1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tập lớn kinh doanh logistics trình bày mô hình kinh doanh dịch vụ logistics theo kỹ thuật chỉ huy (mô hình kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường)

13 8 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập lớn kinh doanh logistics trình bày mô hình kinh doanh dịch vụ logistics theo kỹ thuật chỉ huy (mô hình kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường)
Tác giả Vũ Thị Mai Lan
Người hướng dẫn GS.TS Đặng Đình Đào
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh doanh Logistics
Thể loại Bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 437,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN o0o BÀI TẬP LỚN KINH DOANH LOGISTICS Họ và tên Vũ Thị Mai Lan Mã sinh viên 11218532 Lớp tín chỉ Kinh doanh logistics 03 Giảng viên GS TS Đặng Đình Đào Hà Nội, 25/02/202[.]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

………… o0o…………

BÀI TẬP LỚN KINH DOANH LOGISTICS

Họ và tên : Vũ Thị Mai Lan

Mã sinh viên : 11218532

Lớp tín chỉ : Kinh doanh logistics_03 Giảng viên : GS.TS Đặng Đình Đào

Hà Nội, 25/02/2023

Trang 2

Câu 1: Trình bày mô hình kinh doanh dịch vụ logistics theo kỹ thuật chỉ huy (mô hình kế hoạch hoá tập trung và cơ chế thị trường) Ưu, nhược điểm và những vấn đề đặt ra trong kinh doanh

1 Theo mô hình kế hoạch hóa tập trung

Mô hình này bao gồm các thành phần chính sau:

Nhà nước: Có chức năng quản lý, chi phối và định hướng cho hoạt động

logistics Chính phủ sẽ xác định các nhu cầu về hàng hóa, đưa ra kế hoạch và quyết định sản xuất, phân phối hàng hóa

Các đơn vị logistics: Là các đơn vị vận tải, kho bãi, đóng gói, phân phối hàng

hóa, do chính phủ chỉ định để thực hiện các kế hoạch đã đề ra Những đơn vị này sẽ được chính phủ cấp các nguồn lực, vật tư và công cụ hỗ trợ để đảm bảo các hoạt động được triển khai đúng thời hạn và đủ chất lượng

Các đơn vị sản xuất: Thực hiện sản xuất số lượng, chất lượng hàng hóa theo kế

hoạch đã đề ra của chính phủ

Phương án chỉ huy: Làm theo mệnh lệnh.

Giai đoạn này nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung theo đó các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh theo chỉ tiêu, theo định mức và kế hoạch của Nhà nước Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong quản lý, vận tải giao nhận và phân phối mọi loại hàng hóa trong toàn bộ nền kinh tế Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung này còn được gọi là "nền kinh tế chỉ huy", mọi khâu trong hoạt động của doanh nghiệp đều được Nhà nước "chắp nối" và đảm bảo: Nhà nước cung cấp vốn cho doanh nghiệp, Nhà nước tìm nguồn hàng và lo phân phối sản phẩm cuối cùng cho doanh nghiệp Doanh nghiệp phải hoạt động sản xuất đúng chỉ tiêu nhà nước giao Vì vậy, doanh nghiệp không phải lo lắng

và quan tâm đến các hoạt động logistics, hoạt động thuê ngoài dịch vụ logistics

vì thế cũng không có Trong giai đoạn này, hoạt động logistics của doanh

Trang 3

nghiệp thể hiện ở khâu cung cấp vật tư, lập kế hoạch yêu cầu vật tư và ở góc độ ngành có tên gọi là ngành cung ứng vật tư kỹ thuật - Do Tổng cục vật tư, sau này do Bộ vật tư quản lý

Doanh nghiệp lập kế hoạch yêu cầu vật tư và gửi lên cơ quan quản lý ngành sau

đó là Bộ chủ quản Bộ chủ quản là cơ quan tiếp nhận và kiểm tra các yêu cầu trước khi gửi lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, sau đó trình lên Chính phủ, trên

cơ sở tổng hợp yêu cầu của các doanh nghiệp và các ngành, Chính phủ xem xét

và phê duyệt kế hoạch cung ứng vật tư của nền kinh tế quốc dân và gửi thông báo về các chỉ tiêu cung ứng (phân phối) cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tiến hành 2 nhiệm vụ gọi là "ghép mối thương mại" Một mặt, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước gửi các yêu cầu đã được phê duyệt cho

