Buổi thảo luận thứ ba: Vấn đề chung của hợp đồng tiếpVấn đề 1: Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các
Trang 1Buổi thảo luận thứ ba: Vấn đề chung của hợp đồng (tiếp)
Vấn đề 1: Buộc tiếp tục thực hiện hợp đồng
Đối với vụ việc trong Quyết định số 36, đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã buộc các bên tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng?
Tại Quyết định số 36 đoạn cho thấy Tòa án địa phương buộc các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng là:
“Tại bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2010/KDTM-ST ngày 27/8/2010 Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
“ 1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương đối với Công ty TNHH Damool VINA về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”.
2 Buộc công ty TNHH Damool VINA tiếp tục thực hiện hợp đồng số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009 giữa công ty TNHH Damool VINA với công
ty cổ phần Hồng Hà Bình Dương.
3 Tiếp tục duy trì Quyết định để đảm bảo vệc thi hành án (cho đến khi thi hành
án xong) ”
Hướng của Tòa án địa phương có được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Hướng của Tòa án địa phương không được Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận vì:
Trong đoạn 2 của phần Xét Thấy trong bản án có ghi: “Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm
và Tòa án cấp phúc thẩm buộc Công ty Hồng Hà Bình Dương và Công ty VINA tiếp tục thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 7 là không đúng”.
Vì sao Tòa án nhân dân tối cao theo hướng nêu trên? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Căn cứ vào Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có thể thấy trong vụ án này
nguyên đơn và bị đơn tranh chấp “Hợp đồng nguyên tắc chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất số 007/09/DMVN-HHDT ngày 10/10/2009” Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm lại xác định là tranh chấp
“Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” là không đúng Mặt khác,
nguyên đơn và bị đơn trong vụ án này đều là hai doanh nghiệp đều có đăng kí kinh doanh: Thực hiện Hợp đồng nguyên tắc số 007 về việc chuyển nhượng tài sản và nhà xưởng gắn liền với quyền sử dụng đất, mục đích nhằm phục vụ cho việc kinh doanh,
Trang 2nên xác định đây là vụ án kinh doanh, thương mại được quy định tại Điều 29 Bộ luật
tố tụng dân sự 2005
Qua đó ta thấy đoạn 03 ở phần xét thấy của Quyết định cho câu trả lời Bởi lẽ trên
và căn cứ khoản 3 Điều 297 và Điều 299 Bộ luật tố tụng dân sự (đã được sửa đổi và
bổ sung năm 2011)
Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao.
Quyết định giải quyết của Tòa án nhân dân là quyết định hợp lý trong trường hợp
và hoàn cảnh Xét về nhiều yếu tố và sự khác biệt trong quy định giữa các điều luật đã
có quyết định đúng đắn Nhận thấy sự khác biệt trong quyết định của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm và phúc thẩm nhận định rằng đây là tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất” là không đúng Nhận định lại rằng đây là vụ án kinh doanh, thương mại
Đối với vụ việc trong bản án số 01, bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê không? Vì sao?
Bên bán có vi phạm nghĩa vụ giao cà phê Theo bản án, đã hết thời hạn giao cà phê (hạn 3 ngày sau khi hai bên thoả thuận) mà bên bán là ông Hữu bà Thanh vẫn không giao số cà phê cho bên mua là bà Phượng nên theo khoản 1 Điều 351 thì bên bán là ông Hữu bà Thanh đã vi phạm nghĩa vụ giao cà phê
Khoản 1 Điều 351 BLDS 2015: “Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”.
Tòa án có buộc bên bán tiếp tục giao cà phê không?
Tòa án buộc bên bán phải giao cà phê cho bên mua Trong bản án có đoạn: “Vì vậy HĐXX tuyên buộc bà Trần Thị Thanh và ông Trần Duy Hữu có trách nhiệm giao trả cho bà Nguyễn Thị Phượng 7.729,67 kg cà phê nhân xô đã quy chuẩn là hoàn toàn thỏa đáng.”
Trên cơ sở văn bản, có quy định nào cho phép Tòa án buộc bên bán phải tiếp tục giao cà phê không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời.
Trên cơ sở văn bản, có quy định cho phép Toà án buộc bên bán phải tiếp tục giao
cà phê
Cơ sở pháp lý: Điều 356 BLDS 2015: Trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật
Trang 3“1 Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc định không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc
bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.
2 Trường hợp nghĩa vụ giao vật cùng loại không được thực hiện thì bên bị vi phạm
có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao vật cùng loại khác; nếu không có vật cùng loại khác thay thế thì phải thanh toán giá trị của vật.
3 Trường hợp việc vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại cho bên bị.”
Cho biết những thay đổi và suy nghĩ của anh/chị về những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về chủ đề đang được nghiên cứu.
Vấn đề về “Buộc tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng” được quy định trong BLDS
2015 có nhều thay đổi so với quy định tại BLDS 2005
Đối với BLDS 2005, vấn đề này chỉ được quy định trong một số nghĩa vụ đặc thù
Ở khoản 1 Điều 303 BLDS 2005 về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ
giao vật quy định: “Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định thì người có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật.”
Tại khoản 1 Điều 304 về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ phải thực
hiện hoặc không được thực hiện một công việc: “Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện một công việc mà mình phải thực hiện thì bên có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hoặc tự mình thực hiện hoặc giao cho người khác thực hiện công việc đó và yêu cầu bên có nghĩa vụ thanh toán chi phí hợp lí và bồi thường thiệt hại.”
Có thể thấy BLDS 2005 theo hướng chỉ khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ giao vật hay không thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện hoặc không được thực hiện một công việc thì bên có quyền được quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ Tuy nhiên việc quy định riêng rẽ từng nghĩa vụ cụ thể như ở BLDS
2005 là chưa đầy đủ, dẫn đến khó khăn khi giải quyết nếu nghĩa vụ phát sinh từ những căn cứ khác căn cứ luật định
BLDS 2015 đã thêm quy định mới tại Điều 352 BLDS: “Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.”
BLDS 2015 theo hướng đối với tất cả các loại nghĩa vụ thì bên có quyền đều có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nếu bên có nghĩa vụ
không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Như vậy, ở BLDS 2015 thì “Buộc tiếp tục
Trang 4thực hiện đúng hợp đồng” đã trở thành quy định chung khi có sự vi phạm nghĩa vụ,
không còn mang tính riêng rẽ như ở BLDS 2005
Ngoài ra, quy định về trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật cùng loại tại khoản 2 Điều 356 BLDS 2015 cũng có thay đổi so với quy định tại khoản 2 Điều
303 BLDS 2005, cụ thể là trước khi buộc bên có nghĩa vụ phải thanh toán giá trị của vật thì BLDS 2015 có quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao vật cùng loại khác Có thể thấy, BLDS 2015 theo hướng ưu tiên cho việc thực hiện nghĩa vụ hơn khi có sự vi phạm
Vấn đề 2: Đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được
Điểm giống và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có
vi phạm.
Giống nhau: Đều là các hình thức chấm dứt hiệu lực của hợp đồng dân sự Bên làm xảy ra thiệt hại nghiêm trọng phải bồi thường cho bên kia Khi sự việc xảy ra hai bên hoàn trả nhau những gì đã nhận
Khác nhau:
Tiêu chí so sánh Hợp đồng dân sự vô hiệu Hủy bỏ hợp đồng dân sự
Cơ sở pháp lí Điều 407 BLDS 2015 Điều 423 BLDS 2015
Điều kiện chấm
dứt hợp đồng
Hợp đồng dân sự vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng.
Một trong các bên trong hợp
đồng vi phạm các điều khoản có trong hợp đồng hoặc một bên yêu cầu hủy hợp đồng.
Các trường hợp
chấm dứt hợp
đồng
Hợp đồng dân sự vô hiệu do:
- Vi phạm điều cấm;
- Giả tạo;
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;
Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường khi:
- Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
- Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
Và các trường hợp khác do luật định như: do chậm thực hiện
Trang 5- Nhầm lẫn;
- Bị lừa dối, đe dọa;
- Người xác lập không nhận thức và làm chủ hành
vi của mình;
- Không tuân thủ quy định
về hình thức;
- Có đối tượng không thể thực hiện được
nghĩa vụ, do không có khả năng thực hiện,…
Trách nhiệm
thông báo
Hợp đồng không đủ điều
kiện có hiệu lực thì đương nhiên vô hiệu.
Bên hủy hợp đồng phải thông báo cho bên kia về việc hủy bỏ,
nều không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Trách nhiệm
bồi thường
Bên có lỗi gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường (có thể là một trong số các bên trong hợp đồng, có thể là người thứ ba)
Bên có lỗi phải bồi thường thiệt hại (một trong số các bên trong hợp đồng)
Bên yêu cầu hủy hợp đồng nều không có lỗi thì không phải bồi thường
Bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường phần hợp đồng đã được thực hiện (nếu có thỏa thuận)
Theo Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị hủy bỏ?
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tuyên bố vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô ngày 26/5/2012 giao kết giữa công ty TNHH MTV Đông Phong Cần Thơ với ông Trương Văn Liêm
Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về hủy bỏ hay vô hiệu hợp đồng).
Nhóm em đồng ý với quan điểm của Tòa vì hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012
vô hiệu bởi:
Trang 6 Về chủ thể: Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, người đại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trang trí nội thất Thanh Thảo mà thực chất là Công ty TNHH-SX-TM Thanh Thảo do Trương Hoàng Thành là giám đốc đại diện
Mặt khác: Hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng ra giao dịch kí kết lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng với quy định của pháp luật
Từ đó cho thấy lỗi dẫn đến vô hiệu hợp đồng của các bên là ngang nhau, do đó không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên đã kí kết cho nên hoàn trả những gì đã nhận
Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?
Căn cứ theo Điều 131 BLDS 2015 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự bị vô hiệu (mà hợp đồng là một giao dịch dân sự) thì hợp đồng bị vô hiệu thì sẽ không áp dụng phạt vi phạm hợp đồng Phạt vi phạm hợp đồng chỉ được áp dụng đối với hợp đồng bị hủy bỏ chiếu theo Điều 427 BLDS 2015
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã giải quyết theo hướng tuyên hợp đồng vô hiệu
và không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của cả nguyên đơn và bị đơn Hướng giải quyết của Tòa là hợp lý Bởi phạt hợp đồng chỉ áp dụng với hợp đồng bị hủy bỏ Tòa đã xét thấy các bên vi phạm các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực nên tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theo điều 131 BLDS 2015, từ đó không xét đến việc phạt vi phạm hợp đồng
Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm.
Giống nhau :
• Đều là trường hợp chấm dứt hợp đồng được pháp luật quy định
• Phải thông báo cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng
• Hậu quả của việc đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng do có
vi phạm là chấm dứt việc thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng
• Một bên có thể chấm dứt hợp đồng và không cần bồi thường nếu bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng
Trang 7• Bên có lỗi có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khác nhau :
Tiêu chí Hủy bỏ hợp đồng Đơn phương chấm dứt hợp đồng
Điều kiện phát
sinh
Hủy bỏ hợp đồng sẽ phát sinh khi một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy
bỏ mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
Không cần có sự vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật, đơn phương chấm dứt hợp đồng phát sinh khi các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định
Thời điểm chấm
dứt hiệu lực hợp
đồng
Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết
Hợp đồng mất hiệu lực kể từ khi bên kia nhận được thông báo chấm dứt
Hậu quả pháp lý Sau khi hợp đồng dân sự
bị hủy bỏ thì những nội dung của hợp đồng được thực hiện trước khi hợp đồng bị tuyên bố hủy bỏ vẫn có hiệu lực
Các bên hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận
Sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự thì coi như chưa có hợp đồng
Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán cho mình
Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không? Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ.
Ông Minh được quyền hủy bỏ chuyển nhượng trên vì theo quy định tại Điều 423 BLDS 2015
Điều 423 Hủy bỏ hợp đồng
“1 Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong trường hợp sau đây:
a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
c) Trường hợp khác do luật quy định.
Trang 82 Vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
3 Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Trong trường hợp này ông Cường đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng tức
là ông Cường không trả tiền cho ông Minh điều này trái với mục đích của việc giao kết Vậy ông Minh có quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng để nhận lại đất và phải thông báo cho ông Cường biết việc này
Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản
Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua
và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ là có thuyết phục
1 Căn cứ vào “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” thành lập ngày 07/6/2001
có nội dung xác nhận căn nhà số 16-B20 do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình,
bà Vân đứng tên hộ Giấy cam đoan này có chữ ký của ông Bình và bà Vân
2 Dựa trên “Giấy khai nhận tài sản” ngày 09/8/2001 của bà Tuệ có nội dung năm
1993 bà Tuệ mua căn nhà số 16-B20…; do bà Tuệ là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được đứng tên mua nhà tại Việt Nam nên bà Tuệ nhờ ông Bình và bà Vân đứng tên hộ Giấy này có chữ kí của bà Tuệ, bà Vân, ông Bình ký tên dưới mục người đứng tên mua hộ
3 Tại kết luận Giám định số 285/C54-P5 ngày 14/9/2011 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an có nội dung chữ viết, chữ ký mang danh ông Nguyễn Văn Bình trên “Giấy cam đoan xác định tài sản nhà ở” thành lập ngày 07/6/2001 và “Giấy khai nhận tài sản” ngày 09/8/2001 là chữ viết, chữ ký của ông Bình
4 Mặt khác, tại Biên bản hòa giải ngày 05/10/2010 và ngày 14/10/2010, ông Bình cũng thừa nhận nhà 16-B20 là bà Tuệ cho tiền mua và nhờ bà Vân đứng tên cùng Anh Nguyễn Xuân Hải con ông Bình cũng công nhận căn nhà số 16-B20 là do bà Tuệ mua
Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao?
Tại thời điểm mua nhà bà Tuệ không được đứng tên căn nhà Tại thời điểm mua nhà vào năm 2001, Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 Luật Đất đai chưa được sửa đổi,
bổ sung, quy định trường hợp của của bà Tuệ không được đứng tên mua nhà tại Việt Nam
Trang 9Điều 126 Luật nhà ở:
“1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư lâu dài tại Việt Nam, người có công đóng góp với đất nước, nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước, người được phép về sống ổn định tại Việt Nam và các đối tượng khác do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.
2 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc diện quy định tại khoản
1 Điều này đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.”
Bà Tuệ cư trú tại Nhật Bản, chỉ về thăm gia đình và được phép tạm trú tại Việt Nam không quá 90 ngày (3 tháng) cho mỗi lần nhập cảnh (căn cứ theo “Giấy miễn thị thực” của bà Tuệ được cấp ngày 18/6/2009) nên bà không được đứng tên căn nhà Khoản 1 Điều 121 Luật Đất đai:
“1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây thì được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam:
a) Người về đầu tư lâu dài có nhu cầu nhà ở trong thời gian đầu tư tại Việt Nam; b) Người có công đóng góp với đất nước;
c) Những nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước;
d) Người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam;
đ) Các đối tượng khác theo quy định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.”
Bà Tuệ không thuộc các đối tượng được quy định tại điều luật trên nên không được quyền đứng tên căn nhà
Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà tại Việt Nam không?
Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam
Theo điểm a khoản 1 Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai:
“1 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
Trang 10a) Người có quốc tịch Việt Nam”
Bà Tuệ được Tổng lãnh sự quán nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Nhật Bản cấp “Giấy chứng nhận” là người có quốc tịch Việt Nam Như vậy, bà Tuệ là người có quốc tịch Việt Nam và bà có quyền đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam
Mặt khác, theo khoản 2 Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai:
“2 Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
Ngày 18/6/2009 bà Tuệ được cấp “Giấy miễn thị thực” nhập cảnh về Việt Nam nhiều lần đến ngày 18/6/2014, cho phép tạm trú tại Việt Nam không quá 90 ngày cho mỗi lần nhập cảnh Do đó, bà Tuệ được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam
Cơ sở pháp lý: Điều 1 Luật số 34/2009/QH12 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở và Điều 121 của Luật Đất đai
Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa?
Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu căn nhà trên bởi vì Tòa án đã xác định bà Tuệ là công dân Việt Nam
Hướng giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ:
Tại quyết định số 61/2012/DS-GĐT ngày 21/02/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao: Do bà Huệ là Việt kiều, tại thời điểm mua nhà đất bà không có đủ điều kiện để mua nhà đất cũng như đứng tên nhà đất tại Việt Nam tại Việt Nam nên đã nhờ người thân mua và đứng tên giùm nhà và đất số 41/1 Trần Kế Xương Đến năm 2009,
bà Huệ về sống ở Việt Nam và có cơ sở xác định nguồn tiền mua nhà đất là của bà Huệ nên Tòa án cấp phúc thẩm xác định nhà đất tranh chấp trong vụ án này thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Huệ
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ
bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lí như thế nào?
Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp phải được chia đôi cho bà Tuệ và ông Bình