Thực tế, trong thời gian qua, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc im lặng trong khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp
Trang 1Buổi thảo luận thứ hai: Vấn đề chung của hợp đồng Vấn đề 1: Im lặng trong quá trinh giao kết hợp đồng
- Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng?
Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 đã có quy định liên quan đến “Im lặng trong giao kết hợp đồng” tại khoản 2 Điều 401, “Hợp đồng dân sự cũng được xem là giao kết khi hết hạn trả lời mà bên nhận đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” Thực tế, trong thời gian qua, nhiều tranh chấp phát sinh từ việc
im lặng trong khi nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, BLDS 2015 quy định cụ thể vấn đề này nhằm hạn chế những trường hợp phát sinh tranh chấp không đáng có từ việc im lặng này:
Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên (Căn cứ Điều 393 Bộ luật dân sự 2015)
Như vậy từ hai bộ luật có thể thấy rõ sự khác biệt trong quy định khi ở BLDS 2005 Quy định tại khoản 2 Điều 401 là được xem là giao kết và tại BLDS 2015 ở Điều 393 thì Quy định rằng Im lặng không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Qua đó có thể thấy điểm mới của BLDS 2015 về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng đã có sự quy định mới về tính thực thi của sự im lặng trong việc trả lời chấp nhận giao kết.
- Đoạn nào của Quyết định cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng tài sản cho ông Nâu?
Trong phần xét thấy của quyết định, đoạn: “Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, thì ngày 30-3-2004 anh Nguyễn Phát Đạt lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Nâu với giá 250.000.000 đồng” đã cho thấy anh Đạt đã chuyển nhượng
tài sản cho ông Nâu
Đoạn nào của Quyết định cho thấy tài sản anh Đạt đã chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)?
Trong phần xét thấy của quyết định, đoạn: “Tuy nhiên, khối tài sản của anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của vợ chồng anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt) cần phải căn cứ vào quy định để giải quyết” đã cho thấy tài sản anh Đạt
chuyển nhượng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt)
Việc chuyển nhượng trên có cần sự đồng ý của chị Linh không? Vì sao? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trang 2Việc chuyển nhượng trên cần có sự đồng ý của chị Linh Vì: Khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của vợ chồng anh Đạt và chị Linh, cho nên chị Linh và anh Đạt có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, định đoạt, sử dụng đối với khối tài sản đó
Cơ sở pháp lý: Khoản 2 Điều 213 BLDS 2015
Theo thực tiễn xét xử Việt Nam khi nào im lặng được coi là chấp nhận (đồng ý) hợp đồng?
Theo thực tiễn xét xử tại Việt Nam, sự im lặng không đủ để suy luận sự đồng ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng Tòa án sơ thẩm hay phúc thẩm không thể kết luận ngay hợp đồng không có giá trị pháp lý khi chưa xác định rõ ý chí của người giữ im lặng Tuy nhiên, sự im lặng có thể là một biểu hiện của sự chấp nhận nếu tồn tại yếu
tố khác Sau đây là các yếu tố cho phép suy luận đã có sự chấp nhận hợp đồng:
- Những chủ sở hữu chung này biết việc chuyển nhượng và không phản đối;
- Những chủ sở hữu chung này có tham gia vào một giai đoạn nào đó của việc
chuyển nhượng như tham gia nhận tiền, ;
- Tuy khi chuyển nhượng, những chủ sở hữu chung này không biết nhưng sau
khi biết có việc chuyển nhượng đã sử dụng chung tiền chuyển nhượng hoặc được người chuyển nhượng chia tiền chuyển nhượng tài sản
Bản án thực tế: Nguồn án lệ
Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 03-3-2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà
Lê Thị Quý, bà Trần Thị Phấn, anh Lê Văn Tám, chị Lê Thị Tường, anh Lê Đức Lợi, chị Lê Thị Đường, anh Lê Mạnh Hải, chị Lê Thị Nhâm
Khái quát nội dung của án lệ: Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận
và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất
- Ngoài ba yếu tố trên thì còn có yếu tố thứ 4 có thể là dựa vào lời khai của bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng khi lời khai này cho thấy rằng người giữ
im lặng đã đồng ý hợp đồng
Trang 3 Chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên không?
Quyết định trên không cho câu trả lời về việc chị Linh có biết, có phản đối việc chuyển nhượng trên hay không Vì bản án có đoạn: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ kí của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng Nếu chị Linh không biết và không đồng ý chuyển nhượng thì cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.”
Theo Tòa án nhân dân tối cao trong vụ việc được bình luận, nếu chị Linh biết và không phản đối việc chuyển nhượng thì có được coi chị Linh đồng ý không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Trong Quyết định số 439/2011/DS – GĐT tại trang 05 có đoạn như sau: “Tuy nhiên, khối tài sản anh Đạt thế chấp cho Ngân hàng là tài sản chung của anh Đạt và chị Linh (vợ của anh Đạt), nhưng các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên mới chỉ có chữ ký của anh Đạt nên cũng cần phải xem xét chị Linh có biết việc chuyển nhượng hay không? Nếu chị Linh biết mà không phản đối thì phải coi chị Linh cũng đồng ý việc chuyển nhượng”
Hướng giải quyết trên của Tòa dân sự đã có tiền lệ chưa? Cho biết tiền lệ
mà anh/chị biết.
Hướng giải quyết của Tòa dân sự đã có án lệ
Cụ thể như sau: vợ chồng cụ Đạo và cụ Mùi sinh được 5 người con là các ông bà Lành, Khởi, Chiến, Quang và Sâm Sinh thời, hai cụ tạo lập được một nhà cấp 4 trên diện tích hơn 500m2 đất và một ngôi nhà mái bằng trên diện tích hơn 300m2 đất Ngày 13/05/1991, ông Sâm ký hợp đồng bán cho ông Phong ngôi nhà cấp bốn trên diện tích 237,4m2 Hợp đồng có chữ ký làm chứng của cụ Mùi, ông Quang và được UBND xác nhận Năm 2000 các bên xảy ra tranh chấp Ông Phong đã trả đủ tiền, nay khởi kiện yêu cầu giao trả nhà đất đã mua, còn ông Quang yêu cầu hủy bỏ hợp đồng Tại Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lần hai: bà Lành, bà Khởi, ông Chiến cho rằng đây là di sản thừa kế của anh, chị, em nên đề nghị hủy hợp đồng vì ông bà không biết gì về việc mua bán
Về vấn đề này, Hội đồng thẩm phán xét rằng: Do nhà, đất ông Sâm bán cho ông Phong là một phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cụ Đạo, cụ Mùi Cụ Đạo chết năm 1990 không để lại di chúc, nên tài sản này là một phần di sản thừa kế của cụ Đạo chưa chia Theo lời khai của bà Lành, bà Khởi, ông Chiến thì tại thời điểm cụ Mùi cùng ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất các ông, bà này có biết nhưng vì lý do
Trang 4tình cảm gia đình nên các ông, bà này không có ý kiến gì Việc không có ý kiến của các ông, bà này chưa có cơ sở để xác định các ông, bà này đồng ý hay không đồng ý với việc mua bán Vì vậy, xét thấy cần phải hủy Bản án dân sự phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại theo hướng: tại thời điểm cụ Mùi, ông Quang, ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong thì bà Lành, bà Khởi và ông Chiến đồng ý hay không đồng ý với việc cụ Mùi, ông Quang và ông Sâm bán nhà, đất cho ông Phong Nếu có cơ sở xác định những người này đồng ý với việc mua bán, nhưng do khó khăn khách quan nên không thể hiện bằng văn bản thì công nhận hợp đồng
Suy nghĩ của anh/chị về vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam.
Vai trò của im lặng trong giao kết hợp đồng ở Việt Nam không đủ để suy luận đồng
ý hay không đồng ý chấp nhận hợp đồng Theo khoản 2 Điều 393 BLDS 2015 “sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thoả thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên” chỉ
thừa nhận một trường hợp im lặng là đồng ý giao kết hợp đồng khi đáp ứng được điều
kiện là có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị “im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” hợp đồng Tuy nhiên đây là quy định duy nhất của bộ luật dân
sự về giá trị của sự im lặng trong việc giao kết hợp đồng Trong thực tế, không phải lúc nào các bên cũng thoả thuận im lặng có giá trị như chấp nhận hợp đồng
Nên trong thực tiễn pháp lý Việt Nam, sự im lặng không đủ để khẳng định việc chấp nhận hợp đồng Tuy nhiên, sự im lặng có thể là một biểu hiện của sự chấp nhận nếu tồn tại yếu tố khác Như việc bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng nhưng sau đó yêu cầu bên kia thực hiện hợp đồng; bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng tiếp nhận việc thực hiện hợp đồng của bên kia và cũng tiến hành thực hiện hợp đồng phía mình; bên giữ im lặng trong quá trình giao kết biết rõ việc thực hiện hợp đồng nhưng không có phản đối gì; dựa vào lời khai của bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng khi lời khai này cho thấy rằng người giữ im lặng đã đồng ý hợp đồng
Ví dụ: Điều 452 BLDS 2015
Vấn đề 2: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được
Những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS
2015 và BLDS 2005 về chủ thể đang được nghiên cứu.
