1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Cơ chế quản lý Kế hoạch hóa tập trung bao cấp

6 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 74,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh tế Việt Nam đã trải qua một đêm dài mịt mù, trước khi bước sang một chặng đường đổi mới toàn diện vào năm 1986. Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận đã có những sai lầm xuất phát từ tư tưởng chủ quan duy ý chí, tiếp thu gượng ép chế độ kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô. Để có thể hiểu rõ quá trình quá trình này, điều cần làm đầu tiên là xem lại lịch sử của hệ thống – đối tượng của đổi mới từ những năm giữa thập kỷ 80

Trang 1

CƠ CHẾ QUẢN LÝ KINH TẾ THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI

CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Kinh tế Việt Nam đã trải qua một đêm dài mịt mù, trước khi bước sang một chặng đường đổi mới toàn diện vào năm 1986 Chúng ta phải thẳng thắn thừa nhận đã có những sai lầm xuất phát từ tư tưởng chủ quan duy ý chí, tiếp thu gượng ép chế độ kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô Để có thể hiểu rõ quá trình quá trình này, điều cần làm đầu tiên là xem lại lịch sử của hệ thống – đối tượng của đổi mới từ những năm giữa thập kỷ 80

1 TRƯỚC KHI TÁI THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Khoảng giữa những năm 1954 và 1965, miền Bắc Việt Nam đã cố gắng thực hiện cách thức tiếp cận kiểu Xô viết đối với công nghiệp hóa và kế hoạch hóa Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cách tiếp cận cơ bản này vẫn được duy trì Các hoạt động kinh tế tư nhân phần nhiều không được khuyến khích Hầu hết các doanh nghiệp quy mô trung bình và lớn đều đã được quốc hữu hóa ngay sau khi người Pháp thất bại và rời Việt Nam vào năm 1954 Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn lại chỉ là các doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp và các hộ kinh doanh gia đình khác sau đó được tổ chức lại thành các hợp tác xã sau năm 1957 Các doanh nghiệp quốc hữu hóa do Trung ương sở hữu hoặc thông qua các chính quyền địa phương Các doanh nghiệp quốc doanh là nhân tố chủ yếu đưa lại tăng trưởng theo định hướng Nhà nước Đảng và Chính phủ quản lý trực tiếp các doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng ưu tiên hang đầu Các doanh nghiệp này được thừa nhận các ưu đãi về đầu vào, sản xuất bất kể chi phí và được Nhà nước trợ cấp lớn Các doanh nghiệp quốc doanh hoạt động trong các lĩnh vực

ít ưu tiên hơn ít hoạt động theo các chỉ tiêu, nhưng được tiếp cận ít hơn với các nguồn lực chính thức Trong một môi trưởng như vậy đòi hỏi phải có các kỹ năng quản lý, chính trị và quản trị kinh doanh để đáp ứng yêu cầu về chỉ tiêu Nông nghiệp được tập thể hóa và cuối những năm

1950 và được quản lý thông qua các hợp tác xã sản xuất, trừ đất tư trong các hợp tác xã nông nghiệp

Nền kinh tế Việt Nam trên lý thuyết là một “nền kinh tế chỉ huy” cổ điển Tuy nhiên, ngay cả trên nguyên tắc một hệ thống mệnh lệnh đầy đủ kiểu Xô viết chưa bao giờ được thực hiện Ví dụ, danh sách các loại hàng hóa phân phối theo kế hoạch thường rất giới hạn so với hệ thống cân đối vật chất của Xô viết Cơ chế chỉ huy tập trung thực tế không được thực hiện

Trang 2

Trên thực tế, từ năm 1945 cho đến thời điểm chính thức thống nhất đất nước vào năm

1976, miền Bắc đã phải tập trung hầu hết nguồn lực của mình vào chiến tranh vũ trang Đã có một cam kết chặt chẽ về việc huy động các nguồn lực phục vụ trực tiếp cho các hoạt động vũ trang của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954), sau đó là chiến tranh chống Mỹ và chế độ Ngụy quyền do Mỹ dựng lên tại miền Nam Việt Nam Trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, mọi ưu thế đều tập trung cho nhu cầu của nền kinh tế thời chiến hơn là thực hiện các kế hoạch kinh tế

Các quan điểm chiến lược kinh tế thời kỳ này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các quan điểm chính thống của Xô viêt Đại hội Đảng lần thứ ba vào tháng 9 năm 1960 tập trung vào xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất đất nước Đại hội đã thông qua nghị quyết về

ưu tiên chính cho Kế hoạch Năm năm lần thứ nhất (từ 1961 đến 1965), trong đó nhấn mạnh phát triển công nghiệp nặng Các nhà bình luận nước ngoài cho rằng “công nghiệp hóa nhanh cũng là một đặc điểm của thời kỳ 1959 đến 1964” Đầu tư vào công nghiệp ước tính tăng gấp

ba lần so với khu vực nông nghiệp từ năm 1960 đến năm 1975 Tỷ lệ sản lượng công nghiệp trong tổng thu nhập quốc dân tăng từ 18,2% năm 1960 đến 24,2% năm 1974, trong đó hầu hết tăng trưởng diễn ra trước năm 1965 Điều này chủ yếu là “do tăng viện trợ nước ngoài về trang thiết bị, nguyên vật liệu cho công nghiệp, cộng với sự suy giảm trong sản xuất nông nghiệp” (Võ Đại Lược 1994:10) Đây chính là đặc trưng tăng trưởng nhờ viện trợ nước ngoài từ khối

Xô viết

Sự phụ thuộc của Chính phủ vào các nguồn tài chính nước ngoài để bù đắp các thâm hụt tài chính và thương mại, tính chất quan liêu của cơ chế ra quyết định và các động cơ kinh tế lệch lạc trong khu nông nghiệp và công nghiệp khiến các nhà phân tích kết luận rằng, tại thời điểm thống nhất đất nước, nền kinh tế miền Bắc mất cân bằng kinh tế liên tục Tuy nhiên cần phải ghi nhận rằng, trong điều kiện chiến tranh, các khái niệm như “động cơ kinh tế” và “cân bằng kinh tế” không có ý nghĩa đặc biệt Nền kinh tế thời chiến trong bất kỳ hệ thống nào cũng đặc trưng bằng lạm phát, cấm đoán hoặc mở cửa, khan hiếm, chủ yếu là hệ thống phân phối phi thị trường và các yếu tố tương tự Thực tế thắng lợi trong chiến tranh một mặt nào đó cho thấy

hệ thống này đã phát huy tác dụng về mặt kinh tế

Các tài liệu của Đảng sau này thừa nhận rằng đã có sự mất cân đối và lệch lạc nghiêm trọng, kế hoạch hóa chỉ có hiệu quả rất ít, nhưng điều này là cần thiết để giành thắng lợi trong

Trang 3

chiến tranh Nhận xét về sự tiếp diễn của các lệch lạc đó sau chiến tranh Đảng cho rằng: “Nền kinh tế nước ta bị tàn phá do cuộc xâm lược của Mỹ sau năm 1964… Nhà nước Việt Nam phụ thuộc vào viện trợ gia tăng của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác…Cách thức phát triển sản xuất duy nhất là cung cấp cho các đơn vị sản xuất thuộc các ngành công nghiệp ưu tiên hàng đầu các công cụ sản xuất (trang thiết bị, vốn, nguyên vật liệu, lương thực và hàng tiêu dùng) Các nhà máy đã phải sản xuất bất kể chi phí Kế hoạch hóa chỉ tồn tại hình thức Nhà nước phân công nhiệm vụ cho các đơn vị sản xuất, cung cấp cho họ các công cụ và thu các sản phẩm đầu ra Việc các doanh nghiệp phải làm là cân bằng trợ cấp của Nhà nước và chi phí của họ như cách các cơ quan hành chính thường làm Do vậy quản lý kinh tế thông qua các trợ cấp hành chính được thực hiện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986).

Như vậy, chiến tranh đã có những tác động to lớn lên tổ chức nền kinh tế Kết quả cuối cùng là khu vực doanh nghiệp quốc doanh hầu như đã bị phân quyền – cả về địa lý cũng như cơ chế ra quyết định – hơn là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Mặc dù cuộc đấu tranh chuyển sang hệ thống xã hội chủ nghĩa vẫn được duy trì trong các chương trình chính sách, Chính phủ Trung ương chưa bao giờ đạt được mức độ quản lý hoạt động kinh tế tương tự với hầu hết các nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung Đông Âu

2 SAU KHI TÁI THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Sau thống nhất, Chính phủ ban đầu chủ yếu dựa vào các công cụ đặc biệt để chỉ đạo nền kinh tế, tập trung vào nhiệm vụ tái xây dựng và khôi phục cơ sở hạ tầng, tái định cư dân tị nạn chiến tranh, tăng sản xuất lúa gạo và xây dựng năng lực bộ máy hành chính

Sau chiến thắng lịch sử Mùa xuân 1975, việc hợp nhất hai hệ thống kinh tế khác nhau là một thách thức lớn Do sự khác biệt đáng kể về thể chế; đồng thời do cả hai miền Nam và Bắc trước kia đều dựa phần lớn vào viện trợ nước ngoài, đất nước nước phải đối mặt với việc sụt giảm ngoại hối, đúng vào thời điểm họ cần những nguồn tài chính như vậy để thực hiện tái cơ cấu sau chiến tranh và chuyển đổi khỏi nền kinh tế thời chiến

Đại hội Đảng IV (Tháng 12/1976) đã thừa nhận các hạn chế của chính sách công nghiệp hóa tại miền Bắc trước năm 1975 và kêu gọi đầu tư nguồn lực nhiều hơn cho khu vực nông nghiệp Tuy nhiên điều này đã không được phản ánh trong các mục tiêu chiến lược để phát triển kinh tế do Đại hội xác định:

- Nhanh chóng tạo tiền đề cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

Trang 4

- Đưa nền kinh tế từ sản xuất quy mô nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa với cơ cấu công nghiệp hiện đại

- Nhiệm vụ chính của Kế hoạch Năm từ 1976 -1980 là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; tăng cường sản xuất nông nghiệp;

- Phân bổ lại nguồn lực để có thể sử dụng hiệu quả đất hoang, chủ yếu là thuộc các vùng đồi núi;

- Tổ chức quận, huyện trở thành một đơn vị kinh tế công – nông nghiệp;

- Xây dựng nền kinh tế quốc gia đảm bảo yêu cầu quốc phòng;

- Phát triển đồng thời nền kinh tế tập trung linh hoạt và kinh tế địa phương;

- Thúc đẩy phát triển nhanh khoa học- kỹ thuật;

- Dần dần chuyển đổi miền Nam để xây dựng một quốc gia xã hội chủ nghĩa thống nhất;

- Giải quyết các vấn đề quản lý kinh tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986)

Ngay sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam khá thận trọng đối với quá độ lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên do không hài lòng với tốc độ chuyển đổi chậm chạp và tăng trưởng nhanh thương mại tư nhân, kết hợp với các lo ngại về sự chống đối của cộng đồng thương nhân miền Nam, chủ yếu là cộng đồng người Hoa, càng thúc đẩy Chính phủ tiến hành nhanh hơn quá độ lên chủ nghĩa xã hội Chính sách bao cấp cho các doanh nghiệp quốc doanh bất kể chi phí vẫn tiếp tục sau thống nhất Trên thực tế, trợ cấp tăng lên được phân phối theo các chính sách áp dụng trên toàn quốc, kể cả các doanh nghiệp mới và các doanh nghiệp mới quốc hữu hóa ơ miền Nam Việc duy trì hệ thống này sau thống nhất đã được Đảng thừa nhận là sai lầm

Việc quá nhấn mạnh vào chuyển đổi nhanh sang chủ nghĩa xã hội khiến Đảng và các quan chức Chính phủ liên quan đã can thiệp vào công việc quản lý thường nhật của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh Phiên họp Đảng lần thứ hai vào tháng 7/1977 đã đưa ra quyết định thúc đẩy phát triển các nông trường quốc doanh trên toàn quốc và thực hiện tập thể hóa nông nghiệp ở miền Nam (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986) Đảng đặt ra mục tiêu nhằm chuyển các nông trường tư nhân ở miền Nam vào các hợp tác xã sản xuất Người ta tranh cãi rằng có hiện tượng các cán bộ địa phương, những người chịu sức ép rất lớn từ các mục tiêu này, đã phải sử dụng quyền lực nhiều hơn là thuyết phục để thành lập các hợp tác xã, và mong muốn có được

Trang 5

hàng triệu hợp tác xã càng tốt hơn là hoạt động sản xuất hiệu quả của các hợp tác xã Khoảng cuối những năm 1970, Việt Nam đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, với sự thiếu hụt trầm trọng lương thực, các hàng hóa tiêu dùng cơ bản và đầu vào cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp và nợ nước ngoài gia tăng Nguy cơ có cuộc khủng hoảng kinh tế khác cũng xuất hiện vào tháng 8/1979 – thời gian diễn ra Phiên họp thứ 6 của Đại hội Đảng IV Đảng đã thẳng thắn phê bình chính sách của thời kỳ này, nhận xét rằng các chính sách này

“bộc lộ các yếu kém và không thích hợp về sự lãnh đạo kinh tế và xã hội trong những năm qua, biểu lộ tính chủ quan, nóng vội, bảo thủ, trì trệ, quan liêu, thiếu thực tế, vô trách nhiệm” (Đảng

Cộng sản Việt Nam, 1986)

Tháng Giêng năm 1981, chế độ khoán được đưa vào khu vực nông nghiệp, và Chính phủ đã ban hành một nghị quyết giao quyền tự quản hạn chế cho các doanh nghiệp quốc doanh nghiệp quốc doanh Nghị quyết đã giảm số các mục tiêu bắt buộc đối với các doanh nghiệp quốc doanh và đưa ra hệ thống “ba kế hoạch” cho các doanh nghiệp quyền được hoạt động ngoài kế hoạch chỉ khi họ đã hoàn thành các chỉ tiêu của kế hoạch Trung ương Doanh nghiệp

có thể giữ lại đến 85% lợi nhuận từ các hoạt động ngoài chỉ tiêu, một phần trong đó có thể phân phối thưởng cho công nhân Nghị quyết Đại hội Đảng V năm 1982 định hướng lại các chính sách trước kia tập trung bảo vệ khái niệm kế hoạch nhẹ và sản xuất hướng về xuất khẩu Trong khi vẫn tiếp tục bảo vệ khái niệm kế hoạch hóa tập trung, Đại hội V đã đặt ra mục tiêu khiêm tốn hơn:

- Đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của cuộc sống thường nhật, từng bước xây dựng và nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân Trước hết chúng ta phải giải quyết các vấn

đề về cung cấp lương thực và nỗ lực đáp ứng các nhu cầu về ăn mặc, học tập, chăm sóc y tế, giao thông, chăm sóc trẻ em và các nhu cầu tiêu dùng thiết thực khác

- Tiếp tục xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất và kỹ thuật xã hội chủ nghĩa, ưu tiên phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời cải thiện cơ sở kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, chuẩn bị cho sự tăng trưởng công nghiệp nặng mạnh mẽ hơn trong thời gian tới

- Hoàn thành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam, tiếp tục nâng cao quan hệ sản xuất chủ nghĩa ở miền Bắc và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trên toàn quốc

Trang 6

- Đáp ứng các yêu cầu quốc phòng và đảm bảo an ninh trật tự (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1986)

Mặc dù giai đoạn 1980-1985, Việt Nam đã có những điều chỉnh quan trọng về mục tiêu, bước đi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên, nó vẫn chưa đủ để giải quyết thích hợp các vấn đề cơ bản về kỷ luật, tài chính, vật giá và cải cách cơ chế hành chính quan liêu; phải đến Đại hội VI(1986), chúng ta mới mạnh dạn đổi mới toàn diện nền kinh tế, tạo một sức sống mới cho cơ thể đã ốm yếu lâu ngày của Việt Nam./.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc: Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa , 2009, Hà Nội.

2 PGS, TS Vũ Hồng Tiến: Định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường ở Việt Nam,

2009, Hà Nội,

3 Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,

2013, Hà Nội.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX, X, XI, Nxb Chính trị quốc gia, 2012, Hà Nội

5 JOE THWAITES: Việt Nam con hổ đang chuyển mình, NXB Thống kê, 2004, Hà Nội.

Ngày đăng: 22/03/2022, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w