1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ nguyễn khoa điềm nhìn từ góc độ ngôn ngữ

94 735 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thơ Nguyễn Khoa Điềm - Nhìn từ góc độ ngôn ngữ
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn PGS - TS Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 377 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt, những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ vốn sống, sựtừng trải riêng của một ngời đã từng sống, chứng kiến và trải qua cuộc chiến đấu gay go, ác liệt của dân tộc.. Bài vi

Trang 1

Lời nói đầu

Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gơng mặt thơ tiêu biểu trongnền thơ ca kháng chiến chống Mỹ Cùng với các tác giả khác cùng thời, anh

đã mang đến cho thơ ca kháng chiến một tiếng nói mới Với số lợng tác phẩm

không đồ sộ, còn ở mức độ "khiêm tốn" nhng Nguyễn Khoa Điềm đã để lại

đ-ợc màu sắc, dấu ấn riêng qua những sáng tác của mình Thơ anh đậm đà bảnsắc văn hoá dân gian nhng không kém phần mới mẻ, giàu chất suy tởng, triết

lý Đặc biệt, những câu thơ của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ vốn sống, sựtừng trải riêng của một ngời đã từng sống, chứng kiến và trải qua cuộc chiến

đấu gay go, ác liệt của dân tộc Chính điều đó trong thơ anh đã làm nên sự hấpdẫn đối với ngời đọc Luận văn này cũng đi tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm

theo chiều của " lực hút" ấy ở phơng diện ngôn ngữ

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ tậntình của các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là PGS - TS Đỗ Thị KimLiên - ngời trực tiếp hớng dẫn đề tài khoa học này

Với khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, những vấn đề nêu ra mới chỉ

đợc giải quyết ở chừng mực nhất định, tất yêú sẽ không tránh khỏi nhữngthiếu sót Tác giả mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo chân tình

Chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô hớng dẫn vàtất cả các bạn đồng nghiệp đã gợi ý, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để luậnvăn này đợc hoàn thành

Vinh, tháng 12 năm 2002

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 2

môc lôc

Tran g

2 TÝnh hÖ thèng cÊu tróc trong ng«n ng÷ nghÖ thuËt 20

3 TiÓu sö vµ qu¸ tr×nh s¸ng t¸c th¬ cña NguyÔn Khoa §iÒm 21

3.2 Qu¸ tr×nh s¸ng t¸c th¬ cña NguyÔn Khoa §iÒm 23

Ch ¬ng 2 : §Æc ®iÓm h×nh thøc trong th¬ NguyÔn Khoa §iÒm 35

1.1 Sö dông tõ ng÷ giµu chÊt liÖu d©n gian 36

Trang 3

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Những năm cuối của thời kỳ chống Mỹ, nền thơ ca hiện đại xuất hiệnnhiều tiếng thơ mới mẻ, trẻ trung Đó là những nhà thơ nh: Phạm Tiến Duật,Thu Bồn, Xuân Quỳnh, Trần Đăng Khoa, Phan Thị Thanh Nhàn, NguyễnKhoa Điềm Thơ ca của họ đã tái hiện cuộc sống, con ngời trong chiến tranhmột cách đầy ấn tợng, đánh dấu một mốc phát triển của văn học Dân tộc Saunăm 1975, các nhà thơ ấy vẫn tiếp tục sáng tác Giờ đây họ hớng thơ mình vàonhững đề tài mới và họ đã đạt đợc những thành công không nhỏ

Trong những tiếng thơ mới mẻ, trẻ trung cuối giai đoạn chống Mỹ,Nguyễn Khoa Điềm cũng là một gơng mặt thơ tiêu biểu Anh cũng đã đi cùngbạn bè mình viết về những vấn đề chung của cuộc sống chiến tranh, cuộc sốngsau chiến tranh Và anh đã taọ đợc dấu ấn riêng cho mình - một dấu ấn rất

Huế qua các tập thơ: "Đất ngoại ô", "Mặt đờng khát vọng" Nh Võ Văn Trực

đã nhận xét: "Lịch sử Huế, nền văn hoá Huế, hơi thở hằng ngày của Cố Đô

thấm vào máu thịt anh và cảm xúc chan chứa trong thơ anh" (45, tr2).Thơ

của anh có sức hấp dẫn, lôi cuốn ngời đọc Tập thơ "Ngôi nhà có ngọn lửa

ấm" đợc anh viết trong những năm 1975 đến 1986 đã đợc giải thởng của Hội

nhà văn Việt Nam năm 1986 Có một số tác phẩm của anh đã đợc các nhạc sĩ

phổ nhạc thành những ca khúc nổi tiếng nh: "Khúc hát ru những em bé lớn

trên lng mẹ", "Có một ngày" Điều này đã tạo đợc sự chú ý của bạn đọc đối

với các sáng tác của anh

Những năm gần đây, tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm đã đợc đa vàogiảng dạy ở trờng Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Vì vậy việcnghiên cứu thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đợc đặt ra nh một nhu cầu cấp thiết

Trang 4

Với xu hớng phát triển của khoa học nói chung, khoa học xã hội nóiriêng - việc nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ đã có những đóng góp

đáng kể Đề tài "Thơ Nguyễn Khoa Điềm - Nhìn từ góc độ ngôn ngữ" của

chúng tôi cũng thuộc hớng tiếp cận này

2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu

-"Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" ( NXB tác phẩm mới - 1986)

2.2 Mục đích nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi nhằm thực hiện các mục đích sau:

- Chỉ ra những đặc điểm cơ bản nhất về hình thức đợc thể hiện trong thơNguyễn Khoa Điềm

- Nêu lên đặc điểm ý nghĩa từ các hình tợng trong thơ Nguyễn Khoa

Điềm

- Từ đặc điểm hình thức và nội dung trên, chúng tôi rút ra những đặc

điểm, khái quát về phong cách ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm

3 Lịch sử vấn đề

Ngay từ sự xuất hiện của những bài thơ đầu tay nh: "Ngời con gái chằm

nón", "Đất ngoại ô" thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gây đợc sự chú ý của bạn

đọc và giới phê bình văn học Sau đó, với việc xuất bản các tập thơ nh : trờng

ca " Mặt đờng khát vọng", "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" thơ Nguyễn Khoa

Điềm càng có đợc sự quan tâm nhiều hơn của tác giả Thực tế, đã có nhiều bàibáo, công trình nghiên cứu về thơ Nguyễn Khoa Điềm Điểm lại những bàiviết, những tài liệu có đề cập đến thơ Nguyễn Khoa Điềm, chúng tôi thấy cónhững điểm đánh giá chung nh sau về thành công trong thơ ông:

a Về ngôn ngữ

Báo Văn nghệ số 437 ra ngày 23/02/1972 Thái Duy đã có bài "Một

khúc hát ru xúc động" Bài viết đề cập đến độ nén, sức bật của ngôn từ trong

bài thơ "Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ ", về cách tạo dựng hình

t-ợng, xây dựng phép so sánh một cách độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm.Tóm lại bài viết , Thái Duy mới khẳng định thơ Nguyễn Khoa Điềm là những

Trang 5

"khúc ca giàu nhạc điệu dân tộc hình ảnh sinh động, chân thật, làm cho

ng-ời đọc thấm thía Cách so sánh hình ảnh thì thật tài tình, cách dẫn dắt ý thơ của tác giả thật khéo léo".

Nhà xuất bản Thuận Hoá - Huế, trong lời giới thiệu cho tập Thơ Nguyễn

Khoa Điềm xuất bản năm 1990 có nhận xét: "Không phải là tất cả; Nguyễn

Khoa Điềm có nhiều bài lắm ý và tứ thơ nhiều trí tuệ, sâu đọng, đậm đà tình nghĩa, khó quên hình ảnh, từ ngữ sử dụng trong thơ khá hàm súc".

đối chiếu nhau, khi thì ở ngang trong một câu, khi thì ở câu trên câu dới Khi đối chiếu trong hai câu, thờng tạo nên cách lập ý bất ngờ, hàm súc, ý thơ từ cụ thể chuyển sang khái quát rất nhanh đầy biến hoá mà dễ tiếp thu ý thơ sâu sắc nhng vẫn bám rất chắc chi tiết thực Nó gây đợc ấn tợng mạnh vì đợc chuẩn bị từ câu thơ trên Tác giả tung hứng chi tiết rất tài; ý trên gợi ý dới, câu dới rọi lên câu trên, đoạn sau đoạn trớc đan cài chặt chẽ Vì thế mà kết cấu của nó đã thành nội dung" (31 tr150-151)

c Về cảm xúc

Tạp chí văn nghệ Quân đội số ra ngày 04/1975, Nguyễn Văn Long lại

có bài " Nguyễn Khoa Điềm với mặt đờng khát vọng" Bài viết chủ yếu nói về cảm xúc đợc lan toả trong thơ Nguyễn Khoa Điềm: "Có thể thấy những dấu

ấn rõ rệt của một vốn văn hoá nhà trờng và sách vở, một ảnh hởng của cách suy tởng trong thơ ngời này hay ngời khác nhng đoạn thơ" Đất nớc" cũng

nh nhiều chỗ khác trong cả "Mặt đờng khát vọng" có đợc sức rung động, âm vang chính là bởi tác giả đã thực sự sống với những cảm xúc của mình Dù có khi là những điều không mới lạ, và nhất là anh đã có đợc điều này: ấy là từ một góc độ của mình, từ những từng trải riêng trong cuộc sống chiến đấu gay

go, sống chết ở một vùng chiến tranh mà suy nghĩ, khám phá, xúc cảm về quê hơng đất nớc, vì thế anh có thể nói những điều khái quát suy tởng mà vẫn không rơi vào chung chung, trừu tợng mờ nhạt, nói những điều to tát mà không sợ thành ồn ào sáo rỗng".

Nguyễn Xuân Nam trong "Thơ tìm hiểu, thởng thức" có bài về thơ Nguyễn Khoa Điềm với cả những góp ý, phê bình và ngợi khen: "Thơ Nguyễn

Trang 6

Khoa Điềm không đặc sắc về tạo hình, về màu sắc nhng anh có sức liên tởng mạnh Anh thờng dẫn ngời đọc đi từ quá khứ đến tơng lai, từ khổ đau say mê nồng nhiệt, với những tởng tợng phong phú, tràn trề" (25 tr106-109).

Trong cuốn: "Nhà thơ Việt Nam hiện đại" nhà nghiên cứu Tôn Phơng Lan

đã bàn về thơ Nguyễn Khoa Điềm, tuy nhiên tác giả bài viết mới chỉ dừng lại ở mặt phong cách Bài viết kết luận "Nguyễn Khoa Điềm đã góp vào nền thơ ca một

cách đầy suy tởng, cảm xúc kết hợp hài hoà yếu tố hiện thực và lãng mạn, vốn sống trực tiếp và vốn văn hoá" ( 21 tr 493).

Võ Văn Trực đã có bài viết "Gơng mặt quê hơng, gơng mặt nhà thơ" nhân dịp tập đọc thơ "Đất nớc và khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm Bài viết

nhận xét, đánh giá về nội dung và hình thức của thơ Nguyễn Khoa Điềm Song

đó mới chỉ là những gợi mở, khái quát Có nhận ra "hạt sạn" trong thơ

Nguyễn Khoa Điềm, nhng về cơ bản vẫn là sự khẳng định cho thơ anh

"Nguyễn Khoa Điềm đã khéo tay điều khiển đợc chữ nghĩa" (45.tr2).

Theo con đờng thời gian, sự xuất hiện các bài viết - phê bình, bình luận

về thơ Nguyễn Khoa Điềm không rầm rộ, ào ạt nh thơ cuả một số tác giảkhác Tuy nhiên, chỉ bằng sự có mặt của một số bài viết sau này cũng chỉ để

thấy đợc "Sức bền" của thơ anh trong lòng thời đại! Đó là sự góp mặt của các

tác giả: Vũ Nho, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Trọng Hoàn, Ngô Thị Bích

H-ơng

d Về chất liệu tạo hình tợng thơ

- Từ chất liệu dân gian

Ngô Thị Bích Hơng ở một số bài viết lại tìm kiếm đợc vẻ đẹp của thơ

Nguyễn Khoa Điềm ở phơng diện: " giá trị thành công của thơ anh đợc thể

hiện ở cách vận dụng sáng tạo, linh hoạt , độc đáo các chất liệu văn hoá dân gian Âm hởng của ca dao, dân ca, cổ tích, truyền thuyết, thần thoại tràn ngập, tạo nên một thế giới nghệ thuật huyền diệu, với lệ, hiện đại mới mẻ, đa mỗi con ngời dân tộc trở về với chính mạnh nguồn của mình để gìn giữ, yêu thơng và trân trọng" (16.tr161).

- Từ vốn sống thực tế

Nguyễn Trọng Hoàn đi khám phá cái đẹp trong thơ Nguyễn Khoa Điềm

từ những tác phẩm đầu tay cho đến những tác phẩm sau này để rồi kết luận:

"Thơ Nguyễn Khoa Điềm có vẻ đẹp của những giá trị bền vững Đó là những

bài thơ in đậm quá trình tích luỹ vốn sống, sự thăng hoa mãnh liệt trong câu cảm xúc nhân văn là những ánh sáng tâm hồn Có cảm giác nhiều bài thơ

Trang 7

anh phát triển theo nhịp chậm, vừa viết vừa ngẫm ngợi, vừa lắng nghe từng con chữ lan toả, ngân rung" ( 16 tr 148).

đ Về lý tởng

Khi tập "Đất ngoại ô" mới xuất bản, nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã

có những nhận xét về nội dung, nghệ thuật của tập thơ và khẳng định chất lý

t-ởng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Ông cho rằng :"Sức hấp dẫn của tập thơ

Nguyễn Khoa Điềm có thể ở giọng nói mới mẻ, những tìm tòi, trăn trở khi viết nhng trớc hết và chủ yếu là ở tâm hồn thơ trẻ nồng cháy lý tởng " Anh đã có

những lúc thiên về lý trí và luôn khao khát suy nghĩ Anh cha từng có nhữngsuy nghĩ khắc sâu về nhiều mặt của cuộc đời thơ từng trải, những suy nghĩ tốt

của "Đất ngoại Ô" "là suy nghĩ gắn liền với hoài bão, khát vọng chân thành

của tuổi trẻ trong chiến đấu hoặc xuất phát từ đời sống thực mà Nguyễn Khoa

Điềm am hiểu, thông thuộc Nguyễn Khoa Điềm hay sử dụng cách nói láy lại

và tăng cờng để cho ý thơ phát triển Bài thơ thờng đợc cấu tạo theo các thể thờng có dạng gần gũi hay giống nhau Mặt thơ đi lui, đi tới từng đợt vừa lặp lại, vừa nâng cao để đi đến kết thúc" (10 tr218).

Nguyễn Trọng Tạo đã suy nghĩ và soi xét về bớc chuyển mình của thơNguyễn Khoa Điềm qua một lộ trình dài để rồi rút ra đợc một điều:

"Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ giàu bản lĩnh, chung thuỷ với lý tởng đã

chọn và luôn biết đối diện với chính mình trên cơ sở ý thức tính công dân sâu sắc" (44 tr45).

Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ xuất hiện tợng đối muộn so với lớp cácnhà thơ ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Năm 1960 anh lại mới cóthơ in, đó cũng là lý do của vấn đề số lợng công trình nghiên cứu về thơ anhcòn hạn chế Mặc dù vậy, ngay sau khi ra đời, sáng tác của Nguyễn Khoa

Điềm đã đợc d luận bạn đọc chú ý, đợc giới nhà thơ chấp nhận không cần một

sự chiếu cố nào cả

Nhìn chung, các bài viết về thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gặp nhau ởnhiều khía cạnh: nội dung - hình thức, cho dù đó chỉ là những gơị mở hoặcmang tính chất khái quát

Điểm lại các bài nghiên cứu, phê bình về thơ Nguyễn Khoa Điềm,chúng ta thấy mới chỉ có những bài viết riêng lẻ chứ cha có một công trìnhnào đi sâu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Nguyễn Khoa Điềm Do để đápứng nhu cầu học tập nghiên cứu, tham khảo nên một số những bài viết về thơNguyễn Khoa Điềm của các tác giả trớc kia và sau này đã đợc tổng hợp (tuy

Trang 8

cha đầy đủ) trong cuốn: "Nhà văn và tác phẩm trong nhà trờng: Viễn Phơng

- Thanh Hải - Nguyễn Khoa Điềm" (NXB - GD,1999) Việc nghiên cứu về thơ

Nguyễn Khoa Điềm vẫn còn là hớng mở cho những ngời yêu thích nhà thơ xứHuế này

4.2 Phơng pháp miêu tả đối chiếu

Miêu tả các hiện tợng ngôn ngữ đã thống kê trong thơ Nguyễn Khoa

Điềm Đối chiếu, so sánh với các sáng tác thơ của một số tác giả khác để làmnổi bật các hiện tợng ngôn ngữ trong thơ anh

4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp

Phân tích những hình ảnh, câu thơ, bài thơ cụ thể đi đến khái quát đặc

điểm thơ Nguyễn Khoa Điềm - nhìn từ góc độ ngôn ngữ

5 Đóng góp của đề tài

Luận văn đi vào tìm hiểu đặc điểm hình thức, ngữ nghĩa thơ NguyễnKhoa Điềm với những hình tợng tiêu biểu cụ thể Chính những điều đó làm

nên "bản sắc" riêng của thơ anh Qua đó có thể giúp cho việc nghiên cứu,

việc dạy và học thơ Nguyễn Khoa Điềm đợc mở rộng thêm một hớng tiếp cậnmới

Trang 9

Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống nhân loại.

Có thể nói: khi con ngời bắt đầu cảm thấy những mối liên hệ giữa mình vớithực tại và khi thấy có những nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca xuất hiện Bảnchất của thơ ca rất đa dạng, phong phú và nhiều biến thái Thơ tác động đếnngời đọc vừa bằng nhận thức của cuộc sống, vừa bằng khả năng gợi cảm sâusắc, vừa tác động trực tiếp với nhiều cảm xúc, suy nghĩ vừa gián tiếp qua liêntởng và tởng tợng, vừa theo những mạch cảm nghĩ, vừa bằng sự rung động củangôn ngữ giàu nhạc điệu Chính vì những phẩm chất và đặc điểm đa dạng đócủa thơ mà có rất nhiều những khái niệm về thơ khác nhau

Hiện nay, số lợng định nghĩa thơ có khá nhiều, có khoảng hơn 200 địnhnghĩa về thơ ở đây chúng tôi xin nêu 3 cách định nghĩa tiêu biểu nhất

a Theo định nghĩa của "Đại từ điển Tiếng Việt"

Thơ "Là một hình thức nghệ thuật dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, có

nhịp điệu, vần điệu để thể hiện ý tởng và cảm xúc nào đó của tác giả một cách hàm súc" (46.tr 1588).

b Theo một nhóm các nhà nghiên cứu, phê bình văn học gồm có

Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: Định nghĩa của họ đợc

phát biểu trong cuốn "Từ điển thuật ngữ văn học": "Thơ là hình thức sáng tác văn

học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" (13.tr 262).

c Định nghĩa của nhà thơ Xuân Diệu - đại diện cho tiếng nói của các nhà thơ:

"Bài thơ là một tổ chức ở trình độ cao của ngôn ngữ, một tổ chức chặt chẽ, tinh tế, ngôn ngữ không lộn xộn, rối rắm, không phí phạm lời nói, không nhầm lẫn chữ nghĩa, thơ chọn cách nói ngắn nhất mà giàu đẹp nhất, dồn chứa nhiều chất lợng nhất mà câu thơ vẫn cứ trong sáng, nhẹ nhõm, ung dung".

Trang 10

Thơ là một thể loại thuộc về sáng tác văn học nghệ thuật, chính vì vậyngôn ngữ thơ trớc hết phải là ngôn ngữ văn học, có nghĩa là ngôn ngữ mangtính nghệ thuật đợc dùng trong văn học.

Về cách tổ chức ngôn ngữ thơ, có ngời đã diễn đạt một cách cụ thể là:

sự "trình bày bằng hình thức ngắn gọn và súc tích nhất, với các tổ chức ngôn

ngữ có vần điệu và các quy luật phối âm riêng của từng ngôn ngữ" (Hữu Đạt,

8 tr 9)

Cuộc sống thờng nhật, trong ngôn ngữ giao tế, có khi ngay cả đối vớicác hình thức thể loại văn học nghệ thuật khác ngoài thơ, ngời ta đã chỉ chú ý

đến nội dung đợc thông báo, còn hình thức của nó thì ít ai nhớ tới Âu đó cũng

là một vấn đề bất tất phải lý giải ở đây Riêng đối với thơ ca, ngày mai - thậmchí tới hàngtrăm năm sau ngời ta vẫn nhớ câu thơ đã đọc hôm qua Đó là docách tổ chức ngôn ngữ một cách đặc biệt của thơ: có vần, có nhịp có cắtmạch, có số âm tiết, có đối, có số câu, có niêm luật, có vận dụng về trọng âm,trờng độ theo mô hình cực kỳ gắt gao Chính cái gắt gao này là chỗ dựa của trínhớ Mô hình càng chặt chẽ thì càng dễ nhớ và lu truyền Bởi lẽ ngời ta có thểcăn cứ vào mô hình để phục hồi câu thơ một cách chính xác nhất (nhất là đốivới thơ cách luật, thơ thất ngôn bát cú, thơ tứ tuyệt, thơ lục bát) Bên cạnh

những câu thơ có niêm luật chặt chẽ - hay nói cách khác đi là "có quy tắc" của

thơ ca theo thể loại, lại có hàng loạt những câu thơ tự do Những câu thơ ấykhoác chiếc áo của câu văn xuôi, không vần, có khi còn đợc gọi là lủng củng,

"vi phạm" tổ chức ngôn ngữ thi ca Thực ra không phải thế ! Đó chính là sự

phá vỡ quy tắc thông thờng một cách có chủ định nhằm mang lại một giá trịnghệ thuật mới Ví nh những câu thơ sau của Nguyễn Khoa Điềm:

- Mẹ ơi, mẹ thì hay nhớ.

Chuyện này nối qua truyện kia Nỗi nhớ nhân thành nỗi nhớ Buồn đau bạn với buồn đau Nên mẹ nhớ nguồn nhớ cội

Trang 11

Riêng nỗi nhớ ba con

Có bao giờ mẹ nói

Mà tay con sâu vợi Chạm vào trên sợi tóc hoa "

(Nỗi nhớ).

Đoạn thơ trên đợc viết theo cách tổ chức ngôn ngữ riêng của nhà thơ.Nguồn cảm xúc mãnh liệt đã chi phối cách lựa chọn ngôn ngữ, hình ảnh, cách

tổ chức lời thơ của tác giả Đoạn thơ đặc biệt bởi vốn từ ngữ hết sức giản dị,

đời thờng, không trau chuốt Tình cảm của chủ thể chữ tình dễ đi vào hoànhập để trở thành tình cảm của chính độc giả dành cho ngời mẹ ấy - đối tợng

trữ tình nhờ lối nói tự nhiên nh khẩu ngữ: "Mẹ ơi, mẹ thì hay nhớ" và tiếp sau

đó lại là hai câu thơ có cấu trúc lặp : "Nỗi nhớ nhân thành nỗi nhớ; Buồn đau

bạn với buồn đau" Cách tổ chức này vừa làm cho bạn đọc dễ nhớ, vừa có tác

dụng khắc họa chiều sâu nỗi nhớ, niềm đau của ngời mẹ Những câu thơ saucủa đoạn lại đợc tổ chức theo lối vắt dòng, câu thơ xuống hàng đột ngột,

chuyển nỗi nhớ của mẹ sang một miền nhớ khác "Riêng nỗi nhớ ba con " Có

chăng ý kiến cho rằng: đoạn thơ trên thiếu chất thơ? Nếu có thì chúng tôi cũngxin phủ nhận Thực ra đó chính là sáng tạo của nhà thơ, tất cả thuộc về công

việc "bếp núc" thơ ca để có đợc một hình thức thơ diễn đạt đợc tối đa cảm

xúc, tình cảm của mình

Bàn về cách tổ chức câu thơ để tạo nên những giá trị nội dung mới đối

với ngời đọc, giáo s Phan Ngọc đã từng khẳng định: "lại có loại thơ tự do

nhà thơ tự bỏ sự gò bó bên ngoài về hình thức, không phải để quay về văn xuôi mà chấp nhận những gò bó khác, ở cấp độ cú pháp và từ vựng Bài thơ của anh ta phải mới lạ về nội dung t tởng và tạo nên những liên hệ t tởng bất ngờ, do cách dùng từ ngữ mang tính chất nên thơ Nếu thơ tự do không mới lạ về cách nhìn, không sắc sảo về từ ngữ, không táo bạo về cú pháp thì nó rất

dễ chết" (29.tr278).

Vì sự "đặc biệt" về hình thức nh trên, ngôn ngữ thơ rất dễ gây cảm xúc

cho ngời đọc, ngời tiếp nhận Cái mới lạ, cái bất ngờ của tổ chức ngôn ngữ bắtngời đọc phải chú ý, suy nghĩ để tìm cách giải mã các tín hiệu ngôn ngữ Cảmxúc của thơ không giống với cảm xúc của văn xuôi mang lại Câu thơ đọc

xong thì giữ lại nguyên vẹn trong trí óc ta, trở thành một sự ám ảnh và đợc nội cảm hoá ngay tức thì đến mức nó nh thuộc về chính mình Đó là sự lĩnh hội

trọn vẹn cả về nội dung lẫn hình thức Còn đọc văn xuôi, sự chiếm hữu trọn

Trang 12

vẹn chỉ xẩy ra ngay khi đọc , sau đó chỉ nhớ nội dung, quên hình thức vì vậy

cảm xúc không đợc "nội cảm hoá".

Cách tổ chức độc đáo của ngôn ngữ thơ còn cung cấp cho chúng tanhững suy nghĩ nằm ngoài nội dung thông báo Hay nói khác đi, nhờ cách tổchức đặc biệt của ngôn ngữ thơ mà bài thơ ngoài ngữ nghĩa thông báo còn cónhững lớp ngữ nghĩa khác Một thông báo của thơ có thể là phi thời gian, phikhông gian và phi giai cấp Mỗi ngời sẽ hiểu nó trong từng hoàn cảnh riêng và

sẽ có những mối tơng cảm khác nhau Điều này làm nên tính đa tầng ý nghĩacủa thơ ca, giúp nhà thơ diễn đạt đợc tối đa sự phức tạp , tinh tế, vô cùng củacảm xúc, sự vật trong cái hữu hạn của câu thơ - thể loại

1.3 Đặc trng của ngôn ngữ thơ

Để thấy rõ đặc trng của ngôn ngữ thơ, chúng tôi làm phép so sánh phân biệt thơ với các thể loại khác Sau đó, đi theo cách lỡng phân, đối lập thơ

-và văn xuôi ở nhiều góc độ khác nhau Dới góc độ ngôn ngữ chúng tôi có thể

đối lập thơ với văn xuôi trên ba cấp độ: ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đểthấy rõ đặc trng của ngôn ngữ thơ ca

Về ngữ âm

Đặc điểm nổi bật về phơng diện ngữ âm để phân biệt thơ với văn xuôi là

"tính nhạc" Thơ phản ánh cuộc sống qua những rung động của cảm xúc, tình

cảm Chiều sâu nội tâm, thế giới tình cảm của nhà thơ không chỉ biểu hiệnbằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn trong cả âm thanh, nhịp điệu, kết cấu Vì vậy

mà nhiều ngời đã nhất trí trong việc xem tính nhạc là đặc thù cơ bản của ngônngữ thơ ca Đây là một khía cạnh mà trong văn xuôi ít, thậm chí không đợcnhắc tới Đặc điểm tính nhạc có tính phổ biến trong mọi ngôn ngữ Tuy nhiên,mỗi ngôn ngữ có cách thể hiện riêng tuỳ theo cơ cấu, cách cấu tạo và tổ chức

khác nhau về ngữ âm Tiếng Việt là một ngôn ngữ có sự "phong phú " hơn

nhiều ngôn ngữ khác về số lợng các nguyên âm,phụ âm, thanh điệu Đó chính

là điều kiện, cơ sở tạo cho ngôn ngữ thơ Việt Nam có một dáng vẻ độc đáo vềtính nhạc Khi khai thác tính nhạc trong thơ, chúng ta cần chú ý đến những đốilập sau:

- Sự đối lập về "trầm - bổng", " khép - mở" của các nguyên âm.

- Sự đối lập về "vang - tắc" giữa hai dãy: phụ âm mũi và phụ âm tắc vô

thanh trong các phụ âm cuối

- Sự đối lập về "cao - thấp", " bằng - trắc" của các thanh điệu.

Trang 13

Bên cạnh những sự đối lập đó, vần và nhịp cũng góp phần quan trọngtrong việc tạo nhạc tính cho ngôn ngữ thơ ca Những yếu tố về ngữ âm này làcơ sở và cũng là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca, tạo nên những

âm hởng trầm bổng diệu kỳ

Tính nhạc trong ngôn ngữ thơ đã rút ngắn khoảng cách giữa thơ ca và

âm nhạc, làm chỗ dựa cho các phơng pháp diễn đạt âm nhạc Vì vậy mà từ xa

xa, nhiều hình thức ca hát dân tộc đã lấy thơ ca dân gian làm chất liệu sángtác âm nhạc Đó cũng là điều lý giải cho sự kiện: nhà soạn nhạc đầu tiêncũng chính là nhà thơ Và trong nền âm nhạc hiện đại, nhiều bài thơ đợc cácnhạc sĩ phổ nhạc trở thành những bài hát có sức vang vọng lòng ngời ThơNguyễn Khoa Điềm đã có nhiều bài phổ nhạc Những ca khúc ấy đã từng vangdội vào lòng hàng triệu chíên sĩ trên các chiến trờng và giờ đây nó vẫn còn

sống trong lòng ngời yêu thơ, yêu nhạc Chúng ta có thể xem "Khúc hát ru

những em bé lớn trên lng mẹ" là một sáng tác điển hình cho chất thơ - nhạc

trong những bài thơ của anh Bài thơ là "một khúc hát ru xúc động" rất đằm

thắm, dịu dàng của bà mẹ Tà Ôi Lời ca cất lên từ trái tim đôn hậu, giàu nữtính của ngời mẹ dân tộc giã gạo, chuyển lán, đạp rừng, nuôi bộ đội trongnhững năm kháng Mỹ Tiếng hát cất lên từ trái tim ngời mẹ Tà Ôi hoà cùngtiếng ru của chính nhà thơ đối với em Cu Tai Điều làm cho bài thơ trở thànhmột khúc nhạc thực sự là bởi cách phối hợp hình ảnh, câu thơ và nhịp điệu củatác giả Mở đầu khúc ru là hai câu thơ:

Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi

Em ngủ cho ngoan đừng rời lng mẹ.

Tiếng gọi ấy, lời khuyên ấy vuốt ve em bé và đợc lặp lại ở mỗi đầu đoạnthơ Giã gạo bằng chày tay thật vất vả nhng trong cái vất vả ta thấy bừng lêncái say sa, lạc quan:

Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng

Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối

Và chính lúc ấy, tấm lòng của mẹ trở thành chiếc "nôi" xinh xắn Cùng

với việc miêu tả các hình ảnh, cách lặp từ, gieo vần, sử dụng từ láy trong câuthơ, Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến cho ngời đọc âm hởng của một bảnnhạc chan chứa tình cảm và thanh âm

Đặc biệt, trong bài thơ xuất hiện những cặp câu sóng đôi mà khi đọc lên

đã thấy có sự nhịp nhàng, hoà vang:

Trang 14

- Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lng đa nôi và tim hát thành lời

- Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ em nằm trên lng.

- Từ trên lng mẹ em đến chiến trờng

Từ trong đói khổ em vào Trờng Sơn.

Bài thơ có kết cấu ba đoạn chặt chẽ, điệu thơ nhịp nhàng, đều đặn Điệp

khúc "Em Cu Tai ngủ trên lng mẹ ơi " đợc nhắc đi nhắc lại nh một lời hát.

Cái lắng đọng trong lòng ngời đọc vẫn là tiếng ru thoát ra từ trái tim bà mẹ:

Ngủ ngoan A - Kay ơi, ngủ ngoan A - Kay hỡi

Mẹ thơng A - Kay, mẹ thơng bộ đội Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần Mai sau con lớn vung chày lún sân

Nhạc điệu của khúc ru đợc lặp lại nhng tuỳ theo nội dung của mỗi khổthơ mà tác giả hay một số từ ngữ

Điểm qua một vài nét, chúng ta đã thấy đợc bài thơ là " một khúc hát

ru, nhng là khúc hát ru hiện đại, nên không có những sung chát đào chua, không có những cánh cò đi đón cơn ma Cũng không có những hình ảnh tơi

đẹp của cuộc sống thanh bình" (16 tr 134).Hiện ra trong khúc hát ru là hình

ảnh ngời mẹ Tà Ôi - ngời mẹ Việt Nam - ngời mẹ kháng chiến

Về ngữ nghĩa

Ngữ nghĩa trong thơ ca không đồng nhất với ngữ nghĩa của ngôn ngữgiao tiếp thông thờng, thậm chí khác cả ngữ nghĩa trong văn xuôi Ngữ nghĩatrong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả , tờng thuật, kể chuyện Còn nghĩacủa ngôn ngữ thơ ca phong phú hơn nhiều Mỗi từ ngữ khi đợc đa vào thơ đều

đã qua trục lựa chọn của tác giả, vào " vị trí" của mình - nó hoạt động rất đa

dạng, linh hoạt và biến hoá

Văn xuôi không hạn chế về số lợng âm tiết, từ ngữ, câu chữ còn trongthơ tuỳ theo từng thể loại mà có những cấu trúc nhất định Khi đi vào thơ, do

áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ nhiều khi không dừng lại ở

nghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà đã đi vào những tầng ý nghĩamới tinh tế hơn, sâu sắc hơn, đa dạng hơn và mới mẻ hơn nhiều Đó là nghĩabóng hay còn gọi là ý nghĩa biểu trng của ngôn ngữ thơ ca Đặc trng ngữnghĩa này tạo cho ngôn ngữ thơ một sức cuốn hút kỳ lạ đối với ngời đọc, ngời

Trang 15

nghe Bởi họ không chỉ tiếp nhận văn bản thơ bằng mắt, bằng tai mà còn bằngcả xúc động, tình cảm, bằng cả trí tởng tợng, liên tởng nữa Điều đó cũng làmcho ngôn ngữ thơ không chỉ còn là phơng tiện giao tiếp mà đã đóng một vaitrò khác, ngôn ngữ thơ trở thành "một thứ gì đó cha từng đợc nói hoặc đợcnghe.Đó là ngôn ngữ đồng thời là sự phủ nhận ngôn ngữ Đó là cái vợt rangoài giới hạn

Trong quá trình vận động tạo nghĩa của ngôn ngữ thơ ca, cái biểu hiện

là cái đợc biểu hiện đã xâm nhập chuyển hoá vào nhau tạo ra cái khoảngkhông ngữ nghĩa vô cùng cho ngôn ngữ thơ ca Ví dụ câu thơ:

Mỗi ngọn lá một bàn tay nhỏ Thả bình an trên vầng trán ngời qua

(Cây vông đồng trên đờng Lê Lợi)

đã đọng lại trong ngời đọc bởi tầng nghĩa ngầm của chúng

Về ngữ pháp

Nếu nh quan niệm về Thơ nh Phan Ngọc: "là một cách tổ chức ngôn

ngữ hết sức quái đản" thì sự "quái đản ", " bất thờng" ấy đợc thể hiện rất rõ

trong bình diện ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca

Cấu trúc câu trong ngôn ngữ thơ thờng không tuân theo quy tắc bắtbuộc, chặt chẽ nh câu trong văn xuôi và trong ngữ pháp thông dụng Nhà thơ

có thể sử dụng các kiểu câu " bất bình thờng" nh: đảo ngữ, câu tách biệt, câu

vắt dòng, câu trùng điệp mà không làm ảnh hởng đến quá trình tiếp nhận

ngữ nghĩa của văn bản Ngợc lại, những kết hợp, tổ chức ngôn ngữ "bất quy

tắc" đó lại mở những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca Sự "quái

đản" về ngữ pháp của ngôn ngữ thơ ca giúp nhà thơ chuyển tải đợc những tầng

lớp nghĩa phức tạp, tinh tế vô cùng của sự vật trong cái hãn hữu của câu chữ.Cũng nhờ đó, các nhà thơ tự tạo nên cho mình một phong cách riêng biệt

Song, cái tạo ra sự "quái gở" của ngôn ngữ thơ ca còn ở cả sự ngắt dòng

- phân cắt câu thơ Chính vì điều này mà đã dẫn tới sự khó khăn, phức tạp cho

việc tìm định nghĩa cho "câu" Có ngời quan niệm: mỗi dòng thơ tơng ứng với

một câu thơ Tuy nhiên , trong thực tế - câu thơ không hoàn toàn đồng nhất

với khái niệm "câu" trong ngữ pháp Vì vậy, trong thơ

"câu" và dòng thơ không phải lúc nào cũng trùng nhau Có những câu thơ bao

gồm nhiều dòng thơ, mà mỗi dòng thơ chỉ là một vế của câu đầy đủ thànhphần Điều này đợc thể hiện rất rõ trong thơ ca hiện đại ở hiện tợng : câu thơvắt dòng Có khi : trên cùng một dòng thơ lại chứa nhiều câu thơ, mà mỗi câu

Trang 16

có thể đầy đủ cả nòng cốt C- V, cũng không loại trừ những câu là cấu trúc đặcbiệt

2 Tính hệ thống - cấu trúc trong ngôn ngữ nghệ thuật

Một trong những đặc trng quan trọng của ngôn ngữ nói chung, ngônngữ văn học nghệ thuật và ngôn ngữ thơ ca nói riêng đó chính là tính hệ thống

- cấu trúc

Trong văn học, hai khái niệm này không loại trừ nhau mà có khi đợchiểu là một Vì vậy, đặc trng về tính cấu trúc trong ngôn ngữ văn học có khi đ-

ợc gọi bằng thuật ngữ "tính hệ thống" Chẳng hạn, khi định nghĩa về "tính hệ

thống" trong ngôn ngữ văn chơng, nhóm tác giả : Đỗ Hữu Châu, Đặng Đức

Siêu, Diệp Quang Ban cho rằng: "Tính chất theo đó, các yếu tố ngôn ngữ

trong một tác phẩm phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau và hỗ trợ nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung" (7.tr16) Trong cuốn " Phong cách học Tiếng Việt", nhóm tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hoà lại

gọi đặc trng đó là "cấu trúc" và không ra khỏi nội hàm khái niệm của nhóm tác giả trên: "Tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ thuật là tính chất theo đó "các

yếu tố ngôn ngữ trong một tác phẩm phải gắn bó qua lại với nhau để cùng thực hiện nhiệm vụ chung, phải phù hợp với nhau, giải thích cho nhau và hỗ trợ cho nhau để đạt tới một hiệu quả diễn đạt chung" (23.tr141) Hai nhóm tác

giả đã dùng hai thuật ngữ để diễn đạt chung một nội dung khái niệm Điều đónói lên rằng hai khái niệm này trong văn học thờng đợc dùng nh nhau, vấn đềcốt yếu là tuỳ ý đồ nghiên cứu của tác giả nào mà nhấn mạnh ở khía cạnh nào

Trong văn học nghệ thuật, một bài thơ, một tác phẩm văn học tự thân

nó là một hệ thống cấu trúc Bởi lẽ ngay trong một bài thơ hay trong tác phẩmvăn học đã bao gồm một hệ thống về hình thức ngôn ngữ cùng với nhữngthành tố về nội dung t tởng, tình cảm, hình tợng Các thành tố này khôngphân biệt mà cùng tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Yếu tố này

quy định và phụ thuộc yếu tố khác Sự thay đổi dù là một "tín hiệu" nhỏ cũng

làm thay đổi tất cả các yếu tố khác trong hệ thống chung của tác phẩm văn

Trang 17

học Chính vì vậy mà tính hệ thống - cấu trúc đợc xem là " điều kiện của cái

đẹp" (7.tr16) và "một yếu tố ngôn ngữ chỉ đẹp trong cái hệ thống phù hợp với

nó" (22.tr 141) Thế nên khi tìm hiểu ngôn ngữ thơ của bất cứ một tác giả nào

chúng ta phải đặt từng yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ chung - cấu trúc chungcủa toàn bộ văn bản

Việc tìm hiểu thơ Nguyễn Khoa Điềm của luận văn này không thoát liquy luật vừa nêu Một bài thơ tách rời là một chỉnh thể nhng đồng thời nó lại

bị chi phối bởi quan niệm sáng tác, ý định thẩm mỹ trong toàn bộ quá trìnhsáng tạo nghệ thuật của tác giả Để khám phá thơ Nguyễn Khoa Điềm theoquan điểm phơng án này chúng ta phải đặt từng yếu tố ngôn ngữ trong cấutrúc chung của thơ anh về phơng thức biểu hiện cũng nh nội dung ngữ nghĩa

3 Tiểu sử và quá trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm

3.1 Đôi nét về tiểu sử

Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 tại thôn Ưu Điềm,xã Phong Hoà, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Quê gốc ở làng AnCựu, xã Thủy An, Thành phố Huế Nguyễn Khoa Điềm xuất thân trong mộtgia đình trí thức yêu nớc Bà nội là Đạm Phơng, cháu nội của vua Minh Mạng,từng là nữ quan trong triều, chuyên dạy học cho các Công chúa nên gọi làCung trung nữ sử Cả bố và mẹ đều hoạt động trong tổ chức của Đảng Bố làNguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều) - ngời đã có những đóng góp nổi bật trongcuộc đấu tranh t tởng để truyền bá những quan điểm Mác xít trên báo chí côngkhai những năm 1930

Lúc nhỏ Nguyễn Khoa Điềm học ở trờng làng tại quê nhà

Năm 1954, lúc Nguyễn Khoa Điềm đợc11 tuổi thì bố mất

Năm 1955, Nguyễn Khoa Điềm rời quê hơng đi ra Bắc Anh học ở ờng học sinh miền Nam ở Đan Phợng ( Hà Đông) Vài năm sau, trờng chuyển

tr-về Hải Phòng Khi đó anh đang học dở lớp 8 Sau đó anh lại chuyển tr-về Hà Nộihọc ở trờng Chu Văn An B, hai năm sau anh vào đại học

Nguyễn Khoa Điềm đã chọn vào trờng S phạm, một trong những trờng

mà học sinh miền Nam thời ấy thờng chọn - đợc coi là rất cần thiết cho côngcuộc xây dựng miền Nam sau ngày thống nhất đất nớc

Năm 1964, sau khi tốt nghiệp Đại học S phạm Hà Nội, Nguyễn Khoa

Điềm đã trở về Nam chiến đấu Chuyến trở về Nam lần này của anh còn có cảPhạm Tiến Duật, Vơng Trí Nhàn, Ca Lê Hiến Về Huế, Nguyễn Khoa Điềm

đợc phân công làm công tác vận động thanh niên của Thành Uỷ Huế Những

Trang 18

năm 1965 - 1970, Nguyễn Khoa Điềm làm báo xây dựng cơ sở cho phong tràohọc sinh,sinh viên.

Tháng 9 năm 1967, Nguyễn Khoa Điềm bị bắt trong một trận càn, phảivào nhà tù Thừa Phủ Tháng 2 năm 1968 anh đợc ra tù do bộ đội đánh vào nhàlao Sau đó, anh lại lên chiến khu hoạt động

Thời kỳ này Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ và trở thành một trongnhững nhà thơ tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ những năm chống Mỹ cứu nớc Vớixúc cảm chân thành, với sự trải nghiệm sâu sắc và vốn tri thức văn hoá phongphú, thơ Nguyễn Khoa Điềm đã tạo đợc ấn tợng trong lòng bạn đọc

Sau năm 1975 Nguyễn Khoa Điềm làm công tác đoàn, Hội văn nghệ,công tác tuyên huấn với Phó bí th Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế Anh đã tham giaBan chấp hành Hội nhà văn khoá 3 Năm 1994, Nguyễn Khoa Điềm đợc bầulàm Thứ trởng Bộ Văn hoá Thông Tin

Đến năm 1995, Nguyễn Khoa Điềm đợc bầu làm Tổng th ký Hội nhàvăn khoá V

Năm 1996, Nguyễn Khoa Điềm đợc Đaị hội Đảng toàn quốc lần thứVIII bầu vào Ban chấp hành Trung ơng Đảng và Quốc hội Nớc Cộng hoà Xãhội Chủ nghĩa Việt Nam bổ nhiệm làm Bộ trởng Bộ Văn hoá Thông tin Hiệnnay Nguyễn Khoa Điềm là Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trởng Bộ Văn hoá Thôngtin, Trởng Ban T tởng Văn hoá Trung ơng

3.2 Quá trình sáng tác thơ của Nguyễn Khoa Điềm

Về hoạt động văn học, Nguyễn Khoa Điềm vốn có lòng yêu thích vănhọc từ nhỏ, bởi vì gia đình anh có nhiều ngời hoạt động trong lĩnh vực này.Lớn lên, những năm tháng ở khoa Văn Đại học S phạm Hà Nội đã cho anhbiết bao tri thức văn hóa phong phú Từ 1969 anh mới bắt đầu làm thơ cho tới

bây giờ Các tác phẩm thơ : "Đất ngoại ô " (1972), "Mặt đờng khát vọng" (1974), "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" (1986), "Thơ Nguyễn Khoa Điềm" (1990) Anh đợc nhận giải thởng hội nhà văn Việt Nam với tập " Ngôi nhà có ngọn

lửa ấm" (1996).

3.2.1 "Đất ngoại ô" (1972).

"Đất ngoại ô" là tập thơ đợc viết trong khoảng những năm 1969 - 1972,

tập thơ đã tái hiện cuộc sống chiến đấu của nhân dân, đất nớc trong thời kỳ

lịch sử hào hùng: thời kỳ chống Mỹ "Đất ngoại ô" là tiếng lòng của tâm hồn

trẻ giàu cảm xúc, say mê lý tởng đang đến với cuộc sống một cách chân thànhnhất

Trang 19

Đến với "Đất ngoại ô" trớc tiên ta đợc gặp một niềm say mê lý tởng.

Nguyễn Khoa Điềm với tấm lòng nhiệt tình cách mạng đã nhập thân vào cácnhân vật của mình để xây dựng một thế giới con ngời đang nhiệt thành chiến

đấu vì lý tởng Đây là tình cảm cao đẹp nhất trong tình cảm công dân Con

ng-ời trong chiến tranh xuất hiện đông đảo đủ thành phần từ: Bà mẹ già, anh bộ

đội đến cô gái trẻ, anh phụ xe, thợ nề, chị tiểu thơng tất cả đều tranh đấu vì

một tâm tình chung " Vì độc lập tự do, cả thành phố đều lên đờng"

Trong lòng ngời dân kháng chiến, trong lòng Nguyễn Khoa Điềm tìnhyêu đấr nớc là ngọn lửa thắp sáng con đờng tranh đấu của họ:

Đất nớc Tình yêu Mơ ớc mai sau Tên mấy đứa đêm nay không về nữa Tên dãy phố ta mơ về gọi cửa

Sau chập chừng giữa than củi lung linh

(Bếp lửa rừng)

Qua tình yêu với lý tởng, Nguyễn Khoa Điềm đã xây dựng thật đông

đảo, đẹp, gơng mặt con ngời kháng chiến Tuy ở mọi hoàn cảnh họ đều tìm ra

ở đích cuối cùng là chiến đấu bởi lý tởng Vẻ đẹp lý tởng không chỉ lung linhsắc màu ở chân dung những ngời lính tự nguyện nh Nguyễn Khoa Điềm màcòn toả sáng ở trong sức tác động với con ngời bên kia - ngời dân vùng tạmchiến

Nguyễn Khoa Điềm tham gia vào cuộc kháng chiến của nhân dân, thơanh vì thế rất giàu hơi thở của hiện thực cuộc sống Thơ anh ghi lại cuộc chiếnhào hùng với những xúc cảm lên tới tột đỉnh

Tuy thơ là tiếng nói trữ tình, song cũng nh thơ chống Mỹ nói chung thơNguyễn Khoa Điềm đã cố gắng lột tả hiện thực lịch sử một cách cụ thể, chânthực Và sự hào hùng mà anh diễn tả không chỉ qua những trận đánh lớn với

sự vặn mình lịch sử mà còn đợc biểu hiện trên những điều ngỡ nh bé nhỏ, bình

thờng Maiacôpki đã từng nói: "Có những lúc đời hiện lên rực rỡ khác

th-ờng.Và cái lớn lao ta từng thấy qua những điều bé nhỏ".

"Đất ngoại ô" là khúc hát của tâm hồn trẻ Cho dù trong chiến tranh

khốc liệt, cho dù đời sống văn học yêu cầu phục vụ mục đích cao nhất là vềcách mạng, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn tơi rói những lời ca tình yêu Tìnhyêu của thơ Nguyễn Khoa Điềm trong tháng năm này là tình yêu đôi lứa gắnvới tình yêu đất nớc, lý tởng Đó là cảm xúc chung khi viết về tình yêu đôi lứa

ở những năm tháng kháng chiến của thơ Việt Nam

Trang 20

Chiến tranh bao giờ cũng gắn với chia ly, tạm biệt

Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, cuộc chia tay của đôi lứa rất ấn tợng

Nếu Nguyễn Mỹ có "cuộc chia tay màu đỏ" nh không hề có cuộc chia ly,

Phan Thị Thanh Nhàn có cuộc chia tay đầy lãng mạn với hơng bởi vấn vơng

thì cuộc chia tay trong thơ Nguyễn Khoa Điềm lại trở thành "buổi hẹn hò lớn

lao" Trong những ngày xa nhau, tình yêu của ngời con gái thành nguồn động

lực thôi thúc anh chiến đấu:

Anh lại ngủ trên lá rừng và đếm những bom rơi Nhng tình yêu của em làm lòng anh yên tĩnh quá

Hạnh phúc là sau mỗi chặng đờng vất vả

Lại hiểu em nhiều trên muôn nẻo xa xôi.

(Buổi hẹn hò lớn lao)

Tình yêu đôi lứa gắn với tình yêu đất nớc Tình yêu ấy làm cho con

ng-ời ta trong lúc xa nhau vẫn thấy ấm áp, tin cậy

Yêu em yêu cả khoảng trời Sơng giăng buổi sớm, nắng rời chiều hôm Tháng t giông chuyển bồn chồn

Hạt ma vây ấm, nỗi buồn cách xa

(Khoảng trời yêu dấu)

Thơ Nguyễn Khoa Điềm viết về tình yêu thời kỳ ở "Đất ngoại ô" không

nhiều, và không trĩu nặng những éo le, không mang màu bi quan thất vọng.Tình yêu đôi lứa ở đây gắn với tình yêu đất nớc Đó cũng là đặc điểm chung

của thơ ca chống Mỹ khi viết về tình yêu đôi lứa Với " Đất ngoại ô", Nguyễn

Khoa Điềm đã tái hiện cuộc sống chiến đấu của nhân dân, đất nớc trongkháng chiến Qua sự quan sát của một tâm hồn trẻ nồng nhiệt với cuộc sống,khát khao tìm hiểu, thế giới nhân vật trong thơ anh đã hiện ra đông đảo, thuộcnhiều lớp ngời (anh bộ đội, bà mẹ, ngời phụ nữ ) Nhân vật nào cũng lànhững con ngời nhân danh cộng đồng đang chiến đấu với ý thức công dân sâusắc Đợc lý tởng soi sáng cả nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lẫn nhân vật củamình đều đã xuất hiện trong t thế giao cảm, đối thoại và nhập cuộc với thời

đại Và cuộc sống của nhân dân, đất nớc đợc kết tụ lại ở những hình ảnh, tìnhcảm cao đẹp : tổ quốc, ngời lính, bà mẹ, lòng yêu đất nớc, quê hơng quagiọng thơ sôi nổi mãnh liệt mang cảm hứng ngợi ca Đó cũng là điều dễ thấy ởthơ ca chống Mỹ Thơ Nguyễn Khoa Điềm còn bộc lộ những tình cảm riêng t

Đó là tình cho mẹ, cho ngời yêu, cho bạn bè nhng thứ tình cảm riêng ấycũng đợc biểu hiện trong sự ảnh hởng của xúc cảm trữ tình công dân Tình

Trang 21

cảm riêng cũng đợc phát triển theo xu hớng hoà nhập với cái chung, theo lý ởng chung, theo hệ quy chiếu nhiệm vụ chung của cả cộng đồng Theo nhận

t-xét của ông Trần Đăng Xuyền trong cuốn " Năm mơi năm văn học Việt Nam

sau cách mạng tháng tám", đây cũng là nét chung của thơ ca chống Mỹ

"Đất ngoại ô "cũng là tập thơ đầu tay của Nguyễn Khoa Điềm nhng đã

ghi nhận đợc một số thành công về mặt nghệ thuật của anh Trớc hết là việc

dựng xây đợc những hình ảnh ấn tợng "các hình ảnh trong thơ Nguyễn Khoa

Điềm đợc vẽ nên bằng những đờng nét, sắc maù hoà hợp có lúc bằng một hình tợng thơ thị giác" (46 tr 132)

Cánh rừng này mấy trận B52 Cây cụt ngọn dựng bia và trời xanh căm giận.

(Con chim thời gian)

Hoặc gây ấn tợng trực tiếp bằng âm thanh:

Chim vỗ cánh về đây Khắc lên cây cháy bỏng Bằng một nốt rê trầm.

(Con chim thời gian)

3.2.2 Trờng ca " Mặt đờng khát vọng" (1974).

Trong một lần đi dự Hội trại sáng tác của Văn nghệ Khu Trị Thiên Huế,

Nguyễn Khoa Điềm đã viết nên trờng ca "Mặt đờng khát vọng" Trờng ca này

viết về đề tài học sinh, sinh viên thành Huế Chỉ trong một tháng của đợt tham

dự hội trại, Nguyễn Khoa Điềm đã viết nên một tác phẩm mà tiếng vang của

nó không nhỏ Tác phẩm ấy là kết quả của vốn trí thức văn hoá phong phú, kếthợp với những trải nghiệm của ngời tri thức trởng thành trong chiến tranh Tác

phẩm "Mặt đờng khát vọng"thành công đặc biệt còn nhờ vào những năm

tháng công tác tổ chức phong trào học sinh, sinh viên Huế của Nguyễn Khoa

Điềm

Viết trờng ca "mặt đờng khát vọng", Nguyễn Khoa Điềm đã xuất phát

từ mong muốn "phải làm cái gì đó để động viên thế hệ trẻ và động viên chính

mình" (16.tr124)

Trờng ca đợc viết với sự kết hợp đỉnh cao cảm xúc và rất trí tuệ

T tởng lại triển khai theo quá trình vận động trí thức của tầng lớp tuổitrẻ miền Nam: nhận thức về hiện thực đất nớc, ý thức về kẻ thù, về đất nớc, vềnhân dân, thấy rõ trách nhiệm của mỗi cá nhân và xuống đờng tranh đấu

"Mặt đờng khát vọng" khởi đầu bằng chơng "Lời chào".

Trang 22

Ta đi giữa năm tháng không ngờ Vô t qua để bây giờ xao xuyến Bèo lục bình mênh mang màu mực tím Nét chữ thiếu thời trôi nhanh theo dòng sông.

Nhập thân vào cái "Ta" chung của lớp thanh niên, Nguyễn Khoa Điềm

đã khơi dòng cảm xúc ngọt ngào về tuổi ấu thơ Thuở thiếu thời hiện ra vớibao trò chơi nh cánh diều bay, cọng rơm vàng, cánh sẻ nâu, trò chơi chắtchuyền nhắc về kỷ niệm tuổi thơ Nguyễn Khoa Điềm đã có ý thức khơi gợinhững gì đã là yếu tố nuôi lớn tâm hồn một thế hệ:

Biết ơn cánh sẻ nâu đã bay đến cánh đồng

Biết ơn mẹ đã tính cho con thêm một tuổi sinh thành Biết ơn dòng sông dựng dáng kiếm uy nghi

Nguyễn Khoa Điềm đa ngời đọc trở về với quá khứ dịu ngọt trong tiềmthức con ngời, khơi dậy những tình cảm thiêng liêng, sự biết ơn trong mỗi conngời

Mạch nguồn tình cảm đợc khơi, tình yêu mến trong mỗi ngời đợc kéo

về, Nguyễn Khoa Điềm đi tiếp đánh thức thanh niên nghĩ về hiện tại:

Buổi sáng ấy

Ta không quên

Với đặc trng của thế loại trờng ca có khả năng thể hiện hiện thực mộtcách rộng lớn, có nhiều mặt, nhiều tầng nhiều lớp khác nhau, Nguyễn Khoa

Điềm đã tái hiện cuộc sống của dân ta và tố cáo tội ác của Mỹ

Đặc trng của thể loại trờng ca trữ tình cũng cho phép luồng xúc cảm,suy nghĩa của Nguyễn Khoa Điềm đợc nhịp tuôn chảy lời thơ vì thế mà sâu

sắc hơn, tác động ngời đọc một cách mạnh mẽ Vì thế với chơng "giặc Mỹ"

Nguyễn Khoa Điềm đã mô tả một cách sắc sảo tội ác bọn Mỹ - một bản cáotrạng đanh thép Mỹ đến, làm cho làng xóm Việt Nam không còn yên tĩnh

nữa Quê hơng "đầy bóng giặc", "đầy dáng ngời ngửa tay" những cánh cò cũng xao xác trong khi đi tìm chốn ngủ Cánh cò "tỵ nạn hao gầy" cứ gợi mãi

niềm xót xa trong lòng ngời đọc Bởi vì hành động của ngời Mỹ tới Việt Nam

là "đốt nát", "hãm hiếp", là kết quả của những "tín điều thuốc độc" của những

"lý thuyết hận thù" Đứng trên tầm thời đại, Nguyễn Khoa Điềm phán xét kẻ thù "bẩn thỉu trần truồng trớc nhân loại hôm nay" Nhân danh dân tộc Việt

Nam Nguyễn Khoa Điềm đã phán xét giặc Mỹ Lời thơ sắc sảo, Nguyễn Khoa

Trang 23

Điềm đã so sánh bọn Mỹ tàn bạo nh bọn Khantacton - bạo chúa thời trung cổ

đã tàn phá từ âu sang á

Thơ Nguyễn Khoa Điềm đã đi từ những hành động tội ác tới các lýthuyết hận thù và kết lại ở mu mô sâu thẳm của bọn giặc: huỷ diệt mầm sống

Chúng đánh để ta không tìm đợc chiều cao Của thân thể, ớc mơ và hạnh phúc.

Anh đã vạch trần tội ác, phê phán quyết liệt rồi đi đến kết án, xử tội

bọn ngời gieo rắc tội ác Thằng Mỹ kia bây sẽ bị "căm ghét đời đời", sẽ bị sự khinh miệt của loài ngời "mày đến Việt nam và đánh mất ở đây tất cả giá trị

cao quý của con ngời" "mày sẽ trở thành con số không khủng khiếp" Rõ

ràng, bằng lời thơ đanh thép sắc sảo, nhân danh dân tộc, thời đại, NguyễnKhoa Điềm đã làm nên bản cáo trạng kẻ thù đanh thép Đặc trng của thể trờng

ca trữ tình ở đây đã giúp anh bộc lộ đợc nhiều cảm xúc suy t bình luận trên cái

"Thế giới hiện thực" (26 tr 80) là giặc Mỹ Vì thế anh đã bóc trần bộ mặt kẻ

thù từ hành động, âm mu, lý thuyết, sự bịp bợm giả tạo của chúng Lời phântích biện giải thật sắc sảo Thơ anh vì thế không những giàu cảm xúc mà còn

đầy chất chính luận Sự gia tăng chất chính luận cũng là một đặc điểm của thơ

Họ băn khoăn về thành phố đầy bóng giặc", vì "xe bắt lính đứng ngoài

đờng" tâm hồn thế hệ trẻ " đầy khắc khoải" Câu tự vấn cứ day dứt mãi "sao con học để làm bày nô lệ".

Nguyễn Khoa Điềm bộc lộ sự đồng cảm sâu sắc với thanh niên miềnNam Anh hiểu tận sâu cùng mỗi ớc mơ niềm khao khát của họ

Có gì đâu chúng con chỉ muốn yêu thơng Sao thầy giảng chỉ những lời cay đắng

Trang 24

Máu thì đỏ mà phấn thầy thì trắng

Có vẽ nổi tâm hồn con không?

Một sự phát triển trong quá trình nhận thức đâu dễ dàng gì Để thuyếtphục ngời học sinh, sinh viên nhập vào cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc,

Nguyễn Khoa Điềm đã viết chơng V: "Đất nớc" Chơng V là chơng đạt đến

đỉnh cao cảm xúc trong thơ Khoa Điềm Anh đã cố gắng viết về đất nớc trongmột cảm xúc mạnh nh một sự thoát khỏi cái cố hữu thờng ngày để đạt tớinhững gì cao cả hơn

Qua giọng thơ sôi nổi thiết tha, bao cảm xúc chân thành, suy nghĩ sâusắc của Nguyễn Khoa Điềm về quê hơng đất nớc, lịch sử dân tộc đợc bộc lộ.Anh đã đào sâu suy nghĩ để nâng cảm xúc của mình lên ngang tầm thời đại

Sự phong phú của tình cảm t tởng đợc anh xắp xếp lại nên thơ anh gợi ra một

định nghĩa về đất nớc ấn tợng trong khi đã có nhiều cách định nghĩa về đất ớc

n-Khi ta lớn lên đất nớc đã có rồi

Đất nớc có tự ngày xa mẹ thờng hay kể

Đất nớc bắt đầu t miếng trầu bây giờ bà ăn.

Đất nớc lớn lên khi dân mình biết trồng ghe đánh giặc

Bằng những biểu tợng phong phú lấy từ kho tàng văn hoá lịch sử, "đất

nớc" đã thể hiện sự phong phú tri thức văn hoá của tâm hồn thơ Nguyễn Khoa

Điềm

Nhờ những yếu tố đó mà giờng nh thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thuyếtphục, tác động đợc con ngời trở về với nhân dân

Các chơng "Xuống đờng", "Khoảng lớn âm vang", "Báo bão" đã vang

lên khúc hát xuống đờng trong âm điệu hùng tráng Cũng nh văn học thờichống Mỹ nói chung khi mô tả các cuộc đấu tranh, thơ Nguyễn Khoa Điềmgiờ đây mang âm hởng hùng ca

"Mặt đờng khát vọng" là một thành công nữa của Nguyễn Khoa Điềm.

Anh đã xây dựng đợc một thế giới nghệ thuật có bản sắc mà "Đất ngoại ô"

mới chỉ báo hiệu đợc: đó là phong trào đấu tranh học sinh, sinh viên miềnNam

Qua "Mặt đờng khát vọng" phơng diện phản ánh của thơ Nguyễn Khoa

Điềm rộng hơn Nguyễn Khoa Điềm đã nói đến những vấn đề có tầm thế giới.Anh đã đi sâu hơn vào bề sâu nội tâm con ngời

Trang 25

"Mặt đờng khát vọng" là kết quả của hồn thơ giàu suy t, giàu xúc cảm

và vốn tri thức văn hoá phong phú Vốn liếng nghệ sĩ ấy lại đợc kết hợp vớikiến thức thực tế của con ngời từng lăn lộn trong ma bom đạn vãi, từng hớngdẫn tổ chức phong trào học sinh, sinh viên Đó cũng là kết quả của ý tởng lớnmuốn viết cái gì đó để động viên mình và động viên mọi ngời

Trờng ca "Mặt đờng khát vọng" đợc kết cấu theo đờng dây sự kiện hay

hệ thống chủ đề Tức là nhà thơ dựa theo một số sự kiện để bồi đắp cảm xúc

của mình Nên mỗi chơng mỗi khúc trong trờng ca là một bài thơ hoàn chỉnh, theo chủ đề trọn vẹn, tồn tại khá độc lập bên nhau, song lại có mối liên hệ bên trong, có bản chất gắn liền với chiều sâu về bề rộng của tác phẩm.

3.2.3 "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" (1986)

Sau 1975, nớc ta bớc vào một hoàn cảnh mới: Miền Nam đợc giảiphóng, độc lập thống nhất đã về với cả nớc Từ hoàn cảnh bất thờng của chiếntranh nay ta trở về với cuộc sống bình thờng với bao bộn bề phức tạp, niềmvui, nỗi lo thờng nhật Trớc sự đổi thay của cuộc sống, văn học nớc ta đã có

những chuyển biến Văn học dân tộc đã vơn lên nắm bắt, "khám phá và sáng

tạo", phục vụ cuộc sống mới, giờ đây văn học nói chung, thơ nói chung, đã

b-ớc vào một hớng đi mới "Thơ lật trở nên những góc cạnh của đời thờng, của

những vấn đề, những tâm trạng để khẳng định, những giá trị tinh thần mới"

sống sau chiến tranh, về những cảm nhận trăn trở của thế giới bên trong con

ngời Nguyễn Khoa Điềm Và "lặng lẽ, thâm trầm hơn, Nguyễn Khoa Điềm

đến với ngời đọc" (Vũ Tuấn Anh, TCVH số 3 - 3/1998).

Đến với "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" trớc hết ta bắt gặp những lời thơ

viết về cuộc sống xây dựng sau chiến tranh Giữa cuộc đời thờng, ký ức chiến

tranh vẫn trở về, sống trong Nguyễn Khoa Điềm Thơ anh in hằn "dáng ngồi

thợng cổ" với mái đầu đen bạc trĩu nặng suy t buồn vui mất còn sau chiến

tranh

Viết về những mất mát trong chiến tranh, tập "Ngôi nhà có ngọn lửa

ấm" đã đi sâu hơn, nhìn thẳng hơn so với các tập thơ trớc nhng Nguyễn Khoa

Điềm không rơi vào cảm hứng bi kịch Đó là biểu hiện của "một nhà thơ giàu

Trang 26

bản lĩnh luôn luôn chung thủy với lý tởng đã chọn và luôn viết đối diện với chính mình trên cơ sở ý thức tính công dân sâu sắc.(44.tr 46)

Song cái làm nên ấn tợng của tập thơ thứ ba này lại là bản thơ viết về

những tâm tình riêng Từ hớng ngoại anh trở về hớng nội Bởi anh biết "cuộc

đời này sâu nặng nỗi niềm riêng" Thơ anh trớc hết là tiếng nói của cái tôi nội

cảm Thơ sau 75 đều đã đi về cuộc đời thờng với sự bừng tỉnh của những nhu

cầu cá thể Xuân Quỳnh cũng khẳng định: "Thơ cũng nh cuộc sống mỗi ngời,

chiến đáu khi cần thiết nhng thơ bao giờ cũng thuộc về một bình yên, một mái

nhà, một quê hơng và tình yêu" (Xuân Quỳnh, Báo VN 6/3/1980)

Nguyễn Khoa Điềm cũng hòa giọng cùng bạn thơ sau 75 Anh trở vềvới cái tôi, đối diện với chính mình Nhà thơ có dịp nhận thức lại những gì đãtrải nghiệm của bản thân, đi sâu vào khai thác khám phá thế giới ở ngay trongmình Thơ anh trĩu nặng những suy t, lo âu đời thờng của mình, của bạn bè

Tự đánh giá, soi xét bản thân, Nguyễn Khoa Điềm đã để lại những vầnthơ thể hiện sự tự ý thức một cách chân thành, cảm động Thơ đã trải qua

những nỗi " buồn vui ấm lạnh" trong đời anh Có lúc anh cảm xúc lên đến

đỉnh cao:

"Ôi trái tim anh, trái tim đau buốt

Đã đập đêm qua, đã đập qua ngày".

(Hàng ngày)

Anh đi trong cái "hằng ngày" với có biết bao cảm xúc buồn vui của đời

thờng Trớc đây với hai tập thơ trong chiến tranh, những gì anh bộc bạch lànhân danh ta, chúng ta Giờ đây xúc cảm của anh ở tập thơ thứ ba này lànhững traỉ nghiệm những bức bối của thế giới bên trong Nguyễn Khoa Điềm

Đậm nhất và đời thờng nhất là cảm xúc về tình yêu trong thơ NguyễnKhoa Điềm Trớc đây, tình yêu đôi lứa trong chiến tranh là tình yêu gắn với

tình yêu lý tởng, tình yêu đất nớc Giờ đây, tình yêu trở về "đời hơn, thật

hơn".Với tập thơ thứ ba tình yêu hiện lên trong sự đa dạng về sắc thái, cung

bậc, nồng nàn:

"Anh yêu em trào nớc mắt

Sao tóc này mắt này Tâm hồn này da thịt này Lại có thể của anh".

(Những bài thơ tình viết trong chiến tranh)

Trang 27

Nh vậy, với " Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" Nguyễn Khoa Điềm đã nói đến

mọi điều bình thờng của cuộc sống với một giọng thơ bình thờng đụng chạm

đến mọi khía cạnh buồn vui của cuộc sống qua tâm trạng

Với "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" ta bắt gặp tập thơ có sự đa dạng của giọng

thơ Có rất nhiều thể loại thơ tự do, lục bát chất dân gian, cổ điển, hiện đại kết

hợp hài hoà "Câu thơ trí tuệ, cô đúc ý tứ, tớc đi những câu chữ bắc cầu Thơ anh

mở ra những chiều sâu mới Ta có cảm tởng nh câu thơ anh có khi nh ngón tay khẽ đặt lên phím đàn để lan truyền ấn tợng về âm thanh hơn là chính âm thanh".

Nhìn chung lại, "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" là thành công lớn của nhà

thơ Nguyễn Khoa Điềm giai đoạn sau chiến tranh tập thơ này đã thể hiện ớng cảm xúc mới của Nguyễn Khoa Điềm: điềm đạm và lắng sâu, tách bỏ lớp

h-vỏ của sự vật để khơi gợi từ đó cốt lõi bên trong, gợi bao lớp triết lý đạo đức

và nhân sinh Đó là lớp giá trị mới của cuộc sống mới trong đời thờng Tậpthơ góp phần làm nên một thành công của hớng mới của thơ Việt Nam sau1975: đi sâu tìm tòi và thể hiện một cách chân thực và sâu sắc về thế giới tinhthần của con ngời

Trang 28

những từ ngữ rất giản dị, hoạt bát Trớc kia, ngời ta thờng có quan niệm rằng :ngôn từ trong thơ phải là thứ ngôn từ thật bóng bẩy, hoa mỹ, cho nên khi sửdụng nhà thơ phải biết chọn lựa những yếu tố ngôn ngữ thật tiêu biểu, đặc sắc,chọn lọc Có lẽ chính vì vậy mà thơ ca cổ điển Việt Nam rất ít xuất hiệnnhững yếu tố thuộc về lời nói ( nh : lời hô gọi, lời chêm, khẩu ngữ ) Nh một

sự "phá cách", thơ hiện đại Việt Nam lại ngày càng đi gần lại với lời ăn tiếng

nói hàng ngày Ra đời nhằm phục vụ cuộc sống chiến đấu của dân tộc, thơNguyễn Khoa Điềm là thơ của quần chúng Không biết chính cuộc sống ấy đãnuôi dỡng làm cho ngôn ngữ thơ anh giàu tính dân gian hay ngợc lại, anh lựachọn cách nói riêng để thể hiện cuộc sống? Có lẽ vì cả hai Và vì lẽ đó trong

thơ anh "mạch ngôn từ và văn hoá dân gian đợc thức dậy trong một nỗ lực ghê

gớm của tình cảm và sức mạnh trí tuệ".Trong sáng tác nghệ thuật có nhiều

con đờng, song chung quy lại vẫn là dựa trên cái đã có để tạo ra cái mới cótrình độ cao hơn Tác phẩm văn chơng có thể là sản phẩm văn hoá của một ng-

ời, của một thời đại, cũng có thể là của nhiều ngời và của mọi thời đại Trí tuệtập thể bao giờ cũng mang những sức mạnh ghê gớm trong hoạt động sángtạo Nguyễn Khoa Điềm đã ý thức đợc vốn quý của ngôn ngữ dân gian, vănhoá dân tộc nên anh lấy đó làm chất liệu sáng tác chính và làm nguồn mạchcảm hứng cho mình Đó là một nguồn phơng tiên vô cùng giá trị mà dù chonhững vẻ đẹp mới đợc tôn vinh nó cũng không bao giờ bị đẩy lùi và mất đi Vìvậy ngôn từ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm nổi lên một số đặc điểm: vận dụngchất liệu dân gian, sử dụng khẩu ngữ, ngôn từ giàu sắc thái biểu cảm

1.1- Sử dụng từ ngữ giàu chất liệu dân gian.

Thông thờng ngời ta dùng chất liệu dân gian trong thơ lục bát vì thể thơnày gắn bó và có nguồn gốc dân gian Nhng trong thơ Nguyễn Khoa Điềmchúng tôi bắt gặp ở hầu hết các thể thơ: thơ lục bát của anh, xét về góc độcnào đó, có ảnh hởng của ca dao rõ nhất, sử dụng số lợng từ ngữ dân gian nhiềunhất: ví nh câu thơ

Ngoài sân trái bí đánh đu Trên tay mẹ bí bây giờ ngủ ngoan.

(Lời ru - Biển trớc mặt)

Ta nghe thấp thoáng đâu đó d vị của câu ca:

Bầu ơi thơng lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhng chung một giàn.

Trang 29

Chúng tôi thống kê trong "Biển trớc mặt": bài thơ có 17 cặp câu lục bát

mà có đến 26 yếu tố ngôn ngữ chất liệu dân gian (phần 2: Lời ru).

9 - khoai, cây rongbực trầu, ngọ , 3

Tần số xuất hiện của các yếu tố nh thế là ở mức độ "đậm đặc" Những

từ ngữ chỉ chất liệu dân gian đã chiếm 17,14 % Trong đó gồm các nhóm:

- Những từ ngữ chỉ con vật: Con sứa, con nghêu, con lờn bơn, con nục,cua đá, tôm

- Những từ ngữ chỉ sự vật: nuộc lạt, kèo nhà, nôi, lạch nguồn, hòn dá,sân, vờn, nơng

- Những từ ngữ chỉ thực vật, cây trồng: bí, chùm tiêu, củ khoai, quả cà,

mẹ cà, bụi trầu, ngọn khoai, cây rong

- Những từ chỉ nghề sông nớc: thả câu, nhịp chèo, thuyền

Đây là những từ ngữ "thuần nông" của cái nôi văn hoá lúa nớc ở nhiều tác phẩm khác của Nguyễn Khoa Điềm nh: "Mặt đờng khát vọng" (ch-

ơng "đất nớc ") "Khúc hát ru những em bé lớn trên lng mẹ" v v cũng có hiện

tợng này nhng do điều kiện không cho phép nên ở đây chúng tôi chỉ nêu lênmột ví dụ điển hình Nhng qua đó chúng ta cũng đã thấy rõ phần nào chất thơcủa Nguyễn Khoa Điềm ở phơng diện này

Việc sử dụng những từ ngữ chỉ chất liệu dân gian nói lên nhiều điềutrong sáng tác của anh:

Trang 30

- Hoà nhập vào không khí chung của thơ kháng chiến và sau khángchiến, phục vụ chiến tranh và khôi phục đất nớc nhng thơ Nguyễn Khoa

Điềm luôn giành riêng một khoảng trống để trở về với ngọn nguồn dân tộc,bằng cách này cách hay cách khác ở các phơng diện khác của hình thức thơ,chúng ta cũng ta cũng cảm nhận đợc hơi thở dân tộc, khi thì qua thể thơ, khithì qua nhịp điệu truyền thống Với cách sử dụng từ ngữ dân gian này,Nguyễn Khoa Điềm đa ngời đọc về với cuộc sống lao động thờng nhật củangời dân lao động Việt Nam

- Các sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm không xa lạ mà trở nên gần gũi

với mọi tầng lớp bạn đọc bởi vẻ dân giã do chính những yếu tố ngôn ngữ dân

gian mang lại

- Nhân sinh quan, thế giới quan của tác giả cũng đợc thể hiện qua việc

sử dụng lớp từ ngữ này Đó là những quan niệm, cái nhìn gắn với cuộc sốngcủa con ngời, của dân tộc ở cả đời sống vật chất và tinh thần Đặc biệt là cuộcsống của những con ngời nhỏ bé, bình dị và làm nên lịch sử

- Đằng sau những từ ngữ chỉ chất liệu dân gian là t duy về một nền vănhoá có bề dày lịch sử : Văn minh lúa nớc, văn minh nông nghiệp, ở đó, chúng

ta thấy rõ vốn liếng văn hoá dân tộc của tác giả Cái gọi là văn hoá dân tộc đã

"ngấm" vào "máu" chuyển thành nguồn cảm hứng sáng tác của nhà thơ

Nguyễn Khoa Điềm

1.2 Sử dụng từ ngữ chỉ địa danh

Thơ Nguyễn Khoa Điềm liên tục gọi tên những tên làng, tên núi, tênsông của quê hơng, đất nớc Những địa danh ấy luôn khắc khoải trong nỗi nhớcủa tác giả:

- Bạn ơi , bạn có nhớ Chỗ ngọn nguồn H ơng Giang

(Bạn ơi bạn có nhớ?)

Hoặc: - Tôi xin theo con nớc

Những suối nào theo chân Qua A Nhâm , A Đợt Cho lòng tôi đến trớc Làm bông hoa trắng ngần.

(Tiễn bạn cuối mùa đông)

Và: - Từ một buôn làng khuất dới bóng Ch lây

Trang 31

Hay một sóc Bom Bo bỗng ngân thành tiếng hát

Đều cho nhớ thơng, cho nớc mắt Tởng nh ta từ nơi ấy sinh ra

Ôi Hà Nội có bao giờ thơng thế Một đoá hoa rừng đủ nhớ một công viên

(Gửi anh Tờng).

Có khi địa danh đã trở thành tiêu đề cho cả một bài thơ nh: " Viết từ Đà

Nẵng", "Một lần dứng chân trớc Đồng Hới", "Thủy điện Khe Sanh", "Cây vông đồng trên đờng Lê Lợi", "Chiều Hơng Giang", " Tháng chạp ở Hồng tr- ờng", "Mùa xuân ở A - Đời", "Cát trắng Phú Vang", "Hình dung về Chê Ghê Van", "Nằng cửa Tùng" Trong tổng số 55 bài thơ, kiểu đề tài này gồm 10 bài

chiếm 18,2% Đây là một con số đáng kể

Thống kê, xem xét các bài thơ trên cùng các bài thơ có từ ngữ chỉ địadanh trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, chúng tôi nhận thấy những từ chỉ địadanh trong thơ anh gồm để chỉ:

a Địa danh chỉ những nơi gần Huế và về Huế

Từ chỉ địa danh thuộc nhóm này chiếm số lợng nhiều nhất, gồm 38 lầntrong tổng số 88 lần xuất hiện của từ chỉ địa danh, chiếm 43,18%

Có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã giành sự u ái đặc biệt cho Huế.Trong thơ anh, luôn ám ảnh bởi những địa danh của vùng đất Thừa Thiên Huế

nh: "Chợ Hôm, chợ Mai, Đập Đá, Vân Lâu, Mang cá, Phú Bài, Thuận An,

Phú Vang, chùa Bảo Quốc v.v " Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm ta nh cảm nhận

đợc hơi thở của mảnh đất hùng thiêng cả trong những ngày bình và nhữngngày lửa đạn của chiến tranh

Cả ngoại ô làm chiến luỹ sông Hơng

(Đất ngoại ô)

Trang 32

Thật dễ hiểu lý do tại sao Huế trở thành nguồn cảm xúc lớn trong thơ

Nguyễn Khoa Điềm Đó là quê hơng của anh, là "nơi Bác từng qua", là nơi

"cái nền căm hờn" của anh lớn lên từ đó , và sau này nó trở thành "Nỗi nhớ"

của anh và thơ

b Địa danh về thủ đô Hà Nội

Những từ chỉ địa danh về Hà Nội tuy xuất hiện không nhiều nhngnhững từ này trong các câu thơ, bài thơ đã trở thành đối tợng mà tác giả hớngtới:

- Đêm Hà Nội bắn rơi máy bay thù, bỗng vang giọng Bích Liên

Tởng nh chính ta đi trên con đờng Hà Nội "

Hà Nội bắt đầu sự sống

Mỗi đời riêng và đất nớc hôm nay

(Gửi anh Tờng)

Hà Nội trong thơ anh luôn là trái tim, là niềm hớng tới đối với mỗi conngời Việt Nam , mỗi chiến sĩ cách mạng

c Địa danh về những nơi tác giả đến và đi qua, địa danh của những kỷ niệm sâu lắng:

Với những tâm hồn chiến sĩ, trên suốt chặng đờng hành quân, mỗi nơi

đặt chân qua - bớc chân tới đêù là quê hơng ruột thịt Chính vì thế trong chiếntranh những mảnh đất ấy tiếp thêm cho họ sức mạnh để rồi trở thành nỗi nhớ

Kỷ niệm mỗi khi cảm xúc dâng trào Từng qua nhiều miền quê của tổ quốcnên thơ Nguyễn Khoa Điềm in dấu những địa danh nh từng bớc chân qua:

- Trên những hớng đi về phía mặt trời

Và Ưu Điềm nơi mẹ đẻ ra tôi

(Gửi anh Tờng) Con đờng qua núi Chuối

Chân cọp trộn chân ngời

- Con đờng qua A L ới Dép tám quai còn hai

(Tôi lại đi đờng này)

Thơ anh xuất hiện cả những địa danh từ đồng bằng đến miền núicao, từ trong nớc đến nớc ngoài nh : Phú Bài, Thuận An, Nhật Lệ,Quảng Bình, Đồng Hới, Hiền Lơng, A Nhân, A Đợt, dốc Ngàn Tám,Xpatxkaia, Chê GhêVan

Trang 33

Nói chung, việc sử dụng những từ ngữ chỉ địa danh vào thơ làmcho thơ Nguyễn Khoa Điềm có màu sắc hồi ký, tự sự Đồng thời nó thểhiện vốn sống, sự từng trải thực tế của bản thân tác giả Hệ thống những

từ ngữ chỉ địa danh này cũng đã làm cho từ ngữ trong thơ anh thêm đadạng mặc dù bản thân chúng ít mang lại sắc thái nghĩa

1.3 Sử dụng từ ngữ địa phơng

Một hình tợng nghệ thuật đợc đánh giá cao trong đó phải bao gồm cảphẩm chất thiết yếu đó là: tính chân thực Xét về góc độ ngôn ngữ, phẩm chấtnày có thể đạt đợc khi các lớp ngôn từ miêu tả, thể hiện nhân vật - tình cảm,cảm xúc mang tính tự nhiên và sát thực Xuất phát từ yêu cầu đó, NguyễnKhoa Điềm tìm tòi, vận dụng ngôn ngữ giao tiếp đời thờng nh trở thành bảnchất Thao tác này cần phải có sự khéo léo điều khiển ngôn từ để tránh sự

"lệch kênh" Đối với Nguyễn Khoa Điềm điều đó trở thành đơn giản vì ngôn ngữ thơ anh vốn đã "đồng chất" với chất liệu dân gian, với ngôn ngữ đời th-

ờng

Chính vì vậy, những khẩu ngữ đã đợc anh đa vào thơ rất hồn nhiên,

không lệch lạc với "thế giới ngôn từ thi ca" vốn có, tiêu biểu là những ví dụ:

- Ôi nhng cuộc đời sụt lở dần theo con nớc mỗi năm lùa vô Đập Đá

- Chỉ có tiếng còi tầu há mồm những con giòi rúc vào mạch máu

(Đất ngoại ô)

- Ôi thành phố yêu thơng

Ta xa ngời thế nớ

(Tiễn bạn cuối mùa đông)

- Chập chờn bóng giặc qua ô nhỏ

Súng nổ ?

- Trang ơi mi chết sao?

(Ngời con gái chằm nón bài thơ)

- Mẹ thơng con gái đầu sơng ớt :

- "Biết đến bao lâu nón lại chằm?"

(Ngời con gái chằm nón bài thơ)

Qua các ví dụ đó, chúng ta thấy khẩu ngữ mà Nguyễn Khoa Điềm sửdụng trong sáng tác cuả mình thờng do những nhóm từ sau đây đảm nhận:

Trang 34

1.4 Sử dụng những từ ngữ hô gọi: để chỉ cảm xúc trữ tình của tác giả

trớc đối tợng, sự vật mới mà tác giả bắt gặp hoặc hồi tởng

a Trớc đối tợng ,sự vật mới.

- Xin chào mẹ, chào cha!

- Xin chào em, chào út!

(Tha mẹ con đi)

b Hồi ức.

- Mẹ ơi, mè thì hay nhớ

Chuyện này nối qua chuyện kia.

(Nỗi nhớ)

- Mẹ ơi sao mẹ nói:

" ừ, thì con đi đi " ?

(Tha mẹ con đi)

1.5 Sử dụng những từ ngữ chỉ sự vật, hình ảnh đẹp, kỳ vĩ, những sự vật nhỏ bé

Nguyễn Khoa Điềm chú ý đặc biệt đến việc sử dụng những ngôn từ chỉ

những sự vật - hình ảnh đẹp, kỳ vĩ nh : "núi non, sông biển, Tổ quốc " Nguyễn Khoa Điềm đã không ngần ngại quyết định đa cả những " con", những " cái", những "chiếc", những " tiếng" rất nhỏ bé, giản dị tởng chừng nh

tầm thờng vào thơ Bởi lẽ, thơ anh - mảng đề taì viết về chiến tranh, cuộc sốngtrong chiến tranh nhiều, mà việc miêu tả, tái hiện nó - cuộc sống đơn giản củanhững ngời lính, ngời lao động- lại rất cần sự có mặt của những yếu tố anh lựa

chọn Đó là những : "chiếc nón, cái búa, cái cày, con gà đất" sực mùi xứ sở.

Hoặc là những hình ảnh rất gần gũi, giản đơn những mang đầy giá trị biểucảm:

- Trớc phu Văn Lâu lá cờ vàng nh tàu cải úa

- Bẻ củ sắn, chia đôi điều giản dị

- Con gái con trai đều đội mũ tai bèo

- Con gái con trai đều đi dép lốp

- Ôi trái mù u đọng dới chân ngời.

Và những tiếng động (dù rất khẽ) của những vật vô tri vô giác cho đếntiếng động lớn vọng về từ quá khứ cũng đợc anh lắng nghe làm thành nhịpthở trong thơ:

- Tiếng nhặt khoan nhịp sênh tiền mẹ hát

Trang 35

Tiếng phồng căng con gà đất đầu xuân Tiếng chìm sâu buổi phóng cọc Bạch Đằng Tiếng đục vào đất đêm

Tiếng khoan t ờng xuyên phố Tiếng đất rang lật dới chân cha vỡ

Và tiếng em rơi rơi

(Con chim thời gian)

- Tiếng con hát dòm ngõ vắng

Đọng vào tháng năm

(Nỗi nhớ)

Và : -Những tiếng kèn

Nấc lên giữa bốn bức tờng địa ngục.

(Con gà đất, cây kèn và khẩu súng)

Lớp từ ngữ trên làm cho thơ Nguyễn Khoa Điềm trở nên sống động, âmvang Cùng với những từ láy chúng làm tăng giá trị tạo hình, gợi thanh mang

đến tầm ỹ nghĩa gợi đầy hình ảnh, âm thanh cuộc sống

2 nhịp điệu

Nói về nhịp điệu, Maiakôpxki đã từng cho rằng: "Nhịp điệu là sức

mạnh cơ bản, là năng lực cơ bản của câu thơ Không giải thích đợc nó đâu, chỉ có thể nói về nhịp nh nói về từ lực hoặc điện Từ lực và điện đó là những dạng của năng lợng".Ngời ta lý giải: quan niệm của Maiakôpxki xem nhịp

điệu nh một yếu tố của năng lợng thơ là nhằm nhấn mạnh tính cộng hởng củanhịp điệu bài thơ đến ngời đọc, nhấn mạnh đến những yếu tố bên trong thamgia vào việc hình thành tổ chức nhịp điệu Nhịp điệu không thuần tuý là nhữngngân vang bên ngoài đi kèm theo ý thơ và có lúc nh thoát ra khỏi ý thơ.Maiakôpxki xem nhịp điệu thơ nh giọng điệu, sắc thái và cờng độ của cảmxúc thơ quyện hoà và tồn tại ngay trong chính dòng âm nhạc của thi ca và tạothành năng lợng cơ bản của câu thơ

ở Việt Nam, Phan Ngọc lại cho rằng : nếu thơ đã có đợc tứ hay thì chỉcần có nhịp điệu là đủ, vần luật không quan trọng lắm Tự thân cái tứ thơ hết

sức nên "thơ" trên cơ sở nhịp điệu có thể hoán cải tất cả để đem đến cho ta

một bài thơ hoàn chỉnh

Thực tế sáng tác và thởng thức, thẩm thấu cho thấy: nhịp điệu là xơngsống nhạc điệu của bài thơ Nhịp điệu là mặt ngữ âm không thể thiếu trongviệc tạo nên một tác phẩm văn học dới dạng thơ ca Nó là kết quả hoà phối âmthanh do sự ngắt nhịp đa lại Mỗi thể thơ có một kiểu ngắt nhịp phổ biến mang

Trang 36

tính đặc trng và trong từng bài thơ, đoạn thơ, tuỳ thuộc vào ý tứ mà kiểu ngắtnhịp cũng khác nhau Tuy vậy, mỗi thể thơ bao giờ cũng phải tuân theo mộtkiểu âm luật cơ bản nào đó Điều này có nghĩa là nhịp thơ mang tính đặc trngcho từng thể lọai Sự phá luật trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể vợt

ra ngoài giới hạn cho phép của cái nền âm luật chung nếu nh không có những

điều kiện cần thiết Tìm hiểu nhịp điệu- yếu tố ngữ âm là quan trọng, ngời tathờng chỉ chú trọng vào các thể thơ cách luật Ngoài nó ra chúng ta sẽ khó tìmthấy cái bản thể của thể loại mà chỉ tìm thấy những kiểu biểu hiện cụ thể trênmỗi văn bản thơ cụ thể mà thôi Và ở thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng vậy, cách

sử dụng thể thơ, từ ngữ, hình ảnh đã có tác động trực tiếp lên nhịp điệu trongthơ anh

Xét về hình thức, cái nhịp điệu riêng bên ngoài của thơ Nguyễn Khoa

Điềm dờng nh đợc tạo nên ba cách chung nhất:

2.1 Hiện tợng vắt dòng để tạo nhịp điệu cho thơ, lúc đó nhịp thơ tơng ứng với dòng thơ

Ví dụ:

- Khu phố ngoại ô

tầm tã rụng bên dòng sông những ngời dân nghèo về đây

nh vỏ hến chiều chiều tấp lên các bến.

(Đất ngoai ô)

Hay: - Và những bản làng

xôn xao tiếng trẻ xanh rờn mái rẫy

nh những phơng tiện tu từ Thực sự ở "thế giới" thơ anh, dấu câu đã trở thành

phơng tiện tu từ hữu hiệu:

- Bàn tay xây lá, tay xuyên chỉ

- Mời sáu vành, mời sáu trăng lên

- Em đi cùng với bao bè bạn

Trang 37

Bảo vệ quê nhà với chú, anh.

- Trên quê hơng đó - giờ tan nát

Mà mạnh đờng giao, cháy bỏng lòng !

- Súng nổ ?

- Trang ơi mi chết sao?

- Trang gọi em lên! Thù quyết trả!

- Cũng nh em vậy, thêm từng trải

Đất bụi bò lên: miệng lại cời

(Ngời con gái chằm nón bài thơ)

- Không ở đâu con ngời trớc con ngời

Thành "Chó dại" "Trâu điên" và "Đỉa đói".

(Mặt đờng khát vọng)

Trong những sáng tác thơ, cha ở đâu chúng tôi thấy tất cả dấu câu trongTiếng Việt lại xuất hiện đầy đủ đến nh vậy Hệ thống dấu câu không nhữngmang lại cho thơ anh nhịp điệu nhịp nhàng mà còn làm tăng giá trị biểu cảmcủa lời thơ tạo nên âm hởng riêng biệt trong dàn đồng ca của thơ kháng chiếnchống Mỹ Với những bài thơ tự do có câu thơ dài nh câu thơ Nguyễn Khoa

Điềm thì việc dùng dấu câu để tạo nhịp là hết sức phù hợp

2.3 Lặp lại từ ngữ, cấu trúc câu, cấu trúc đoạn thơ để tạo nhịp điệu.

Trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm chúng tôi thờng xuyên bắt gặphiện tợng này, chúng tôi sẽ tìm hiểu cụ thể hơn ở phần sau (phần IV) nhng ở

đây cũng xin đa ra một vài dẫn chứng:

Con gõ kiến đại ngàn Gạo nặng vai

Gõ nhịp thời gian Hơi em ngắn dập dùi chiến dịch

Nhịp con tim

Từng bớc chân Thánh thót mồ hôi

(Con chin thời gian)

Bản thân bài thơ không phaỉ chỉ có nhịp điệu" thuần tuý" của câu chữ

mà nó cả nhịp điệu của thời gian cuộc sống thực Nhịp điệu của cuộc sốngcộng hởng với nhịp điệu bên trong của tâm hồn cho chúng ta những bài thơ cónhịp điệu mang đầy cảm xúc: khi thì đằm thắm - yêu thơng, thiết tha, khi thìlại khoẻ khoắn, mạnh mẽ, dứt khoát, dồn dập

Có thể nói nhịp thơ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm thờng đợc sử dụng đikèm với thể thơ Thơ Nguyễn Khoa Điềm không đi ngoài các dạng:

Trang 38

và xếp song song thành hàng, thành khổ nh những đơn vị nhịp điệu, có thể có vần" (13.tr 202) Thơ tự do xuất hiện từ nhu cầu đòi hỏi thơ đi sát cuộc đời

hơn, phản ảnh đợc những khía cạnh mới của cuộc sống đa dạng, thể hiện đợcnhững cách nhìn nghệ thuật mới của nhà thơ

Nguyễn Khoa Điềm đã tận dụng, phát huy đợc lợi thế của thể thơ này

Đây là thể thơ chiếm vị trí u thế trong sáng tác của anh từ "Đất ngoại ô" cho

đến " Mặt đờng khát vọng" và "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm" Qua khảo sát

Viết theo thể thơ này, ngòi bút của thơ Nguyễn Khoa Điềm dờng rất

phóng túng, khoáng đạt trong việc diễn đạt cảm xúc Anh không "gọt giũa"

câu chữ, không câu nệ - cầu kỳ lắm trong việc tìm hình thức biểu hiện Câuthơ tự do có lúc đang dàn trải 12; 14 tiếng trên một dòng thơ, rồi có khi lại rútthành 8 tiếng, 7 tiếng, 6 tiếng và 4 tiếng trong một dòng

Dờng nh thơ sau vòm lá cao sang kia sự sống đã sắp đặt xong

Và trên cột côranh xù xì kia dựng một trời ngỡng mộ

Mỗi ngọn lá một bàn tay trẻ nhỏ

Thả bình an trên vừng trán ngời qua.

Trang 39

Lá vông đồng rơi

Lá vông đồng rơi

(Cây vông đồng trên đờng Lê Lợi)

ở những bài thơ tự do này, cái gắn kết các dòng thơ lại với nhau khôngphải là niêm luật hay vần vè nh trong những thể thơ truyền thống Cái chất

keo làm nên "chất thơ" ở đây chính là cảm xúc của nhà thơ, là tâm hồn, tình

cảm của nhà thơ ẩn sau từng câu chữ Nói nh thế không có nghĩa là chúng tôi

phủ nhận "chất " cảm xúc trong thơ lục bát, thơ ngũ ngôn mà chúng tôi chỉ

nhằm nhấn mạnh: ở thơ tự do, cảm xúc là quan trọng nhất, nó chi phối cả hìnhthức lẫn câu thơ của bài thơ Quả thực là cảm xúc, tình cảm chi phối rất mạnh

mẽ đến hình thức biểu hiện Quay trở lại chính hình thức ảnh hởng tới việc cảm

nhận nội dung "Hình thức trong thơ không phát huy vẻ đẹp và sức hấp dẫn của nó

nhằm mục đích tự thân Và nội dung của thơ cũng bị hạn chế và mất mát đi rất nhiều nếu không tìm đợc những phơng tiện biểu hiện tơng xứng và có hiệu lực nhất" (9 tr353) Khi khát vọng tự biểu hiện cảm xúc của các nhà thơ đã phá

vỡ, vợt qua "bức thành trì" của thơ có niêm luật chặt chẽ để tìm ra một hình

thức biểu hiệu mới thì "cảm xúc" đã tìm đến "thơ tự do" nh một nhu cầu (đó

chính là một thành tựu của văn học hiện đại mà Nguyễn Khoa Điềm cùng bạn

bè anh đã kế thừa, phát huy) Chính vì vậy mà có nhiều bài thơ của anh đã kết

hợp nhiều thể thơ cùng một lúc nh: "Biển trớc mặt", "Những bài thơ tình viết

trong chiến tranh" Đó là những bài thơ dài, thờng có nhiều phần - đoạn khác

nhau, mỗi phần - đoạn ấy đợc viết bằng một thể thơ khác nhau tạo nên sự

"phóng khoáng" do cảm xúc "đột phá".

Đọc thơ tự do của Nguyễn Khoa Điềm chúng tôi thấy nổi lên một điềurằng: hầu nh các bài thơ viết theo thể tự do của anh đều đợc chia thành nhữngkhổ thơ rõ ràng Số lợng câu thơ không quy định chặt chẽ song mô hình cấutrúc của các khổ thơ thì lại đợc lặp đi lặp lại Có thể kể tên các bài thơ nh :

"Con chim thời gian", "Nỗi nhớ", "Con gà đất, cây kèn và khẩu súng", "Từ

những gì các anh trao", "Có một ngày", "Những bài hát, những con đờng",

"Những bài thơ tình viết trong chiến tranh","Trên khối đá của từ ngữ"

Thống kê: có khoảng 50% số bài đợc viết theo hình thức này Hình thức thơtrên hết sức phù hợp với thơ tự do có nội dụng tự sự của Nguyễn Khoa Điềm.Mỗi khổ thơ - đoạn thơ nói về một sự việc - kể một câu chuyện - bầy tỏ mộtmối tâm tình trong cái tổng thể của nguồn cảm xúc lớn

Trang 40

Trong khi Nguyễn Khoa Điềm viết theo một cách riêng thì các nhà thơ

đồng đội của anh lại đi theo hớng khác: thơ tự do của Phạm Tiến Duật, ChínhHữu hay Xuân Quỳnh lại kéo dài liền mạch, không phân chia thành từng

đoạn thơ trong một bài thơ ở Xuân Quỳnh có trong sự mới lạ thì lại ở mộthình thức độc đáo khác đó là: đoạn thơ của chị đợc tổ chức theo kiểu thơ môphỏng, tợng trng của một số nhà thơ trong phong trào thơ mới Năm dòng thơ

đầu, số lợng âm tiết tăng đều đặn theo công thức n + 1 Sau đó lại giảm dần từ

8 âm tiết xuống 7 âm tiết và 5 âm tiết

Đặc điểm thứ hai mà chúng tôi thấy trở thành " hiện tợng" trong thơ tự

do của Nguyễn Khoa Điềm chính là: 100% các bài thơ đều viết theo kiểu câuthơ văn xuôi

Các nhà thơ trớc và sau năm 1945 thờng hay viết theo kiểu này, nhng

không phải là "nhất thể " trong sáng tác của họ Nếu nh nói rằng ngôn ngữ thơ

của Nguyễn Khoa Điềm đậm đà bản sắc dân gian thì chính kiểu câu thơ vănxuôi đã xích thơ anh lại gần gũi với đời thờng hơn Câu thơ đợc co giãn theodòng suy nghĩ, theo chiều sâu cảm xúc.Tuy không độc đáo trong cách gieovần nhng lại ấn tợng bởi sự phối nhịp tạo nên làn điệu, lớp sóng của sự suy t:

Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào 4000 năm đất nớc Năm tháng nào cũng ngời ngời lớp lớp Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta Cần cù làm lụng

Khi có giặc ngời con trai ra trận Ngời con gái trở về nuôi cái cùng con

Ngày đăng: 18/12/2013, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Đỗ Thị Kim Liên : Câu "bất quy tắc trong văn bản thơ" trong "Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ", nxb GD, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: bất quy tắc trong văn bản thơ" trong "Những vấn đề lý thuyết lịch sử văn học và ngôn ngữ
Nhà XB: nxb GD
1. Trơng Vũ Thiên An : Lời yêu lặng lẽ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, văn hóa - văn nghệ Công an, 1998, số 8 Khác
2. Aristôt. A: Nghệ thuật thơ ca, nxb Văn học, 1999 Khác
3. Nguyễn Nhã Bản: Các bài giảng về ngôn ngữ thơ, Vinh 2002 Khác
4. Nguyễn Phan Cảnh: Ngôn ngữ thơ, nxb ĐH & THCN, 1997 Khác
5. Đỗ Hữu Châu: Đại cơng ngôn ngữ học, nxb GD, 1993 Khác
6. Đỗ Hữu Châu: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, nxb GD,1998 7. Đỗ Hữu Châu: Tiếng Việt lớp 10, nxb GD, H, 1992 Khác
8. Hữu Đạt: Ngôn ngữ thơ Việt Nam, nxb GD, 1996 Khác
9. Hà Minh Đức: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, nxb KHXH, 1994 Khác
10. Hà Minh Đức: Thực tiễn cách mạng và sáng tạo thơ ca, nxb Văn hóa, 1997 Khác
16. Nguyễn Trọng Hoàn - Ngô Thị Bích Hơng: Viễn Phơng,Thanh Hải, NguyÔn Khoa §iÒm, nxb GD, 1999 Khác
18.Thụy Khuê : Cấu trúc thơ, nxb VN, California, Hoa Kỳ, 1996 . 19. Nguyễn Xuân Kính : Thi pháp ca dao, nxb KHXH, 1992 Khác
21. Tôn Phơng Lan : Nhà thơ Việt Nam hiện đại Khác
22. Đinh Trọng Lạc : 99 biện pháp tu từ Tiếng Việt, nxb GD, H, 1999 . 23. Đinh Trọng Lạc : Phong cách học Tiếng Việt, nxb GD, H, 1998 Khác
24. Nguyễn Đăng Mạnh : Các nhà văn nói về văn T1 - T2, nxb TPM, 1996 Khác
25. Nguyễn Xuân Nam : Thơ tìm hiểu và thởng thức, nxb TPM, 1985 . 26. Tạ Đình Nam : Cảm nhận dọc đờng văn học, nxb Thuận Hóa, 2000 . 27. Vơng Trí Nhàn : Bớc đầu đến với văn học, nxb TPM, 1996 Khác
28. Viện ngô ngữ : Từ điển Tiếng Việt, nxb Đà Nẵng, 2000 Khác
29. Phan Ngọc : Cách lý giải văn học bằng ngôn ngữ, nxb trẻ, 1995 . 30. Ôcxta Viôt Pat : Ngôn ngữ và trừu tợng, VN, 1993, số 21,22 . 31. Vũ Quần Phơng : Thơ với lời bình Khác
34. Hoàng Trọng Phiến : Ngữ pháp Tiếng Việt, nxb ĐH&THCN, 1998 Khác
35. Nguyễn Đức Quyền : Những vẻ đẹp thơ, nxb HVN Nghĩa Bình . 36. Vũ Tiến Quỳnh : Phê bình, bình luận văn học, nxb văn nghệ HCM,1998 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng Đất Nớc đã trở nên trọn vẹn sau cái mạch  suy tởng dài của tác giả! - Thơ nguyễn khoa điềm nhìn từ góc độ ngôn ngữ
Hình t ợng Đất Nớc đã trở nên trọn vẹn sau cái mạch suy tởng dài của tác giả! (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w