bài tập lớn môn đường lối cách mạng đạt 9đ đề tài cơ chế kế hoạch hoá tập trung thời kì đổi mới bài tập lớn của sv Kinh tế quốc dân, bài tập kiểm tra giữa kỳ.bài tập lớn môn đường lối cách mạng đạt 9đ đề tài cơ chế kế hoạch hoá tập trung thời kì đổi mới bài tập lớn của sv Kinh tế quốc dân, bài tập kiểm tra giữa kỳ.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
Đề tài:
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước thời kỳ đổi mới của Việt Nam
Nhóm 3 Lớp: Đường lối cách mạng của ĐCSVN_01 Giảng viên: Nguyễn Thị Thắm
Hà Nội, tháng 5 năm 2021
Trang 2Nhóm 3
Đề tài: Cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước thời kỳ đổi mới của
Việt Nam
1 Lê Cao Dương 11171034 Phần 1.2, 2.1.1
2 Nguyễn Thế Dương 11181117 Thuyết trình
3 Nguyễn Thành Đô 11180956 Phần 2.1
4 Ngô Anh Đức 11180987 Phần 2.2
5 Nguyễn Minh Đức 11170889 Làm slide
6 Nguyễn Minh Đức 11177095 Không tham gia
7 Mai Thu Giang 11171164 Phần 3.1, 3.2
8 Nguyễn Thị Hương
Giang
11181252 Thuyết trình
9 Phan Hoàng Giang 11161249 Thuyết trình
10 Đỗ Thanh Hải 11171382 Lập dàn bài, bổ sung
phần còn thiếu, tổng hợp bản word
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG QUAN LIÊU, BAO CẤP .2
1.1.Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp 2
1.1.1.Khái niệm 2
1.1.2.Đặc điểm 2
1.1.3.Các hình thức bao cấp 3
1.2.Ưu điểm và hạn chế của chế độ kế hoạch hoá tập trung 3
1.2.1.Ưu điểm 3
1.2.2.Hạn chế 4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1960-1985 5
2.1.Kinh tế 5
2.1.1.Nông nghiệp 5
2.1.2.Công nghiệp 6
2.1.3.Thương nghiệp 7
2.2.Văn hoá, xã hội, giáo dục và y tế 8
2.2.1.Văn hoá 8
2.2.2.Xã hội 9
2.2.3.Giáo dục 9
2.2.4.Y tế 9
CHƯƠNG III: KHỦNG HOẢNG TRONG CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ 11
3.1.Khủng hoảng trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung 11
3.2.Nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế 14
KẾT LUẬN 15
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Năm 1954 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được ký kết, đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền Nam – Bắc Miền Bắc nước ta hoàn tàn được giải phóng và tiến bước lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, lúc này định hướng của Đảng và Nhà nước ta đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế là xây dựng mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung dưới sự quản lý của nhà nước để tập trung sức người và sức của làm hậu phương vững chắc cho chiến trường ở miền Nam
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi với chiến dịch Hồ Chí Minh 30/04/1975 Lúc này đất nước hoàn toàn thống nhất cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội Tuy nhiên, do chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh gây ra nên Đảng và Nhà nước ta đã xác định nhiệm vụ lúc này là xây dựng và phát triển kinh tế đất nước vẫ theo mô hình kế hoạch hoá tập trung Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nước
ta được duy trì cho đến năm 1985
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại của đất nước lúc đó, song cũng có nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển của đất nước
Trang 5CHƯƠNG I: CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG
QUAN LIÊU, BAO CẤP
1.1 Cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp
1.1.1 Khái niệm
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung là cơ chế trong đó nền kinh tế vận động dưới
sự kiểm soát của Nhà nước về các yếu tố sản xuất cũng như phân phối về thu nhập Nhà nước can thiệp sâu vào các hoạt động của nền kinh tế, không tuân theo quy luật thị trường
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính
dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tất cả phương hướng sản xuất, nguồn vật tư, tiền vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương đều do các cấp có thẩm quyền quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoạch, cấp phát vốn, vật tư cho doanh nghiệp, doanh nghiệp giao nộp sản phẩm cho Nhà nước Lỗ thì Nhà nước bù, lãi thì Nhà nước thu
Thứ hai, các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất,
kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất
và pháp lý đối với các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, cũng không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quả sản xuất, kinh doanh
Thứ ba, quan hệ hàng hoá-tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức, quan hệ hiện
vật là chủ yếu Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát-giao nộp” Vì vậy, rất nhiều hàng hoá quan trọng như sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hoá về mặt pháp lý
Trang 6Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian vừa kém năng động,
vừa sinh ra đội ngũ quản lý kém năng lức, phong cách cửa quyền, quan liêu nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động
1.1.3 Các hình thức bao cấp
Bao cấp qua giá: Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hoá thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực của chúng trên thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn: theo ngân sách ngân sách Nhà nước, nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin-cho”
1.2 Ưu điểm và hạn chế của chế độ kế hoạch hoá tập trung
1.2.1 Ưu điểm
Trong thời kỳ kinh tế còn tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (Đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước lâm vào thời kỳ chiến tranh khốc liệt) thì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung có những ưu điểm nhất định như:
Cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát công nghiệp nặng
Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của thời chiến, bởi vì khi đất nước bị các nước Đế Quốc, Thực dân xâm lược thì mục tiêu hàng đầu của cả nước chính là giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc bởi vậy việc thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của nhân dân vào việc xây dựng và
Trang 7phát triển kinh tế để thực hiện mục tiêu đó, đây là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người chứ không chỉ của riêng ai
Nhà nước thực hiện bao cấp hoàn toàn, giúp cho chiến sỹ ra chiến trường cũng yên tâm phục vụ chiến đấu hơn, bởi họ không phải lo nghĩ đến chuyện gia đình, vợ con ở nhà vì mọi thứ đã được bao cấp
1.2.2 Hạn chế
Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị thực của chúng nhiều lần so với giá thị trường Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức
Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên, công nhân theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối lao động Triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách nhưng không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách vừa làm cho sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế “xin – chế”
Cơ chế kế hoạch hoá tập trung làm cho cán bộ công chức của các cơ quan hành chính trở nên quan liêu, lộng quyền, hách dịch
Thủ tiêu sự cạnh tranh, kìm hãm sự phát triển của tiến bộ khoa học - công nghệ, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Nhận xét: Khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo
chiều sâu dựa trên cơ sở áp dụng các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại thì cơ chế quản lý này càng bộc lộ những khuyết điểm của nó, làm cho kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, trong đó có nước ta, lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng
Trang 8CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ KẾ HOẠCH HOÁ TẬP TRUNG NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1960-1985
2.1 Kinh tế
Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chiến thắng, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt đầu công cuộc xây dựng CNXH và con đường cách mạng CNXH cơ bản được hình thành Năm 1960, sau cải cách CNXH, nước ta áp dụng mô hình kế hoạch hóa tập trung cho cơ chế quản lý kinh tế theo quan niệm lúc bấy giờ
Trong đầu những năm 1960 áp dụng cơ chế này ở miền Bắc, tuy kết quả đạt được thấp hơn so với yêu cầu đề ra nhưng cơ bản đã khôi phục được nền kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định sản xuất và đời sống
Trong giai đoạn chuyển hướng xây dựng kinh tế (1965 – 1975), với sự chống phá quyết liệt của đế quốc Mỹ, công cuộc xây dựng CNXH vẫn được tiến hành Chế
độ XHCN ở miền Bắc lúc đó đã vượt qua được nhiều thử thách nghiêm trọng và ngày càng phát huy tính ưu việt trong thời kì chiến tranh
2.1.1 Nông nghiệp
a) Giai đoạn 1960-1965
Khoảng 76,6% các hợp tác xã được đưa lên bậc cao và hợp nhất các hợp tác
xã quy mô lớn hơn, tổng thu bình quân trên một ha canh tác tăng 43,7%, cuối năm
1965 có 162 xã gần 700 hợp tác xã đạt và vượt năng suất 5 tấn thóc trên 1 ha cả năm, lương thực bình quân đầu người đạt 15kg/ tháng; đời sống xã viên có tăng, thu nhập của người lao độn từ kinh tế tập thể tăng khá, thu nhập bình quân của nông dân tăng 24%
Cơ sở vật chất – kỹ thuật trong nông nghiệp tăng đáng kể: vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng 4,9 lần, điện cấp tăng 9 lần, số máy kéo tiêu chuẩn tăng 11 lần so với thời kì 1958 – 1960, vốn vình quân cho 1 ha canh tác tăng 2,1 lần, hệ thống các công trình thủy lợi, sửa chữa cơ khí, sân phơi, chuồng trại … của hợp tác xã liên tục tăng
b) Giai đoạn 1965-1975
Trang 9Cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp được - tăng cường, có sự thay đổi
cơ cấu cây trồng, vụ đông xuân được mở rộng Công cuộc tập thể hóa vẫn được tiếp tục, quy mô hợp tác xã được mở rộng Trong chiến tranh ác liệt, lực lượng lao động trẻ khỏe được động viên ra tuyền tuyến, nhiều vùng phải bỏ hoang nhưng nông nghiệp được duy trì như trên thì hợp tác xã đóng một vai trò không nhỏ
c) Giai đoạn 1975-1985
Thời kỳ này, Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống dưới Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chỉ tiêu pháp lệnh được giao Tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm trong giai đoạn 1977-1985 tăng 4,65%, trong đó: nông, lâm nghiệp tăng 4,49%/năm Nông, lâm nghiệp là ngành kinh tế quan trọng (chiếm 38,92% GDP trong giai đoạn này), nhưng chủ yếu dựa vào độc canh trồng lúa nước
2.1.2 Công nghiệp
a) Giai đoạn 1960-1965
Phát triển công nghiệp có những thành tích đáng chú ý là công nghiệp quốc doanh phát triển mạnh mẽ và được đánh giá là phát huy tác dụng là lực lượng lãnh đạo nền kinh tế quốc dân phát triển có kế hoạch Đầu năm 1965 có 1045 xí nghiệp, trong đó có 250 xí nghiệp lớn do Trung ương quản lí Một số cơ sở đầu tiên, quan trọng, quy mô tương đối lớn, kỹ thuật hiện đại thuộc các ngành công nghiệp nặng như cơ khí luyện kim, hóa chất được xây dựng và đi vào sản xuất Ngành công nghiệp nhẹ phát triển khá nhanh, mạng lưới công nghiệp địa phương phát triển khá Năm 1965, miền Bắc đảm bảo được 90% về mặt hàng tiêu dùng và một phần tư liệu sản xuất
b) Giai đoạn 1965-1975
Sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn Giá trị - sản lượng công nghiệp một số năm bị giảm sút, tốc độ phát triển bình quân của sản xuất công nghiệp thời
kì 1966-1975 là 3,9% Mạng lưới công nghiệp địa phương được hình thành Tuy bị
Trang 10đánh phá ác liệt nhưng giao thông vận tải vẫn được đảm bảo thông suốt, việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật tăng khá nhanh Giá trị tài sản cố định trong khu vực sản xuất tăng nhiều
c) Giai đoạn 1975-1985
Mặc dù có những tiến bộ, nhất là trong thời kỳ 1980-1985, nhưng nhìn chung, công nghiệp Việt Nam hãy còn nhỏ bé Năm 1985, ngành công nghiệp mới chiếm 10,7% tổng số lao động xã hội, và chủ yếu là lao động thủ công với năng suất thấp Tuy chiếm khoảng 40% giá trị tài sản cố định của cả nền kinh tế quốc dân, nhưng công nghiệp chỉ tạo ra chưa tới 30% thu nhập quốc dân, hiệu quả trên đồng vốn đầu tư còn rất thấp Công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu trong nước về trang thiết bị hiện đại hoá cho nền kinh tế và các hàng hoá tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân Tuy đầu tư của Nhà nước cho công nghiệp rất lớn và không ngừng tăng lên qua các năm, số lượng xí nghiệp công nghiệp cũng tăng nhanh, nhưng sản xuất công nghiệp và giá trị sản lượng lại tăng chậm
2.1.3 Thương nghiệp
a) Giai đoạn 1960-1965
Thương nghiệp quốc doanh đã có sự phát triển rất nhanh chóng, tổng trị giá hàng hóa mua vào trong 5 năm (1955-1960) tăng lên 6,3 lần, tổng mức lưu chuyển bán lẻ năm 1960 so với năm 1955 tăng hơn 6 lần Hàng nghìn cửa hàng bán buôn, bán lẻ, thu mua và phục vụ ăn uống, dịch vụ ra đời, tạo nên mạng lưới kinh doanh thương nghiệp trải khắp các thành phố, tỉnh, huyện và thị trấn Năm 1955 mới có
511 cửa hàng thì đến 1960 đã có 1.987 cửa hàng…
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, ngành Thương mại đã có những đóng góp xứng đáng: So với năm 1960 thì năm 1965, xuất khẩu tăng 27,9%; nhập khẩu tăng 103,6%; vật tư kỹ thuật cung ứng cho sản xuất, xây dựng và quốc phòng tăng 79%, trong đó xăng dầu tăng 85,4% Qua việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ và thiết bị
lẻ, miền Bắc đã cải tạo và xây dựng mới nhiều công trình quan trọng thuộc các ngành Năng lượng, Chế tạo máy, Hóa chất, Khai khoáng,… Sự giúp đỡ của các nước anh em, bầu bạn lúc đó trong việc cung cấp các hàng hóa nhập khẩu đã góp
Trang 11phần có ý nghĩa quyết định vào việc thực hiện kế hoạch 5 năm (1961-1965) Tính đến năm 1964, ta đã có quan hệ buôn bán với 40 nước trên thế giới
Về lưu thông hàng hóa trong nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội tăng 51,2%, trong đó lương thực tăng 46%, vải các loại tăng 51% Khối lượng sản phẩm của các ngành sản xuất đã được ngành Thương mại tiêu thụ trên thị trường trong nước tăng 57,4%, phần quốc dân sáng tạo trong ngành thương nghiệp nội địa tăng 23,2% và chiếm 18% thu nhập quốc dân Thương nghiệp nội địa đã bảo đảm được
75 - 76% nhu cầu mua sắm của gia đình công nhân viên chức Giá cả hàng hóa trên thị trường thời kỳ này tương đối ổn định
b) Giai đoạn 1965-1975
Thương nghiệp quốc doanh được nhà nước quan tâm và có sự phát triển nhanh chóng, làm nhiệm vụ hậu cần cho sản xuất và chiến đấu Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 đạt 5.358,3 triệu đồng, gấp 7,8 lần năm 1955 Chỉ số giá bán lẻ giai đoạn 1955 -1975 mỗi năm tăng 4,3%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 66% của thời kỳ 1945-1954
c) Giai đoạn 1975-1985
Thương nghiệp quốc doanh phát triển nhanh chóng, hợp tác xã tuy ở thời kỳ đầu xây dựng, nhưng đã có những bước vươn lên chiếm lĩnh thị trường, nhờ đó hạn chế được nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạng hỗn loạn về giá cả Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội bình quân thời kỳ này tăng 61,6%/năm
2.2 Văn hoá, xã hội, giáo dục và y tế
2.2.1 Văn hoá
Hoạt động văn hóa được kiểm soát nghiêm ngặt trong thời bao cấp, người dân ít được tiếp xúc với văn hóa phương Tây Các mảng về phim, văn học hay nhạc… đều được nhà nước kiểm duyệt trước khi phát hành Văn học nước ngoài chủ yếu của Liên Xô và khối Đông Âu, theo xu hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa Văn học lãng mạn bị xem là tiêu cực ở giai đoạn này