Nhìn lại chặng đường xây dựng thủy nông theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, tiến trình phi tập trung hóa và những vấn đề đặt ra từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến tiến trình phi tập trung hóa trong hoạt động thủy nông cơ sở là những nội dung chính trong bài viết Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung đến tiến trình phi tập trung hóa trong hoạt động thủy nông cơ sở. Mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1Từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
đến tiến trình phi tập trung hóa trong hoạt động thủy nông cơ sở
Mai Văn Hai
I Nhìn lại chặng đường xây dựng hệ thống thủy nông theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung
Cùng với phong trào hợp tác hóa trong sản xuất nông nghiệp, từ đầu thập kỷ
60 của thế kỷ XX, ở các tỉnh miền Bắc, Nhà nước đã phát động phong trào hiện đại hóa hệ thống thủy nông một cách quy mô và đồng bộ Với sự hỗ trợ của Nhà nước, các địa phương đã không ngừng huy động nhân công xây dựng các loại hồ, đập, các trạm bơm, đào đắp các loại kênh mương, cải tạo các loại bờ vùng, bờ thửa Để hợp
lý hóa việc tưới tiêu, đồng thời hạn chế đầu tư ngân sách, các mạng lưới này được thiết kế theo quy mô cấp huyện và dựa theo nhu cầu lý thuyết về nước của các loại
đất gieo trồng Tính trung bình, cứ trên 1000 ha đất canh tác được xây dựng một trạm bơm, và các trạm bơm như vậy có thể phục vụ tưới tiêu cho khoảng 6-7 xã
Trên địa bàn mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu trong nhiều năm, ngay từ năm 1964, trạm bơm Lý Văn (huyện Nam Sách - Tỉnh Hải Dương) đã có 5 máy trục xiên với công suất mỗi máy là 18.000m3/giờ và 2 máy trục ngang, công suất mỗi máy 1.000m3/giờ Phương thức hoạt động của các trạm diễn ra như sau: dựa vào nhu cầu
sử dụng nước của các hợp tác xã, người phụ trách trạm lập một danh sách theo thứ
tự đã đăng ký, sau đó lịch bơm nước sẽ diễn ra theo kế hoạch đã định sẵn đó Có thể nói, lần đầu tiên trong lịch sử, dưới chế độ mới, chúng ta đã thực hiện được đề án làm thủy nông và cải tạo đồng ruộng một cách đồng bộ, biến ước mơ ngàn đời của người nông dân thành hiện thực Đây chính là hệ thống thủy nông hoạt động theo cơ
chế kế hoạch hóa tập trung Hệ thống này đánh dấu sự mở đầu cho ý tưởng hiện đại
hóa nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Hệ thống thủy nông mới là một bước nhảy vọt mang tính cách mạng trong lịch sử làm thủy nông ở nước ta Từ thời điểm này, người nông dân đã thực sự
đoạn tuyệt với cung cách làm thủy nông một cách thụ động nhờ vào nguồn nước mưa, nước thủy triều hoặc những lượng nước dự trữ ít ỏi trong các ao, hồ, kênh, rạch có sẵn Từ nay, mạng lưới mương máng dọc ngang và các trạm bơm có công suất lớn có thể giúp người dân giành lấy thế chủ động trong việc tưới tiêu cho
đồng ruộng Người ta thấy các loại gầu dai, gầu sòng, gầu dây cổ truyền cứ vắng
Trang 2bóng dần rồi mất hẳn trên các cánh đồng của hợp tác để thay vào đó là nguồn nước từ trạm bơm, theo hệ thống mương nổi, có thể dẫn đến tận các chân ruộng theo hình thức tự chảy
Với hệ thống thủy nông mới, chúng ta đã chủ động giải quyết được nhiều vấn
đề mà trước đó chưa làm được:
- Tạo thế chủ động trong việc tưới tiêu, đồng thời góp phần phòng chống bão lụt, hạn hán có hiệu quả;
- Phá vỡ thế độc canh, tạo thế thâm canh, tăng vụ, tăng diện tích canh tác;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, cải thiện chất đất, đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật, nhất là các loại giống mới vào đồng ruộng, làm tăng năng suất cây trồng, tăng nhanh sản lượng lương thực;
- Trên bình diện xã hội, hệ thống thủy nông mới đã góp phần giải phóng người nông dân, đặc biệt là phụ nữ, thoát khỏi cảnh hai sương một nắng trong việc làm thủy nông theo phương thức cũ v.v
Tuy nhiên, tính từ năm 1963 là năm công cuộc làm thủy lợi được tiến hành
đồng bộ ở các làng xã miền Bắc cho đến Khoán 10 (1988), thì sự thử thách đối với hệ thống đã là 25 năm Còn nếu tính từ 1978 - thời điểm được coi là hoàn thiện các công trình thủy nông - sự thử thách này cũng đi trọn 10 năm Với các quãng thời gian ấy, bên cạnh những mặt tích cực, hệ thống thủy nông hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định
Trước hết, về mặt kỹ thuật, theo sự tính toán của nhiều địa phương, công
suất của các trạm bơm đều rất thấp, năm cao nhất đạt 57%, năm thấp nhất chỉ có 17,7% Sự kém hiệu quả về kỹ thuật còn thể hiện ở chỗ, do sự dò rỉ, thẩm thấu hay bay hơi nên lượng nước bị lãng phí rất lớn Nếu đem so lượng nước bơm lên qua đầu vòi và lượng nước được tưới thực tế vào ruộng thì sự hao hụt đạt tới 40-50% Đấy là chưa kể, trong thực tế, công việc ở các trạm bơm chỉ diễn ra dồn dập vào mấy tháng
có mùa vụ, còn những tháng còn lại, các trạm bơm hầu như đóng cửa, máy móc bỏ không còn công nhân thì không có việc làm Như vậy, nếu so với công suất thiết kế,
sự lãng phí ở các trạm bơm đã trở thành vấn đề khá nan giải
Về mặt kinh tế, ở thời kỳ đầu của quá trình xây dựng, phần lớn các chi phí
về thủy lợi (xây nhà trạm, mương máng, cầu cống, vận hành máy móc ) đều được Nhà nước bao cấp, các hợp tác xã chỉ phải bù lại cho Nhà nước (bằng thóc) một phần rất nhỏ Đến 1984, theo Chỉ thị 112 CP, các cơ quan quản lý thủy nông được đổi tên thành các Công ty (hay Xí nghiệp) và có nhiệm vụ tự hạch toán kinh doanh Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, các công ty luôn bị thất thu thủy lợi phí (do mức được thu thấp theo quy định của Nhà nước; do các địa phương ký hợp đồng mua nước nhưng lại dấu bớt diện tích; rồi do giá thóc thủy lợi phí quy định thấp hơn giá thị trường; do chính sách của Nhà nước miễn giảm hoặc xóa bỏ thủy lợi phí khi có thiên
Trang 3tai, mất mùa v.v.) Trong thực tế hệ thống thủy nông theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung chỉ đóng vai trò như một hệ thống con trong hệ thống nông nghiệp nói chung,
các hoạt động của nó, vì vậy, đều mang tính chất phi kinh tế, chúng chỉ có ý nghĩa là
hoàn thành một chức năng trong hệ thống lớn mà thôi Đương nhiên là tính chất phi kinh tế này đã góp phần làm trầm trọng thêm những yếu kém trong sản xuất nông nghiệp, nhất là đối với nghề trồng lúa nước
Về mặt xã hội, sự bất cập của hệ thống thủy nông theo cơ chế kế hoạch hóa
tập trung thể hiện ở cả hai cấp độ: cấp độ của toàn hệ thống và cấp độ của từng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở cấp độ thứ nhất, sự bất cập thường xảy ra vào các mùa cày cấy Trạm bơm thì chỉ có một, song do xuất phát từ lợi ích riêng tư, hợp tác xã nào cũng muốn được ưu tiên cung cấp nước sớm nhất Thế là người ta không còn tôn trọng các quy chế hiện hành nữa Những đơn vị ở xa nguồn nước tìm cách lấy lòng lãnh đạo trạm bơm bằng quà cáp hoặc phong bì Những đơn vị ở gần thì bí mật phá bờ mương lấy nước khi nguồn nước đi qua địa phận của mình Lợi dụng tình hình đó, một số cán bộ của trạm nảy sinh hành vi “móc ngoặc” hoặc lên thói “cửa quyền”, gây sách nhiễu đối với các hợp tác xã Những biểu hiện tiêu cực này dẫn đến những mâu thuẫn triền miên trong toàn hệ thống
ở cấp hợp tác xã cũng không ít vấn đề được đặt ra Chẳng hạn, theo công thức chung lúc bấy giờ là cứ có khoảng 100 mẫu (Bắc Bộ) ruộng đất canh tác có 2 người phụ trách thủy nông (gọi là các nông giang viên) thì trung bình mỗi hợp tác xã có chừng 20-25 nông giang viên, được chế biến thành một đội độc lập, không trực tiếp phụ thuộc vào các đội sản xuất Ai cũng biết, sự ra đời của đội thủy nông có mục tiêu
là chuyên môn hóa đội ngũ lao động theo hướng hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, nếu so với tập quán lâu đời của nghề trồng lúa nước thì cơ cấu tổ chức này lại tỏ ra bất cập Bởi vì, với một đội thủy nông chuyên trách, thì cho dù có cố gắng đến đâu, họ cũng không thể nắm vững và đáp ứng tường tận nhu cầu về nước của cây trồng trên phần ruộng đất rộng lớn của hợp tác xã Trong khi đó, hầu hết các nông dân xã viên khác lại không thuộc cơ chế này Ví như Đào Xá - một làng nhỏ thuộc tỉnh Hải Dương – ở thời điểm này có khoảng 250 lao động, nhưng chỉ có 2 nông giang viên có nhiệm vụ tưới tiêu cho gần 100 mẫu ruộng đất của cả làng Số 248 người còn lại, vì được bố trí làm việc ở các đội sản xuất ngành nghề, chăn nuôi, nên chẳng ai lo đến chuyện trời nắng hay mưa, ruộng khô hay cạn và cây trồng đang phát triển thế nào Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, vô hình chung đã tách tuyệt đại
đa số nông dân ra khỏi việc tưới tiêu cho đồng ruộng
Có thể nói, sự bất hợp lý về kỹ thuật, hiệu quả kinh tế thấp, cộng với những biểu hiện tiêu cực về cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội đã dẫn đến tình trạng trì trệ, yếu kém và mất ổn định của hệ thống thủy nông hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung Điều này đã báo hiệu cho các cải cách tất yếu, mà thực chất là tiến trình phi tập trung hóa của hệ thống trong các thời kỳ tiếp theo
Trang 4II Tiến trình phi tập trung hóa và những vấn đề đặt ra
Nhằm khắc phục những bất ổn trên, từ những năm 1978-1979, với sự chấp thuận của các trung tâm thủy nông huyện, và bằng nguồn kinh phí tự có, nhiều xã ở miền Bắc đã lần lượt xây dựng các trạm bơm riêng của mình ở hai huyện Nam Sách
và Thanh Hà (Hải Dương), trong năm 1980 mới có 5 trạm bơm cấp xã, đến năm
1990, con số này đã lên đến 101 trạm, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 2 lần Khi các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo kiểu cũ bị giải thể hàng loạt thì quá
trình này diễn ra càng nhanh chóng hơn Người ta gọi đây là quá trình phi tập trung
hóa trong hoạt động thủy nông ở cơ sở
Trong tiến trình đổi mới theo xu hướng phi tập trung hóa, căn cứ trên các
điều kiện địa lý cũng như điều kiện kinh tế - xã hội của riêng mình nhằm phát huy tối đa năng lực của công trình, mỗi địa phương đã sáng tạo ra một kiểu tổ chức và quản lý thủy nông khác nhau Theo những nghiên cứu mới nhất ở 39 xã thuộc châu thổ sông Hồng, các hình thức tổ chức và quản lý như thế được quy vào các mô hình cơ bản sau đây:
1 Đội thủy nông chuyên trách Vốn là một bộ phận hợp thành của các hợp tác xã nông nghiệp trước đây, nhưng khi hợp tác xã bị giải thể thì bộ phận này vẫn được giữ lại và hoạt động dưới sự quản lý của ủy ban nhân dân xã như một mô hình quản
lý thủy nông của thời đổi mới