Những thay đổi giữa Điều 411 BLDS 2005 và Điều 408 BLDS 2015 là:
Trang 5 Khoản 1 Điều 411 BLDS 2005 khác với quy định tại khoản 1 Điều 408 BLDS
2015 hiện hành ở chỗ, cứ thuộc trường hợp “đối tượng không thể thực hiện được” thì hợp đồng bị vô hiệu, chứ không cần kèm theo điều kiện “vì lý do khách quan” Theo
cá nhân, quy định tại Điều này là hoàn toàn hợp lý và có tính chất đương nhiên Việc gánh chịu và bồi thường thiệt hại được đặt ra đối với một bên hoặc cả hai bên tuỳ thuộc vào mức độ lỗi theo các quy định chung Các bên có thể tự do thoả thuận về bất
kỳ nội dung nào của hợp đồng nói chung, đối tượng của hợp đồng nói riêng, nhưng sẽ
vô hiệu nếu đối tượng không thể thực hiện được từ thời điểm giao kết, bất kể lý do chủ quan hay khách quan
Khoản 2: Không có sự thay đổi
Khoản 3 Điều 411 BLDS 2005 khác với quy định tại khoản 3 Điều 408 BLDS
2015 hiện hành ở chỗ chỉ quy định “tại khoản 2 Điều luật này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được, nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý” chứ không bao gồm cả khoản
1 và khoản 2 như Bộ luật hiện hành quy định Bên cạnh đó, cuối khoản 3 của Điều
411 BLDS 2005 là “có giá trị pháp lý” còn ở khoản 3 Điều 408 BLDS 2015 là “có hiệu lực”, tuy về hình thức có khác khau nhưng thật chất đây là hai từ đồng nghĩa Theo cá nhân, quy định tại Điều này là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ nó mang tính đầy đủ hơn, những vấn đề này sẽ được xét trên cả hai trường hợp: hợp đồng dân sự bị vô hiệu toàn phần và hợp đồng dân sự bị vô hiệu một phần
Một bên có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015 không? Vì sao?
Một bên vẫn có thể yêu cầu tuyên bố hợp đồng trên vô hiệu trên cơ sở Điều 408 BLDS 2015
Giải thích: “Điều 408: Hợp đồng dân sự vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được:
1 Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu
2 Trường hợp khi giao kết hợp đồng mà một bên biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được nhưng không thông báo cho bên kia biết nên bên kia đã giao kết hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia, trừ trường hợp bên kia biết hoặc phải biết về việc hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được
3 Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này cũng được áp dụng đối với trường hợp hợp đồng có một hoặc nhiều phần đối tượng không thể thực hiện được nhưng phần còn lại của hợp đồng vẫn có hiệu lực.”
Mặc dù việc ông An ký hợp đồng bán cho ông Bình một máy đào hiệu Hitachi nhưng không nêu rõ số hiệu máy cũng như tình trạng của máy dẫn đến việc khi thực
Trang 6hiện hợp đồng, hai bên không thống nhất được với nhau về máy phải giao nhận - là lý
do chủ quan, nhưng xét trên cơ sở khoản 1 Điều 408 BLDS 2015 thì chỉ cần trong trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu, không cần phân biệt vì lí do khách quan hay chủ quan
Vấn đề 3: Xác lập hợp đồng giả tạo nhằm tẩu tán tài sản
*Đối với vụ việc thứ nhất
Thế nào là giả tạo trong xác lập giao dịch?
Giả tạo trong xác lập giao dịch là việc các bên xác lập giao dịch dân sự nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba
Đoạn nào của Bản án cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng? Các bên xác lập giao dịch có giả tạo với mục đích gì?
Trong Bản án số 06/2017/DS-ST ngày 17/01/2017 của Tòa án nhân dân TP Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, đoạn cho thấy các bên có giả tạo trong giao kết hợp đồng là: “Nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 23/11/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn có thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nội dung giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất số AP 154638, số vào sổ H53166 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp ngày 30/7/2009, tọa lạc tại phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, giá chuyển nhượng 200.000.000 đồng Hai bên đều thừa nhận đây là giao dịch giả tạo để che giấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng.”
Các bên xác lập giao dịch giả tạo nhằm mục đích che giấu một giao dịch dân sự khác Cụ thể trong Bản án trên, các bên thiết lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm che giấu việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng
Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu.
Hướng giải quyết của Tòa án đối với hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu là: Tòa án đã áp dụng Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015, tức là tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập giữa nguyên đơn Trần Thị Diệp Thúy và bà Nguyễn Thị Thanh Trang theo hình thức “giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là vô hiệu do giả tạo còn giao dịch vay tài sản số tiền 100.000.000 đồng có hiệu lực
Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Tòa án về hợp đồng giả tạo và hợp đồng bị che giấu
Trang 7Nhóm em đồng ý với hướng giải quyết của Tòa án Vì cả hai bên đều thừa nhận hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất là giao dịch giả tạo để che dấu cho việc nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền 100.000.000 đồng Theo Điều 124 Bộ luật dân sự 2015 thì
“Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che dấu cho một giao dịch dân sự khác thì giao dịch giả tạo vô hiệu, còn giao dịch che dấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch dân sự đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này” Vì vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do giả tạo, còn giao dịch vay tài sản số tiền là 100.000.000 đồng có hiệu lực.
*Đối với vụ việc thứ hai
Vì sao Tòa án xác định giao dịch giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ với bà Thu?
Vì vợ chồng bà Anh thừa nhận còn nợ bà Thu 3,1 tỷ đồng, đồng thời vợ chồng bà Anh cam kết chuyển nhượng nhà đất (đang có tranh chấp) để trả nợ cho bà Thu, nhưng vợ chồng bà Anh không thực hiện cam kết với bà Thu mà làm thủ tục chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Vượng Thỏa thuận chuyển nhượng giữa vợ chồng
bà Anh với vợ chồng ông Vượng không phù hợp với thực tế vì giá thực tế nhà đất là gần 5,6 tỷ đồng, nhưng hai bên thỏa thuận chuyển nhượng chỉ với giá 680 triệu đồng
và thực tế các bên cũng chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng Vì vậy, Tòa án xác định giao dịch chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà Anh với vợ chồng ông Vượng là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng bà Anh đối với bà Thu
Suy nghĩ của anh/chị về hướng xác định của Tòa án (giả tạo để trốn tránh nghĩa vụ) ?
Theo nhóm em, Tòa án xác định như vậy là hợp lí Vì theo bản án thì hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông Vượng và vợ chồng bà Anh thực chất là giả tạo Vợ chồng bà Anh đã chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng ông Vượng với giá
là 680 triệu đồng, trong khi giá thực tế là 5,6 tỉ đồng Hợp đồng này của vợ chồng bà Anh cho thấy tính không thực tế của việc chuyển nhượng và theo lẽ thông thường thì
sẽ không ai muốn chịu thiệt, đặc biệt là tiền bạc, chịu bất lợi cho mình như vậy Mà vợ chồng bà Anh lại còn đang nợ tiền bà Thu bà đã cam kết chuyển nhượng nhà đất trên cho bà Thu và thủ tục chuyển nhượng cũng chưa được hoàn tất
Cho biết hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa vụ.
Hệ quả của việc Tòa án xác định hợp đồng trên là giao dịch nhằm trốn tránh nghĩa
vụ là hợp đồng sẽ bị vô hiệu theo Điều 124 BLDS 2015 Tức là hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng bà Anh cho ông Vượng, bà Nga được xác định là giao
Trang 8dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba (nghĩa vụ trả nợ cho bà Thu) sẽ bị vô hiệu nhằm đảm bảo quyền lợi của bên có quyền
Vấn đề 4: Hình thức hợp đồng
Hợp đồng trong hai vụ việc trên có phải công chứng, chứng thực không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Hợp đồng trong hai vụ việc trên không phải công chứng, chứng thực
Cơ sở pháp lý:
Đối với bản án số 03: “Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Văn Thìn và vợ chồng bà Đoàn Thị Yến, ông Nguyễn Văn Đẩu là giao dịch hợp pháp có hiệu lực pháp luật.”
Đối với bản án số 41: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đức Thành; tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Thành và ông Bùi Quang Ngọc đề ngày 27/10/2007 có giá trị pháp lý.”
Trong bản án số 03, Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?
Trong Bản án số 03, Toà án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực là thuyết phục Vì mặc dù hợp đồng này chưa được công chứng, chứng thực nhưng thể hiện rõ ý chí của những người có quyền sử dụng đất, bên bán đã nhận tiền
và bên mua đã nhận đất, các bên đã thực hiện trên 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên không nhất thiết phải công chứng, chứng thực nữa
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 129 BLDS 2015
Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về mặt hình thức
và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về mặt hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 là hoàn toàn thuyết phục vì:
- Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về mặt hình thức vì
không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận
- Theo điểm đ, khoản 1, Điều 132 BLDS 2015 “Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên
bố giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định trong các Điều 125, 126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 2 năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về mặt hình thức”
Trang 9- Đơn kiện của ông Nguyễn Đức Thành ngày 29/10/2009, trong khi đó hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được kí kết vào ngày 27/10/2007 Chính vì vậy mà theo điểm đ, khoản 1, Điều
132 BLDS 2015 thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Diệu và ông Ngọc không bị vô hiệu về mặt hình thức
Theo BLDS hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố
vô hiệu về mặt hình thức.
Theo BLDS hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu
về mặt hình thức:
- Chủ thể có quyền khởi kiện mất quyền yêu cầu tòa án can thiệp;
- Dẫn đến thiệt hại cho người có quyền khởi kiện.
Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng sau khi xác định có vi phạm quy định hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là thuyết phục Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã vi phạm về hình thức và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nhưng căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 132 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 132 BLDS 2015 quy định: “Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực