợp giữa ngh ệ thuật và khoa học trong việc bố trí sử dụng đất đai, nhà ở và hệ thống đường

ph ố để đảm bảo thuận lợi phát triển tối đa nền kinh tế và hiệu quả thẩm mỹ (…) về

Ngày đăng: 02/12/2015, 17:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

B ản đồ 2.8: Sơ đồ năm cực phát triển theo định hướng phát triển không gian - vị thế của thành phố biên hòa trong vùng thành phố hồ chí minh từ góc độ phân tích không gian địa lý
n đồ 2.8: Sơ đồ năm cực phát triển theo định hướng phát triển không gian (Trang 89)
B ản đồ 2.10: Sơ đồ định hướng phát triển không gian Vùng thành phố Hồ Chí - vị thế của thành phố biên hòa trong vùng thành phố hồ chí minh từ góc độ phân tích không gian địa lý
n đồ 2.10: Sơ đồ định hướng phát triển không gian Vùng thành phố Hồ Chí (Trang 95)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w