1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp(1975 1985) và bài học cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

21 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp(1975 - 1985) và bài học cho phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 54,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC PHẦN I LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỜI KỲ BAO CẤP 2 1 1 Khái niệm và phân loại 2 1 1 1 Khái niệm 2 1 1 2 Các hình thức bao cấp 2 1 1 3 Đặc điểm 5 1 2 Tình hình kinh tế xã. MỤC LỤCPHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU1CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỜI KỲ BAO CẤP21.1. Khái niệm và phân loại21.1.1. Khái niệm21.1.2. Các hình thức bao cấp21.1.3. Đặc điểm51.2. Tình hình kinh tế xã hội61.2.1. Nông nghiệp61.2.2. Công nghiệp61.2.3. Văn hóa71.2.4. Xã hội81.2.5. Giáo dục91.2.6. Y tế101.3. Thời kỳ đổi mới10CHƯƠNG II: CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XHCN NƯỚC TA HIỆN NAY112.1. Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập chung112.1.1. Nội dung112.1.1. Đánh giá chung122.2. Bài học rút ra để phát triển nền kinh tế thị trường132.2.1. Không ngừng hoàn thiện thể chế132.2.2. Công băng với doanh nghiệp142.2.3. Chọn mô hình phát triển phù hợp152.2.4. Coi trọng phát triển kinh tế tư nhân16PHẦN III: KẾT LUẬN17TÀI LIỆU THAM KHẢO18 PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦUỞ thời nay, ăn mặc “sành điệu”, ăn uống “sành điệu”, chọn nhà hàng nào, thời trang nào… là thứ mà mọi người phải đau đầu suy nghĩ, người đơn giản hơn một chút thì phải là “ăn ngon mặc đẹp”…Nhưng cách đây 40, 50 năm, vào những năm 70, 80 của thế kỷ 20, các thế hệ người Việt chỉ ước ao đủ ăn đủ mặc. Cái đói trường kỳ gặm nhấm tâm can và dạ dày khiến mọi suy nghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn.Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạch xếp hàng”, diễn ra từ năm 1957 tại miền Bắc, tới sau 41975 thì triển khai trên toàn quốc, mãi tới 41989 mới thực sự kết thúc. Giai đoạn này nằm trong ký ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X… Đây là một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa do nhà nước kiểm soát, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản, không chấp nhận kinh doanh tự do. Để có cái nhìn sâu và rộng hơn, tôi đã chọn đề tài “ Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp(1975 1985) và bài học cho phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”.Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận, Tài liệu tham khảo và mục lục, đề tài gồm có Nội Dung chính như sau: Chương I: Một Số Khái Niệm Cơ Bản Về Thời Kỳ Bao CấpChương II: Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế Kế Hoạch Hóa Tập Trung Và Bài Học Rút Ra Cho Việc Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Xhcn Nước Ta Hiện Nay PHẦN II: NỘI DUNGCHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỜI KỲ BAO CẤP1.1. Khái niệm và phân loại1.1.1. Khái niệmThời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn mà hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nhà nước bao cấp, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản. Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhà nước chỉ huy. Mặc dù kinh tế chỉ huy đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kỳ bao cấp thường được dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm 1976 đến cuối năm 1986 trên toàn quốc, tức là trước Đổi Mới.Trong nền kinh tế kế hoạch, thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ, hàng hóa được phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền điều hành, hạn chế đến thủ tiêu việc mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác. Nhà nước có độc quyền phân phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầu người, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua.1.1.2. Các hình thức bao cấpBao cấp qua giá và số lượng hàng hóaNhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường. Do đó, hạch toán kinh tế chỉ là hình thức.Công nhân lao động nặng được cấp 20 kg gạo mỗi tháng, trong khi cán bộ công chức chỉ được có 13 kg. Do gạo ít nên thường ăn độn thêm ngô, khoai, sắn, bo bo, phần gạo do trung ương cấp còn phần độn do địa phương phụ trách tăng gia thêm vào, như 13 kg gạo thì có 10 kg là độn khoai, sắn...Cho dù có tiền, hàng hóa rất khan hiếm, mà dù có tem phiếu người mua có thể sắp hàng vào mua nhưng đến lượt mình thì không còn hàng, đành về tay không. Hàng hóa thì ngoài phẩm chất kém, lượng hàng rất hạn chế, chỉ đủ dùng một thời gian ngắn, đến cuối tháng thì đã cạn kiệt, phải mua ở chợ đen.Người ngoại quốc ở Việt Nam thì có quyền mua sắm một số mặt hàng ở cửa hiệu quốc doanh riêng biệt như Intershop ở Hà Nội, cung cấp một số mặt hàng đặc biệt như đồ hộp, rượu vang.Nguồn thức ăn độn thêm chủ yếu từ Liên Xô, Ấn Độ cùng một số nước khác từng viện trợ. Ngoài ra cũng có một số thực hiện theo nghị định thư hàng đổi hàng. Bên cạnh đó, Việt Nam mượn 300.000 tấn lúa mì của Ấn Độ tuy nhiên do năng lực xay xát của Việt Nam cũng không thể làm bột kịp phải thương thuyết nhờ Ấn Độ xay xát giúp. Việt Nam nhận 70% lượng bột, phần còn lại xem như khấu hao xay xát và trả công cho họ cũng như Indonesia đồng ý bán nợ cho Việt Nam 200.000 tấn gạo. Bộ Lương thực nhờ ông JeanBaptiste Doumeng giám đốc Công ty Ipitrade, thành viên Đảng Cộng sản Pháp thân thiện với Việt Nam giúp đỡ tìm kiếm nguồn cung cấp rồi mua bằng tiền.mặt 500.000 tấn gạo của Thái Lan để bán nợ lại cho Việt Nam.Ngoài hàng tiêu dùng, dưới thời bao cấp nhà nước còn nắm cả việc phân phối nhà cửa. Tiêu chuẩn là mỗi người được 4 mét vuông. Những khu nhà tập thể giống như ở Liên Xô được xây lên trong thành phố và cấp cho cán bộ trung cấp và công nhân nhưng quản lý kém khiến khu đất công cộng bị lấn chiếm khiến khó nhận ra đâu là của chung, đâu là của riêng. Nhà cửa hư hỏng thì có Sở nhà đất lo sửa. Đời sống trong những khu tập thể này càng tồi tệ với việc chăn nuôi gia súc trong những căn hộ chật hẹp, mất vệ sinh. Đây cũng là một khía cạnh của thời bao cấp trong thành phố. Giá nhà ở các thành phố tương đối rẻ, nhưng công nhân viên chức vẫn không mua nổi vì thu nhập quá thấp.Bao cấp qua chế độ tem phiếuNhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ, công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu. Chế độ tem phiếu với mức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu áp dụng sổ gạo vào khoảng năm 1960, lúc đầu là lương thực, sau thêm tem phiếu cho tất cả càng mặt hàng nhu yếu. Trọng tâm của thời bao cấp là tem phiếu quy định loại hàng và số lượng người dân được phép mua, chiếu theo một số tiêu chuẩn như cấp bậc và niên hạn. Có diện được ưu đãi, cho phép ưu tiên mua dùng; diện khác thì không. Ví dụ như thịt lợn, người dân thường chỉ được mua 1,5 kgtháng nhưng cán bộ cao cấp có quyền mua 6 kgtháng. Pin, Vải vóc, phụ tùng xe đạp, đường cát, sữa đặc, chất đốt, nước mắm, mỡ, muối, tất cả đều có tem phiếu.Tùy thuộc vào vị trí công việc, đặc thù nghề nghiệp mà cán bộ, công chức nhà nước cũng như người dân lao động được phát tem phiếu mua lương thực, thực phẩm với chế độ riêng.Cán bộ cao cấp hưởng tiêu chuẩn đặc biệt A1; phiếu A dành cho bộ trưởng; thứ trưởng phiếu B; trưởng các cục, vụ, viện được hưởng phiếu C và có các cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tông Đản, Nhà thờ, Vân Hồ (Hà Nội)... Lúc bấy giờ dân gian có câu Tông Đản là của vua quan Nhà thờ là của trung gian nịnh thần Đồng Xuân là của thương nhân Vỉa hè là của nhân dân anh hùng.Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sáchKhông có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn. Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế xin cho.1.1.3. Đặc điểm+ Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế chỉ có hai thành phần sở hữu về tư liệu sản xuất là: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể, được thể hiện dưới dạng Quốc doanh và Hợp tác xã.Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước. Tất cả phương hướng sản xuất, vật tư, vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiền lương,…đều do nhà nước quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoach, cấp phát vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp lại sản phẩm cho nhà nước. Lỗ thì nhà nước chịu lãi thì nhà nước thu.+ Nền kinh tế hai thành phần chịu sự quản lý tập trung của Nhà nước thông qua kế hoạch hóa là khâu trung tâm.Các cơ quan can thiệp sâu vào mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các quyết định của mình. Những thiệt hại vật chất do các quyết định sai lầm gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu. Các doanh nghiệp không được quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng không bị ràng buộc trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.+ Động lực cơ bản của vận động kinh tế là sự giác ngộ cách mạng của đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, và kỷ luật hành chính, được tạo bởi công tác chính trị, tư tưởng công tác động viên tinh thần.Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan hệ hiện vật là chủ yếu còn quan hệ hàng hóa – tiền tệ không được coi trọng mà chỉ là hình thức. Nhà nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp”. Vì vậy, sức lao động hay các văn bằng phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.+ Bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năng động gây ra tình trang cửa quyền quan liêu, hách dịch nhưng lại được hưởng chế độ, quyền lợi cao hơn người lao động. Thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, thống nhất cao độ từ trung ương đến địa phương đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân; nền kinh tế mang nặng tính chất hiện vật, quan hệ hàng hoá tiền tệ chỉ được thừa nhận về mặt hình thức, còn trên thực tế là thực hiện chế độ cấp phát, giao nộp, phân phối theo kế hoạch đến tận tay người tiêu dùng, các đơn vị kinh tế không có quyền tự chủ trong sản xuất – kinh doanh; trong kinh tế đối ngoại, chủ yếu trao đổi ngoại thương với các nước XHCN dưới hình thức các nghị định thư, hợp tác kinh tế mà thực chất là đổi trực tiếp hàng lấy hàng; thực hiện nhà nước độc quyền ngoại thương, trên thực tế đó là một nền kinh tế khép kín.1.2. Tình hình kinh tế xã hội1.2.1. Nông nghiệpSau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9 kg gạongườitháng thì 4 triệu dân thành thị mỗi năm phải cần 530.000 tấn gạo. Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy động nổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc trong khi số gạo đó phải dùng để nuôi một quân đội thường trực lớn và phân phối cho dân thành thị. Chính vì thế nhà nước chỉ có thể cung cấp cho người dân thành thị một lượng lương thực và thực phẩm tối thiểu vừa đủ để họ duy trì cuộc sống. Trong thời bao cấp xảy ra một nghịch lý người dân thành thị có khẩu phần ăn còn kém chất lượng hơn người dân nông thôn trong khi ở các quốc gia khác thành thị luôn có mức sống cao hơn nông thôn.1.2.2. Công nghiệpĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam tháng 121976 đã xác định “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công nông nghiệp; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng”.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỜI KỲ BAO CẤP 2

1.1 Khái niệm và phân loại 2

1.1.1 Khái niệm 2

1.1.2 Các hình thức bao cấp 2

1.1.3 Đặc điểm 5

1.2 Tình hình kinh tế xã hội 6

1.2.1 Nông nghiệp 6

1.2.2 Công nghiệp 6

1.2.3 Văn hóa 7

1.2.4 Xã hội 8

1.2.5 Giáo dục 9

1.2.6 Y tế 10

1.3 Thời kỳ đổi mới 10

CHƯƠNG II: CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆC PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XHCN NƯỚC TA HIỆN NAY 11

2.1 Cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập chung 11

2.1.1 Nội dung 11

2.1.1 Đánh giá chung 12

2.2 Bài học rút ra để phát triển nền kinh tế thị trường 13

2.2.1 Không ngừng hoàn thiện thể chế 13

2.2.2 Công băng với doanh nghiệp 14

Trang 2

2.2.3 Chọn mô hình phát triển phù hợp 15

2.2.4 Coi trọng phát triển kinh tế tư nhân 16

PHẦN III: KẾT LUẬN 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Ở thời nay, ăn mặc “sành điệu”, ăn uống “sành điệu”, chọn nhà hàngnào, thời trang nào… là thứ mà mọi người phải đau đầu suy nghĩ, người đơngiản hơn một chút thì phải là “ăn ngon mặc đẹp”…Nhưng cách đây 40, 50năm, vào những năm 70, 80 của thế kỷ 20, các thế hệ người Việt chỉ ước ao

đủ ăn đủ mặc Cái đói trường kỳ gặm nhấm tâm can và dạ dày khiến mọi suynghĩ của một ngày chỉ xoay quanh vấn đề miếng ăn

Thời bao cấp, với cách gọi nôm na trong người dân là “thời đặt gạchxếp hàng”, diễn ra từ năm 1957 tại miền Bắc, tới sau 4/1975 thì triển khai trêntoàn quốc, mãi tới 4/1989 mới thực sự kết thúc Giai đoạn này nằm trong ký

ức không thể quên của thế hệ đầu 8X, 7X, 6X… Đây là một giai đoạn mà hầuhết hoạt động kinh tế diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa do nhà nước kiểmsoát, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản, không chấp nhận

kinh doanh tự do Để có cái nhìn sâu và rộng hơn, tôi đã chọn đề tài “ Đặc điểm của cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu bao cấp(1975 - 1985) và bài học cho phát triển kinh tế thị trường định hướng

Xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”.

Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận, Tài liệu tham khảo và mục lục, đề tàigồm có Nội Dung chính như sau:

Chương I: Một Số Khái Niệm Cơ Bản Về Thời Kỳ Bao Cấp

Chương II: Cơ Chế Quản Lý Kinh Tế Kế Hoạch Hóa Tập Trung Và Bài HọcRút Ra Cho Việc Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Xhcn Nước Ta HiệnNay

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

CHƯƠNG I: MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ THỜI KỲ BAO

CẤP 1.1 Khái niệm và phân loại

1.1.1 Khái niệm

Thời bao cấp là tên gọi được sử dụng tại Việt Nam để chỉ một giai đoạn

mà hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nhà nước bao cấp, diễn ra dưới nềnkinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế theo chủ nghĩa cộng sản.Theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do nhànước chỉ huy Mặc dù kinh tế chỉ huy đã tồn tại ở miền Bắc dưới chế độ ViệtNam Dân chủ Cộng hòa từ trước năm 1975, song thời kỳ bao cấp thườngđược dùng để chỉ sinh hoạt kinh tế cả nước Việt Nam ở giai đoạn từ đầu năm

1976 đến cuối năm 1986 trên toàn quốc, tức là trước Đổi Mới

Trong nền kinh tế kế hoạch, thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ, hàng hóađược phân phối theo chế độ tem phiếu do nhà nước nắm toàn quyền điềuhành, hạn chế đến thủ tiêu việc mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển tự

do hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác Nhà nước có độcquyền phân phối hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt Chế độ hộ khẩuđược thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm theo đầungười, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn định số lượng và mặt hàng được phép mua

1.1.2 Các hình thức bao cấp

Bao cấp qua giá và số lượng hàng hóa

Nhà nước quyết định giá trị tài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơnnhiều lần so với giá trị thực với chúng trên thị trường Do đó, hạch toán kinh

tế chỉ là hình thức

Công nhân lao động nặng được cấp 20 kg gạo mỗi tháng, trong khi cán

bộ công chức chỉ được có 13 kg Do gạo ít nên thường ăn độn thêm ngô,

Trang 5

khoai, sắn, bo bo, phần gạo do trung ương cấp còn phần độn do địa phươngphụ trách tăng gia thêm vào, như 13 kg gạo thì có 10 kg là độn khoai,sắn Cho dù có tiền, hàng hóa rất khan hiếm, mà dù có tem phiếu người mua

có thể sắp hàng vào mua nhưng đến lượt mình thì không còn hàng, đành vềtay không Hàng hóa thì ngoài phẩm chất kém, lượng hàng rất hạn chế, chỉ đủdùng một thời gian ngắn, đến cuối tháng thì đã cạn kiệt, phải mua ở chợ đen

Người ngoại quốc ở Việt Nam thì có quyền mua sắm một số mặt hàng

ở cửa hiệu quốc doanh riêng biệt như Intershop ở Hà Nội, cung cấp một sốmặt hàng đặc biệt như đồ hộp, rượu vang

Nguồn thức ăn độn thêm chủ yếu từ Liên Xô, Ấn Độ cùng một số nướckhác từng viện trợ Ngoài ra cũng có một số thực hiện theo nghị định thưhàng đổi hàng Bên cạnh đó, Việt Nam mượn 300.000 tấn lúa mì của Ấn Độtuy nhiên do năng lực xay xát của Việt Nam cũng không thể làm bột kịp phảithương thuyết nhờ Ấn Độ xay xát giúp Việt Nam nhận 70% lượng bột, phầncòn lại xem như khấu hao xay xát và trả công cho họ cũng như Indonesiađồng ý bán nợ cho Việt Nam 200.000 tấn gạo Bộ Lương thực nhờ ông Jean-Baptiste Doumeng - giám đốc Công ty Ipitrade, thành viên Đảng Cộng sảnPháp thân thiện với Việt Nam giúp đỡ tìm kiếm nguồn cung cấp rồi mua bằngtiền

mặt 500.000 tấn gạo của Thái Lan để bán nợ lại cho Việt Nam

Ngoài hàng tiêu dùng, dưới thời bao cấp nhà nước còn nắm cả việcphân phối nhà cửa Tiêu chuẩn là mỗi người được 4 mét vuông Những khunhà tập thể giống như ở Liên Xô được xây lên trong thành phố và cấp cho cán

bộ trung cấp và công nhân nhưng quản lý kém khiến khu đất công cộng bị lấnchiếm khiến khó nhận ra đâu là của chung, đâu là của riêng Nhà cửa hư hỏngthì có Sở nhà đất lo sửa Đời sống trong những khu tập thể này càng tồi tệ vớiviệc chăn nuôi gia súc trong những căn hộ chật hẹp, mất vệ sinh Đây cũng là

Trang 6

một khía cạnh của thời bao cấp trong thành phố Giá nhà ở các thành phốtương đối rẻ, nhưng công nhân viên chức vẫn không mua nổi vì thu nhập quáthấp.

Bao cấp qua chế độ tem phiếu

Nhà nước quy định chế độ phân phối vật phẩm tiêu dùng cho cán bộ,công nhân viên theo định mức qua hình thức tem phiếu Chế độ tem phiếu vớimức giá khác xa so với giá thị trường đã biến chế độ tiền lương thành lươnghiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắcphân phối theo lao động Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu áp dụng sổ gạovào khoảng năm 1960, lúc đầu là lương thực, sau thêm tem phiếu cho tất cảcàng mặt hàng nhu yếu Trọng tâm của thời bao cấp là tem phiếu quy địnhloại hàng và số lượng người dân được phép mua, chiếu theo một số tiêu chuẩnnhư cấp bậc và niên hạn Có diện được ưu đãi, cho phép ưu tiên mua dùng;diện khác thì không Ví dụ như thịt lợn, người dân thường chỉ được mua 1,5kg/tháng nhưng cán bộ cao cấp có quyền mua 6 kg/tháng Pin, Vải vóc, phụtùng xe đạp, đường cát, sữa đặc, chất đốt, nước mắm, mỡ, muối, tất cả đều cótem phiếu

Tùy thuộc vào vị trí công việc, đặc thù nghề nghiệp mà cán bộ, côngchức nhà nước cũng như người dân lao động được phát tem phiếu mua lươngthực, thực phẩm với chế độ riêng

Cán bộ cao cấp hưởng tiêu chuẩn đặc biệt A1; phiếu A dành cho bộtrưởng; thứ trưởng phiếu B; trưởng các cục, vụ, viện được hưởng phiếu C và

có các cửa hàng phục vụ riêng tại phố Tông Đản, Nhà thờ, Vân Hồ (Hà Nội) Lúc bấy giờ dân gian có câu Tông Đản là của vua quan/ Nhà thờ là của trunggian nịnh thần/ Đồng Xuân là của thương nhân/ Vỉa hè là của nhân dân anhhùng

Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách

Trang 7

Không có chế tài ràng buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vịđược cấp vốn Điều đó vừa làm tăng gánh nặng đối với ngân sách, vừa làmcho việc sử dụng vốn kém hiệu quả, nảy sinh cơ chế "xin - cho".

1.1.3 Đặc điểm

+ Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung là nền kinh tế chỉ có hai thànhphần sở hữu về tư liệu sản xuất là: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể, đượcthể hiện dưới dạng Quốc doanh và Hợp tác xã

Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựatrên hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới Các doanhnghiệp hoạt động trên cơ sở các quyết định của nhà nước Tất cả phươnghướng sản xuất, vật tư, vốn, định giá sản phẩm, tổ chức bộ máy, nhân sự, tiềnlương,…đều do nhà nước quyết định Nhà nước giao chỉ tiêu kế hoach, cấpphát vốn cho doanh nghiệp, doanh nghiệp nộp lại sản phẩm cho nhà nước Lỗthì nhà nước chịu lãi thì nhà nước thu

+ Nền kinh tế hai thành phần chịu sự quản lý tập trung của Nhà nướcthông qua kế hoạch hóa là khâu trung tâm

Các cơ quan can thiệp sâu vào mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh củadoanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đốivới các quyết định của mình Những thiệt hại vật chất do các quyết định sailầm gây ra thì ngân sách nhà nước phải gánh chịu Các doanh nghiệp khôngđược quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng không bị ràngbuộc trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh

+ Động lực cơ bản của vận động kinh tế là sự giác ngộ cách mạng củađội ngũ cán bộ, công nhân viên chức, và kỷ luật hành chính, được tạo bởicông tác chính trị, tư tưởng công tác động viên tinh thần

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan hệ hiện vật là chủ yếucòn quan hệ hàng hóa – tiền tệ không được coi trọng mà chỉ là hình thức Nhà

Trang 8

nước quản lý kinh tế thông qua chế độ “cấp phát – giao nộp” Vì vậy, sức laođộng hay các văn bằng phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng khôngđược coi là hàng hóa về mặt pháp lý.

+ Bộ máy quản lý nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, kém năngđộng gây ra tình trang cửa quyền quan liêu, hách dịch nhưng lại được hưởngchế độ, quyền lợi cao hơn người lao động

Thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung, thống nhất cao độ từtrung ương đến địa phương đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân; nền kinh tếmang nặng tính chất hiện vật, quan hệ hàng hoá - tiền tệ chỉ được thừa nhận

về mặt hình thức, còn trên thực tế là thực hiện chế độ cấp phát, giao nộp, phânphối theo kế hoạch đến tận tay người tiêu dùng, các đơn vị kinh tế không cóquyền tự chủ trong sản xuất – kinh doanh; trong kinh tế đối ngoại, chủ yếutrao đổi ngoại thương với các nước XHCN dưới hình thức các nghị định thư,hợp tác kinh tế mà thực chất là đổi trực tiếp hàng lấy hàng; thực hiện nhànước độc quyền ngoại thương, trên thực tế đó là một nền kinh tế khép kín

1.2 Tình hình kinh tế xã hội

1.2.1 Nông nghiệp

Sau năm 1975, với tiêu chuẩn phân phối trung bình 9 kggạo/người/tháng thì 4 triệu dân thành thị mỗi năm phải cần 530.000 tấn gạo.Nhưng số lượng này không được đảm bảo khi Nhà nước chỉ có thể huy độngnổi hơn 1 triệu tấn mỗi năm trên toàn quốc trong khi số gạo đó phải dùng đểnuôi một quân đội thường trực lớn và phân phối cho dân thành thị Chính vìthế nhà nước chỉ có thể cung cấp cho người dân thành thị một lượng lươngthực và thực phẩm tối thiểu vừa đủ để họ duy trì cuộc sống Trong thời baocấp xảy ra một nghịch lý người dân thành thị có khẩu phần ăn còn kém chấtlượng hơn người dân nông thôn trong khi ở các quốc gia khác thành thị luôn

có mức sống cao hơn nông thôn

Trang 9

1.2.2 Công nghiệp

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Namtháng 12-1976 đã xác định “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nước ta từ sản xuấtnhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặngmột cách hợp lý, trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kếthợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công -nông nghiệp; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiệnquan hệ sản xuất mới, kết hợp kinh tế với quốc phòng”

Trong 10 năm 1975-1986, Nhà nước đã đầu tư vào ngành công nghiệp

65 tỷ đồng (tính theo giá 1982) trong đó, đầu tư cho công nghiệp nặng là trên70% và công nghiệp nhẹ gần 30% Đầu tư công nghiệp chiếm trên 40% tổngvốn đầu tư vào khu vực sản xuất với tốc độ tăng đầu tư cao hơn mức bìnhquân của toàn bộ khu vực sản xuất Trong thời kỳ này, nhiều công trình tươngđối lớn được xây dựng Đến năm 1985, toàn ngành công nghiệp có 3.220 xínghiệp quốc doanh, 36.630 cơ sở tiểu thủ công nghiệp với 2,653 triệu laođộng, đã sản xuất được 105 tỷ đồng giá trị tổng sản lượng, làm ra 30% thunhập quốc dân, 40% tổng sản phẩm xã hội và trên 50% giá trị sản lượng công

- nông nghiệp

1.2.3 Văn hóa

Người dân ít được tiếp xúc văn hóa phương Tây, văn học, phim, nhạc đều được kiểm soát, được xem là gần gũi quần chúng và có giá trị nghệ thuật.Văn học được lưu hành chủ yếu là văn học cổ điển, văn học Nga, văn học xãhội chủ nghĩa, văn học cánh tả, văn học hiện thực phê phán, hiện thực xã hộichủ nghĩa và lãng mạn tích cực; các trường phái được xem là "tiêu cực", "rẻtiền" không được phép lưu hành Văn chương chủ yếu tuyên truyền cho chủnghĩa xã hội - cộng sản, tinh thần yêu nước, tinh thần tập thể, yêu lao động,tinh thần quốc tế

Trang 10

Âm nhạc được cho phép bao gồm nhạc cổ điển phương Tây như giaohưởng, opera; dân ca và nhạc cách mạng (hay gọi là nhạc đỏ)

Nhạc tiền chiến, nhạc chế độ cũ miền Nam (hay gọi là nhạc vàng), nhạctrẻ, ca trù, chầu văn, nhã nhạc và âm nhạc từ các nước "tư bản" đều bị cấm.Cuối bao cấp, nhạc nhẹ được cho phép

Phim chỉ có phim nhựa (kể cả phim tài liệu), chưa có phim truyền hình,chủ yếu chiếu rạp, lưu động và phát một số buổi nhất định trên truyền hình.Cuối thời bao cấp, phim thương mại được chấp nhận ở mức độ nhất định Cácphim nước ngoài được trình chiếu chủ yếu là phim Liên Xô và các phim cácnước xã hội chủ nghĩa (phim Trung Quốc bị cấm sau chiến tranh biên giớinăm 1979), ngoài ra còn có phim các nước Pháp, Mỹ, Anh, Ấn Độ, Cácphim Việt Nam chủ yếu tuyên truyền chiến đấu, sản xuất, một số tác phẩmvăn học hiện thực phê phán trước 1945 được chuyển thể

Nhà nước chú trọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học Báo chíkhông có quảng cáo thương mại Các tờ báo rất giống nhau về quan điểm, tưtưởng, chỉ khác là phục vụ cho các đối tượng khác nhau, không chạy theo lợinhuận, được bao cấp Các văn nghệ sĩ sinh hoạt trong các cơ quan tổ chức củanhà nước, được nhà nước trả lương như công chức

1.2.4 Xã hội

Ngoài hậu quả kinh tế, thời bao cấp tại Việt Nam cũng là thời kỳ khépkín và nghi kị về mặt xã hội và chính trị Mặc dù không có luật chính thức,nhưng nhà nước khá thận trọng với người phương Tây, người nước ngoài vìkhác biệt tư tưởng và các vấn đề an ninh Người Việt phần lớn không đượctiếp xúc với người ngoại quốc Ai vi phạm sẽ bị công an tra hỏi Du lịchkhông được quan tâm, xuất nhập cảnh rất gắt gao

Sự thiếu thốn thời bao cấp khiến nạn ăn cắp vặt nảy sinh Phân hóa giàunghèo rất thấp Giáo dục, y tế được bao cấp dù khá nghèo nàn về trang thiết

Trang 11

bị Sinh viên ra trường đều có việc làm nhưng chịu sự phân công của nhànước, không được tự lựa chọn công việc, không bị thất nghiệp Thi đại học rấtkhó, đòi hỏi tiêu chuẩn cao Tính cộng đồng trong xã hội cao Không có nhiềuloại hình giải trí nhưng con người ít chịu áp lực của công việc và nhu cầu vậtchất hơn so với thời kỳ Đổi Mới.

1.2.5 Giáo dục

Thành tựu giáo dục trong thời kỳ này là phát triển hệ thống giáo dụcphổ thông đại trà đến tận cấp xã; mỗi xã, phường đều có trường phổ thôngcấp I hoặc trường phổ thông cấp I-II; tập trung cho công tác bổ túc văn hóa vàxóa mù chữ trong độ tuổi đi học; mỗi quận, huyện và thị xã có trường bổ túcvăn hóa cho cán bộ cơ sở Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển mạnh về mặt sốlượng, chất lượng hệ thống giáo dục lại đi xuống vì tình trạng thiếu trườnglớp, thiếu giáo viên được đào tạo tốt, lương giáo viên bị hạ thấp, việc thi cử bịbuông lỏng, bệnh thành tích phát triển

Khi hai miền Nam và Bắc thống nhất năm 1976 thì khuôn mẫu giáodục ở miền Bắc tiếp cận với hệ thống giáo dục đã được thiết lập ở miền Nam;

cụ thể nhất là học trình 10 năm tiểu học và trung học ở miền Bắc phải phùhợp với học trình 12 năm ở trong Nam Hai hệ thống này song hành; MiềnBắc tiếp tục hệ 10 năm và miền Nam giữ hệ 12 năm từ năm 1976 đến năm1981

Đến năm 1981, thì cho áp dụng hệ 11 năm cho miền Bắc (thêm lớp 5).Năm 1992-1993, hệ thống 11 năm phổ thông của miền Bắc được thay đổi từ

11 năm sang 12 năm (thêm lớp 9) Từ đó đến nay toàn bộ hệ thống là 12 nămthống nhất cả nước Cuộc cải cách giáo dục bắt đầu từ năm 1981: Hệ thốnggiáo dục chuyển từ 10 năm sang 12 năm (bỏ lớp vỡ lòng), kéo theo sự đổimới chương trình sách giáo khoa và cải tiến chữ viết Do dư luận xã hội phản

Ngày đăng: 21/03/2023, 21:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w