chất, đây chỉ là sự chuyển đổi chức năng của hợp tác xã kiểu cũ sang làm dịch vụ nông nghiệp, nên các hoạt động của mô hình, trong đó có các hoạt động thủy nông không chuyển sang hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, mà vẫn lấy việc phục vụ (theo kiểu phi kinh tế) cho hệ thống nông nghiệp làm mục tiêu hoạt động chính
3 Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp tổng hợp, hoạt động theo phương thức tự nguyện, có đóng góp cổ phần Lấy việc hạch toán kinh doanh làm mục tiêu, nên ngoài làm dịch vụ thủy nông, các hợp tác xã thuộc mô hình này còn mở rộng phạm vi sang một số khâu khác của sản xuất nông nghiệp, như cung cấp các loại giống mới, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh v.v
4 Hợp tác xã dịch vụ thủy nông chuyên ngành, có mục tiêu kinh doanh và hoạt động theo phương thức đóng góp cổ phần Cùng loại với mô hình này còn có các
tổ chức khác như Hội hoặc Hiệp hội của những người dùng nước Chức năng của các Hội hoặc Hiệp hội này là làm cầu nối với các trạm bơm để điều hành nước cho các hộ nông dân
Trong 4 mô hình chủ yếu trên thì mô hình 1 (Tổ thủy nông chuyên trách) chiếm 25,6% và mô hình 2 (Hợp tác xã dịch vụ không đóng cổ phần) chiếm 20,6% Cả
hai mô hình này, về bản chất, không có gì khác biệt nhiều so với các đội thủy nông
Trang 5chuyên trách trong các hợp tác xã nông nghiệp thời bao cấp Đây chỉ là sự thay đổi tên gọi theo kiểu thay bình mới cho các loại rượu cũ, nên không được nhiều địa
phương ứng dụng Phổ biến hơn cả là mô hình 3 (Hợp tác xã dịch vụ tổng hợp có đóng
cổ phần), chiếm 46% Ưu điểm cơ bản của loại hình này là có thể tập trung huy động vốn cho các đầu tư về thủy nông khi cần thiết Tuy nhiên, do chức năng làm dịch vụ tổng hợp nên khi thị trường có biến động, Ban quản lý rất dễ tập trung nguồn đầu tư vào các dịch vụ cho lãi suất cao, làm cho nguồn vốn đầu tư cho thủy nông dễ bị sử
dụng sai mục đích, hoặc chí ít cũng bị xem nhẹ Mô hình thứ tư (Hợp tác xã dịch vụ
thủy nông chuyên ngành) mặc dầu chỉ chiếm 7,7%, song lại là mô hình rất đáng chú
ý Đây là mô hình tự hạch toán kinh doanh, hoạt động độc lập so với các ngành dịch
vụ khác Ưu điểm của nó là vốn dành cho hoạt động thủy nông không bị sử dụng sai mục đích, và hoạt động chỉ chuyên về một khâu nên tính chất chuyên môn hóa đạt trình độ khá cao
Nhìn chung, qua 4 mô hình đại diện này, người ta thấy các hoạt động thủy nông ở cơ sở đã bắt đầu hòa nhập vào cơ chế kinh tế mới, mà biểu hiện cụ thể là các hoạt động mang tính chất phi kinh tế theo kiểu bao cấp trước đây đang giảm dần để thay vào đó là các hoạt động theo quy luật của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Về mặt hình thức, việc tổ chức và quản lý của các mô hình này là khá
đa dạng theo các cấu trúc xã hội khác nhau: có khi ở cấp xã hoặc liên xã, có khi ở cấp thôn hoặc liên thôn, thậm chí có khi chỉ là một nhóm hộ đứng ra thầu để tổ chức và
điều hòa nguồn nước cho cả cộng đồng,v.v…
Một biểu hiện nữa cũng không kém phần quan trọng trong sự đổi mới của hoạt
động thủy nông chính là sự tham gia trực tiếp của đông đảo các hộ gia đình nông dân vào trong hệ thống Làng Đào Xá được dẫn ở trên vẫn là một minh chứng tốt trong trường hợp này Trong thời bao cấp, Đào Xá chỉ có 1 tổ thủy nông với 2 nông giang viên phụ trách tưới tiêu cho gần 100 mẫu ruộng của làng Đến Khoán 10 (1988) cả làng có
192 hộ gia đình, với phần ruộng đất đã được giao khoán, thì cả 192 hộ đều trực tiếp tham gia vào việc tưới tiêu như những “tổ thủy nông chuyên trách” Nếu lấy bình quân mỗi hộ có 3 người (gồm chồng, vợ và một con lớn) tham gia vào hoạt động này thì cả làng có gần 600 “nông giang viên” Vậy là, nếu so với trước đây, số “tổ thủy nông” của làng đã tăng lên 192 lần, còn số “nông giang viên” tăng gần 300 lần
Việc đổi mới các hoạt động thủy nông với sự tham gia đông đảo của người nông dân có ý nghĩa trên cả hai mặt: quản lý và sản xuất Về mặt quản lý, khi có sự tham gia của người dân, hệ thống sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng như: nước sẽ
được phân phối hợp lý và sử dụng tiết kiệm; cả người quản lý và người sử dụng đều biết cái gì đang xảy ra trong hệ thống; làm giảm chi phí quản lý, giảm các hiện tượng tham ô, hối lộ; công tác tu sửa công trình cũng như chất lượng dịch vụ được giám sát tốt hơn; các tổ chức quản lý không mất nhiều thời gian cho việc thu thủy lợi phí v.v Về mặt xã hội, sự đổi mới theo xu hướng phi tập trung hóa không chỉ khắc phục được
Trang 6nhược điểm của thời kỳ bao cấp là tách tuyệt đại đa số nông dân ra khỏi hoạt động tưới tiêu, mà còn là sự kết hợp tốt nhất giữa trồng trọt, thủy lợi và việc khai thác các nguồn lực dư thừa, tạo thêm công ăn việc làm, kích thích năng lực sáng tạo của người dân trên chính mảnh ruộng đã được giao quyền sử dụng lâu dài của họ Do những chuyển biến tích cự đó, trong những năm gần dây, trên phạm vi cả nước, hệ thống thủy nông
đã gặt hái được nhiều thành tựu đáng phấn khởi: mở rộng diện phục vụ tưới tiêu lên hơn 7 triệu ha cây trồng các loại, góp phần quan trọng làm cho năng suất và sản lượng lương thực không ngừng tăng lên, đưa nước ta từ một nước thiếu gạo trở thành một nước có thừa gạo để xuất khẩu (xếp hàng thứ hai trên thế giới)
Mặc dù những lợi ích của tiến trình phi tập trung hóa trong hoạt động thủy nông cơ sở, đặc biệt khi có sự tham gia của người dân, là rất rõ ràng, song sự chuyển biến này chưa thực sự triệt để, nhất là nhìn từ phương diện tổ chức và quản lý Rất
dễ dàng nhận thấy là, cho đến nay ở nhiều địa phương việc đổi mới tổ chức và quản
lý vẫn chưa được tiến hành một cách đồng bộ, chưa có sự khép kín ở cả hai phía: một phía là các Công ty khai thác công trình và phía kia là những người sử dụng sản phẩm đặc biệt là “nước” Sự đổi mới thiếu triệt để này đã tạo ra một khoảng trống, làm cho một số hệ thống nhỏ rơi vào tình trạng chưa có chủ quản lý, một số kênh mương thuộc các hệ thống vừa và lớn bị bỏ ngỏ, không có chủ hoặc có chủ nhưng không phải là chủ thực sự Nhiều hệ thống công trình, nhất là các công trình nhỏ không có vốn đầu tư bảo dưỡng, hoặc có đầu tư nhưng chất lượng xây dựng thấp và thiếu đồng bộ Cũng có nhiều công trình trước đây thiết kế tưới cho lúa, nay chuyển mạnh sang phục vụ đa canh, đa dạng hóa cây trồng, song vẫn chưa kịp bổ sung, cải tạo và nâng cấp cho phù hợp với chức năng mới Sự chậm trễ của tiến trình đổi mới không chỉ làm cho các công trình xuống cấp, mà sự hoạt động của hệ thống cũng không thể đạt hiệu quả cao Theo nhiều tài liệu, tính bình quân cả nước, hệ thống thủy nông mới đảm bảo tuới chủ động đạt 50-60% so với năng lực thiết kế (thậm chí lúc thấp nhất chỉ đạt 27%) v.v
Những bất cập này đang đòi hỏi các tổ chức quản lý nước cũng như các cơ quan khoa học cần tiếp tục nghiên cứu để có các giải pháp khắc phục
III Mấy nhận xét tổng quát
Ngược trở lên, chúng ta đã xem xét quá trình xây dựng hệ thống thủy nông cơ
sở suốt từ những năm 60 của thế kỷ XX đến nay Có thể chia quá trình này thành hai chặng lớn: chặng đầu đi từ việc làm thủy nông nhỏ, hoạt động theo kiểu thụ động
và tự phát của từng hộ hoặc nhóm hộ gia đình đến việc chủ động và tự giác xây dựng một hệ thống thủy nông có đủ sức mạnh trong việc tưới và tiêu, hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, và chặng thứ hai lại đi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung
đến tiến trình phi tập trung hóa Đến đây, cần trở lại một số nét chính
1 Sống trong điều kiện của một đất nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, chúng
Trang 7ta rất hiểu, rằng không có một cơn nắng hạn nào chỉ đổ xuống một thôn một xóm, cũng không có trận bão lụt nào chỉ dừng lại ở một làng hay một xã Ngược lại, kinh nghiệm đã cho thấy, những tai họa do thiên nhiên mang đến thường là trên một vùng rộng lớn, không chỉ là một huyện, một tỉnh mà có khi diễn ra trong phạm vi nhiều tỉnh, thậm chí là cả nước Trong khi đó, muốn xây dựng một hệ thống thủy nông tầm cỡ để có thể tự chủ trong việc tưới tiêu thì không nói gì đến một xóm một làng, mà đến một xã hoặc dăm ba xã cũng khó có thể đảm đương nổi Bởi vậy, chủ trương xây dựng hệ thống thủy nông có quy mô lớn và hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung là hoàn toàn cần thiết và đúng đắn
Trong thực tế, sự ra đời của hệ thống thủy nông mới cùng với những tác động tích cực của nó đến quá trình sản xuất và đời sống của người nông dân trong thời kỳ hợp tác xã bao cấp đã minh chứng cho sự cần thiết và đúng đắn đó Có thể khẳng
định rằng, với hệ thống thủy nông mới, chúng ta đã có một bước tiến vượt bậc, đem lại sự thay đổi về chất trong lịch sử làm thủy nông ở nước ta
Tuy nhiên, trong những bước đi ban đầu, vì quá tập trung cho cái chung, cái tổng thể, chúng ta đã không chú ý đầy đủ đến cái riêng, cái đặc thù của từng yếu tố trong cùng hệ thống Mặt khác, trong thiết kế tổng thể, chúng ta cũng mới chỉ dựa trên các chỉ tiêu kinh tế và kỹ thuật, chứ chưa thấy hết vai trò của nhân tố xã hội, chưa có sự kết hợp giữa kinh tế, kỹ thuật và xã hội Nhìn trên lược đồ, rất dễ dàng
nhận thấy hai đơn vị xã hội quan trọng là làng và hộ gia đình đã hoàn toàn bị tách rời
khỏi hệ thống Chính vì vậy, mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng kể, song cuối cùng hệ thống này đã rơi vào khủng hoảng, dẫn đến một hệ quả không tránh khỏi là phải chấp nhận những cải cách theo xu hướng phi tập trung hóa ở thời kỳ tiếp theo
2 Nếu lấy năm 1980 làm mốc đánh dấu sự mở đầu cho sự đổi mới theo xu hướng phi tập trung hóa trong hoạt động thủy nông cơ sở, thì đến nay, tiến trình này diễn ra đã hơn hai thập kỷ Trong khoảng thời gian này, ngành thủy nông đã giải quyết được những vấn đề khá cơ bản như khắc phục được những thiếu sót và bất cập của mô hình quản lý kế hoạch hóa tập trung như: đã có sự kết hợp giữa thủy nông và trồng trọt, giữa
đơn vị kinh tế, kỹ thuật với các đơn vị xã hội, đã mở đường cho sự tham gia ngày càng
đông của người nông dân và gia đình họ vào trong hệ thống v.v… Nhưng, song hành với những chuyển biến tích cực ấy, ngành thủy nông cũng đang vấp phải không ít khó khăn
Điều cần nhấn mạnh ở đây là những khó khăn của tiến trình phi tập trung hóa lại thường vận hành ngược chiều với những khó khăn của thời kỳ hoạt động theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, và điều này cũng là một tất yếu khách quan
Như đã nói, trong tiến trình đổi mới, căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mình, mỗi địa phương dường như đều muốn sáng tạo ra một mô hình quản lý riêng,
do đó các mô hình này rất đa dạng Không ai phủ nhận sự đa dạng trong phát triển Nhưng nếu nhân danh sự đa dạng để chỉ quan tâm đến cái riêng, cái đặc thù thì lại
dễ rơi vào tình trạng mạnh ai nấy làm và dễ quên đi mối liên hệ thống nhất với cái
Trang 8chung, cái tổng thể, dễ quên đi toàn bộ hệ thống Tình trạng mạnh ai nấy làm trong phạm vi nhỏ bé của mình không chỉ dẫn đến tình trạng một số kênh mương thuộc các hệ thống vừa và lớn bị bỏ ngỏ, một số hệ thống nhỏ không được đầu tư, chất lượng xây dựng thấp và thiếu đồng bộ, mà còn kéo theo tình trạng có nhiều kiểu cơ chế khác nhau cùng song song tồn tại: cơ chế “xin - cho”, cơ chế hạch toán kinh doanh, rồi cơ chế nửa “xin-cho” nửa hạch toán kinh doanh,.v.v… Những khác biệt và bất bình đẳng này đang làm cản trở tiến trình đổi mới của toàn ngành thủy nông
Để giải quyết vấn đề đang đặt ra trên đây, cố nhiên là cần tạo ra một cơ sở thống nhất cho sự nảy nở các mô hình khác nhau Cơ sở thống nhất đó không gì khác hơn là hệ thống chính sách quản lý thủy nông phải được đổi mới kịp thời và đồng bộ, thậm chí phải đi trước một bước Nói cách khác, để tiến trình đổi mới cơ chế quản lý thủy nông diễn ra nhịp nhàng và đồng bộ, dù trong phạm vi làng xã, vẫn không thể thiếu được sự điều tiết ở cấp vĩ mô của Nhà nước
Tài liệu tham khảo
1 Mai Văn Hai - Bùi Xuân Đính, Thủy lợi và quan hệ làng xã, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997
2 Báo cáo kết quả điều tra thủy lợi khu vực Nam Sách - Thanh Hà và ph ương hướng hoàn chỉnh thủy nông 1973, lưu tại Phòng Thủy lợi, huyện Nam Thanh
3 Mai Văn Hai, Participation des agricultaurs aux travaux d’irrigation depuis le contrat 10,
trong cuốn agriculture familiale et gestion des ressources du milieu dans le bassin du fleuve Rouge, Maison d’Edition de l’agriculture, 1999, trang 25-38
4 Jean-Philippe Fontenelle, Decentralisation de l’hydraulique agricol du delta du fleuve
Rouge, trong cuốn agriculture familiale et gestion des ressources du milieu dans le bassin
du fleuve Rouge, Maison d’Edition de l’agriculture, 1999, trang 211-226
5 Nguyễn thị Hồng Loan, Các hình thức quản lý thủy nông hiện có tại Nam Thanh – Hải
Hưng, 1997 Tài liệu đánh vi tính, lưu tại Chương trình đồng bằng Sông Hồng
nguyên nước đến 2010 để đảm bảo an toàn lương thực của Việt Nam vào thế kỷ 21, Tạp
chí Thủy lợi, số 1+2/2000, trang 5-6
7 Đoàn Thế Lợi, Chính sách giá n ước và vấn đề đổi mới mô hình tổ chức quản lý ở các hệ thống thủy nông, Tạp chí Thủy lợi, số 1+2/2000, trang 16-17
8 Nguyễn Đình Thịnh Đẩy mạnh việc củng cố và phát triển thủy nông ở cấp cơ sở có sự
tham gia của nông dân, Tạp chí Thủy lợi, số 3+4/2000, trang 5-7
9 Phan Thanh Toản và Nguyễn Hồng Khanh, Tuyên Quang - mô hình chuyển giao quyền
quản lý tưới cho nông dân có hiệu quả, Tạp chí Thủy lợi, số 9+10/2000, trang 48-49
10 Tô Như Phong, Vấn đề thủy lợi phí ở Tuyên Quang, Tạp chí Thủy lợi, số 11+12/2000,
trang 56-57
11 Trần Tiến Đệ Đổi mới chính sách, cơ chế đầu t ư xây dựng và quản lý công trình thủy lợi,
Tạp chí Thủy lợi, số 11+12/2000, trang 20-27
12 Phan Như Hải Thành tựu của sự nghiệp thủy lợi và những nhiệm vụ đặt ra trong thời kỳ
mới. Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, số 1/2000, trang 59-62