Bộ chủ quản, Bộ chủ quản sau đó gửi lại cho doanh nghiệp Các quyết định này

có 3 nội dung quan trọng

 Số lượng các chủng loại hàng hóa được mua

 Chất lượng các chủng loại hàng được mua và giá cả

 Đơn vị sẽ cung ứng cho doanh nghiệp

Mặt khác, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước sẽ gửi yêu cầu cung cấp vật tư cho Bộ cung ứng và đến lượt mình, Bộ cung ứng thông báo cho các tổng công ty cung ứng vật tư, yêu cầu họ cung cấp vật tư với số lượng, chất lượng, giá cả đã được nhà nước phê duyệt Tổng công ty ngành hàng tiến hành ký hợp đồng và cung ứng vật tư cho doanh nghiệp thông qua các doanh nghiệp trực thuộc có vị trí địa

lý thuận tiện tại các vùng lãnh thổ Doanh nghiệp yêu cầu vật tư và các doanh nghiệp cung ứng vật tư trên cơ sở chỉ tiêu phân phối của Nhà nước, tiến hành đàm phán các nội dung thực hiện việc mua bán như thời gian, địa điểm cung ứng phương thức vận tải, giao nhận, thanh toán và ký kết hợp đồng cung ứng

Ưu điểm:

Trang 4

 Đây là mô hình khắc phục nền kinh tế tốt nhất sau chiến tranh, vì nó giúp phát triển lại đồng đều các vùng, các ngành trong nền kinh tế quốc dân

 Tập trung được nguồn lực để giải quyết các vấn đề trong nước

 Quản lý đồng bộ các hoạt động sản xuất và logistics

Nhược điểm:

 Hạn chế tính năng động, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh

 Có thể gây ra tình trạng sản xuất thừa hoặc thiếu, không đáp ứng nhu cầu đúng của thị trường

 Có thể xảy ra tình trạng quan liêu, tham nhũng

2 Theo cơ chế thị trường

Mô hình kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam theo hệ thống thị trường là một mô hình quản lý và vận hành dịch vụ logistics dựa trên cơ chế thị trường Theo mô hình này, các công ty logistics hoạt động trên cơ sở cạnh tranh với nhau để cung cấp các dịch vụ logistics chất lượng cao và giá cả cạnh tranh cho khách hàng trong khuôn khổ luật pháp cho phép

Trang 5

Hệ thống hạ tầng logistics bao gồm: hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa, hệ thống cảng biển, cảng cạn, cảng hàng không, các trung tâm logistics, trung tâm chia chọn, hệ thống kho bãi

Các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics: 1PL, 2PL, 3PL, 4PL và 5PL Khung thể chế pháp lý: Tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các tổ chức vận hành một cách ổn định và thông suốt Tại Việt Nam, hệ thống luật pháp liên quan tới logistics dần được hình thành và hoàn thiện Luật Thương mại năm 2005 đã thay thế Luật Thương mại 1997, trong đó thuật ngữ “logistics” được thay cho

“dịch vụ giao nhận trước” kia, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động logistics

Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics

Ưu điểm:

Trang 6

 Cho phép các công ty logistics linh hoạt trong việc đáp ứng các nhu cầu khách hàng cụ thể với tốc độ nhanh hơn

 Cho phép thị trường cạnh tranh, khuyến khích các doanh nghiệp logistics cải tiến, tối ưu hóa và cung cấp dịch vụ logistics tốt hơn

Nhược điểm:

 Thị trường cạnh tranh khốc liệt có thể gây áp lực về giá cả và chất lượng dịch vụ, đặc biệt là đối với các công ty nhỏ và mới vào thị trường

3 Những vấn đề đặt ra trong kinh doanh:

Quản lý rủi ro: Các doanh nghiệp phải đưa ra các kế hoạch và chính sách quản

lý rủi ro hiệu quả để giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt

là về vấn đề cung - cầu và giá cả

Quản lý đội ngũ nhân viên: Với mô hình kế hoạch hóa tập trung, các doanh

nghiệp cần có một đội ngũ quản lý chuyên nghiệp để thực hiện kế hoạch và giám sát hoạt động Trong khi đó, với mô hình theo hệ thống thị trường, các doanh nghiệp cần tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị để có được nhân viên tốt nhất

Quản lý tài chính: Kinh doanh logistics đòi hỏi đầu tư vốn lớn, vì vậy các doanh

nghiệp cần có chính sách quản lý tài chính hiệu quả để đảm bảo sự ổn định và bền vững của doanh nghiệp

Công nghệ thông tin: Các doanh nghiệp cần có một hệ thống quản lý thông tin

và công nghệ hiện đại để quản lý, giám sát, và đưa ra các quyết định hợp lý về vận chuyển hàng hóa

Quy định pháp luật: Kinh doanh logistics cần tuân thủ các quy định pháp luật

về quản lý vận tải, hải quan, thuế và quản lý chất lượng để đảm bảo hoạt động

Trang 7

của doanh nghiệp được thực hiện đúng quy định, tránh bị xử phạt hoặc mất uy tín trên thị trường

Câu 2 Trình bày các điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam Liên hệ trường hợp kinh doanh vận tải đường bộ.

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam được quy định tại điều 4

Nghị định 163/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 quy định về kinh doanh dịch

vụ Logistics Theo đó điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam bao gồm:

1 Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó

2 Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử

3 Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics

Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện sau:

a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):

- Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49% Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc

Trang 8

sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam

- Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp

b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50% Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%

d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh

đ) Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau:

Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch

vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước

Trang 9

e) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%

g) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường

bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51% 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam

h) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không

i) Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật

- Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch

vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó

- Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải

- Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng

4 Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó

Trang 10

Liên hệ

Theo Điều 4 Nghị định 163/2017/NĐ-CP trên, các điều kiện áp dụng cho lĩnh vực kinh doanh vận tải đường bộ bao gồm:

 Các điều kiện được quy định trong khoản 1, 2

 Các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài khi kinh doanh dịch vụ logistics ở Việt Nam tại khoản 3:

 Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%

 Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó

có vốn góp của nhà đầu tư trong nước

 Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51% 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam

Ngoài ra, các điều kiện kinh doanh logistics cho vận tải đường bộ ở Việt Nam còn được đưa ra dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm các văn bản sau:

1 Luật Đường bộ năm 2008 và các văn bản hướng dẫn liên quan

Trang 11

2 Nghị định 86/2014/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh vận tải đường bộ

3 Thông tư 38/2017/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn về đăng ký, đăng kiểm và sử dụng phương tiện vận tải đường bộ

4 Nghị định 104/2014/NĐ-CP của Chính phủ về bảo hiểm trách nhiệm dân

sự của chủ xe cơ giới đường bộ

5 Luật An toàn và vệ sinh lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn liên quan

Các văn bản pháp luật này quy định các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp vận tải đường bộ có thể kinh doanh một cách hợp pháp và đảm bảo an toàn cho các phương tiện và người tham gia giao thông, cũng như đảm bảo quyền lợi cho các bên liên quan Bao gồm:

1 Giấy phép kinh doanh vận tải đường bộ: Doanh nghiệp vận tải đường bộ cần phải có giấy phép kinh doanh vận tải đường bộ do cơ quan có thẩm quyền cấp

2 Giấy phép lái xe vận tải: Tất cả các tài xế lái xe vận tải đường bộ phải có giấy phép lái xe vận tải do cơ quan có thẩm quyền cấp

3 Giấy chứng nhận đăng ký xe vận tải: Tất cả các xe vận tải đường bộ phải

có giấy chứng nhận đăng ký xe vận tải do cơ quan có thẩm quyền cấp

4 Giấy phép hoạt động vận tải đường bộ: Doanh nghiệp vận tải đường bộ cần phải có giấy phép hoạt động vận tải đường bộ do cơ quan có thẩm quyền cấp

5 Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Tất cả các doanh nghiệp vận tải đường bộ cần phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với các thiệt hại gây ra cho bên thứ ba

6 Thực hiện các quy định về an toàn vệ sinh lao động: Doanh nghiệp vận tải đường bộ cần tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh lao động, bao gồm việc sử dụng trang thiết bị bảo vệ cá nhân, đảm bảo điều kiện làm

Ngày đăng: 16/03/2023, 08:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm