BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHTRẦN MINH NHỰT BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN MINH NHỰT
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG THÔNG
QUA CHƯƠNG ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 10
Nghệ An, 2012
Trang 2Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN MINH NHỰT
BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG THÔNG
QUA CHƯƠNG ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lý
Mã số: 60 14 10
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS.NGUYỄN ĐÌNH THƯỚC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin thành thật cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đình Thước là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình làm luận văn Lòng nhiệt tình, sự tận tâm chỉ dẫn cùng những lời động viên hết sức quý báu của thầy là yếu
tố góp phần đáng kể giúp tôi hoàn thành luận văn.
Kế đến, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô giảng dạy đã tận tình chỉ dẫn tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin gởi lòi cảm ơn đến khoa Vật lý Trường Đại học Vinh, phòng SĐH đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập
Tôi xin gởi lời cảm ơn đến BGH trường Cao đẳng Công thương thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tại trường Đại học Sài Gòn và trong thời gian tôi tiến hành thực nghiệm.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn
Tất cả sự động viên, giúp đỡ của nhà trường, quý thầy cô, gia đình và bạn bè
sẽ là động lực giúp tôi có thể tiếp bước trên con đường nghiên cứu khoa học
Tác giả Trần Minh Nhựt
Trang 4Danh mục chữ viết tắt trong luận văn
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 5Mục lục
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Giả thuyết khoa học 2
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu 3
1.7 Đóng góp của luận văn 3
PHẦN II: NỘI DUNG LUẬN VĂN 3
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO SINH VIÊN 4
1.1 Tự học trong quá trình dạy học 4
1.2 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học 6
1.3 Một số vấn đề về tự học 12
1.3.1 Một số quan niệm về tự học 12
1.3.2.Quy trình tự học 14
1.3.3 Một số hình thức tự học 16
1.3.4 Dạy – Tự học 16
1.4 Các phương pháp tự học 17
1.5 Năng lực tự học 19
1.6 Các nhiệm vụ học tập của sinh viên 19
1.6.1 Các nhiệm vụ học tập 19
1.6.2 Nội dung bồi dưỡng năng lực tự học 20
1.7 Thực trạng năng lực tự học của sinh viên trường Cao đẳng Công thương Thành phố Hồ Chí Minh 21
1.7.1 Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học theo hệ thống tín chỉ 23
1.7.2 Phương tiện và trang thiết bị hỗ trợ cho việc tự học 23
1.7.3 Nắm vững qui chế học vụ và chương trình đào tạo 24
Trang 61.7.4 Chuẩn bị nộidung khi đến lớp học tập 24
1.7.5 Những nguyên nhân làm hạn chế của việc tự học của SV 25
Kết luận chương I 28
Chương II: DẠY HỌC CHƯƠNG “ ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM” THEO ĐỊNH HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 29
2.1 Dạy học vật lí đại cương cho SV trường Cao đẳng Công thương TP Hồ Chí Minh 29
2.2 Mục tiêu nội dung dạy học chương “Động học chất điểm” 30
2.3 Sơ đồ logic nội dung kiến thức của từng bài học, nội dung kiến thức tóm tắt SV phải nắm vững 32
2.4 Xây dựng một số tiến trình dạy học, tổ chức hoạt động học của SV các giờ học trên lớp 51
Kết luận chương II 70
Chương III: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 71
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 71
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 71
3.3.1 Mức độ hoạt động tự lực của Sinh viên trong giờ học về mặt định tính 72
3.3.2 Đánh giá định lượng kết quả của sinh viên 72147/
Kết luận chương III 77
PHẦN III: KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Phụ lục 1: Phiếu thăm dò ý kiến GV 81
Phụ lục 2: Phiếu thăm dò ý kiến SV 86
Phụ lục 3: Đề kiểm tra 89
Phụ lục 4: Bài tập tự giải 93
Phụ lục 5: Một số hình ảnh thực nghiệm sư phạm 112
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển nhanh như vũ bão, cáctrường đại học và cao đẳng không thể trang bị cho sinh viên mọi tri thức và kĩnăng để họ có thể làm việc suốt đời Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học chosinh viên (SV) là nhiệm vụ quan trọng trong các nhà trường đại học, cao đẳng.Chỉ có tự học, tự bồi dưỡng SV mới có thể chiếm lĩnh được tri thức, kĩ năngnghề nghiệp trong quá trình đào tạo cũng như sau khi ra trường phải tự học đểthích ứng nghề nghiệp và chuyển đổi nghề, đáp ứng được nhu cầu thị trườnglao động Từ đó họ có được sự tự tin trong cuộc sống, có năng lực toàn diệngiải quyết tốt các vấn đề nảy sinh của nghề nghiệp
Những năm qua việc đổi mới Giáo dục đã đạt được những thành tích đáng
kể, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập
và phát triển của đất nước Trước tình hình đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra chongành Giáo dục là phải đổi mới sâu sắc và toàn diện quá trình dạy học Chấtlượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lựcsáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáodục Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọngviệc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người họcphát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu,thực nghiệm, ứng dụng” Như vậy, phương pháp dạy và học ở các trường đạihọc, cao đẳng cần thực hiện theo định hướng đổi mới: cần bồi dưỡng năng lực
tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho sinh viên phát triển tư duy và năng lựcsáng tạo
Hiện nay, các trường đại học và cao đẳng nước ta thực hiện đào tạo theohọc chế tín chỉ (HCTC), xây dựng quy trình đào tạo mềm dẻo và liên thông.Đặc trưng hình thức đào tạo theo HCTC là giảm khối lượng giờ giảng trên lớp,đòi hỏi sinh viên tự học, tự nghiên cứu Lý luận và thực tiễn đang đặt ra chogiảng viên và sinh viên các trường đại học và cao đẳng là: dạy - tự học cho SVnhư thế nào? Phải tự học bằng cách nào? đối với các môn học nói chung vàmôn học Vật lí đại cương nói riêng Thiết nghĩ, nếu trả lời được hai câu hỏi đó
Trang 8có tính khoa học sẽ góp phần nâng cao được chất lượng và hiệu quả đào tạo
SV ở các trường cao đẳng, đại học nước ta
Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG THƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC VẬT LÝ ĐẠI CƯƠNG THÔNG QUA CHƯƠNG ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM”
2 Mục đích nghiên cứu
Bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học môn Vật lí đại cươgnhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề của trường cao đẳng Côngthương Tp Hồ Chí Minh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Quá trình đào tạo của trường cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
- Hoạt động tự học của sinh viên trường cao đẳng Công thương thành phố HồChí Minh
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động tự học của SV trong quá trình dạy chương Động lực học chấtđiểm; môn vật lý đại cương ở trường cao đẳng Công thương thành phố Hồ ChíMinh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên trong quá trình dạy học vật líđại cương thông qua chương Động học chất điểm một cách khoa học thì có thểnâng cao chất lượng học tập của sinh viên về môn vật lí, góp phần nâng caochất lượng đào tạo của trường cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1.Nghiên cứu cơ sở lý luận về phương pháp dạy học vật lý Nghiên cứu cơ
sở lý luận của vấn đề tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
5.2 Nghiên cứu nội dung chương trình vật lý đại cương
5.3 Tìm hiểu thực trạng việc tự học của sinh viên trường Cao đẳng Côngthương thành phố Hồ Chí Minh
5.4 Đề xuất các nhiệm vụ, kỹ năng và nội dung bồi dưỡng năng lực tự học của
Trang 9chương Động học chất điểm.
5.5 Thực nghiệm sư phạm
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu lý luận dạy học đại học, lý luận dạy học vật lý, lý luận tự họcqua các tư liệu trong và ngoài nước
6.2Phương pháp điều tra
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.4 Phương pháp thống kê toán học
7 Đóng góp của luận văn
Trang 10CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC
TỰ HỌC CHO SINH VIÊN 1.1 Tự học trong quá trình dạy học
Dân tộc ta vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo Cha ông ta đã
để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng giáo dục cốt lõi là “ lấy việc học làm gốc”ngang tầm với những tư tưởng giáo dục trong thế giới hiện đại như là “ Học đểnên người”, “ Học để hành, hành để học”, “ Học một biết mười” “Đi một ngàyđàng, học một sàng khôn”, “ Học thầy không tầy học bạn”
Từ cách mạng tháng tám đến nay, với xuất phát điểm cực thấp, lại trãi quamột thời gian dài chiến tranh ác liệt, đất nước bao vây chia cắt, giáo dục ViệtNam có lúc đã từng là “ niềm tự hào của dân tộc”, là “ bông hoa của chế độ”,giáo dục đã trưởng thành lên qua ba lần cải cách giáo dục, song cả ba lần đềutập trung vào thay đổi mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục mà chưa đềcập trực diện đến cải cách phương pháp giáo dục
Ngay từ những năm 60, đã xuất hiện mong muốn hiện đại hóa, tích cực hóaquá trình giáo dục: “ Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhòi nhétcho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết Điềuchủ yếu là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập,phương pháp giải quyết vấn đề” Dạy học phải phát huy tích cực, chủ động,sáng tạo, tự học, tự rèn luyện của học sinh Thầy chủ đạo, trò chủ động Hoàibão khoa học cao quí lúc bấy giờ là: “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo”, “ Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”
“ Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” tức là khéo kết hợp quá trìnhdạy của thầy với quá trình tự học của trò thành một quá trình thống nhất biệnchứng: Quá trình dạy – tự học
Trang 11Mấy năm gần đây, quá trình dạy – tự học từ một hoài bão khoa học đangtrở thành một thực thể thực nghiệm, là kết quả nghiên cứu, ứng dụng, thửnghiệm của công trình “Ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấyngười học làm trung tâm” Từ cơ sở sư phạm, các nhà nghiên cứu và thựcnghiệm đã đi đến kết luận: thực chất của dạy – học tích cực lấy người học làmtrung tâm là dạy – tự học.
Quá trình dạy – tự học là kết quả của sự kết hợp truyền thống hiếu học, tựhọc và tư tưởng “ lấy việc học làm gốc” của dân tộc với tư tưởng và thành tựucủa giáo dục thế giới hiện đại, đặc biệt là các học thuyết về việc học, về cácphương pháp giáo dục hiện đại lấy người học làm trung tâm
Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạođều đã thống nhất một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Người là tự
học, tự đào tạo Người cho rằng “học cốt lõi là tự học”, Người dạy: Muốn học
suốt đời, làm việc suốt đời thì phải tự học, muốn tự học có kết quả thì phải có mục đích rõ ràng, lao động nghiêm túc, có các điều kiện cần thiết, tích cực luyện tập và thực hành
- Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm Ýtưởng dạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại, tùytheo từng giai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đãphát triển và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay Phương tây cổ đại
có phương pháp giảng dạy của Socrate (Hy lạp, 469 – 390 TCN), Arixtốt (384
– 322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người
học tự tìm ra kết luận Socrate gọi là “phép đỡ đẻ”, tư tưởng dạy học của ông
là “anh phải tự biết lấy anh” Khổng tử (479 – 355 TCN) ở phương Đông dạy
theo đối tượng và kích thích suy nghĩ của học sinh “Không tức giận vì muốnbiết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì bày vẽ cho Vật có
4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc thì không dạy nữa” (Luận
ngữ).
Trang 12- Đến thời kỳ phục hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung tâm
đã trở thành một tư tưởng, có nhiều nhà giáo dục vĩ đại đã coi trọng tự học
Môngtenhơ (1533 – 1592) được coi là một trong những ông tổ của Châu Âu
cho rằng muốn dạy học có hiệu quả, không nên bắt buộc trẻ em làm theo
những ý muốn chủ quan của thầy J.A Komenxkki (1592 – 1670) kêu gọi
người thầy phải làm cho học sinh có hứng thú trong học tập, từ đó nổ lực bản
thân tự nắm vững trí thức J.J Rousseau (1712 – 1778) yêu cầu người dạy cần hiểu rõ người học và quan tâm đến lợi ích của người học Ông nói: “ Đừng cho
trẻ em khoa học, mà phải để trẻ tự phát minh” A Disterweng (1780 – 1866):
“ người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra
chân lý” K.Đ Usinxki (1824 – 1873) cho rằng muốn dạy học tốt cần tìm hiểu
tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Fourrier (1772) rất coi trọng việc dạy học với thực tế J.Dewey (1859 – 1852) chủ trương giáo dục phải dựa vào kinh nghiệm
thực tế của trẻ Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ độclập tìm tòi, thầy giáo là người tổ chức, người thiết kế, người cố vấn
- Đầu thế kỷ XX đề cao sự hoạt động tích cực của học sinh, khuyến khíchhọc sinh tự xếp thời gian học theo khả năng, tự học lấy cho mình, tự mình thấytrách nhiệm trước việc học tập Trong dạy học đã tiến hành phân hóa, coi trọng
cá thể hóa, họ chủ trương để cho trẻ hoàn toàn tự do, phát triển trong từng trẻ
em những năng khiếu riêng biệt Những tâm lý này được nhiều nhà tâm lý,Giáo dục học đề cập đến như O Decroly, C.Freinel, J.Piagiet, B.F Skinner,
- Những năm cuối thế kỷ XX giáo dục toàn cầu càng nhấn mạnh đến giáodục lấy học sinh làm trung tâm, coi trọng tự học, tự đào tạo Quan niệm mới
về “ Học tập suốt đời: một động lực xã hội” sẽ giúp con người đáp ứng nhữngyêu cầu thế giới thay đổi nhanh chóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng
những có thật mà còn đang ngày càng mãnh liệt “ Không thể thỏa mãn những
đòi hỏi đó được, nếu mỗi con người không học cách học” Học cách học chính
là học cách tự học, tự đào tạo
1.2Hoạt động học và bản chất của hoạt động học
- Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học,dưới sự điều khiển sư phạm của thầy
Trang 13- Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệmkhoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.
- Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao táctrí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được trithức, kỹ năng, thái độ mới
- Tâm lí học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học sẽ
có hiệu quả nếu người học có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữacác khái niệm, quy luật, cách thức, để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tậptốt hơn
- Tâm lí học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành
những hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành động để đáp ứng
lại những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài Qua hoạt động học người học
hình thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để nối
quan hệ đó mạnh lên, vững chắc hơn Hoạt động học chính là quá trình “củng
cố sự trả lời” Với quan niệm về hoạt động học như vậy, việc học ở trạng thái thụ động và chất lượng hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả sự tác động của giáo viên.
- Hoạt động học được xác định là quá trình người học kiến tạo, xây dựng trí thức “Người học tự xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về
những tài liệu học tập, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại, bổ sung thêm những thông tin cần thiết để tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới” Lý thuyết kiến tạo
quan tâm đến những đặc điểm tâm lý bên trong của người học và việc thể hiện
nó, những yếu tố được xem là quan trọng hơn là những yếu tố tác động từ môitrường
- Lý thuyết thông tin cho rằng loài người thường xuyên xử lý thông tin.
Hoạt động học được xem là quá trình xử lý thông tin Người học đóng vai trò
là người tiếp nhận thông tin được đưa đến và xử lý nó Từ đó, giáo trình và tàiliệu tham khảo, các nguồn cung cấp thông tin đóng vai trò rất quan trọngtrong quá trình học tập
Trang 14- Tâm lí xã hội – văn hóa nhấn mạnh vai trò của hoạt động xã hội và văn hóa đối với học Trước hết, hoạt động học thực chất là quá trình sinh viên tham gia vào các hoạt động xã hội – văn hóa được giáo viên tổ chức Vì vậy, chất lượng hoạt động học của sinh viên phụ thuộc vào chất lượng tổ chức các hoạt động xã hội đó Hoạt động học là quá trình sinh viên tự khám phá môi trường trong quá trình hợp tác Giáo viên và sinh viên cùng hoạt động liên tục
và tác động qua lại lẫn nhau để cùng kiến tạo tri thức cho sinh viên Trong quá
trình đó, ban đầu người học bắt chước những phương thức hành động đã được
nền văn hóa chấp thuận với sự giúp đỡ của giáo viên và những sinh viên có khả năng cao hơn Sau đó sự giúp đỡ được rút dần để sinh viên có thể tự thực hiện những phương thức đó và dần dần nội tâm hóa chúng Như vậy, hoạt
động học chính là quá trình sinh viên tự chiếm lĩnh những phương thức hoạt
động đã tồn tại trong một nền văn hóa nhất định qua việc tham gia vào các
hoạt động xã hội – văn hóa được giáo viên tổ chức.
Trang 15Vưgôtxki đã phân biệt việc học trong cuộc sống hàng ngày và hoạt động
học xảy ra trong nhà trường Việc phân biệt này đã có ý nghĩa vô cùng to lớn
đối với tự học Hoạt động học được coi là một hoạt động đặc biệt, chú trọng đến sự thay đổi của chính bản thân mỗi sinh viên Hoạt động học xảy ra một
cách có chủ định, có mục đích và không là yếu tố bổ sung cho bất kỳ một hoạt
động chủ đạo nào khác Hoạt động học có chủ định có bốn đặc điểm cơ bản,
đó là: có đối tượng là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, nhằm phát triển trítuệ, năng lực người học, làm thay đổi bản thân người học; có tính chất tái tạo
và nhằm tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức, được điều khiển mộtcách có ý thức Ngoài ra, Vưgôtxki còn phân biệt việc học mang tính chấtkinh nghiệm (empirical learning) với việc học mang tính chất lý thuyết(theoretical learning) Việc học mang tính chất kinh nghiệm dựa trên quá trình
so sánh một số đối tượng khác nhau, tìm ra những đặc điểm chung có thể quansát được và trên cơ sở đó xây dựng khái niệm chung về nhóm đối tượng Nhưvậy, khái niệm được hình thành thông qua con đường đi từ cụ thể đến cái kháiquát Đây là hình thức học mang tính chất đặc trưng của trẻ trước khi đấntrường và cũng được sử dụng trong hệ thống nhà trường truyền thống Hìnhthức này có thể đạt hiệu quả cao, nếu người học thấy việc học hấp dẫn và thật
sự muốn học Điểm yếu nhất của hình thức học này là người học có thể hìnhthành những khái niệm sai lệch Người học hình thành những khái niệm dựatrên những đặc điểm chung của các đối tượng, trong khi đó những đặc điểmchung này chưa chắc đã là những đặc điểm chủ yếu làm cơ sở cho việc hìnhthành khái niệm Đây là hình thức học ở mức độ phát triển thấp Người học
thường sử dụng hình thức học này khi không có hệ thống dạy học được tổ
chức một cách phù hợp.
Trang 16Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho người học nhữngphương pháp chung và hoàn thiện để giải quyết một nhóm những vấn đề nhấtđịnh Những phương pháp này hướng người học đến những đặc điểm chủ yếu,chứ không phải là những đặc điểm chung của mỗi nhóm Người học dần dầnchiếm lĩnh và nội tâm hóa việc sử dụng những phương pháp đó thông quanhững hoạt động được tổ chức một cách đặc biệt Đây là một quá trình đi từkhái quát đến cụ thể Việc học này giúp hình thành những khái niệm khoahọc Các nhà khoa học Nga đã chứng minh rằng hình thức học này ít đòi hỏiluyện tập và nhớ một cách máy móc nên thường hấp dẫn người học, ít bị lỗi.Ngoài ra, hình thức học này đưa đến sự chiếm lĩnh hoàn toàn, mức độ lưu giữcao và tri thức được sử dụng một cách rộng rãi và có ý thức Có thể nói,
trường phái tâm lý học này thấy được rằng vai trò thúc đẩy sự phát triển nhận thức của dạy học phụ thuộc chủ yếu vào loại hoạt động học nào được tổ chức cho người học chứ không phải vào việc môn học nào được dạy trong nhà trường
Yếu tố văn hóa – xã hội đóng vai trò đặc biệt trong hoạt động học Sự
nhận thức là quá trình của cá nhân và được chia sẻ trong xã hội, được xã hộichuyển tải và chịu ảnh hưởng của những người khác trong giao lưu Văn hóa
và xã hội tác động đến việc sinh viên tư duy như thế nào, học cái gì Các chức
năng tâm lí cấp cao đều là những mối quan hệ xã hội đã được nôi tâm hóa.Các chức năng tâm lí cấp cao đều là những mối quan hệ xã hội đã được nộitâm hóa Việc học, tư duy và tri thức đều có được từ sự hợp tác, năng lực tựhọc được phát triển cao trong cách học hợp tác với những người khác
- Vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học:
Theo quan niệm tâm lí học tư duy thì sự học là một sự phát triển về chấtcủa cấu trúc hành động Cùng một biểu hiện hành vi bên ngoài giống nhaunhưng chất lượng hiệu quả của sự học ( mức độ lĩnh hội kiến thức cũng nhưđối với sự phát triển năng lực của học sinh) là khác nhau, tùy thuộc vào cấutrúc của hành động học cụ thể, ở đây hành vi được xem như biểu hiện ra ngoàicủa kết quả hành động, còn cách thức để đạt tới kết quả đó được xem như cấutrúc bên trong của hành động
Trang 17Như vây, sự học phải có quá trình hình thành và phát triển của các dạnghành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể.
Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó.Động cơ là một cái khách quan hàm chứa nhu cầu Cái khách quan ấy làm chohoạt động có đối tượng và là cái hướng hoạt động (mục đích) vào một kết quảnhất định Khi đó hoạt động của con người là hoạt động của chủ thể có ý thứcbao gồm một hệ thống các hành động tương ứng với các điều kiện và phươngtiện hành động, cấu trúc của lý thuyết hoạt động được xây dựng theo sơ đồsau:
Từ sự phân tích lý thuyết hoạt động và vận dụng nó vào trong dạy học như nêu
ở trên đều cần hiểu:
Học là hành động của chủ thể thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể chiếmlĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Mỗi tri thức mới họcđược của người học là sản phẩm hoạt động xây dựng tri thức mới
Phương tiện quan trọng để giáo viên định hướng hành động nhận thức của sinh
viên là câu hỏi.
- Định hướng hành động trong dạy học vật lí:
Mục đích Hành động
Trang 18Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của sinh viên trong dạy học, ta
có thể có ba mức độ định hướng được áp dụng trong quá trình dạy học cụ thể:
1 Hướng dẫn tái tạo là kiểu định hướng trong đó giáo viên hướng sinh viên vào việc huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động cái mà sinh
viên đã nắm được hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tường minh, sinh viên
có thể được nhiệm vụ mà họ đảm nhận (tiến hành theo angôrit đã biết trước)
2 Định hướng tìm tòi Đó là kiểu định hướng trong giáo viên không chỉ ra cho
sinh viên một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động mà sinh viên
cần áp dụng, mà giáo viên chỉ đưa ra cho sinh viên những gợi ý sao cho sinh viên
có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt
động thích hợp để giải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, có nghĩa đòi hỏi sinh
viên tự xác nhận hành động thích hợp trong tình huống không phải đã quen thuộc
đối với họ
3 Định hướng khái quát hóa chương trình hóa Đó là kiểu định hướng trong
đó giáo viên gợi ý cho sinh viên tương tự kiểu định hướng tìm tòi, nhưng giúp
sinh viên ý thức được đường lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề Sự
định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí Giáo viên thựchiện từng bước hướng dẫn sinh viên giải quyết nhiệm vụ
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sinh viên tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề đã
đặt ra
- Nếu sinh viên không đáp ứng được thì có sự trợ giúp tiếp theo của giáo viên
là sự phát triển định hướng khái quát hóa ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hóa chi tiếthóa thêm một bước) để thu hẹp phạm vi mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa
sức của sinh viên
- Nếu sinh viên vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên
chuyển sang kiểu định hướng tái tạo
* Trên cơ sở dựa vào ba mức độ (kiểu) định hướng nêu trên, giáo viên cầnchuẩn bị hệ thống câu hỏi định hướng đặt ra cho sinh viên, đó là điều kiện tốtnhất tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên
1.3 Một số vấn đề về tự học:
1.3.1 Một số quan niệm về tự học
Trang 19Có nhiều quan niệm về tự học.
- Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệthống tri thức và kỹ năng do chính sinh viên tiến hành trên lớp hoặc ở ngoài lớptheo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định
- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biết them, cóthầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốnhọc môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng
- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâuhơn, thậm chí hiểu khác bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác
- Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi
cả cơ bắp ( khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ tình cảm, cả nhân sinh quan ( như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ,không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi
đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biếtnào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của minh
- Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn kỹnăng thực hành có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự hướng dẫn trực tiếpcủa sở giáo dục, đào tạo
Như vậy, có thể quan niệm về tự học như sau: Tự học là người học tự quyếtđịnh việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hìnhthức phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra,kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm
1.3.2 Quy trình tự học
Từ quan niệm về tự học có thể hiểu quá trình tự học là quá trình được xuất phát
từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dự định,dựa vào những phương tiện nhận thức để tích lũy kinh nghiệm, tri thức và hànhđộng để đạt được kết quả nhận thức đó là mục tiêu của quá trình tự học
Quá trình tự học chỉ có thể đạt được mục tiêu thì phải có qui trình tự học Quytrình đó gồm có 4 giai đoạn: Lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch, tự kiểm tra, tựđiều chỉnh
Trang 20Đối với Sinh viên, qui trình tự học về nội dung các giai đoạn cần phải đạt đượcnhững vấn đề chính:
- Xây dựng kế hoạch tự học
o Cơ sở xây dựng kế hoạch
Sinh viên tự biết điều kiện sức khỏe, điều kiện kinh tế, khả năng học tập củamình, điều kiện môi trường học tập của bản than
Sinh viên phải biết chương trình (thời gian, nội dung, tư liệu học tập, thời khoábiểu ) của các môn học đang theo học
SV phải biết được các hoạt động xã hội của khoa, của nhà trường theo kếhoạch cố định và đột xuất
SV phải biết các phương pháp tự học cơ bản, các kỷ năng tự học cần phải rènluyện
Dựa vào những cơ sở trên tự mình lập kế hoạch tự học (tự học khi có giáo viên
ở các giờ học trên lớp, tại phòng thí nghiệm, ở xưởng trường và tự học ở nhà, ở thưviện phụ thuộc vào thời khoá biểu theo chương trình đào tạo của trừơng cho ngàyhọc của mình trong tuần và tháng của mỗi học kì SV mới tự sắp xếp cho mình kếhoạch hoạt động tự học theo kế hoạch mà tự mình lập ra Kế hoạch học tập củatừng ngày trong một tuần Kế hoạch tự học vạch ra cụ thể, chi tiết: từ …h….đến
….h: học môn gì? nội dung nào? cần phải làm gì? sử dụng phương pháp tự họcnào? sử dụng tài liệu, phương tiện tự học gì?, học ở đâu? từ …h…đến … h:nghỉ ngơi, thể thao, dạo chơi, ….v.v
- Thực hiện kế hoạch tự học
Để thực hiện được kế hoạch tự học đòi hỏi SV phải có nghị lực cao, kiên trì,tích cực thực hiện lịch biểu học tập cá nhân trong mỗi ngày của một tuần lễ Khithực hiện kế hoạch, do điều kiệm hoàn cảnh khách quan trong các mục của kếhoạch không được thực hiện, không hoàn thành thì phải thực hiện nó vào thời gian
dự trữ ( nghỉ ngơi) bù đắp để thực hiện có quyết tâm cao như thế mới có thể thựchiện được kế hoạch tự mình đề ra
- Tự kiểm tra, đánh giá kế hoạch tự học:
Trang 21SV phải có tinh thần tự giác tự kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch tựhọc của mình (thực hiện nghiêm túc, không nghiêm túc, chưa thực hiện được kếhoạch)
Tự kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động tự học theo kế hoạchtrong từng ngày về kiến thức, kỹ năng của từng môn học
- Tự điều chỉnh kế hoạch:
Nếu kế hoạch tự học phù hợp và có hiệu quả cho hoạt động tự học thì tiếp tụcduy trì Nếu không phù hợp, hay có những biến động đột xuất do khách quan( chương trình đào tạo, hoạt động xã hội của lớp, của các tổ chức xã hội trongtrường, …) hay do chủ quan ( sức khỏe cá nhân, điều kiện học tập của bản than,…)thì kế hoạch của từng ngày của tuần phải điều chỉnh
Có khi lịch tự học trong ngày phù hợp, nhưng hiệu quả chất lượng không caothì phải điều chỉnh lại việc sử dụng phương pháp, phương tiện tự học cho phù hợp
Bốn giai đoạn của qui trình tự học đối với SV được thể hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 3
Các giai đoạn nêu trên trong qui trình tự học không tách rời nhau mà đan xennhau, liên hệ với nhau một cách biện chứng Quá trình tự học ở mỗi người là mộtquá trình phủ định biện chứng liên tục, giải quyết các mâu thuẫn tạo nên quá trìnhbiến trình biến đổi bên trong người học, là quá trình tích lũy tri thức để người học
đi đến một trình độ cao hơn
Trang 22- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học không
đến trường, không cần sự hướng dẫn của giáo viên, người học tự lựa chọn mục tiêu
học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra,
đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cánhân với ý thức trách nhiệm
- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp với
thầy mà chủ yếu nghe giáo viên giảng giải qua phương tiện truyền thông
- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn: Người học trực tiếp làm việc với
tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp xâydựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức
- Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập: Học bài và
làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc thường xuyên của bất kỳ người học
nào
- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên – biến
quá trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trình dạy – tựhọc
- Tự học làm bài tập ở nhà: Người học tự tìm kiếm những bài tập và nghiên cứu
tìm cách giải
Trong luận văn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học này, đưa ra một số biện
pháp chủ yếu nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh viên hệ cao đẳng.
1.3.4 Dạy – tự học
- Bản chất cốt lõi của hoạt động học là phải hình thành và phát triển tính tích cực trong hoạt động học của sinh viên và rèn luyện cho sinh viên có được những kỹ năng cơ bản của năng lực tự học, tự nghiên cứu, làm cho sinh viên biết chiếm lĩnh “
toàn bộ bộ máy của môn học, cấu trúc lôgíc của môn học đó, các phương pháp đặt trưng của khoa học đó và biết ứng dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập và lao động” Dạy thực chất là dạy – tự học.
Trang 23- Theo Nguyễn Kỳ: thầy dạy để trò tự học, thầy dạy nhằm mục tiêu giúp cho trò
tự học, biết tự học suốt đời, có năng lực tự học sáng tạo Dạy và tự học có mối
quan hệ về mục tiêu giáo dục: “Thành công trong tự học là mục tiêu cuối cùng của
nhà giáo Tất cả vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh thân yêu” “Thầy dạy như thế nào cho trò biết cách tự học và phát triển năng lực tự học, tác động dạy bên
ngoài của thầy vật chất hóa hoạt động tự học bên trong của trò; dạy và tự học cómối quan hệ về phương pháp dạy và tự học, về ngoại lực và nội lực”
- Dạy – tự học là một quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độquản lý và thực hiện:
(1) Ở cấp độ quản lý có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên (cơ quan
quản lý) và cấp dưới (người thực hiện) dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng củangành Để đảm bảo dạy – tự học đạt yêu cầu chất lượng thì cấp quản lý phải tạođiều kiện cần thiết cho dạy tự học và phải theo dõi, kiểm tra đánh giá thường xuyênqua trình và kết quả của việc dạy học
(2) Ở cấp độ thực hiện có mối quan hệ điều khiển ngang giữa người dạy và
người học trên cơ sở hợp tác và bình đẳng, cùng đảm bảo chất lượng theo yêu cầu
Trang 24+ Ghi chép theo kiểu luận đề: trình bày ngắn gọn nội dung quan trọng củamột vấn đề, luận điểm của một phần, một chương, … của tài liệu theo ngôn ngữcủa mình Đòi hỏi phải đọc tìm ra được những ý chính, nội dung chính tác giả tàiliệu trình bày cái gì? Ghi lại tóm tắt nội dung không làm sai lêch nội dung, tưtưởng của tác giả - tác phẩm.
+ Ghi chép tự do: là cách ghi chép cảm xúc suy nghĩ của bản thân về mộtvấn đề, nội dung của tài liệu trong đó có thể phân tích, so sánh, đánh giá, …theo
ý kiến của bản than Trong cách ghi này có thể lồng ghép cách ghi theo kiểu đềcương, theo kiểu trích dẫn hoặc theo kiểu luận đề Phương pháp ghi chép theokiểu tự do đòi hỏi tư duy độc lập và tư duy phê phán của người học
- Phương pháp nghe kết hợp ghi chép: yêu cầu SV tập trung tư tưởng theodõi bài giảng của GV kết hợp ghi chép Ghi những thông tin GV ghi trên bảng, tựghi chép lại một cách tóm tắt những thông tin GV trình bày ( thông báo, giớithiệu, ví dụ,…) mà GV không ghi lên bảng nhưng bản thân thấy cần thiết chomình thì phải tự mình ghi lại vào vở
- Phương pháp sử dụng từ điển, từ điển bách khoa, sổ tay tra cứu và máyinternet
Mỗi khi gặp một từ, một khái niệm, một đại lượng vật lí,…mà bản thankhông hiểu rõ, không biết thì phải sử dụng từ điển, sổ tay tra cứu,…
Sinh viên phải biết cách sử dụng các phương tiện đó để tìm kiếm thông tinmột cách chính xác, nhanh nhất Đối với mạng internet cần phải biết các địa chỉcủa lĩnh vực cần tìm
- Phương pháp ghi nhớ thông tin: Những thông tin quan trọng, người họcphải nhới để rồi có thể tái hiện sử dụng Mỗi khi có thời gian rỗi hoặc theo kếhoạch ôn tập thì người học phải chủ động đọc lại, nhẩm lại, diễn đạt lại bằngngôn ngữ nói hoặc viết, giải lại các bài tập theo mẫu, ôn tập lại nhiều lần để nhớlâu và chính xác
- Phương pháp đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi: Nói đến việc đặt câu hỏi và trảlời câu hỏi là vấn đề lớn về mặt lý luận Ở đây buổi đầu mức độ là biết đặt nhữngcâu hỏi tái hiện và phát hiện vấn đề trong nội dung tài liệu học Khi đọc xong mộtđoạn văn bản, nghe một nội dung về vấn đề nào đó người học phải tự mình đặt ra
Trang 25Nội dung chính của vấn đề? Hiện tượng đã xảy ra như thế nào?; vì sao?;…các mối quan hệ giữa các đại lượng dựa vào qui luật nào, định luật nào?;.v v…
Để trả lời câu hỏi thì phải biết phân tích câu hỏi để xác định đúng nội dungcần trả lời, cầb tìm kiếm thông tin Có thông tin về vấn đề cần trả lời thì ngườihọc phải biết lập luận diễn đạt bằng ngôn ngữ nói hoặc viết
Sinh viên biết cách đọc, cách ghi chép, cách tìm kiếm thông tin, cách ghinhớ thông tin, cách hỏi và trả lời đó là những phương pháp cơ bản của hoạt động
tự học
Nắm vững và vận dụng tốt các phương pháp tự học sẽ giúp cho SV hìnhthành và phát triển các kỹ năng quan trọng như: kỹ năng thu thập, tìm kiếm thôngtin, kỹ năng xử lí thông tin giải quyết vấn đề; kỹ năng vận dụng kiến thức;…
1.5 Năng lực tự học:
Trong tâm lí học có nhiều định nghĩa về năng lực Dựa vào các định nghĩa
về năng lực của P.A Ruđich, A.G Côvaliôp, N.X Lâytex, Phạm Minh Hạc,
….chúng ta có thể hiểu: Năng lực là phẩm chất tâm lý (những đặc điểm tâm lí) củamỗi con người tạo ra điều kiện để có tốc độ, bề sâu, kết quả và chất lượng, có tínhđộc lập và sáng tạo trong một hoạt động nào đó
Giữa mỗi người có sự khác nhau về năng lực vì thế mà kết quả hoạt độnghọc tập, làm việc có các mức độ khác nhau
Năng lực tạo điều kiện trong việc tiếp thu tri thức, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảođối với người học
- Năng lực tự học;
Dựa vào bản chất của khái niệm năng lực, thì năng lực tự học là khả năng tựmình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống tương tự hoặc tìnhhuống mới đạt chất lượng cao
1.6 Các nhiệm vụ học tập của sinh viên
1.6.1 Các nhiệm vụ học tập
Lý luận dạy học đại học chỉ rõ 3 nhiệm vụ quan trọng trong quá trình đàotạo Dựa vào các nhiệm vụ đó, chúng ta xác định nhiệm vụ học tập đối với sinhviên, đó là:
Trang 26Nhiệm vụ 1: Sinh viên biết tự học trang bị cho mình hệ thống tri thức khoahọc hiện đại ( trong quá trình học các môn cơ bản, các môn cơ sở, các môn chuyênngành của chương trình đào tạo); có được các kĩ năng, kĩ xảo tương ứng đối vớitừng môn học, biết và vận dụng tốt các phương pháp nghiên cứu và phương pháp
tự học liên quan đến nghề nghiệp tương lai
Nhiệm vụ 2: Thường xuyên tự bồi dưỡng năng lực hoạt động trí tuệ
Trong quá trình học tập SV phải phát huy cao độ tính tích cực nhận thức, tựlực rèn luyện các thao tác tư duy để có được những phẩm chất trí tuệ cơ bản ( cótính định hướng, có bề rộng, có tính linh hoạt, có tính mềm dẻo, có tính độc lập, cótính nhất quán, có tính khái quát, có tính phê phán)
Nhiệm vụ 3: Trong quá trình học tập phải biết hình thành để có thế giớiquan khoa học, trau dồi những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ khoahọc kỹ thuật, có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, biết năng động vàsáng tạo; có khả năng thích ứng với những thay đổi nghề nghiệp khi ra trườngbước vào làm việc trong nền kinh tế thị trường; có bản lĩnh tự tạo việc làm, có ýthức thực hiện nghĩa vụ công dân
Để thực hiện tốt 3 nhiệm vụ trên, SV cần được bồi dưỡng những kỹ năng tựhọc Đó là những kĩ năng:
- Kĩ năng khai thác, tìm kiếm thông tin
- Kĩ năng xử lí, đánh giá thông tin
- Kĩ năng áp dụng, biết đổi, phát triển thông tin
- Kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
- Kĩ năng giao tiếp, qua các hình thức tương tác: SV – GV; SV – SV;
SV – công nhân trong xí nghiệp, nhà máy; SV – với cán bộ đối tượng khác trong
xã hội
- Kĩ năng lập kế hoạch tự học
- Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá
1.6.2 Nội dung bồi dưỡng năng lực tự học:
Một số nội dung năng lực tự học cần được bồi dưỡng cho sinh viên trong quá trìnhhọc tập môn vật lí đại cương ở trường Cao đẳng Công Thương TP Hồ Chí Minh
Trang 27Để có năng lực này đòi hỏi SV phải biết quan sát các hiện tượng vật lí, quá trìnhcủa một hiện tượng, biết: phân tích, so sánh, tổng hợp, suy luận, khái quát hóa đó
là tìm ra qui luật về nguyên lí, về một định luật, về một qui tắc
- Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực này đòi hỏi SV phải có những kiến thức về vật lí, biết hoạt động nhậnthức theo con đường nhận thức vật lí ( phương pháp nghiên cứu vật lí), hoạt động
sáng tạo khoa học trong nghiên cứu vật lí, (trong tài liệu của Phạm thị Phú (2010)
Chuyển hóa PPNC Khoa hoạc vật lí thành PPDH vật lí.) : vấn đề giả thiết
hệ quả logic kiểm tra bằng thực nghiệm thực tiễn
Trong hoạt động giải quyết vấn đề SV phải dựa vào những kiến thức, kinhnghiệm của mình để đề xuất giả thiết ( mô hình giả định)
Từ giả thiết dựa vào suy luận logic để có được những hệ quả Sau đó dùng thínghiệm để kiểm tra hệ quả
Nếu kết quả thực nghiệm phù hợp thì giả thiết ( mô hình) là tri thức mới, nếukhông phù hợp ( phủ định) thì phải điều chỉnh lại giả thiết hoặc đưa ra giả thiếtmới
- Năng lực vận dụng kiến thức
Sau khi SV nắm vững các khái niệm, các định luật, các qui tắc, các nguyên lí,các thuyết vật lí và các PPNC vật lí yêu cầu phải có năng lực vận dụng các kiếnthức vật lí đó vào giải quyết các bài toán vật lí: giải được các bài tập vật lí có tronggiáo trình mà GV giao nhiệm vụ, tự giải quyết định những bài toán thực tiễn củađời sống liên quan đến kĩ thuật và công nghệ
1.7 Thực trạng năng lực tự học của sinh viên trường cao đẳng Công thương thành phố Hồ Chí Minh
1.7.1 Nhận thức của sinh viên về vấn đề tự học theo hệ thống tín chỉ
Tự học có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình học Cao đẳng của sinh viên
Tự học nhằm phát huy tính tự giác học và nghiên cứu Việc tự học đối với sinh viên
có vai trò hết sức quan trọng vì qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khảnăng tư duy và sáng tạo của cá nhân Hầu hết sinh viên đều nhận thức rằng vấn đề tự
học là quan trọng khi áp dụng theo học chế tín chỉ (83%), tuy nhiên việc tự học này đồng nghĩa với hình thức học cá nhân (62,1%), không phụ thuộc vào người khác và
Trang 28không cần sự cộng tác của bạn bè Sinh viên cho rằng đây là yêu cầu tối thiểu củamột sinh viên Ngoài ra phải giao lưu học hỏi ở các bạn khác ngành, các lớp đàn anh
để nâng cao trình độ và nắm bài tốt hơn Học theo chương trình tín chỉ hóa nên việc
tự học là rất quan trọng, tuy nhiên để nhằm bổ sung thêm kiến thức sinh viên thườngtạo ra những nhóm học để các bạn dễ dàng trao đổi kiến thức và giúp đỡ nhau trong
học tập Có lớp cho rằng việc tự học có nghĩa là học theo nhóm (61,3%) Sinh viên
cho rằng tự học theo nhóm mang lại hiệu quả cao nhưng cũng có ý kiến cho rằngvào học chỉ lo trò chuyện, cười giỡn không thể tiếp thu được nhiều nên hiệu quảkém Theo ý kiến của một số sinh viên muốn học nhóm có hiệu quả cao thì cần tuânthủ một số điều quan trọng như không nói chuyện, đùa giỡn trong khi học, phải cómột trưởng nhóm có kiến thức vững và biết cách truyền tải lượng kiến thức đó mộtcách hiệu quả nhất, biết điều tiết “nhiệt độ” học và biết phân bố thời gian học hợp lý
và sinh động để các thành viên học không bị chán
Về vai trò quan trọng của Thư viện, qua thống kê cho thấy phần đông sinh
viên rất ít đến nơi này để học hỏi (tỉ lệ lần lượt là 68,2% và 52,9%) Tự học ở nhà riêng là giải pháp được ưa chuộng hiện nay của sinh viên (51,6%), trong khi số sinh viên đến trường học ở Thư viện là 18,2% và học bất cứ ở phòng trống của các nhà học là 30,2%.
Khi tự học sinh viên có thể chủ động được quỹ thời gian mà không bị ràng buộc,
có thể học bất cứ lúc nào Từ đó giúp sinh viên nắm kiến thức vững chắc và có thểhiểu sâu và nhớ kỹ hơn các vấn đề (tự học nên nhớ lâu hơn) Ngoài ra, việc tự họccòn nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác làm việc theo nhóm, khi đó sinhviên có thể thể hiện tính sáng tạo trong tư duy và linh hoạt nhạy bén trong suy nghĩ,điều quan trọng hơn hết là sinh viên có thể đi sâu hơn so với thực tế nhằm rèn luyện
kỹ năng phân tích tình hình và đưa ra quyết định, đây là một yếu tố cần và đủ để saunày khi rời khỏi ghế nhà trường sinh viên sẽ không bỡ ngỡ khi làm việc ở môitrường thực tế Việc tự học giúp cho sinh viên có thể tiếp thu tốt bài giảng trên lớphay củng cố lại các kiến thức đã học, mở mang thêm nhiều kiến thức mới qua sách
vở và mạng Internet phục vụ cho chuyên ngành nghiên cứu, nâng cao kỹ năng làmviệc nhóm, tạo môi trường học tập tiến bộ và tiên tiến,…
1.7.2 Phương tiện và trang thiết bị hỗ trợ cho việc tự học
Trang 29Đánh giá về nguồn tư liệu và sách tham khảo chuyên môn ở Thư viện, số
liệu thống kê cho thấy có 51,7% không rõ được nguồn sách và hoàn toàn không biết
có đủ hay không Có 47,8% sinh viên cho rằng nguồn tư liệu và sách chuyên môn ở
Thư viện còn thiếu chưa đáp ứng cho việc học tập của sinh viên Tuy nhiên con số
thống kê này chưa nói lên được thực trạng khảo sát vì có đến 63,8% rất ít đến thư
viện Điều này phản ánh thực trạng là sinh viên không đến hoặc rất ít đến những nơi
kể trên và như thế thiếu thông tin khi trả lời các câu hỏi đề ra
Do yêu cầu tự học nên đòi hỏi sinh viên phải có khả năng ngoại ngữ để tra cứuthông tin, đọc tài liệu Tuy nhiên, trình độ ngoại ngữ của sinh viên còn nhiều hạnchế nên rất khó để tiếp cận với các nguồn tài liệu nước ngoài Một chỉ số khác cho
thấy có đến 86,2% số lượng sinh viên xác định sự hạn chế của bản thân là vấn đề
ngoại ngữ khi tiếp cận nguồn tài liệu Học phí cho sinh viên khi đăng ký học ngoạingữ tại trung tâm ngoại ngữ còn cao nên những sinh viên có hoàn cảnh khó khănkhông đủ điều kiện kinh tế để được học,
Về việc sinh viên được phép sử dụng phòng máy tính công của nhà trường
để truy cập tài liệu, số liệu khảo sát cho thấy lần lượt là 66,5% Điều này cho thấy
sinh viên hiểu rõ được tầm quan trọng của công nghệ thông tin là công cụ cho họctập Tuy nhiên trong thực tế đa số sinh viên vẫn còn ngại và cho rằng phòng máytính công của nhà trường và Khoa không đáp ứng cho sinh viên khi cần học tập Đểkết luận vấn đề này, cần khảo sát thêm số liệu thống kê về tình trạng sinh viên sửdụng máy tính công của nhà trường, mức độ sử dụng của sinh viên năm 1, 2 và 3 cókhác nhau hay không
Phòng máy tính công đã phát huy tác dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viêntham khảo tài liệu, tuy nhiên cần mở rộng thời gian hoạt động để sinh viên có dịpvào học ban đêm do quá tải giờ lên lớp Do không có nhiều phòng tự học nên rấtnhiều sinh viên phải ngồi học ngay tại hành lang nhà học, điều này ảnh hưởng rấtlớn đến hiệu quả học tập Một nghịch lý đang tồn tại: sinh viên thường tự học ngoàigiờ nhưng hầu hết các thư viện lại đóng cửa ngoài giờ Nguồn tài liệu thư viện phầnlớn đọc tại chỗ, thiếu phiên bản Máy tính bị hư hỏng nhiều, mạng kết nối chậm gâymất nhiều thời gian, thiếu máy tính trong những ngày đăng ký môn học Nhiềuphòng học thiếu quạt và bị hư hỏng bàn ghế nhiều Phòng máy tính không đủ sốlượng phục vụ sinh viên trong những ngày cao điểm (cuối học kỳ, chuẩn bị báo cáo
Trang 30giữa kỳ…) Cần có giám sát, quản lý việc sử dụng máy tính vì không ít sinh viên sửdụng không đúng mục đích (chơi games, đọc báo,…) Phòng máy tính tuy đượctrang bị nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của sinh viên Mặt khác, kỹ năngtìm kiếm thông tin trên Internet phục vụ cho học tập của sinh viên chưa cao.
1.7.3 Nắm vững qui chế học vụ và chương trình đào tạo
Có đến 66,7% số lượng sinh viên được khảo sát cho thấy không nắm rõ về
qui chế học vụ Điều này ảnh hưởng khá nhiều đến tiến trình học tập: lập kế hoạchhọc tập theo chương trình đào tạo khuyến khích ở Khoa đề ra, phân bố các môn họctheo thời gian học Nắm vững nội dung chương trình đào tạo và tính tiên quyết cũngnhư thứ tự của môn học là rất quan trọng cho sinh viên trong quá trình lập kế hoạch
học tập Có 64,2% số lượng sinh viên trả lời là có tham khảo chương trình đào tạo
ngành mình học, tuy nhiên qua thực tế của việc lập kế hoạch học tập còn khá nhiềutrường hợp chưa hiểu được tính thứ tự cần thiết khi bố trí các môn học trong các họckỳ
1.7.4 Chuẩn bị nội dung khi đến lớp học tập
Việc đầu tư tự học để chuẩn bị cho buổi học kế tiếp thường không được quan
tâm đúng mức Có đến 86,2% số lượng sinh viên không có thói quen xem bài trước
khi lên lớp Điều này nói lên sự quá tải trong quá trình học và không còn thời gian
để tự học ở nhà Khi nghe giảng trên lớp có 72,4% số lượng sinh viên ghi chép ý
chính, chủ yếu dựa vào nội dung giáo trình hoặc bài giảng in sẵn để theo dõi
Đa số sinh viên do chuẩn bị chưa kỹ nên vấn đề đặt câu hỏi trên lớp rất ít
xảy ra, qua khảo sát cho thấy có 63,8% số lượng sinh viên thỉnh thoảng mới tham
gia đặt câu hỏi Điều này cho thấy sự thụ động của sinh viên trong quá trình học vàkhông có tính khám phá, năng động sáng tạo trong khi nghe giảng trên lớp
Ngoài ra số liệu thống kê còn cho thấy sinh viên ít chịu đọc lại những nội
dung đã học, số liệu khảo sát cho thấy có 77,6% số lượng sinh viên xác nhận là
thỉnh thoảng mới đọc lại nội dung đã học
Có 48,3% số lượng sinh viên cho rằng tìm hiểu kiến thức bên ngoài giáo trình,
sách chuyên môn để bổ sung trong quá trình học là quan trọng và cần phải thường
Trang 31xuyên thu thập Truy cập bổ sung kiến thức chuyên môn từ nguồn Internet vẫn là
chủ yếu, có đến 63,8% số lượng sinh viên đồng ý với quan điểm này.
Việc tự học khuyến khích tinh thần học tập của bản thân do có động lực tác động
từ giảng viên, cố gắng tìm tòi thu thập thông tin từ bên ngoài để theo kịp bài giảngngày tiếp theo của giảng viên Việc tự học còn gắn kết mối quan hệ bạn bè để traođổi học hỏi lẫn nhau, giúp sinh viên có khả năng làm việc độc lập, có khả năng xử lýtình huống đột xuất, khắc phục thói quen lười biếng, xem nhẹ việc học của mỗi cánhân
1.7.5 Những nguyên nhân làm hạn chế của việc tự học của SV
Theo ý kiến của sinh viên thì một trong những nguyên nhân khó thực hiện việc tựhọc là do phải học quá nhiều môn học trong một học kỳ Do đó sinh viên không cònthời gian cho việc tự học.Về giải pháp để bắt buộc sinh viên tham gia tự học, số liệu
khảo sát cho thấy có 50,7% cho là giáo viên nên dạy theo chuyên đề và buộc sinh viên phải làm seminar theo nhóm ở các buổi lên lớp; có 32,7% đề nghị giáo viên nên
khuyến khích sinh viên tự học là chính Số liệu phân tích trên cho thấy nếu dạy theochuyên đề thì giáo viên phải chọn cách dạy sao cho phù hợp (dạy theo chuyên đề, dạytheo tình huống, dạy theo block….) và sinh viên phải đầu tư nhiều vào nội dung mônhọc để làm seminar Thực tế cho thấy, thời gian trước đây sinh viên học theo hệ niênchế, giáo viên môn học nào cũng yêu cầu sinh viên làm seminar theo dạng chuyên đề,mất khá nhiều thời gian Vấn đề này còn nhiều tranh cãi và không đồng tình về phíasinh viên do quá tải về đầu tư công sức cùng lúc cho nhiều môn học khác nhau
Theo ý kiến của sinh viên đề xuất nên tổ chức định kỳ hàng năm hội thảo về vấn
đề tự học theo học chế tín chỉ, qua đó giúp cho sinh viên luôn ý thức về tầm quantrọng của việc tự học và tìm ra giải pháp mới áp dụng cho phương pháp tự học Theo
số liệu khảo sát thì đa số sinh viên cho rằng việc xác lập phương pháp học tập theohình thức tự học là rất quan trọng, việc này quyết định thành công cho việc học theo
hệ thống tín chỉ (56,7%).
Qua phân tích thực trạng việc tự học của sinh viên cho thấy còn khá nhiều điềuphải bàn để cải thiện việc tự học của sinh viên Những trở ngại chính sinh viên cầnphải khắc phục trong quá trình học tập:
Trang 32- Khó khăn đầu tiên là thời gian Theo qui chế của nhà trường, trong 1 học kì sinhviên có thể đăng kí tối đa 20 tín chỉ Điều này đồng nghĩa với việc mỗi tuần sinhviên phải tham gia 20 tiết học trên lớp, cộng với 40 tiết tự học thì tổng tiết học trongmột tuần mà sinh viên phải học là 60 tiết
- Tính thụ động của sinh viên, lười đọc sách, ôn bài ở nhà, chỉ đợi đến giờ lên lớp làvào học, không đầu tư kiến thức chuyên môn mặc dù đã có trang bị giáo trình, bàigiảng sẵn có trong tay
- Chỉ học những gì giáo viên nêu ở lớp, nếu giáo viên tóm tắt vấn đề thì sinh viên mớinắm được, đây là kiểu học ở bậc phổ thông, mang tính từ chương
- Chưa nắm được phương pháp tự học và cách học ở bậc đại học, nhất là bước chuẩn
bị nội dung ở nhà cho lần lên lớp kế tiếp Thật ra lần lên lớp kế tiếp cách nhau 1 tuần,không thể nói là không có thời gian chuẩn bị cho 1 môn học!
