Hi vọng rằng sự khảo sát của chúng tôi qua những tập tạp văn của Dạ Ngân sẽ giúp cho độc giả hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng như góp phần nhận ra dấu ấn riêng trên c
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN === ===
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NGỮ VĂN === ===
BẠCH THỊ THU HƯỜNG
ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG TẠP VĂN CỦA DẠ NGÂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
GV hướng dẫn : TS Lê Thị Hồ Quang
SV thực hiện : Bạch Thị Thu Hường Lớp : 49 B1 Ngữ Văn
MSSV : 0856045631
Nghệ An, tháng 5 năm 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến cô giáo hướng
dẫn TS Lê Thị Hồ Quang, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho chúng tôi triển khai và hoàn thành khóa luận này Xin chân thành cảm ơn tập thể thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn - trường Đại học Vinh đã dày công giảng dạy, hướng dẫn chúng tôi trong quá trình học tập để việc nghiên cứu hôm nay được thuận lợi hơn
Lần đầu tiên làm quen với công việc nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều
cố gắng song với thời gian và trình độ có hạn nên khóa luận của chúng tôi còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến góp ý của quý thầy cô giáo cùng các bạn sinh viên để công trình được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Bạch Thị Thu Hường
Trang 4BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Nxb: Nhà xuất bản
Cách chú thích tài liệu trích dẫn: Gồm thứ tự tài liệu trong thư mục Tài
liệu tham khảo và số thứ tự trang chứa trích dẫn Ví dụ: kí hiệu [18, 387], tức
là số thứ tự tài liệu trong thư mục Tài liệu tham khảo là 18, nhận định được
trích dẫn thuộc trang 387 của tài liệu này Kí hiệu [19] nghĩa là tài liệu nằm ở
số thứ tự 19 trong thư mục Tài liệu tham khảo
Trang 5
MỤC LỤC
Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề ……… 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu ……… 5
4 Đối tượng, phạm vi khảo sát ……… 5
5 Phương pháp nghiên cứu ……… 5
6 Cấu trúc của khóa luận……… 5
Chương 1 : Khái niệm tạp văn và tạp văn trong hành trình sáng tác của Dạ Ngân 1.1 Khái niệm “ tạp văn”……… 6
1.2 Nhìn chung về hành trình sáng tác và quan niệm văn chương của Dạ Ngân 7
1.3 Tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Dạ Ngân 15
Chương 2 Những cảm hứng nổi bật trong tạp văn Dạ Ngân 2.1 Hồi ức về mảnh đất miền Tây Nam Bộ 18
2.2 Vẻ đẹp của nhiều vùng miến đất nước……… 29
2.3 Những chiêm nghiệm nhân sinh………34
Chương 3 Đặc sắc về ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu trong tạp văn Dạ Ngân 3.1 Ngôn ngữ ………47
3.2 Giọng điệu ……… 49
3.3 Kết cấu 54
Kết luận 57
Tài liệu tham khảo 60
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nếu như năm 1945 mở ra một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên “độc lập” cho đất nước, cho dân tộc Việt Nam thì năm 1975 đã đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng, nước Việt bước sang trang mới – trang đời “tự do” Cuộc sống có nhiều đổi thay, văn học vì thế cũng từng bước thay đổi để phù hợp với hiện thực mới Cuộc sống từ thời chiến sang thời bình đã đem lại cho các văn nghệ sĩ nguồn cảm hứng sáng tác mới Cùng với đó, một loạt các cây bút mới xuất hiện mang theo nhu cầu của thời đại, nhu cầu tự thân, phản ánh cuộc sống của con người trong thời đại này Trong đội ngũ ấy, các nhà văn nữ góp mặt ngày càng đông đảo Nhà văn Dạ Ngân đã từng chia sẻ trong một bài phỏng vấn : “Tôi rất thú vị với hiện tượng mà người ta gọi là "âm thịnh dương suy" Tôi thấy dương không suy mà âm vẫn thịnh Có lẽ hai lực lượng này luôn song hành Có chăng đó là do đặc điểm trong xã hội Việt Nam vai trò người phụ nữ rất lớn, rất quan trọng Trong văn chương họ là một đội ngũ rất đáng nể, và đóng góp của họ cũng rất lớn Thí dụ như thế hệ trước thì có Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà … Sau này vào thế kỷ 21 lại xuất hiện một lớp thế hệ mới và họ xuất hiện cũng bề thế lắm: như Nguyễn Ngọc Tư thì được khẳng định ngay, Phong Điệp, Đỗ Bích Thuý có thành tựu ngay, rồi bây giờ có Trần Thu Hằng ở Đồng Nai, Thu
Rõ ràng những đóng góp của các nhà văn nữ là không thể phủ nhận
Và trong bức tranh chung ấy, bên cạnh Lê Minh Khuê, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Ấm,… ta không thể không kể đến nhà văn Dạ Ngân, một người đàn bà đa cảm với cái duyên văn chương muộn màng Nhưng trong những cái mất, cái
Trang 7thua thiệt của tiền vận lại có cái viên mãn của hậu vận Bằng sự nỗ lực không ngừng, Dạ Ngân ghi dấu ấn trên văn đàn với rất nhiều tập truyện ngắn và tiểu
thuyết có giá trị: Quãng đời ấm áp (tập truyện, 1986), Ngày của một đời ( tiểu thuyết, 1989), Con chó và vụ li hôn (tập truyện, 1990), Cõi nhà (tập truyện, 1993), Mẹ mèo (truyện dài thiếu nhi, 1992), Dạ Ngân (tập truyện ngắn chọn lọc, 1995), Nhìn từ phía khác ( tập truyện, 2002), Gia đình bé mọn (tiểu thuyết, 2005), Nước nguồn xuôi mãi (tập truyện ngắn, 2008) Tất cả đã chứng
tỏ sự miệt mài cũng như khả năng thiên bẩm trong con người tác giả Chính
sự kiên trì và lòng đam mê nghề nghiệp đã giúp cho Dạ Ngân tìm được lối đi riêng, một phong cách riêng không kém phần độc đáo
Nhưng không chỉ thành công trong lĩnh vực truyện ngắn, tiểu thuyết,
Dạ Ngân còn rất thành công ở thể loại tạp văn Chỉ trong bốn năm, Dạ Ngân
đã cho ra đời ba tập tạp văn được bạn đọc đón nhận, đó là 100 tản mạn hồn
quê (2006), Gánh đàn bà (2010) và Phố của làng (2010) Tất cả những đứa
con tinh thần ấy là những kỉ niệm, những ấn tượng, những chiêm nghiệm của một cây bút giàu suy tư và thấm đượm tình người Những tên đất, tên làng, bờ
đê, cây cỏ đều mang trong mình nó những chiêm nghiệm nhân sinh của Dạ
Ngân – “người đàn bà mang dấu chấm thiên di” (Dương Bình Nguyên)
Trên đây là những lí do cơ bản khiến chúng tôi đã chọn đề tài Đặc sắc
nghệ thuật trong tạp văn Dạ Ngân Hi vọng rằng sự khảo sát của chúng tôi
qua những tập tạp văn của Dạ Ngân sẽ giúp cho độc giả hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của nhà văn cũng như góp phần nhận ra dấu ấn riêng trên con đường văn chương của tác giả này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Như đã nói ở trên, Dạ Ngân đến với văn chương trong duyên kiếp muộn màng nhưng tuổi tác không hề làm vơi đi sức sáng tạo của bà, mà hơn
Trang 8thế nữa nó còn hỗ trợ đắc lực cho Dạ Ngân trên từng bước đường văn chương cho dù con đường ấy có nghiệt ngã, chông gai đến mức nào Có lẽ, bản lĩnh cũng như sự vững vàng, từng trải của người con gái miền Tây đã là một nền tảng vững chắc cho nhà văn giúp bà vững bước trên con đường mà mình đã chọn Trong nghiệp cầm bút của mình, Dạ Ngân đã cho ra đời nhiều tác phẩm
có giá trị nhưng số lượng bài viết viết về những tác phẩm ấy lại không nhiều, đặc biệt là ở thể loại tạp văn Có chăng đó là những bài viết ngắn được in trên báo hay tạp chí, trong đó có một số nhận xét chung khi đặt Dạ Ngân trong hệ thống những nhà văn cùng giới hay Dạ Ngân bên cạnh chồng là nhà văn Nguyễn Quang Thân
Phạm Xuân Nguyên trong công trình Tuyển văn tác giả nữ Việt Nam
1975 – 2007, NXB Phụ nữ, Hà Nội 2007 có nhận xét : Từ năm 1975, đất nước
chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, cuộc sống dần trở lại sự vận động bình thường quen thuộc với bao khó khăn phức tạp của thời hậu chiến Đã có sự biến đổi đáng kể trong đời sống xã hội mà văn học cũng ảnh hưởng không nhỏ “ Một đội ngũ người cầm bút mới xuất hiện mang theo nhu cầu thời đại
và nhu cầu tự thân phản ánh cuộc sống và con người hôm nay, của thời này Trong đội ngũ đó, nữ giới có mặt ngày càng đông đảo Cuộc sống ngày càng
đi về phía trước, càng vận hành theo quy luật tất yếu và bình thường của muôn mặt nhân sinh thì sự tham gia của phụ nữ vào nhiều lĩnh vực hoạt động
xã hội ngày càng tăng, càng mạnh mẽ Văn chương không là ngoại lệ, cho nên, hơn 30 năm kể từ 1975 đã có một đội ngũ chung của nhà văn Việt Nam”
Họ “ xuất hiện và khẳng định mình trên văn đàn trong khoảng thời gian
cái nhìn khách quan và đánh giá đúng đắn hơn về vai trò của người phụ nữ trong cuộc sống hiện đại
Trang 9Gần đây, những tạp văn của Dạ Ngân đang dần được quan tâm Dù chỉ
là những bài phê bình ngắn về các tập tạp văn ấy nhưng đó là những tín hiệu
đáng mừng Trần Thiện Đạo trên evan.vnexpress.net có bài Dạ Ngân trên nẻo
đường đất nước nói về những cảm nhận của tác giả này sau khi đọc cuốn 100 Tản mạn hồn quê của Dạ Ngân Cũng đọc cuốn tạp văn này, Lê Anh Hoài trên
báo Tienphong.vn có bài Rung cảm với hồn quê Dạ Ngân nhận được nhiều ý
kiến phản hồi của độc giả
Hải Sự trên báo vtv.vn cũng có những lời bình luận ngắn về hai cuốn tạp văn của Dạ Ngân là Gánh đàn bà và Phố của làng Đây gần như là lời
giới thiệu hai tập sách này đến với công chúng Nhưng dẫu sao, nó cũng thâu tóm được những nét nổi bật của hai tập tạp văn này
Trong chuyên trang Phụ nữ và gia đình của báo afamily.vn, Thụy (theo PLXH) có đăng tải bài viết : “ Gánh đàn bà”- Đồng cảm ân tình của những
người phụ nữ Bài viết của tác giả này dường như đã khái quát được nội dung
của cuốn tạp văn Bên cạnh đó, Thụy cũng chia sẻ những xúc cảm của mình
khi đọc Gánh đàn bà: “Tôi biết cần phải yêu hơn những khoảnh khắc mà
mình đang có, những khoảnh khắc của một người đàn bà” cho ta thêm trân trọng những giây phút mà mình đang có trong cuộc đời
Tất cả những bài báo, những công trình nêu trên đã cho ta thấy những tập tạp văn của Dạ Ngân đã có sức hút, sức hấp dẫn nhất định Ba tập tạp văn đều được viết ra từ trái tim đa cảm, từ kho kinh nghiệm sống quý báu mà Dạ Ngân đã tích lũy riêng cho mình trên đường đời cũng như văn nghiệp của bà,
đó là điều rất đáng được trân trọng Tuy nhiên, trong nhiều công trình đã được công bố trên các phương tiện in ấn hay báo mạng, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đề được đề cập trong tạp văn của
Dạ Ngân Đây chính là khoảng mở để tác giả khóa luận có điều kiện góp sức mình vào việc đem lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về phong cách nghệ
Trang 10thuật Dạ Ngân cũng như những đóng góp của nhà văn trong thể loại tạp văn,
từ đó khẳng định vị trí của Dạ Ngân trên văn đàn văn học Việt Nam sau 1975
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi xác lập nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
3 1 Tìm hiểu khái niệm tạp văn và vị trí của tạp văn trong hành trình sáng tác của Dạ Ngân
3.2 Tìm hiểu những đặc sắc trong tạp văn Dạ Ngân trên một số phương diện nội dung và nghệ thuật
4 Đối tượng, phạm vi văn bản khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đặc sắc nghệ thuật trong tạp văn Dạ Ngân
4.2 Phạm vi văn bản khảo sát: Ba tập tạp văn: 100 Tản mạn hồn quê,
Gánh đàn bà, Phố của làng
5 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được triển khai theo 3 chương như sau:
Chương 1: Khái niệm tạp văn và tạp văn trong hành trình sáng tác của
Dạ Ngân
Chương 2: Những cảm hứng nổi bật trong tạp văn Dạ Ngân
Chương 3: Đặc sắc về ngôn ngữ, giọng điệu, kết cấu trong tạp văn Dạ Ngân
Trang 11Chương 1
KHÁI NIỆM TẠP VĂN
VÀ TẠP VĂN TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA DẠ NGÂN
1.1 Khái niệm tạp văn
Về khái niệm “tạp văn”, Từ điển văn học (bộ mới) định nghĩa: “Tạp
văn (với tư cách là một thể văn chỉ chính thức ra đời vào khoảng thời Cách mạng Ngũ Tứ (1917- 1924) là những bài luận văn ngắn, giàu tính luận chiến, thường xoay quanh một vấn đề về xã hội, lịch sử, văn hóa, chính trị… Đặc điểm chung của thể loại này là ngắn gọn, linh hoạt, đa dạng, phản ứng một cách nhanh nhạy, kịp thời trước những vấn đề bức xúc của xã hội với những ý kiến đánh giá rõ ràng, sắc sảo Trong lịch sử văn học Trung Quốc, Lỗ Tấn được đánh giá là tác giả có thành tựu cao nhất về sáng tác tạp văn Do ảnh hưởng của thời đại và đặc biệt là ảnh hưởng của Lỗ Tấn, hàng loạt tác giả viết tản văn xuất hiện như Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Úc Đạt Phu, Đường Thao, Nhiếp Cám Dỗ, Từ Mậu Dung, Cù Thu Bạch…Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám 1945, một số nhà văn kiêm nhà báo như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, …cũng từng viết các tác phẩm thuộc loại tạp văn Sau Cách mạng, nhiều bài văn chính luận ngắn gọn nhưng hóm hỉnh
Đồng ý với quan điểm của các tác giả Từ điển văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho
rằng: “Tạp văn là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén vừa có tính nghệ
294]
Như vậy, tạp văn là một thể loại văn học Đối tượng chính mà tạp văn thường chú ý là những vấn đề chính trị, lịch sử, văn hóa, xã hội mà chủ yếu là
Trang 12cuộc sống nhân sinh Đó cũng có thể là đối tượng của truyện ngắn, tiểu thuyết
vì bất cứ thể loại văn học nào đều lấy dữ kiện, cảm hứng từ đời sống Nhưng nếu như truyện ngắn và tiểu thuyết, tính hư cấu được các tác giả sử dụng triệt
để thì trong tạp văn yếu tố này lại được sử dụng không nhiều và hầu như là không có Đặc trưng lớn nhất của tạp văn là mang hơi thở đời sống rất rõ nét
và dấu ấn của người viết cũng rất rõ rệt Nó thường phải dựa trên tư liệu có thật từ bản thân tác giả Bởi vậy khi đọc tạp văn ta thấy rất gần gũi với cuộc sống một phần cũng vì đặc trưng như vậy của nó Tạp văn thường gắn liền với báo chí Cùng với báo chí, thì tạp văn là thể loại tiêu biểu nhất cho sự phản ánh kịp thời những đổi thay của đời sống xã hội và cũng là công cụ giúp nhà văn quay về với những miền kí ức của quá vãng xa xôi Đồng thời qua đó nhà văn thể hiện cảm thức của mình về những giá trị văn hóa – lịch sử đang ngày một đổi thay cũng với sự phát triển của đất nước
1.2 Nhìn chung về hành trình sáng tác và quan niệm văn chương của Dạ Ngân
1.2.1 Hành trình sáng tác của Dạ Ngân
Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga, sinh ngày 6 tháng 2 năm 1952 tại Vĩnh Viễn - Long Mỹ - Hậu Giang Dạ Ngân còn có bút danh khác là Lê Long Mỹ và Dạ Hương - bút danh bà dùng cho việc tư vấn gia đình cho báo
“Nông Nghiệp Việt Nam”
* Quá trình học tập, công tác và sáng tác :
- Năm 1966, Hồng Nga vào Cứ kháng chiến, bắt đầu viết tin, làm báo
- Từ năm 1966 đến tháng 4/1975 : tham gia kháng chiến chống Mỹ
- Khi vào Cứ mới học xong cấp hai , sau hòa bình tiếp tục học bổ túc văn hóa, tự đọc, tự học Và mãi năm 1993 (41 tuổi) mới đi học Đại học ở Trường viết văn Nguyễn Du
Trang 13- Làm việc cho báo Văn nghệ từ năm 1995 đến 2008, đã giữ chức vụ Trưởng Ban văn xuôi từ năm 2006 đến khi nghỉ hưu (tháng 9/2008) Đầu tháng 9/2008, Dạ Ngân cùng chồng là nhà văn Nguyễn Quang Thân chuyển hẳn vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống
* Tác phẩm đã xuất bản :
Truyện ngắn:
- Quãng đời ấm áp, Nxb Phụ nữ 1986
- Con chó và vụ ly hôn, Nxb Hội Nhà văn,1990
- Cõi nhà, Nxb Thanh niên, 1993
- Dạ Ngân – truyện ngắn chọn lọc, Nxb Văn học 1995
- Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân – truyện ngắn chọn lọc, Nxb
- Phố của làng , Nxb Thanh niên, 2010
Tiểu thuyết và truyện dài :
- Ngày của một đời, tiểu thuyết, Nxb Văn nghệ thành phố Hồ Chí
Minh, 1989
- Mẹ mèo, tiểu thuyết thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 1992
- Miệt vườn xa lắm, truyện dài thiếu nhi, Nxb Kim Đồng, 1992
(Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2004)
Trang 14- Gia đình bé mọn, tiểu thuyết, Nxb Phụ nữ 2005 ( Giải thưởng
Hội Nhà văn Hà Nội 2005)
Kịch bản phim :
- Chuyến đi của mẹ, kịch bản phim nhựa sản xuất năm 1988
- Chân trời nơi ấy, kịch bản phim nhựa hai tập sản xuất năm 1995
* Giải thưởng văn học:
- Giải nhì truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1987
- Giải nhì truyện ngắn báo Tuổi trẻ năm 1989
- Giải ba truyện ngắn báo Sài Gòn giải phóng năm 1990
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2004
- Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2005
- Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2006
Dạ Ngân đã từng chia sẻ đôi chút về mình, về tình yêu và con đường đến với văn chương : “Quê gốc tôi ở miệt vườn cổ Cao Lãnh sông Tiền nhưng
vì ông nội tôi thích thi thố nên đưa tất cả anh em giạt xuống tận Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về điều đó Tuổi thơ tôi được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong đó vai trò quyết định thuộc cô tôi, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba tôi đi kháng chiến Cho đến khi ba tôi bị tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim thì tôi thuộc về cô tôi hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định tư chất tôi Ở vào vùng hành lang giữa căn
cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình tôi không có
sự lựa chọn nào khác cho các chị em gái nhà tôi : tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha tôi Lý tưởng đã được đơn giản hoá thành
Ngay từ hồi ở Cứ, lúc tôi che đèn lén đọc "Sông Đông êm đềm", cuốn sách thời đó bị coi là “có vấn đề chính trị và đạo đức”, những người lớn tuổi
Trang 15trong toà báo bảo sớm muộn gì tôi cũng viết văn Tôi để ngoài tai những lời tiên tri, chiến tranh khiến người ta chỉ ước mình thoát chết mỗi ngày, sau đó cái gì chả được! Và tôi thường xuyên xấu hổ vì bị phê bình chính thức hoặc không chính thức rằng tôi lãng mạn, tôi đa sầu đa cảm và có kiểu sinh hoạt tiểu tư sản !
Năm 1978, vì nhiều nguyên do nội tâm, tôi thấy mình phải viết Còn nhớ, hôm ấy là một buổi trưa, căn hộ tập thể vắng tanh, tôi ngồi trước trang giấy mà tay kia vẫn nắm dây đưa võng cho con, đó là đứa con thứ hai của cuộc hôn nhân do chiến tranh thu xếp Tôi hết sức tin mình - chắc ai cũng phải có niềm tin thiêng liêng như vậy mới viết được - tin vào sự thúc bách lương thiện của trái tim mình Tạp chí Văn Nghệ tỉnh in truyện ấy vào số Tết, giờ tôi không dám đọc lại nó nhưng quả tình, lúc nhìn thấy cái truyện đầu tay của mình trên mặt báo, tôi tưởng mình vừa uống cả dòng sông rượu, ngây ngất và có thể làm được mọi điều tốt đẹp trên đời
Từ bộ phận làm tin thuộc Sở văn hoá thông tin tỉnh Hậu Giang, tôi được chuyển sang Hội văn nghệ tỉnh sau truyện ngắn ấy Đầu năm 1982, lần đầu một truyện ngắn của tôi được in trên tuần báo Văn Nghệ của Hội nhà văn
và tháng tư năm đó tôi được mời đi dự Trại sáng tác của Hội ở Vũng Tàu Tại đây, giữa mấy thế hệ nhà văn tên tuổi Nguyên Ngọc, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Thân, Nhật Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn tôi như người được
vỡ hoang, tôi tin vào văn chương và cũng tin hơn vào bản thân mình Cũng tại đây, cuộc đời rồng rắn đưa tôi bước xuống một con đò khác
Đời tư của tôi đóng vai trò rất lớn trong công việc của tôi, ngược lại văn chương cũng không rời tôi trong mọi chặng đường do chính tôi thiết kế
và xả thân cho nó Tôi viết nhiều, viết đều đặn trong tâm trạng bị người đời đàm tiếu kỳ thị, nhiều lúc, dư luận chính giới xem tôi như cô Anna trong mắt
họ, đó là lúc tôi thấy rõ giá trị của cô đơn và niềm đau khổ đích thực của nghệ
Trang 16sĩ "Quãng đời ấm áp", "Con chó và vụ ly hôn" tôi viết trong tâm thế chênh vênh quyết liệt của nhà tiểu thuyết bị xã hội con người đối xử bất công, oan ức.
Năm 1987, tôi được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam và con đò thứ hai đã đưa tôi đi thật xa miệt vườn của mình, nhưng đó là hành trình thuận theo nhiều nghĩa Cuối cùng tôi cũng được tu nghiệp bốn năm ở Trường viết văn Nguyễn Du, cũng được sống trong bầu không khí của văn hoá cội nguồn, giữa Hà Nội từng cưu mang chúng tôi, hai nhà văn hai con người khốn khó trong thời kỳ đi tìm một chỗ dừng chân để tồn tại cùng với văn chương” [ 17]
Những chia sẻ rất chân thành của Dạ Ngân đã cho ta hiểu được rằng không phải ai cũng có đủ dũng khí và nghị lực để đến với tình yêu của mình, không phải ai và không phải lúc nào muốn, cũng có thể đến với văn chương
Là người trưởng thành từ trong kháng chiến, lại sống qua thời bao cấp với khó khăn chồng chất khó khăn, Dạ Ngân là người hiểu rõ, hiểu sâu sắc nhất hoàn cảnh thực tại của mình Nhưng chính cái tính cách độc lập, mạnh mẽ của người con gái miền Tây đã thôi thúc bà, cùng với sự thấu hiểu, cảm thông của hai người con hiếu thảo mà bà đã vượt qua Dạ Ngân đã vượt qua tất cả để đến với tình yêu, đến với niềm đam mê văn chương của mình như hành trình
của cô Mỹ Tiệp đến với văn chương, đến với anh Đính trong tiểu thuyết Gia
đình bé mọn Chính tình yêu đích thực đã đem lại hạnh phúc cho Dạ Ngân cả
trong đời tư lẫn trong văn nghiệp Tình yêu đã trở thành nguồn cảm hứng rất lớn cho sự ra đời nhiều tác phẩm của Dạ Ngân Phải chăng nếu như ông nội đưa cả gia đình xuống Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn cũng là để xa con sông Tiền hung dữ mỗi mùa nước lũ thì giờ đây, con đò thứ hai đã đưa Dạ Ngân đến với Hà Nội để bà được ngụp lặn trong bầu không khí của văn chương, được “ phỉ chí nghề văn”? Những lời tâm sự trên chính là những luận chứng đầy đủ nhất về con người cũng như quá trình sáng tác của Dạ Ngân
Trang 171.2.2 Quan niệm văn chương của Dạ Ngân
Bước vào nghiệp cầm bút, bất cứ một tác giả nào cũng có quan niệm về
văn chương của riêng mình.Trong tự thuật tiểu sử văn học, Dạ Ngân đã chia
sẻ quan niệm của mình về văn chương: “Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút
Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình
Văn chương hoàn toàn xứng đáng được coi như đạo, vì sứ mệnh giải bày và cứu rỗi của nó Tôi mộ Đốt, đó là tác giả người ta có thể đọc ở mọi thời kỳ, mọi giai đoạn của cuộc đời Có lẽ vì vậy mà tôi không dung hoà được với những gì nhè nhẹ, thoang thoáng, đèm đẹp Tận cùng, đó là phương châm sống, phương châm viết của tôi và tôi không lùi bước khi phải trả giá Nhưng tôi có sự ôn hoà của người miệt vườn và thích được ứng xử ôn hoà, để được yên tĩnh và thanh thản mà tận cùng với văn chương” [17]
Như vậy đến với văn chương người đàn bà miền Tây ấy đã chấp nhận
sự cô độc, chấp nhận những khó khăn, không ngại phải trả giá để theo đuổi niềm đam mê của mình Văn chương đối với Dạ Ngân như một cái duyên tiền định không thể cưỡng lại được và khi đến được với nó rồi mới cảm thấy được
sự ngất ngây mà những giá trị đích thực của văn chương đem lại Được “ phỉ chí nghề văn” Dạ Ngân đã dành tất cả tâm huyết của mình để viết, để gửi gắm những nỗi niềm, những trăn trở suy tư của một người đàn bà, của một người
con đối với quê hương, đối với đất nước Dạ Ngân cũng từng chia sẻ:“Cái
tạng của tôi nếu không trải nghiệm, nếu không ám ảnh thì tôi không viết chứ không phải không viết ra” “Nghĩa là tất cả phải được thẩm thấu, phải được
chọn lọc, thì mới mang ý nghĩa biểu niệm trên trang viết Dạ Ngân sáng tác theo sự thôi thúc của lương tâm nghề nghiệp chứ không phải vì sự tư lợi nào khác Ý thức công dân nhà văn ở chị là sống hết mình và viết hết mình trong
Trang 18phong cách nghệ thuật riêng biệt.(…) chị náo nức xông thẳng vào những góc khuất của xã hội, xông thẳng vào những xung đột của thế thái nhân tình” [4]
Từ đó làm bật lên tiếng nói của cá nhân Dạ Ngân về các vấn đề của cuộc sống Cái hay của Dạ Ngân trong những truyện ngắn cũng như những tập tạp văn không chỉ ở cái tài quan sát mà còn là việc nắm bắt cái chân xác của con người và những vấn đề của thời đại bằng cái vốn đã được lưu giữ trong con người nhà văn, được lưu giữ từ cuộc sống vốn nhiều trắc trở của tác giả Ý thức nghề nghiệp thúc bách, Dạ Ngân viết ra như để trả món nợ ân tình đang mắc gửi với quê hương, với cuộc sống, với nghề văn!
Thật khó có thể quên dư ba của những ngày Dạ Ngân làm công tác tư
vấn gia đình cho báo Nông nghiệp Việt Nam với bút danh Dạ Hương Độc giả
gặp một Dạ Ngân luôn cần mẫn, hết mình vì công việc, vì niềm đam mê muốn được giúp đỡ, muốn được chia sẻ : “ Tôi bắt đầu làm công việc tư vấn tình cảm từ khi thấy mình đã khá đủ thương tích cuộc đời Những bức thư từ mọi miền gửi về tòa báo Những cú điện thoại tức tưởi dựng tôi dậy khi trưa, khi
chiều, cả lúc nửa đêm Những lá thư điện tử xin được reply ngay như một ca
cấp cứu Tôi thấy mình khi thì giống một bác sĩ, khi lại như một cha xứ đang nghe người ta xưng tội qua một bức vách, khi lại như một người mẹ có những đứa con đang gục vào lòng mình xin che chở Thiên hình vạn trạng, cái mà nhà Phật gọi là bể khổ, cái bể thật ít hỉ xả, từ bi Tôi cũng chẳng tài thánh gì, tôi cũng có những lúc muốn được phôn cho ai đó hay khóc với ai đó, tôi cũng thịt xương tim óc bời bời, nhưng tôi đã được tòa báo chọn làm cái việc lắng nghe rồi tìm cách dội từ tâm của mình lại, như một vách núi mẫn cảm Tôi cố gắng hồi đáp không bỏ sót một ai, nhiều thư cảm ơn lần hai lần ba mĩ mãn, nhưng cũng có những khi tôi ngóng chờ một tín hiệu báo an mà không thấy gì
cả Bồn chồn như mình đã làm một việc với hư không Bứt rứt như ngóng một
người thân ở chân trời” ( Cùng trời cuối đất, [ 10, tr.242] ) Trước những tâm
Trang 19sự cần được sẻ chia, cần được an ủi, Dạ Hương đã giúp họ có thêm niềm tin vào cuộc sống Bà làm việc đó một cách thật lòng, bắt nguồn từ chính cuộc đời, từ chính trái tim mẫn cảm của người phụ nữ đã vượt qua nhiều sóng gió trong đời Vì thế, bước vào nghiệp văn, Dạ Ngân đã cho ra đời những trang văn thấm đẫm hiện thực, có khả năng đối thoại với cuộc đời, với những con người đang sống trong xã hội này
Nhưng ít ai biết được rằng, cái nghiệp viết văn ấy nó ra sao? Liệu nó có gặp nhiều khó khăn như nghề nông của những người nông dân, có gặp nhiều nguy hiểm như công việc của những người hay phải làm việc trên độ cao, của những người tài xế…? Mọi sự so sánh đều khập khiễng Bởi khi con người ta đam mê với bất cứ nghề gì thì họ đã chập nhận mọi sự khó khăn cũng như nguy hiểm để theo đuổi nghề Vì mỗi nghề nghiệp lại có một đặc thù riêng
Dạ Ngân cũng vậy Nghề của bà là viết văn - cái nghề mà má Dạ Ngân đã khái quát rằng: làm cái nghề gì mà “quanh năm chẳng thấy thiên hạ biếu xén
gì hết trơn” ( Nước nguồn xuôi mãi, [ 10, tr.169]) Nhưng những lúc như thế
Dạ Ngân chỉ “lặng lẽ cười buồn, dù má chị không biết chữ, má không đọc được những điều chị gõ trên máy hằng đêm, má không hiểu được những câu chuyện bù khú của đám bạn bè hay kéo đến nhà làm tốn hao cà phê của chị nhưng bà đã khái quát một cách thần kì cuộc sống khổ ải của con gái mình
bằng sự mẫn cảm của một bà mẹ” (Nước nguồn xuôi mãi, [ 10, tr.169]) Có
những lần thương con, bà lại tặc lưỡi “ Chết chết con ơi, cái nghề lấy đêm làm ngày, ngủ vờ ngủ vịn nền nhà kiểu này cảm chết có ngày con ơi! (…) Làm cái
nghề gì moi tim moi óc chết sớm có ngày”( Nước nguồn xuôi mãi, [ 10, tr 168
- 175] ) Nước nguồn xuôi mãi ra đời sau khi má Dạ Ngân mất Bà nhớ lại vẹn nguyên hình ảnh tảo tần sớm hôm, hình ảnh má luôn hiểu và lo cho con mình trong cái nghiệp của nó Dạ Ngân đã tái hiện một cách cảm động những cử chỉ, những lời nói yêu thương, lo lắng của má dành cho mình nói riêng và của
Trang 20những người mẹ khác dành cho đứa con của mình nói chung Bởi người mẹ nào cũng lo cho con, yêu thương con và với những người mẫn cảm, họ còn rất thấu hiểu cho hoàn cảnh sống cũng như nghề nghiệp của con cái mình Người
mẹ nào cũng muốn chăm sóc cho con khi còn có thể Dù cho con mình đã lớn,
có khi đã lên tuổi làm ông, làm bà nhưng với bậc sinh thành thì chúng vẫn còn thơ bé, vẫn cần có sự chở che, chăm sóc, yêu thương Ngẫm cuộc sống, vận đời mình, Dạ Ngân đã cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật mà bất cứ ai cũng có thể tìm thấy hình ảnh mình trong đó Tình thương của mẹ mãi mãi như nước nguồn luôn chảy về xuôi, đem theo phù sa bồi đắp bãi bờ là những đứa con yêu
Phong cách của Dạ Ngân được hình thành từ những yếu tố khách quan
là môi trường sống nhưng chủ yếu vẫn là từ tài năng và bản lĩnh can trường được tôi luyện trong chiến tranh của nhà văn Xét đến cùng là sự trải nghiệm
đã chín hơn, đôi mắt tinh anh hơn của chính tác giả trước cuộc đời Với Dạ Ngân, những gì đã qua và đã thẩm thấu thì khi sáng tạo thành tác phẩm nghệ thuật, nó mới có vẻ đẹp và mang ý nghĩa thực sự Dạ Ngân không ưa những gì bàng bạc, không dễ dàng chấp nhận sự tầm thường, nhạt nhẽo mà luôn biết tạo cho mình một dấu ấn riêng không thể trộn lẫn Đó là điều mà không phải
ai cũng làm được Chính vì vậy mà bà đã gặt hái được nhiều thành công trong
sự nghiệp cầm bút của mình ở nhiều thể loại của văn học
1.3 Tạp văn trong sự nghiệp sáng tác của Dạ Ngân
Bên cạnh những thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Dạ
Ngân còn rất thành công ở thể loại tạp văn Như các tác giả trong Từ điển văn
học (bộ mới) đã nhận định thì những năm đầu của thế kỉ XX, thể loại tạp văn
vẫn chưa có thành công nhất định, sự đóng góp của nó vào kho tàng văn học vẫn chưa có gì nổi bật Thế nhưng, kể từ sau đổi mới 1986, đời sống tạp văn trở nên sống động hơn bao giờ hết Hàng loạt các tập tạp văn, tản văn, tạp
Trang 21luận có giá trị ra đời: Chỉ tại con chích chòe (Dương Tường), Tản mạn trước
đèn (Đỗ Chu), Chuyện đời vớ vẩn (Nguyễn Quang Lập), Ngôi nhà và con người ( Huỳnh Như Phương), tạp văn Phan Thị Vàng Anh, 100 tản mạn hồn quê, Mùa đốt đồng, Gánh đàn bà, Phố của làng (Dạ Ngân), Trên căn gác ấp mái (Đỗ Bích Thúy), Yêu người ngóng núi (Nguyễn Ngọc Tư), Bay trên mái nhà thành phố (Phong Điệp),…Có thể nói tạp văn đã khẳng định vị thế bình
đẳng của mình với các thể loại khác của văn học Các nhà văn đến với thể loại này một cách tự nhiên bởi đây là thể loại có thể viết nhanh và gắn bó chặt chẽ với các sự kiện ngoài đời Dạ Ngân cũng vậy Sự nhạy cảm của người phụ nữ, trực giác nhạy bén của người nghệ sĩ đã khiến mỗi vùng đất Dạ Ngân đi qua đều để lại trong con người này một chút gì đó, để bây giờ nó được trải ra thành trang, thành chữ để neo đậu bến người Chỉ trong bốn năm, với sự kiên
trì, cần mẫn, năm 2006 tác giả đã cho ra đời tập tạp văn 100 tản mạn hồn quê
nhân dịp chuyên mục “ Tản mạn hồn quê” ra mắt kì báo thứ 100 với bút danh
Dạ Hương “Mặt đất và bầu trời, con người và cảnh sắc, cánh chim và hạt bụi…tất thảy đều mang trong mình cốt quê, hồn quê và bể dâu, biến động, nhớ quên, thương tích, thăng trầm” [ 9, tr.215] đều được tái hiện một cách sinh động và bình dị trong những tản mạn hồn quê của tác giả Năm 2010 nhằm chào đón hội sách ngày diễn ra từ ngày 15 đến ngày 21/3, nhà văn Dạ Ngân và Phương Nam book cùng lúc cho ra đời hai tập tạp văn nữa, một nói
về cái đẹp nội tâm của người phụ nữ: Gánh đàn bà, còn một, lại thể hiện cái nhân văn trong từng vật chất nhỏ bé nơi cuộc sống : Phố của làng Ở đó, ta
thấy một Dạ Ngân chân thành, đằm thắm, tinh tế và đa cảm Có những thứ hàng ngày rất đỗi thân quen và có khi ta chẳng hề để ý, nhưng vào trong những trang văn ấy, chúng lại sống động lạ thường Dạ Ngân đã dẫn ta đến với miền Tây, nơi có người mẹ, người bà, người cô, người chị thân yêu, nơi
có những biền lá dừa nước xanh thẫm, những chiếc xuồng, chiếc vỏ lãi đặc
Trang 22trưng, có những người dân hiền lành, sống thuận hòa với nhau và với thiên nhiên Tất cả đều lung linh một màu kí ức Bên cạnh đó là hình ảnh về những miền quê – nơi mà Dạ Ngân đã đi qua trên nẻo đường thiên lý – nơi có những con người bình dị và cảnh vật rất đỗi thân thương Những tập tạp văn của tác giả còn toát lên những chiêm nghiệm nhân sinh vô cùng sâu sắc về muôn mặt đời sống: về con người và cảnh sắc, về đời sống nội tâm của người đàn bà Dạ Ngân đã viết bằng tất cả tấm lòng mình, bằng trái tim đa cảm và tràn đầy yêu thương
Chính trái tim đa cảm cũng đôi mắt tinh anh ấy đã giúp cho Dạ Ngân
“thấu thị” mọi cảnh vật và con người trong mỗi chuyến đi xa Cẫn mẫn, tỉ mỉ,
Dạ Ngân luôn góp nhặt từng hình ảnh, từng mảnh kí ức về đất và người ở mỗi miền quê để làm nên chất liệu cho những trang văn của mình Bởi vậy mà đọc tạp văn của Dạ Ngân ta thấy mọi thứ hiện lên rất sinh động Một điều đặc biệt
là dù viết về bất cứ cái gì, Dạ Ngân cũng luôn luôn gắn những tình cảm của mình vào trong đó – những tình cảm được chắt lọc qua thời gian của một người đàn bà đã đi hết hai phần ba cuộc đời với mọi truân chuyên, chìm nổi Mọi thứ cứ ngấm dần một cách rất tự nhiên vào con người ấy và giờ đây, nó được bày lên các trang viết cho chúng ta cùng cảm nhận để biết yêu thêm cuộc đời mà chúng ta đang sống, yêu thêm những con người bình dị và yêu thêm đất nước mình
Trang 23Chương 2 NHỮNG CẢM HỨNG NỔI BẬT TRONG TẠP VĂN DẠ NGÂN
2.1 Hồi ức về mảnh đất miền Tây Nam Bộ
“ Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người ”
(Quê hương – Đỗ Trung Quân) Phải chăng những câu thơ ấy của nhà thơ Đỗ Trung Quân đã thấm đẫm vào con người Dạ Ngân? Bởi thế nên dù có ở đâu, đi đâu hay về đâu thì miền Tây vẫn luôn ngự trị trong trái tim của tác giả Nỗi nhớ về miền Tây được thể
hiện đậm nét trong hai tạp văn 100 Tản mạn hồn quê và Phố của làng Con
người và cảnh vật hiện lên đều rất đỗi thân thương và bình dị
2.1.1 Nỗi nhớ về Mẹ
100 Tản mạn hồn quê, gọi là tản mạn nhưng thực chất là những suy
tưởng, những hồi ức về nhiều chuyện, trong đó có những hồi ức về miền Tây yêu dấu và đặc biệt là hồi ức về má Đậm đà kí ức tuổi thơ trong đó một cô bé theo mẹ chèo thuyền trên con kinh xa ngái cho kịp buổi chợ vào sớm mai
trong Tiếng chèo khuya để rồi khi lớn lên, cô bé ấy cảm nhận được sự kiên
gan giữa cô tịch trong tiếng chèo của má, để rồi “trong mớ kí ức khắc khoải bây giờ, thỉnh thoảng nó vẫn khua lên như những tiếng thở dài xót xa mà vẫn
thấy êm dịu” (Tiếng chèo khuya, [ 9, tr.14] ) Sự kiên gan và khéo léo của má
dường như đã thấm dần vào Dạ Ngân từ những lần như thế Nó đã trở thành bản lĩnh của người con gái miệt vườn, người con gái của sông Hậu yêu thương, mãnh liệt nhưng mềm mại Lần theo miền kí ức của Dạ Ngân về má, tác giả còn có những bài tạp văn rất sâu sắc nói về nỗi niềm của đứa con gái
Trang 24xa quê mẹ : nhớ “ món bánh lọt” do tay má làm cho những đứa con trong những ngày hè nắng rát, nhớ món khoái khẩu của má : “cá linh nấu canh chua bông súng” cho buổi trưa và “cá linh kho lạt dầm xoài xanh băm nhỏ” cho buổi chiều mỗi khi má đến thăm con Nhớ nồi canh “ rau tập tàng” má nấu để cải thiện bữa ăn trong những ngày khốn khó Hiện lên trong nỗi nhớ của Dạ Ngân về má đó còn là cái cách ăn trầu của má “bỏm bẻm, nghiệp dư”
“Những ngày đầu má say trầu, mặt cứ đỏ ửng như thời xuân sắc Rồi má ăn thạo và nghiền, và cũng tập tọng ngoáy ngoáy khi răng cùn đi, cái ống ngoáy
của bà nội để lại” (Mùi trầu ai đó, [ 9, tr.176]) Đó chính là tập tục, là nét văn
hóa của người phụ nữ Việt mà tôi tin chắc rằng không một dân tộc nào trên thế giới lại có nét văn hóa này Bởi vậy mà trong mỗi đám cưới, trầu cau luôn
là một sính lễ không thể thiếu Dân gian đã chẳng có câu “miếng trầu là đầu câu chuyện” hay sao?
Nhớ má, nhớ buổi chiều cuối năm với ánh lửa bập bùng bên nồi bánh tét Cả gia đình mỗi người đều được phân công công việc: sau khi đã chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu, má sẽ lĩnh phần gói thô, chị Hai “khéo tay hơn nên gánh phần nút bánh”, rồi sau đó cả nhà ai cũng có phận sự thêm củi cho bếp “vì ai cũng thích mùi bánh tét thơm thơm, bởi trong nó hòa quyện mọi thứ của hàng ngày, thân thuộc và máu thịt” Giờ đây khi lớn lên, đi đây đi đó, những chiều
áp Tết xa quê, “ cô bỗng thấy nhớ quay quắt một mùi hương, một ánh lửa bên
hè nhà, phải là củi rất nỏ, phải là gạo nếp mù u, lá chuối vườn và thịt ba dọi của lợn quê, nhưng phải là bếp lửa trên nền đất ấy, bên ngọn gió và cả bến
sông ấy nữa” (Ánh lửa chiều cuối năm,[ 9 , tr.28 – 29]) Tất cả mới làm nên
hồn quê trong tâm thức của cô bé năm xưa
Nỗi nhớ má còn tràn sang cả Phố của làng Đó là Má với giàn bầu,
cách má giâm ngọn bầu, cách má chăm sóc chúng, để các con có một tuần lễ thỏa sức ăn bầu “ Bầu luộc, bầu xào, bầu kho với cá Nhất là cái món bầu kho
Trang 25cá rô…Bầu có mùa, cá rô thơm cũng có mùa, má đã phối hai thứ ấy một cách tài tình và với lòng biết ơn lặng lẽ, các con đã mang theo hương vị của món cá kho bầu ấy nối dài ra thành văn hóa ẩm thực của một gia tộc và không biết
bao giờ nó đã trở thành món lạ của một xóm nghèo”(Má với giàn bầu, [10,
tr.153]) Từ một món ăn của gia đình mà Dạ Ngân đã nâng nó lên tầm văn hóa thì chắc hẳn nó phải ngon và đậm đà hương vị quê hương biết chừng nào!
Nỗi nhớ về má đâu chỉ dừng ở đó, nó còn được nhà văn nhân dài với những món bánh “made in tay má” cho dù má không biết chữ, má không thuộc mặt cân, má không thể làm ra những món bánh cần tới cân, tới lượng
“Nhưng má đã có cách làm ra những món bánh dân dã cho đám con của mình
không phải nhịn thèm” ( Bánh nhắm chừng, [ 13, tr.223]) Đó là bánh cam,
bánh còng vừa giòn vừa thơm vừa ngậy, bánh quai chèo giòn giòn thanh thanh, bánh đúc chấm với nước đường thật sánh có mùi thơm của nước cốt dứa, rồi bánh lọt được chan trong nước đường loãng có rưới nước cốt dừa sống ăn thanh mát ngày hè Còn nữa, đó là bánh xèo “quá đạt, quá chuẩn không chê vào đâu được” đã khiến cho chị Hai phải thôi cằn nhằn vì sự tự chuốc khổ vào thân của má
Rồi là cách giặt chiếu, mua chiếu của má “ Chiếu với má phải mịn,
phải ấm, phải bền, thỉnh thoảng phải có mùi nắng gió khô sạch”(Nhớ chiếu,
[11, tr.12]) Đó đích thị phải là chiếu Cà Mau, những sợi lác làm nên chiếu phải mềm, mịn của thứ lác ngập mặn, lác có mùi thơm mằn mặn của biển cả
Có như vậy thì chiếu mới bền Ngày má “đi”, “các con đặt má nằm xuôi tay
trên chiếc chiếu mới đã mua sẵn, trông má nhẹ tênh, thanh thản, u hoài ”(Nhớ
chiếu, [ 11, tr.13]) Giờ đây khi má đã rời xa, “ Không chỉ mùa Vu Lan mới
nhớ má Không có đứa con nào không cần má cả khi đã lớn khôn Càng thấy
thiếu má khi không còn má ở trên đời” ( Bánh nhắm chừng, [ 13, tr.223])
Trang 26
Khi những đứa con của má cũng đã đảm đương thiên chức như má ngày xưa mới hiểu hết được những nhọc nhằn của má Má đã nằm xuống với đất, với cây cỏ khi đã hi sinh đời mình cho các con yêu của má Nhưng má vẫn sẽ sống mãi trong nỗi nhớ, trong những miền kí ức của những đứa con mà với má, chúng luôn là những đứa con bé bỏng Cha hi sinh trong kháng chiến, ông nội vì buồn mà cũng mất theo cha Má vừa là mẹ nhưng lại vừa là cha Một mình má chèo chống cả gia đình trong những ngày khốn khó của chiến tranh và hòa bình Bởi vậy những hình ảnh của má không hề bị tàn phai hay
bị mất đi mà nó cứ “lớn mãi lên, một người đàn bà cô độc phi thường, một sức chịu đựng phi thường và tình mẫu tử cũng thật phi thường ở chỗ làm
nhiều hơn nói, luôn luôn là như vậy” (Mùi của má, [ 11, tr 128])
Hình ảnh của má còn thấm đẫm trong những truyện ngắn của Dạ Ngân Đối với tác giả, má là người quan trọng và cũng không thể thay thế bằng một
ai khác Bởi vậy mà những kí ức về má, những kỉ niệm về má luôn đứng ở một nơi rất trang trọng trong trái tim Dạ Ngân Ngày má ra đi, là ngày mà Dạ Ngân đã mất đi một chỗ dựa vững chắc và ấm áp cho cuộc đời mình Bà đã
viết nên truyện ngắn Nước nguồn xuôi mãi như một lời tri ân đến má Hình
ảnh của má tảo tần sớm hôm được giữ lại vẹn nguyên một cách nghẹn ngào
Ở đó, Dạ Ngân đã trải hết nỗi lòng của mình với má một cách âm thầm, lặng
lẽ với sự trân trọng và biết ơn Dù đã đến cái tuổi “ tri thiên mệnh”, con của
má cũng đã lên làm bà ngoại nhưng má vẫn luôn lo lắng cho con, cho sức khỏe của con Tiếng chân lùi đùi lụi đụi của má trên nền xi măng gian bếp, hình ảnh đôi bàn tay chai sần của má trong thau quần áo, trong thau bột hay trong những món cần nhồi như món vịt xiêm má đang làm để tiết kiệm được một ít tiền moi tim moi óc của con gái Những lúc như thế nhìn má thật tận tụy, say mê và tâm huyết Đọc những trang văn của Dạ Ngân ta không khỏi bùi ngùi, xúc động về hình ảnh của má và tình thương bao la mà má dành cho
Trang 27con Dạ Ngân nói chuyện mình nhưng hẳn rằng trong chúng ta ai cũng tìm được hình ảnh của mình, của mẹ mình trong đó Như vậy thì Dạ Ngân cũng
đã thành công rồi
Trong truyện ngắn này, nhà văn còn đề cập đến khoảng cách giữa các thế hệ mà dù có cố gắng như thế nào cũng không thế lay chuyển được Đó là hình ảnh cố ngoại, Dị, con gái Dị Cố ngoại vẫn giữ nguyên những thói quen không quen đi dép, không ngồi ghế để di chuyển cho lẹ, Dị thì đã quen với cái máy đánh chữ lộc cộc mỗi đêm khiến cho đứa cháu và vợ chồng con gái khó ngủ để mỗi lần đứa con gái phải kêu ca “ Phải chăng mẹ viết trên máy vi tính
được để khỏi làm máy chữ thì ban đêm đỡ ồn” ( Nước nguồn xuôi mãi, [ 9,
tr.172] còn con gái Dị thì đã quen với thời đại có mobile và computer Những lúc như thế, Dị chỉ thấy mình có lỗi với con, vì dù đã cố gắng nhưng không thể bắt kịp với thời đại của con Chị “ chỉ làm cái công việc yêu thích của mình để tồn tại, để nuôi dưỡng con trong môi trường lành tính chữ nghĩa, để làm một tấm gương nghị lực, để có thể tiếp tục với chính mình khi đã về
già tất cả chung một lí lẽ làm mẹ và làm người” ( Nước nguồn xuôi mãi, [ 9,
tr.173] Nhưng sự gắng gỏi của mẹ đâu phải đứa con nào cũng nhìn ra được
Dù mẹ có cố gắng đến mấy cũng không thể ngang bằng với con được Nhưng
mẹ sẽ luôn chậm dãi, âm thầm theo sau con, để không quá xa cách với con Vì
mẹ biết rằng, đến một ngày nào đó, ở vào tâm thế của mẹ bây giờ con mới hiểu “ Mấy thế hệ, một thiên chức và những vòng tròn giống hệt nhau làm nên bi kịch có tên là Người Mẹ Phải, làm mẹ hạnh phúc lắm thay nhưng cũng
không ít nỗi niêm và cay đắng” ( Ngâu và Mẹ, [ 11, tr.35]) Biết bao giờ
khoảng cách ấy mới có thể thay đổi trong thời đại bão tố công nghệ thông tin như thế này?
Trang 28Nguyễn Ngọc Tư trong tản văn Yêu người ngóng núi cũng đã có những trang viết xúc động về má Má, con, và… [ 24, tr 35 – 39] nói về khoảng cách
giữa má và con, khoảng cách của hai thế hệ khi Internet trở thành công cụ quan trọng trong đời sống “ Search Google” dường như đã trở thành việc làm thường xuyên của giới trẻ trong xã hội hiện đại Và ta đã quên mất đi hình ảnh của má, người luôn luôn bên cạnh ta mỗi khi ta cần Má sống nhiều nhưng những trải nghiệm mà má đang gìn giữ ta lại không ngó ngàng tới Khi “ nền tảng ứng xử giữa người với người lung lay bởi quá nhiều phương tiện hiện đại” thì ta “ cũng buông lơi bàn tay má” Dường như hai thế hệ già - trẻ đã không còn những câu chuyện chung để nói với nhau Và rồi đến khi ta quay lại , liệu rằng má còn có ở đó “ bao dung đứng chờ” Thời gian đã đi và không bao giờ quay trở lại Một ngày nào đó ta cần đến mẹ nhưng biết đâu mẹ đã không thể ở đó để chờ ta nữa Đó là những dòng tâm sự khắc khoải mà Nguyễn Ngọc Tư đã gửi đến chúng ta – những người trẻ đang sống trong xã hội hiện đại Những phương tiện hiện đại sẽ giúp ích cho chúng ta rất nhiều nếu như sử dụng chúng đúng lúc và có mục đích Nhưng không nên quá lạm dụng để rồi quên đi những kinh nghiệm sống quý báu đang tồn tại quanh mình Chẳng phải có ai đó đã từng nói, người già là một kho kinh nghiệm sống hay sao? Chính vì vậy hãy dành thời gian quan tâm, lắng nghe mẹ của mình khi còn có thể Bởi “không ai có thể nói trước được điều gì khi ta không còn trẻ mà mỗi chớp mắt là từng thập kỉ trôi qua, không gì nhanh và vô tình
bằng cái gã thời gian” ấy (Nói với người thiên cổ, [ 13, tr.113]) Đến một lúc
nào đó, như những cái cây khi đến mùa trút lá, như những bông hoa đến lúc tàn phai sau khi đã dâng hiến cho đời biết bao hương thơm, mật ngọt, “chúng
ta sẽ tiễn mẹ mình một lần trong đời Không có lần thứ hai Đó là lần duy nhất
mẹ ta ra đi không trở lại…Vì vậy mà không ít những đứa con có thể cắn răng gập mình xuống khóc điếng khóc lặng khi bị mẹ già la mắng nhưng vẫn
Trang 29không dám hỗn lại lời nào Bởi vì sẽ không bao lâu nữa ta muốn được nghe
mẹ la mắng cũng không thể nữa rồi” (Ai còn Mẹ xin đừng làm Mẹ khóc, [ 11,
tr.212]) Bởi vậy những ai còn mẹ trên đời, hãy luôn nhớ về mẹ và xin đừng làm mẹ khóc Vì một ngày nào đó, ta muốn có mẹ ở cạnh bên cũng không thể nữa rồi
2.1.2 Nỗi nhớ về Đất và Người miền Tây Nam Bộ
Bên cạnh nỗi nhớ thương về người mẹ, Dạ Ngân còn dẫn chúng ta đến với không gian miền Tây sống động trong kí ức của chị Có lẽ đậm đà nhất
vẫn là trong 100 Tản mạn hồn quê Đặc trưng của miền Tây đó là những chiếc
tam bản, chiếc vỏ lãi Phương tiện này đã được Dạ Ngân nói đến rất nhiều
trong các bài viết của mình Trong Tiếng chèo khuya, chị đã khắc họa chiếc
tam bản của gia đình mình một cách giản dị: “ Chiếc tam bản khô sạch có cái mui uốn hình vòm bằng lá dừa nước” và đi bằng chèo Chèo bằng cây đước, phải mua ở tận Cà Mau hay Rạch Giá mới đúng chèo tốt và quai chèo bằng
“dây chuối xiêm ngâm qua trong nước, dẻo mà thơm thơm” Người miền Tây phân biệt dân tỉnh này với tỉnh kia qua dáng ghe xuồng và cả cách chèo nữa
“Tam bản Cần Thơ thì khum tròn, gái Cần Thơ thì chèo đôi, thong dong, điều điệu Xuồng Cà Mau thì chỉ có ba tấm, gái Cà Mau giỏi đi chèo đơn vừa gại
chèo vừa bẻ lái vì sức nước ở cuối sông bao giờ cũng hung tợn”(Tiếng chèo
khuya, [ 9, tr.13] ) Còn vỏ lãi dường như là sự tổng hòa của các phương tiện
đã tồn tại trên kinh rạch miền Tây “ nó dài dài, nhòn nhọn, nó có cái mũi của chiếc tàu lớn, có cái mình thon của chiếc xuồng và nó có cái bồng lái của
chiếc tam bản” ( Ngồi vỏ lãi, [ 9, tr.152]) Nó có màu xanh của lá mạ, là sự
sáng tạo của nhà nông Người ta vẽ trước mũi nó hai con mắt xếch rất gợi mà cũng rất sắc, hai bên sườn nó là hai cái nẹp màu nâu, được gắn máy đuôi tôm
Nó vượt được lục bình một cách dễ dàng và nếu không gặp vật cản gì thì nó
Trang 30sẽ “đi đường trường một cách sung mãn, như một chú ngựa điêu luyện Cái
chính là nó rất vọt, nó không ăn xăng nhiều mà đường xa lại hóa gần” (Ngồi
vỏ lãi, [ 9, tr.152]) Vì thế, chiếc vỏ lãi được ví như chiếc honđa của dân sông
nước miền Tây Vỏ lãi đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của người dân miệt vườn sông nước
Đó là những phương tiện góp phần làm nên đặc trưng của người miền Tây Nhưng chủ nhân của những chiếc tam bản, những chiếc xuồng, những chiếc vỏ lãi ấy thì sao? Họ là những người sống một cách giản dị, yêu thương nhau và đặc biệt là chan hòa với thiên nhiên Những khi thu hoạch họ để cho
lũ cá con trở về môi trường sống để chúng yêu nhau và tiếp tục sinh đẻ, thành
cá bố cá mẹ cho mùa sau Đó là nguồn thức ăn vô tận mà thiên nhiên ưu đãi cho con người Họ giúp đỡ nhau lợp nhà, cùng nhau đi chụp đìa, đi dỡ chà, đi đánh đáy Họ say mê bày bố làm lụng “Người miền Tây hay ăn mắm vì họ có quá nhiều cá để làm mắm, có cá là có mắm, có mắm là có những người đàn bà giỏi giang kì lạ” “ Và rồi mắm đã thành văn hóa, thành hương vị để cho
những người đi xa phải nhớ và mà tìm về” ( Tìm con cá mắm, [ 9, tr 22])
Một điều nữa mà Dạ Ngân hay nhớ khi xa quê là không khí giỗ Việc này thường được chuẩn bị từ nhiều tháng trước, “ ví như chuyện chăm một
bầy gà hay bầy vịt hay dành hẳn một con heo trong chuồng” ( Giỗ của ngày
xưa, [ 13, tr.106]) Và trẻ con chỉ biết là sắp giỗ khi má, các bà, các chị “phơi
củi, rọc lá chuối, phơi lá, làm sạch nếp rồi say bột ( nếu gói cả bánh tét và
bánh ít), đãi đậu, nạo dừa, nấu nhân…”( Giỗ chuyền, [ 13, tr.17-18]) Không
khí giỗ chẳng khác nào ngày Tết Mọi người có mặt đông đủ và góp giỗ cũng chỉ bằng cây nhà, lá vườn “ Có người đưa về một quả bánh chuẩn thơm lừng, cũng có người xách về một đôi gà hay một đôi cá lóc thật to (…)lại có người mang tới một con vịt xiêm to bự (…) người bà con bên kia giang đồng xuất hiện khệ nệ mấy mụn măng tre góp giỗ Khuya đó, đàn ông con trai dậy sớm
Trang 31nhóm lửa nấu nước để làm lông vịt gà, nếu lần này mổ heo thì sẽ có tiếng heo rống lên làm chộn rộn cả xóm (…) Không gian chật ních tiếng dao thớt và tiếng nói cười, đó là thứ tiếng của làng quê đạm bạc nhưng êm ấm, thanh
bình” ( Giỗ của ngày xưa, [ 13, tr.107 – 108]) Ai đến cũng mừng vì đã ngồi
lại bên nhau, quên mọi thứ nhọc nhằn của ruộng vườn đồng áng Không khí sum họp quây quần của truyền thống dòng tộc của gia đình Việt “Không có gia tộc thì không người Việt nào có thể yên ổn với lương tâm” [ 12, tr.194] Làm sao có thể quên!
Trong những tạp văn này, tác giả đã vẽ lên những bức tranh độc đáo về các loài hoa mà bông của nó đã trở thành “đặc sản” của miền Tây sông nước
mà mỗi khi nghe đến chúng là ta đã biết quê hương của các loài hoa ấy là ở miền Tây Nam bộ Đó là bông điên điển, bông so đũa và nhiều loại bông khác nữa…Nếu như bông điên điển có màu vàng hực, vàng sóng sánh trong mắt của cô bé năm nào thì bông so đũa lại có màu trắng muốt So đũa còn có hình nữa, nó có hình trăng lưỡi liềm, ban đêm “ ta sẽ thấy những chùm bông lấp ló
đẹp như nét cười thiếu nữ”(Bông điên điển, [ 9, tr.41]) Đây là cách so sánh
được Dạ Ngân sử dụng rất nhiều trong các bài tạp văn của mình Có lẽ vì là phụ nữ nên Dạ Ngân mới thấu hiểu và cảm nhận hết được những giai đoạn, những nét đẹp duyên dáng của người phụ nữ Việt và phải có một tâm hồn tinh
tế đến chừng nào thì Dạ Ngân mới có một sự so sánh ý nhị mà lại đẹp đến như thế !
Khi giới thiệu về các loại hoa của miệt vườn sông nước, Dạ Ngân cũng không quên giới thiệu đến bạn đọc một loại hoa mà các cửa hàng làm hoa giả trên phố, dù có khéo tay đến thế nào cũng không thể làm theo được Đó chính
là bông tràm “Bông tràm mọc từng chùm, nó và lũ sóc chắc có nợ nần nhau nên bông tràm rất giống cái đuôi sóc lúc chúng hưng phấn nhất …trên cành nhánh cơ man “ đuôi sóc” dựng đứng lên, vào những hôm sương dày, cả một
Trang 32không gian bồng bềnh có thể lấy nón mà múc từng chút một… Lạ thật, đất
chua chua, thân cây xù xù vàng sậm mà hoa lại tưng bừng trắng” (Mùa bông
tràm, [ 13, tr.74]) Đó chính là sự ưu đãi của thiên nhiên, do thiên nhiên hào
phóng sắp đặt để điểm tô cho cuộc đời
Nói về các loài hoa, Dạ Ngân cũng không quên giới thiệu đến bạn đọc một loại hoa tiêu biểu cho miền Nam vào ngày Tết Đó chính là những bông mai vàng Vào giữa tháng Chạp, người dân miền trong bứt từng chiếc lá cho mai trụi hẳn để cho những nhú hoa lộ ra dần dần, xanh non, hứa hẹn một cây mai rộn ràng sắc vàng vào dịp Tết Bởi một cái Tết đậm đà là Tết có mai nở đúng lúc và nở bằng hết Nó phô mình, dâng hiến tuổi thanh xuân cho đời sau khi vượt qua một cách kiên cường nỗi đau trút lá : “ Không nỗi đau trút lá / Sao làm nổi nhành mai” Một nhà thơ đã tổng kết một cách thâm thúy về lẽ
sống không chỉ riêng cho cây” (Cây kỉ niệm, [ 9, tr.42]) mà còn cho cuộc đời
của mỗi con người Có một câu châm ngôn mà tôi luôn nhớ “ Bạn sẽ nhìn thấy sức mạnh của mình mỗi khi bạn vượt qua nghịch cảnh” và tôi tin vào điều đó
Miền Tây sông nước còn có một loài hoa nữa rất đặc trưng mà Dạ Ngân đã tinh tế lắng nghe, cảm nhận và gửi đến bạn đọc Đó là những bông Ô Môi Cũng giống với hoa mai, Ô Môi trút hết lá trước khi ra bông “ Những cành bông dài hàng sải tay màu hồng sáng, tươi thắm như anh đào Nhật Bản
và cũng giống anh đào ở chỗ cây phải rất trưởng thành, phải có tán rộng thì cây mới ra bông Rất bề thế, trang trải và đài các, bến nước nào có một cây ô môi vào mùa hanh khô thì cũng đủ làm ngẩn ngơ cả không gian vốn um tùm
quanh nó” (Ô môi đang mùa, [ 13, tr.128 – 129]) Như trâm bầu, mù u, ô môi
là thứ cây quen thuộc của miệt vườn Nhưng nếu như vú sữa, sầu riêng, bòn bon, xoài cát đều là sản phẩm từ xa xưa, không có chúng thì Nam bộ đã ít nức tiếng hơn, còn ô môi lại vô danh như cây gòn, ô rô hay cóc kèn trong biền lá
Trang 33vậy Ô môi dường như bị lãng quên so với những loài cây khác nhưng những bông Ô môi – một thứ bông quý phái mê hồn ở nơi nổi tiếng là sình bùn đã làm nao lòng mỗi khi có dịp ngắm nó vào mùa trổ bông
Đã nói đến hoa, chắc chắn Dạ Ngân không quên giới thiệu Quốc hoa của nước ta, đó chính là hoa sen Tuy rằng, giờ đây ở nơi nào trên đất nước mình cũng có hoa sen và ở nơi đâu, loài hoa thanh tao này cũng tỏa hương thơm ngát Nhưng hoa sen Đồng Tháp Mười lại đặc biệt hơn bất cứ nơi nào Hẳn chúng ta đã từng nghe câu ca dao : “ Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Viêt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ” Không phải ngẫu nhiên mà dân gian lại đặt hoa sen Đồng Tháp Mười cạnh bên Bác “ Vì sen ở đây xanh biếc quanh năm
và hoa sen cũng thơm ngát quanh năm Lại nữa, thời tiết ở đây chỉ có hai mùa, nắng thì sen xanh cằn, còn mưa thì sen xanh lộng, không lúc nào sen quên xanh cả, nhờ vậy mà không lúc nào hoa sen vắng mặt trong các cửa hàng hoa…Ai cũng biết sen mọc từ bùn, sen là một sự thanh lọc mẫu mực từ
cái bẩn thành cái thanh, quý phái” (Không có hương sen, [9, tr.178]) Phải
chăng chính vì sự thanh cao của sen, nên dân gian mới đặt sen bên cạnh Bác
Hồ và hoa sen trở thành quốc hoa của Việt Nam – một đất nước tự lực tự cường luôn tỏa hương thơm ngát của lòng yêu nước, tấm lòng nhân đạo, thân thiện và mến khách Cùng với tà áo dài truyền thống, nón lá quê hương, sen
đã trở thành biểu tượng mà ai đi xa cũng phải xao xuyến nhớ về
Với tấm lòng luôn hướng về quê hương, cho dù đang ở trên đất bạn xa xôi (Campuchia), Dạ Ngân cũng luôn nhớ về miền Tây thân thuộc: “Càng đi
xa bóng dừa, chúng tôi càng cảm thấy bơ vơ, thật sự cảm giác đất khách quê người, xa lạ, và bí hiểm một cách không lường được Như một đứa trẻ xa mẹ, luôn luôn thương nhớ và bất an, cứ bồn chồn và muốn khóc”, để rồi khi xe vừa đi qua cột mốc là đã thấy dừa “ bạt ngàn, thướt tha, hồn hậu, thảo thơm,