- Một trở ngại lớn nữa là vấn đề mưu sinh, sinh viên gặp phải điều kiện kinh tế khókhăn, phải đi làm thêm, đôi khi không dự lớp và không có thời gian tự học, vì thế chấtlượng học tập kém và không theo nổi việc học
- Vấn đề ngoại ngữ là một trở ngại lớn đối với việc sinh viên tự học Khi đã bướcsang năm thứ 2 và 3, tất yếu là sinh viên cần phải đọc thêm nhiều tài liệu chuyênmôn, đa phần là sách nước ngoài, tài liệu tiếng Việt không nhiều, vì thế sinh viênkhông thể tích lũy kiến thức chuyên ngành theo kiểu tự học qua sách, tài liệu chuyênmôn ngoại ngữ
- Việc học nhóm gặp nhiều khó khăn do thời khóa biểu khác nhau
- Không có phòng cho sinh viên tự học đặc biệt là học nhóm
- Làm việc nhóm: đôi khi còn đùn đẩy cho nhau, chưa phát huy hết tính tự giác tronghọc tập
Trang 33Kết luận chương I
Chúng tôi đã nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học trong quá trình dạy học, chothấy:
Tự học trong quá trình dạy học đã được nghiên cứu và vận dụng từ lâu theo lịch
sử phát triển của nhà trường trên thế giới
Tự học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Đối với sinh viên ở cáctrường Đại học và Cao đẳng, tự học là động lực biến quá trình đào tạo thành quátrình tự đào tạo
Tự học gắn liền với hoạt động tư duy và hoạt động nhận thức độc lập, tự lực củangười học
Muốn tự học tốt phải biết các phương pháp tự học (phương pháp đọc, phươngpháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lời câu hỏi,…); phương pháp phát hiệnvấn đề và phương pháp giải quyết vấn đề
Quá trình tự học người học phải biết: Lập kế hoạch – Thực hiện kế hoạch – Tựkiểm tra – Tự điều chỉnh, các hoạt động này được tiến hành theo một chu trình kín
Để giúp sinh viên tự học tốt giáo viên phải dạy học theo định hướng Dạy – Tựhọc
Chúng tôi đề xuất 3 nhiệm vụ quan trọng đối với Sinh viên nói chung và đối với
SV trường Cao đẳng Công Thương TP Hồ Chí Minh nói rằng trong quá trình họctập môn Vật lí đại cương Trên cơ sở đó xác định những kĩ năng tự học cụ thể vànội dung cần thiết bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên Đây là định hướng đểxây dựng các tiến trình dạy học, tổ chức hoạt động dạy học chương Động học chấtđiểm theo định hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho SV các trường đại học, caođẳng trong giai đoạn hiện nay
CHƯƠNG II:
DẠY HỌC CHƯƠNG ‘‘ĐỘNG HỌC CHẤT ĐIỂM” THEO ĐỊNH HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
Trang 342.1 Dạy học vật lí đại cương cho SV Cao đẳng Công Thương TP.Hồ Chí Minh
Vật lý học là ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu những qui luật và bản chất của sự vận động, trong đó Cơ học đi sâu nghiên cứu sự chuyển động của các vật thể, tức là sự thay đổi vị trí của vật trong không gian theo thời gian
Trong chương trình VLĐC, Cơ học là môn học đầu tiên và là học phần của khối kiến thức cơ bản Những kiến thức của môn học vật lí đại cương là cơ sở và tiền đề cần thiết để học tốt các môn tiếp theo trong chương trình đào tạo của trườngCao đẳng Công Thương TP.Hồ Chí Minh
Phần Cơ học nghiên cứu chủ yếu là Cơ học cổ điển, khảo sát những vật có kích thước lớn hơn nhiều so với kích thước nguyên tử Con đường hình thành kiến thức vật lý chủ yếu vẫn là con đường thực nghiệm theo các bước sau:
- Nêu sự kiện khởi đầu
- Xây dựng giả thuyết
- Kiểm tra giả thuyết, xây dựng kiến thức về sự kiện được xét đến
- Vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Phần lớn những kiến thức học vấn phổ thông của môn Cơ học SV đã có quen từbậc phổ thông, do đó những khái niệm, những định luật, định lí,… khá quen thuộc với SV Tuy nhiên, ở bậc phổ thông, SV chỉ nắm được những lý thuyết cơ bản và vận dụng được vào những bài tập rất đơn giản Phần Cơ học ở VLĐC sẽ giúp cho
SV nắm kỹ hơn, đào sâu hơn những kiến thức đó và có thể vận dụng chúng nhiều hơn trong thực tiễn đời sống và kỹ thuật
Mặc khác, đây là môn học mang tính chất nhập môn đối với SV các trường Caođẳng nghề vì thế giảng viên khi giảng dạy học phần này cần phải tạo được sự hứng thú học tập cho SV, giúp SV làm quen với các phương pháp nhận thức vật lý, và phương pháp tự học Đó là một việc hết sức quan trọng mang ý nghĩa quyết định đến việc góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề
Một trong những điều kiện để học tốt phần Cơ học là SV đã được trang bị tương đối đầy đủ các cơ sở toán học, cụ thể là SV đã được học các học phần toán cao cấp A1
Trang 35Phân tích chương trình, nội dung dạy học theo giáo trình vật lí đại cương dành cho SV Cao đẳng Công Thương Tp Hồ Chí Minh chúng ta có sơ đồ logic nộidung (sơ đồ 1) đối với chương Động học chất điểm
Sơ đồ 1
Trang 362.3 Sơ đồ logic nội dung kiến thức của từng bài học, nội dung kiến thức tóm tắt SV phải nắm vững
BÀI 1 CHUYỂN ĐỘNG CƠ
A. Sơ đồ logic nội dung kiến thức \
Sơ đồ 2
B Nội dung tóm tắt SV phải nắm vững
BÀI 1: CHUYỂN ĐỘNG CƠ (tìm hiểu một số khái niệm liên quan đến ch.động cơ)
Xác định th.gian c.động ( đồng hồ)
Chuyển động tịnh tiến
Hệ quy chiếu
Phương trình chuyển
động Phương trình quỹ đạo
Trang 37- Chuyển động cơ là sự dời chỗ của vật theo thời gian Khi vật dời chỗ thì
có sự thay đổi khoảng cách giữa vật và những vật khác coi như đứng yên Vật đứngyên gọi là vật mốc
- Chuyển động cơ có tính tương đối
2 Chất điểm Quỹ đạo chất điểm:
- Khi khảo sát chuyển động của một vật, nếu kích thước của vật rất nhỏ sovới phạm vi chuyển động của nó thì vật được coi là một chất điểm, chỉ như mộtđiểm hình học và có khối lượng bằng khối lượng của vật
- Khi chuyển động thì chất điểm vạch một đường trong không gian gọi làquỹ đạo
3 Xác định vị trí của một chất điểm:
- Để xác định vị trí của một chất điểm, người ta chọn một vật mốc, gắnvào đó một hệ tọa độ thích hợp, khi đó vị trí của chất điểm được xác định trong hệtọa độ này
Phương trình này biểu diễn vị trí của chất điểm theo thời gian và gọi là phương
trình chuyển động của chất điểm.
Trang 38Trong hệ tọa độ Đề-các, phương trình chuyển động của chất điểm là một hệ gồm baphương trình :
x = x(t);y = y(t) ;z = z(t) Tương tự, trong hệ tọa độ cầu, phương trình chuyển động của chất điểm là :
r = r(t);q = q (t);j = j (t)
6 Phương trình quĩ đạo :
Khi chuyển động, các vị trí của chất điểm ở các thời điểm khác nhau vạch ra trong
không gian một đường cong liên tục nào đó gọi là quĩ đạo của chuyển động Phương trình mô tả đường cong quĩ đạo gọi là phương trình quĩ đạo Trong hệ tọa độ Đề-các
phương trình quĩ đạo có dạng :
f(x,y,z) = C
trong đó f là một hàm nào đó của các tọa độ x, y, z và C là một hằng số.
Về nguyên tắc, nếu ta biết phương trình chuyển động (I.1) thì bằng các khử tham số
t ta có thể tìm được mối liên hệ giữa các tọa độ x, y, z tức là tìm được phương trình
quĩ đạo Vì vậy, đôi khi người ta còn gọi phương trình chuyển động (I.1) là phương
trình quĩ đạo cho ở dạng tham số.
7 Chuyển động tịnh tiến:
Khi vật chuyển động tịnh tiến, mọi điểm của nó có quỹ đạo giống hệt nhau, cóthể chồng khít lên nhau
C. Hướng dẫn SV nghiên cứu sâu nội dung
- Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi sau:
1. Hệ qui chiếu là gì? Tại sao nói khái niệm chuyển động hay đứng yênchỉ có tính chất tương đối? Cho ví dụ minh họa
2. Hãy phân biệt hệ tọa độ và hệ quy chiếu Cho ví dụ?
3 Định nghĩa chất điểm? Định nghĩa chất điểm có tính chất tương đồihay tuyệt đối? Tại sao? Cho ví dụ
4 Phân biệt sự khác nhau giữa phương trình chuyển động và phương trìnhquĩ đạo của chuyển động
Trang 395 Khi xe đạp chạy trên đường thẳng, một điểm trên vành bánh xe sẽ vẽ
một đường tròn Đúng hay sai?
6 Muốn xác định chuyển động của một vật cần xác định những yếu tốnào?
7 Nêu định nghĩa chuyển động tịnh tiến, cho ví dụ
Vận tốc trung bình
Vectơ vận tốc trong hệ tọa độ đềcạc
Trang 40Sơ đồ 3
B Nội dung tóm tắt SV phải nắm vững
1 Độ dời:
a/ Độ dời:
Xét chuyển động của chất điểm theo một quỹ đạo bất kì, tại thời điểm t1
ch.điểm ở vị trí M1, th.điểm t2 ch.điểm ở vị trí M2 Trong khoảng thời gian t = t2 -
t1 chất điểm đã dời từ M1 đến M2
Véctơ M M 1 2
gọi là véctơ độ dời của chất điểm trong khoảng thời gian trên.b/ Độ dời trong chuyển động thẳng: