Một thực tế khác cho thấy, bạn đọc Việt Nam biết đến Kawabata qua các tiểu thuyết lừng danh nh-: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Tiếng rền của núi…Còn mảng truyện ngắn, đặc biệt là truyệ
Trang 1Mục lục
Mục Trang
Phần mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Phạm vi, đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Phạm vi nghiên cứu 9
3.2 Đối t-ợng nghiên cứu 9
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 9
5 Cấu trúc khoá luận 10
Ch-ơng 1: Thể loại Truyện trong lòng bàn tay trên hành trình sáng tạo của Y.Kawabata 11
1.1 Vài nét về thể loại truyện ngắn mini 11
1.1.1 Vấn đề thể loại trong văn học 11
1.1.2 Về thể loại truyện ngắn mini 12
1.2 Y.Kawabata với hành trình đi tìm cái đẹp 16
1.2.1 Y.Kawabata “ng-ời tôn vinh vẻ đẹp h- ảo và hình ảnh u ẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con ng-ời” 17
1.2.2 Sáng tác của Kawabata là sự kết tinh t- duy thẩm mỹ tâm hồn Nhật Bản 23
1.3 Truyện trong lòng bàn tay của Y.Kawabata 25
1.3.1 Về tên gọi Truyện trong lòng bàn tay 25
1.3.2 Truyện trong lòng bàn tay chịu ảnh h-ởng của quan niệm mỹ học Thiền 27
1.3.3 Truyện trong lòng bàn tay – một đóng góp lớn của Kawabata trên hành trình phục h-ng văn xuôi Nhật Bản 33
Ch-ơng 2: Kết cấu Truyện trong lòng bàn tay 39
Trang 22.1 Giới thuyết chung về kết cấu 39
2.2 Kết cấu Truyện trong lòng bàn tay 39
2.2.1 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện 39
2.2.1.1 Cốt truyện với các tình tiết, sự kiện 40
2.2.1.2 Cốt truyện với sự giãn nở của nó 43
2.2.2 Nghệ thuật trần thuật 45
2.2.2.1 Sự kết hợp hài hoà giữa kể và tả 46
2.2.2.2 Sự linh hoạt của điểm nhìn trần thuật 48
2.2.3 Nghệ thuật tổ chức giọng điệu 52
2.2.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 55
Ch-ơng 3: Thế giới biểu t-ợng trong Truyện trong lòng bàn tay 60
3.1 Giới thuyết khái niệm biểu t-ợng 60
3.2 Thế giới biểu t-ợng trong Truyện trong lòng bàn tay 61
3.2.1 Sử dụng hình ảnh thiên nhiên mang tính biểu t-ợng 62
3.2.2 Nhân vật mang tính biểu t-ợng 66
3.3 Tính chất mở của tác phẩm 71
Kết luận 79
Tài liệu tham khảo 81
A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nằm ở phía Đông Châu Nam á, Nhật Bản đ-ợc mệnh danh là "xứ sở
mặt trời mọc" hay còn gọi là đất n-ớc Phù Tang Là một quốc gia có tiềm lực
kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới sau Hoa Kỳ nh-ng Nhật Bản vẫn giữ đ-ợc
những giá trị truyền thống từ ngàn đời của dân tộc
Trong con mắt của ng-ời n-ớc ngoài, ng-ời Nhật Bản vừa "điện tử" lại
vừa khoác lên mình bộ Kimônô truyền thống Chính điều đó mà ng-ời Nhật
luôn có quyền tự hào và kiêu hạnh về đất n-ớc mình - một đất n-ớc vừa có "điện
Trang 3tử" lại vừa có "hoa anh đào" Và thế kỷ XX, ng-ời dân "xứ sở mặt trời mọc" này lại càng có quyền tự hào và kiêu hãnh khi đ-ợc sở hữu một nền văn học nổi tiếng của mình - nên văn học duy nhất ở Châu á có đến hai nhà văn đoạt giải Nôbel văn học là Kawabata Yasunari (1968) và De Kenraburo (1994) Tác phẩm của họ đ-ợc ví nh- cánh cổng mở ra thế giới tâm hồn Nhật Bản vốn đầy bí
ẩn tr-ớc nhân loại này
1.2 R.Tagore đã có phát biểu trong bài giảng mang tên Tâm hồn Nhật
trong lần đến thăm Nhật năm 1916 nh- sau: "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện cho thế giới thấy rõ bản chất của dân tộc mình Nếu một dân tộc không đem lại cho thế giới một điều gì cả, thì phải xem đó là một tội lỗi của dân tộc Đúng hơn, phải xem nó còn tồi tệ hơn cả cái chết và sẽ không bao giờ đ-ợc lịch sử nhân loại tha thứ Mỗi dân tộc có trách nhiệm làm cho cái -u tú nhất mà
nó có thể trở thành tài sản chung của nhân loại Tinh thần cao th-ợng là kho báu của dân tộc, nh-ng tài sản thực sự của nó là ở chỗ biết v-ợt những quyền lợi riêng và mời cả thế giới cùng tham gia vào văn hoá tinh thần của nó" [18,1047]
Theo R.Tagore, nhiệm vụ cao cả của mỗi dân tộc là phải cho cả thế giới thấy rõ bản sắc riêng của dân tộc mình mà không thể lẫn lộn với bất cứ một dân tộc nào khác Trong quá trình tôn vinh bản sắc riêng của dân tộc thì cũng đồng thời tiếp thu tinh hoa thế giới để làm giàu cho nền văn hoá của dân tộc mình Đó không chỉ là nhiệm vụ mà còn là bản lĩnh của dân tộc ấy
Chúng ta có thể thấy, nền văn học Nhật Bản là một nền văn học mà cả thế giới biết đến từ rất sớm qua kiệt tác Truyện Genji - cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử văn học thế giới của nữ văn sỹ Murasaki Shikibu (978 -1014) ở thời
đại Heian Mọi ph-ơng diện văn hoá của Nhật Bản nh- thơ ca, tiểu thuyết, hội hoạ, sân khấu, v-ơng cảnh… đều thể hiện trong kiệt tác bất hủ này Và một câu hỏi đặt ra: liệu bản sắc dân tộc Nhật mà nàng Murasaki Shikibu đã tôn vinh có l-u giữ đ-ợc qua biến đổi thăng trầm của dân tộc? và đến 10 thế kỷ sau, với Y.Kawabata (1899-1972) đã làm tròn trách nhiệm của một nhà văn chân chính -
Trang 4l-u giữ và phát huy những nét bản sắc dân tộc đang ngày một phai tàn Và nh- vây, Kawabata đã làm tròn trách nhiệm (theo cách nói R.Tagore) trong việc tôn vinh dân tộc
1.3 Trong diễn từ Nobel đọc tại buổi lễ trao giải ngày 12-12-1968, Y.Kawabata tự hào phát biểu:" Nhật Bản cái đẹp và tôi" Điều đó cho thấy một niềm kiêu hãnh lớn lao về dân tộc, lý t-ởng tôn thờ cái đẹp và khát vọng đ-ợc hoà mình muôn đời vào nhịp đập con tim của triệu triệu con ng-ời trên trái đất của nhà văn Mishika Yukio đã phong tặng cho Y.Kawabata danh hiệu "ng-ời lữ hành vĩnh cửu" (Eien Notabibito) nh- một minh chứng cho sự tìm kiếm không mệt mỏi cái đẹp "mỹ chi tồn tại dữ phát kiến" và cứu vớt cái đẹp k hỏi trầm luân Danh hiệu ấy thật xứng đáng dành cho Kawabata và đó chính là sự tôn vinh nhà văn chân chính nh- ông Và chừng nào, cái đẹp đ-ợc tôn thờ, chừng nào nhân loại còn h-ớng đến những lý t-ởng nhân bản, những cái đẹp vĩnh hằng… và chừng nào "xứ sở mặt trời mọc" còn tồn tại trên hành tinh này thì tác phẩm của Y.Kawabata còn đ-ợc đón nhận, còn làm say đắm lòng ng-ời
1.4 Nhật Bản không xa Việt Nam lắm Chữ Nhật và chữ Nôm cùng chung gốc Hán, nh-ng đối với ng-ời Việt, lịch sử và văn hoá Nhật d-ờng nh - rất xa vời Tuy cùng nằm trong khu vực đồng văn nh-ng sự t-ơng đồng và khác biệt vẫn còn rõ ràng
Có thể nói, Nhật Bản đã tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa láng giềng, bồi đắp thêm bằng cá tính tâm hồn sâu sắc và lắng đọng để tạo nên một nền văn hoá, văn học thật đặc biệt đối với bạn đọc Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, từ lâu nay văn học Nhật Bản vẫn còn là một bí ẩn, thách thức ch-á đ-ợc giải mã một cách đầy đủ Và với Y.Kawabata , độc giả lạc đên một vùng đất lạ,
đầy những nét cá biệt còn nguyên chất cốt Nhật Bản Riêng chúng ta, ng-ời đọc
- không phải là ng-ời Nhật - b-ớc vào tác phẩm của Kanabata nh- vào một hành tinh ch-á đ-ợc thăm viếng bao giờ
Trang 5Với đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần khám phá những điều mới lạ về nền văn học Nhật Bản đặc biệt là tác phẩm của Y.Kawabata - hành tinh mà chúng ta ch-a từng thăm viếng bao giờ này
1.5 Trong những năm gần đây, tác phẩm của Y.Kawabata đ-a vào giảng dạy ở bậc THPT và Đại học Tuy nhiên, những kiến thức về tác giả mới chỉ dừng lại ở việc giải thích một cách khái quát nhất, còn tác phẩm của ông thì chỉ đ-ợc
đ-a vào phần học thêm với Truyện ngắn Thuỷ nguyệt Chính thực tế này mà ng-ời dạy và ng-ời học gặp không ít khó khăn, tr-ớc hết là về t- liệu để hiểu cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn -u tú này
Một thực tế khác cho thấy, bạn đọc Việt Nam biết đến Kawabata qua các tiểu thuyết lừng danh nh-: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Tiếng rền của núi…Còn mảng truyện ngắn, đặc biệt là truyện trong lòng bàn tay - một thể loại truyện ngắn hiện đại và cũng lầ một nét đặc sắc trong sự nghiệp văn học của
ông thì chứa đ-ợc tìm hiểu một cách sâu sắc Vì vậy, với đề tài này sẽ giúp bạn
đọc hiểu hơn những đặc sắc nghệ thuật truyện trong lòng bàn tay cũng nh- cho ng-ời đọc thấy đ-ợc cái nhìn toàn diện trong toàn bộ sự nghiệp văn học của Kawabata
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Yasunari Kawabata - nhà văn đầu tiên của Nhật Bản vinh dự đ-ợc Viện hàn lâm Thuỷ Điển trao tặng danh hiệu cao quý: giải th-ởng Nobel văn học năm 1968 Bằng cuộc đời sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi của một nhà văn chân chính, Kawabata xứng đáng đ-ợc nhận giải th-ởng cao quý đó
Với sự xuất hiện của Y.Kawabata trên văn đàn đã làm cho diện mão văn học Nhật có sự khởi sắc v-ợt bậc và nền văn học này trở thành một trong những nền văn học lớn của Châu á - một nền văn học vinh dự đ-ợc nhân giải th-ởng Nobel văn học
Trang 62.2 Từ lâu, nền văn học này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình trên thế giới, đặc biệt là các nhà Đông ph-ơng học ng-ời Nga Chúng ta có thể kể đến một số công trình sau:
Năm 1901, trung tâm Vluđivôxtôi đã cho xuất bản cuốn "lịch sử văn học Nhật Bản" của Axtôn Cuốn sách này đã giới thiệu khái quát các giai đoạn phát triển của văn học Nhật Bản từ cổ đến trung đại Đáng chú ý phải kể đến những công trình của Viện sỹ N.I Kônrat nh-: "Văn học Nhật qua những hình mẫu và
đ-ợc giải" (LêNingrat,1927), "Sơ l-ợc thi pháp thơ Nhật Bản" (LêNingrat,1924),
"Anh hùng ca phong kiến Nhật Bản" (Mátxítcơva, 1934), "Khái niệm về Manyashu" (Mátxítcơva, 1941), "Văn học Nhật Bản qua các thế kỷ VIII-XIII" (Mátxítcơva, 1956), "Ph-ơng Tây và Ph-ơng Đông" (Mátxítcơva, 1956)…
2.3 Văn hoá Việt Nam và văn hoá Nhật Bản có những điểm t-ơng đồng Nhật Bản và Việt Nam đều gặp gỡ ở cội nguồn văn hoá ph-ơng Đông, ở t- duy thẩm mỹ: Đó là tình yêu cái đẹp, yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên - coi sự hiện diện của chúng là một phàn tất yếu của cuộc đời Trong bài "Nghĩ về cấu trúc văn hoá Nhật Bản", Đỗ Lai Thuý có viết: "Do một ngẫu hứng nào đó của thiên nhiên, có nhiều cái cùng - cả hai cùng nằm trong khu vực Châu á - Thái Bình D-ơng - khu vực trung tâm của thế kỷ XXI, cùng chung ảnh h-ởng của nền văn minh Trung Hoa (Khổng - Phật), cùng tiếp xúc với Ph-ơng Tây và Đạo Thiên Chúa từ thế kỷ XVI - XIX…" (Nghĩ về về cấu trúc văn hoá Nhật Bản, Đỗ Lai Thuý, tr 6 ) Chính do nhiều cái "cùng" đó mà cả hai dân tộc này cùng muốn tìm hiểu và khám phá lẫn nhau
Bản sắc dân tộc Nhật đ-ợc tìm thấy trong sáng tác của Kawabata Kawabata "ng-ời lữ hành đơn độc" suốt đời đi tìm cái đẹp hiện hữu trong thiên nhiên và trong tâm hồn con ng-ời Ng-ời đọc cảm thấy giữa t- t-ởng của họ và nội dung tác phẩm của ông có sự hoà hợp kỳ diệu Chính sự gặp gỡ, hoà hợp đó
mà các nhà nghiên cứu, phê bình Việt Nam đi sâu vào tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp văn học của Kawabata, làm cho chúng ta có đ-ợc một cái nhìn khái quát
Trang 7và toàn diện về văn học Nhật Bản nói chung cũng nh- sự nghiệp văn học của Kawabata nói riêng Có thể kể đến các công trình, bài viết, tiểu luận …của các tác giả Việt Nam khi nghiên cứu về văn học Nhật Bản và tác giả Kawabata nh- sau:
2.2.1 ở Việt Nam cho đến nay, việc nghiên cứu văn hoá, văn học Nhật Bản d-ờng nh- mới bắt đầu Có thể kể đến một số công trình dịch thuật nh-:
"Truyện cổ Nhật Bản và bản sắc dân tộc Nhật" (Đoàn Nhật Chấn, Nhà xuất bản văn học, 1996); "Văn học Nhật Bản" (Nguyễn Thị Khánh chủ biên, Viện thông tin khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, H,1998); "Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến năm 1868" (Nhật Thiêu, Nxb Giáo dục,2000) "Văn học Nhật Bản từ cổ
đại đến cận đại" (N.I.Kônrat - Tr-ơng Bá Dĩnh, Nxb Đà Nẵng,1999); "Genji Monogatari - kiệt tác văn học Nhật" (Nhật Thiêu, Tạp chí văn học, số 11, năm 2002); "Thơ ca Nhật Bản" (Nhật Thiêu, Nxb giáo dục, Hà Nội,2001); "Dạo chơi v-ờn văn Nhật Bản" (Hữu Ngọc, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1992); "Những nhà văn hiện đại Nhật Bản" ( Tr-ơng Hoàng Phú, Văn nghệ trẻ, số 14,1998); "Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Nhật Bản" (2 tập, nhiều tác giả, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1996); "Truyện ngắn Nhật Bản hiện đại" (Nhiều tác giả, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1996)…
Qua các công trình kể trên, chúng ta thấy, các tác giả đã cố gắng đ-a ra một cái nhìn chung nhất về sự phát triển của văn học Nhật Bản và điểm qua một
số tác phẩm có giá trị Tuy nhiên, các công trình này mới chỉ dừng lại ở đặc
điểm khái quát văn học sử mà ch-a giới thiệu đ-ợc các tác giả cụ thể
2.2.2 Ngay năm 1969 - tức là một năm sau khi tặng giải Nobel, ở Việt Nam đã xuất hiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về cuộc đời sự nghiệp của Kawabata Chúng ta có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu về tác giả tác phẩm n h- sau:
Tr-ớc tiên có thể kể các công trình giới thiệu chung về Kawabata Đáng
kể hơn cả là "Y.Kawabata, cuộc đời và tác phẩm", của tác giả L-u Đức Trung,
Trang 8do Nhà xuất bản giáo dục phát hành năm 1997 Có thể nói, từ tr-ớc tới nay, đây thực sự là một chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu nhất về cuộc đời và văn nghiệp của Kawabata Sau khi tìm hiểu, phân tích cả về t- t-ởng, cuộc đời và tác phẩm, tác giả kết luận phong cách nghệ thuật của Kawabata mà ng-ời đọc dễ dàng cảm nhận ngay đ-ợc là "chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu" [L-u Đức Trung, Y.Kawabata, cuộc đời và tác phẩm, Nxb GD, 1997,HN, tr18] và phong cách này kế thừa từ dòng văn học "nữ l-u" thời Heian
Vẫn bám theo mạch "phong cách", trong bài "Thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata, nhà văn lớn của Nhật Bản" ( trên Tạp chí văn học, số 9, 1999) L-u
Đức Trung lại một lần nữa khẳng định thi pháp tiểu thuyết của Kawabata là thi pháp chân không, một đặc điểm nổi bật trong thơ ca Haiku
Trên tạp chí văn, Sài Gòn (1969), Vũ Th- Thanh có bài "Y.Kawabata, cuộc đời và sự nghiệp" thì tác giả cho rằng tác phẩm của Kawabata th-ờng đ-ợc viết bằng một thứ văn Nhật hết sức hoa mĩ, sử dụng hình ảnh và ngôn từ nh- những bài thơ văn xuôi, đặc biệt là ở thể loại truyện Trong - lòng - bàn - tay
Bàn về những vấn đề liên quan đến nghệ thuật kể chuyện của Kawabata, nhà ngiên cứu ng-ời Nga Fedorenko có bài "Kawabata - con mắt thấu nhìn cái
đẹp" do ông Thái Hà dịch từ tiếng Nga, in trên tạp chí văn học n-ớc ngoài, số 4,
1999 Qua bài viết, tác giả cho rằng "kinh nghiệm nghệ thuật của Kawabata chịu ảnh h-ởng rõ rệt của mỹ học Thiên luân, dựa vào suy niệm bên trong…"[N.T.Fedorenko, Kawabata - con mắt thấu nhìn cái đẹp, TCVH n-ớc ngoài, số 4, HN, 1999, tr128]
Ngoài ra, còn một số bài viết đề cập đến một trong những nét trong phong cách của Kawabata Trong công trình 100 nhà lý luận, phê bình văn học thế kỷ
XX, Viện thông tin khoa học xã hội xuất bản năm 2002, mục từ Y.Kawabata của tác giả Đỗ Thu Hà lại nhắc đến ông với t- cách là nhà phê bình với phong cách không khác xa là mâyso với nghệ thuật viết văn của ông Đó là nguyên tắc phản ánh "sự tồn tại và sự khám phá cái đẹp", chức năng của ng-ời nghệ sỹ là
"khám phá và tái sinh vẻ đẹp đó"…
Trang 9Cũng ở tác giả Đỗ Thu Hà, tại hội thảo 30 năm hợp tác Việt Nam - Nhật Bản vào năm 2003, có bài tham luận "Cái đẹp qua hình ảnh của ng-ời phụ nữ qua tác phẩm của Y.Kawabata và R.Tagore" Bài viết so sánh quan niệm của hai nhà văn nổi tiếng Châu á, trong đó tác giả nhấn mạnh vẻ đẹp trong tác phẩm của Y.Kawabata là vẻ đẹp tinh khôi, không vụ lợi
Bàn về không gian và thời gian, Kh-ơng Việt Hà trên tạp chí nghiên cứu
số 1 năm 2004, có bài: Thủ pháp t-ơng phản trong truyện "Ng-ời đẹp say ngủ" của Y.Kawabata
Trên tạp chí nghiên cứu văn học số 6-2006, Kh-ơng Việt Hà có bài "Mỹ học Kawabata Yasunari" ở bài viết này, tác giả phác thảo đôi nét về quan niệm thẩm mỹ, lý thuyết sáng tác và phê bình văn học của Kawabata d-ới lăng kính của một hệ thống mỹ học
Trên Tạp chí Văn, Sài Gòn số 3, 1972, có bài phỏng dịch "Y.Kawabata , nhà văn Nhật Bổn đầu tiên đ-ợc lãnh giải th-ởng Nobel "của Mai Th-ởng Đức Bài giới thiệu cho rằng trong mỗi tác phẩm của ông "đều mang đầy đủ nét tình cảm t-ơi sáng, trự tình huyền diệu,…mỗi nét điệu đều kết tựu thành văn học biểu hiện trong sắc thái dân tộc Nhật Bổn"
Năm 1991, Nhật Thiêu có bài "Kawabata, ng-ời cứu rỗi cái đẹp" đăng trên Tạp chí văn,TP Hồ Chí Minh, số 16 Ông khẳng định thế giới trong tác phẩm của Kawabata "th-ờng hiện ra trong một vẻ đẹp bất ngờ tr-ớc khi ta tìm cách giải thích chúng" [ Nhật Chiêu,Y.Kawabata - ng-ời cứu …, tr96]
Năm 2000, Nhật Chiêu cũng có bài "Thế giới Y.Kawabata (hay là cái
đẹp: hình và bóng" in trên TCVH số 3 một lần nữa khẳng định thế giới của Kawabata là thế giới "hiện hữu của cái đẹp và cái đẹp hiện hữu"
Tiếp đó, Nguyễn Thị Mai Liên, trên Tạp chí nghiên cứu văn học, tháng 11 năm 2005, có bài "Y.Kawabata" lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp"" Tác giả nhấn mạnh đến cái đẹp mà Kawabata phản ánh trong tác phẩm với các tiêu chí khiêm nh-ờng, thanh tao, trong sáng, thanh xuân, hài hoà, u buồn và h- ảo
Trang 10Bên cạnh các bài viết, thì các tác phẩm thì các tác phẩm của Kawabata cũng đ-ợc dịch và xuất bản: Năm 1969, Thu Việt dịch và xuất bản "Xứ tuyết"; năm1989, Ngô Quý Giang dịch "Tiếng rền của núi", năm 1990, Giang Hạ Vi dịch "Ngàn cánh hạc"; cũng năm đó (1990) Vũ Đình Phóng dịch "Ng-ời đẹp say ngủ"; năm 1997 trong "Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel"
có đăng ba truyện ngắn của Kawabata Đặc biệt là năm 2001, Nxb Hội nhà văn
đã cho ra đời 'Tuyển tập Kawabata" gồm 4 tiểu thuyết: "Tiếng rền của n úi", "Xứ tuyết", "Ngàn cánh hạc", "Ng-ời đẹp say ngủ" Những tác phẩm xuất sắc nhất của ông đ-ợc dịch ra tiếng Việt khá sớm và đ-ợc bạn đọc đón nhận nhiệt thành
Trên các Web cũng xuất hiện một số trang nói về tác giả Kawabata và tác phẩm của ông Trên trang Web Evan.com.Việt Nam, Trần Thị Thuận có bài
"Cánh tay" và nét đẹp của bản tình nữ" Cũng trên Evan năm 2004, có bài "Xứ
sở của Kawabata của Champeon và Kênnth do Đoàn Minh Châu và Lý Đợi dịch Trên trang web Hợp l-u, ta tiếp xúc với bài của tác giả Hoàng Long "Những đặc
điểm thi pháp trong tác phẩm "Truyện ngắn trong lòng bàn tay""
Nh- vậy, nhìn lại quá trình giới thiệu và nghiên cứu của Kawabata ở Việt Nam, có thể thấy, cho tới nay, kể từ khi ông đoạt giải Nobel văn học, tên tuổi và tác phẩm của ông không còn xa lạ với bạn đọc Việt Nam Trong lĩnh vực nghiên cứu, giới thiệu, chúng ta đã có những thành tựu nhất định Qua những công trình
đã cho chúng ta thấy đ-ợc sự nghiệp văn học cuả Kawabata cũng nh- danh hiệu vinh dự mà ông đã đ-ợc - giải Nobel văn học
Tuy nhiên, nhìn lại một cách khách quan, những gì mà Kawabata để lại
và những gì mà các n-ớc đã giới thiệu về ông thì những gì chúng ta có đ-ợc còn
ít ỏi, phiến diễn cho đến nay, trong lĩnh vực nghiên cứu ch-a có một công trình nào có tính chuyên sâu Hầu hết các công trình, các bài viết chỉ dừng lại ở việc dịch thuật hay giới thiệu về cuộc đời, t- t-ởng hay một khía cạnh nào đó trong
sự nghiệp sáng tác của Kawabata (phong cách, quan điểm…) Tuy vậy, những ý kiến trên cũng đã góp phần gợi mở cả về h-ớng nghiên cứu, ph-ơng pháp luận
Trang 11và cách tiếp cận t- t-ởng, sáng tác của Kanabata, qua đó nhằm giới thiệu Kawabata đến với độc giả Việt Nam
3 Phạm vi, đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của Y.Kawabata thật phong phú và hầu nh- ông thành công ở tất cả các thể loại mà ông thử nghiệm Bằng cuộc đời lao động, sáng tạo nghệ thuật không mệt mỏi của mình, ông đã để lại cho nền văn học Nhật Bản nói riêng và nền văn học thế giới nói chung một tr-ớc tác khá đồ sộ và đa dạn g Khám phá tr-ớc tác của Kawabata là một điều thú vị, hấp dẫn đối với những ai yêu mến "Xứ sở hoa anh đào" cũng nh- yêu mến một con ng-ời suốt đời đi tìm cái đẹp Y.Kawabata Tuy vậy, do sự hạn hẹp của t- liệu và thời gian, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi đi vào khảo sát những Truyện "Trong lòng bàn tay" của Kawabata trong "Tuyển tập Kawabata" (do Ngô Quý Giang, Ngô Văn Phú, Vũ Đình Bình, Vũ Đình Phòng, Trùng D-ơng dịch, Nxb Hội nhà văn, 2001)
3.2 Đối t-ợng nghiên cứu
Trong khuôn khổ Luận văn này đi vào đối t-ợng chính là đặc sắc nghệ thuật truyện "Trong lòng bàn tay" của Kawabata thể hiện qua hành trình sáng tạo, qua kết cấu, qua thế giới biểu t-ợng trong truyện "Trong lòng bàn tay" của Y.Kawabata
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài này thì nhiệm vụ nghiên cứu của nó là:
Thứ nhất: Tìm hiểu thể loại truyện "Trong lòng bàn tay" trên hành trình sáng tác của Y.Kawabata
Thứ hai: Tìm hiểu kết cấu truyện "Trong lòng bàn tay" của Y.Kanabata Thứ ba: Tìm hiểu thế giới biểu t-ợng truyện "Trong lòng b àn tay" của Y.Kawabata
4 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Trang 12Với đề tài này thì chúng tôi sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu sau 4.1 Ph-ơng pháp phân tích tổng hợp
Cuối cùng là mục lục và tài liệu tham khảo
B Nội dung Ch-ơng I: Thể loại truyện trong lòng bàn tay trên hành trình sáng tạo của
Kawabata Yasunari 1.1 Giới thiệu chung về thể loại truyện ngắn mini
1.1.1 Giới thiệu chung về thể loại
Cũng nh- nhiều ph-ơng diện khác của văn học, thể loại là một hiện t-ợng mang tính lịch sử Thể loại là một kiểu hình thức của những thời đại nhất định
Trang 13mà con ng-ời có thể lựa chọn sáng tạo để chiếm lĩnh nghệ thuật đối với cuộc sống thời đại mình Các thể loại văn học "là một phạm trù lịch sử Nó chỉ x uất hiện vào một giai đoạn phát triển nhất định của văn học và sau đó biến đổi và
đ-ợc thay thế" (D.Li-Kha-Chop) [5,301]
Theo từ điển thuật ngữ văn học thì "thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học, đ-ợc hình thành và phát triển t-ơng đối ổn đ ịnh trong quá trình phát triển lịch sử của văn học thể hiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện t-ợng trong đời sống đ-ợc miêu tả và về tính chất của mối quan hệ của nhà văn đối với các hiện t-ợng đời sống ấy" [5,299]
Trong quá trính sáng tác các nhà văn th-ờng sử dụng những ph-ơng pháp chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực, có những cách thức xây dựng hình t-ợng khác nhau Các ph-ơng pháp ấy ứng với những hình thức hoạt động nhận thức khác nhau của con ng-ời
- hoặc trầm t-, chiêm nghiệm hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột…làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất quy định lẫn nhau về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Ng-ời ta có thể tập hợp thành từng nhóm những tác phẩm văn học giống nhau
về ph-ơng thức miêu tả và hình thức tồn tại chỉnh thể ấy Đó là cơ sở khách quan của sự tồn tại thể loại văn học và cũng là điểm xuất phát để xây dựng nguyên tắc phân chia thể loại văn học
Lý luận văn học dựa vào các yếu tố ổn định mà chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể loại Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Bất kỳ tác phẩm nào cũng thuộc một loại nhất định và quan trọng hơn là có một hình thức thể nào đó Nhiều nhầ nghiên cứu cho rằng có ba loại: Tự sự, trự tình và kịch Mỗi loại này lại bao gồm một số thể Ví dụ: Loại tự sự có tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện c-ời, anh hùng ca, ngụ ngôn…, loại kịch có bi kịch, hài kịch, chính kịch,…
Trang 14Thể loại là dạng thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm Cùng một loại nh-ng các thể khác nhau rất sâu sắc Ngoài đặc tr-ng của loại, các thể còn phân biệt với nhau về hình thức lời văn (thơ và văn xuôi), dung l-ợng (truyện dài, truyện ngắn), loại nội dung cảm hứng (bi kịch, hài kịch, thơ ngụ ngôn,…) [5,301-302]
Chúng ta có thể thấy, thể loại văn học là sự thống nhất giữa một loạt nội dung và một dạng hình thức văn bản và ph-ơng thức chiếm lĩnh đời sống
Tóm lại, việc giới thiệu chung về thể loại là một việc tất yếu, cần thiết bởi
nó là cơ sở để chúng ta tìm hiểu thể loại truyện trong lòng bàn tay với những nét cá biệt, độc đáo của nó mà nhà văn Kawabata đã sáng tạo nên
1.1.2 Về thể loại truyện ngắn mini
Truyện ngắn mini là một thể loại hết sức đặc biệt của loại văn xuôi tự sử
Nó là một trong những biểu hiện tập trung nhất tính hàm súc, tính hình t-ợng, tính đa dạng của văn xuôi tự sự nói chung
Về nguyên tắc, truyện ngắn mini đ-ợc quan tâm là một dạng thức đặc biệt của truyện ngắn thông th-ờng, truyện ngắn mini là một thể loại văn xuôi tự
sự hết sức ngắn, ngắn đến mức không thể ngắn hơn đ-ợc nữa - Truyện ngắn mini là hình thức cực ngắn của văn xuôi tự sự, vì vậy trên ph-ơng diện lý thuyết
mà xét, lý thuyết về truyện ngắn mini dựa vào lý thuyết của truyện ngắn thông th-ờng Tuy nhiên, với t- cách là một thể loại văn học t-ơng đối độc lập đã tồn tại trong đời sống văn học, và là một thể loại văn học rất năng động, nó có những đặc tr-ng riêng của nó
Trang 15còn với dung l-ợng cở cực nhỏ, truyện ngắn mini lại phản ánh b-ớc ngoặt quan trọng nhất, một tr-ờng hợp độc đáo nhất, một tâm trạng đáng nhớ nhất
Về số l-ợng câu chữ: Tối đa là d-ới ba đến bốn trăm từ thì đựoc gọi là truyện ngắn mini, còn tối thiểu là một từ nh-ng điều này thì không có thể hy vọng đ-ợc Và có lẽ ranh giới tận cùng của truyện ngắn mini là một câu Nh-ng trong văn ch-ơng hiện đại, d-ới ngòi bút của các nhà văn có tên tuổi, nhiều câu dài dằng dặc trong một hai trang giấy, nghĩa là bằng một truyện ngắn bình th-ờng Tuy vậy, câu trong truyện ngắn mini tốt nhất vẫn là câu bình th-ờng, càng ngắn càng tốt
Tuy dung l-ợng cực nhỏ, cực ngắn nh-ng truyện ngắn mini có quyền bình đẳng về chất l-ợng nghệ thuật ngang với truyện ngắn thông th-ờng, nói nh- nhà văn Nguyên Ngọc " Nếu nh- truyện ngắn cực ngắn truyện ngắn mini cho ta thấy đ-ợc đó là con voi, qua hình ảnh đôi tai ta sẽ thấy đ-ợc đó là con thỏ"
Về tính vấn đề của truyện ngắn mini:
Có thể thấy, bất kỳ truyện ngắn mini nào cũng thể hiện một vấn đề nào đó
để ng-ời đọc nhận thức, suy nghĩ, chiêm nghiệm Vấn đề mà truyện ngắn mini nêu lên nó không thể hiện một cách trực tiếp trên bề mặt câu chữ mà nó bí ẩn
đằng sau câu chữ Và độc giả, tuỳ vào tầm đón nhận của mình để có thể nắm bắt
đ-ợc chiều sâu của câu chữ đó
Về sự giảm -ớc của hình thức kể, tả: Do tính chất thu cực nhỏ và do sự giới hạn về số l-ợng câu chữ cho nên các hình thức kể tả cũng đ-ợc phải giản l-ợc nh-ng vẫn phải đảm bảo làm sáng tỏ đ-ợc chủ đề và vẫn phải hấp dẫn
Giữa bộn bề các chi tiết của hiện thực đời sống, tác giả truyện ngắn mini luôn có ý thức giản l-ợc kể, tả, luôn luôn suy nghĩ, lữa chọn tìm kiếm, cân nhắc các chi tiết để trình bày
Và điều quan trọng là giữa muôn vàn các chi tiết của đời sống hiện thực, nhà văn đã biết tìm cho mình "chi tiết phát sáng" "Chi tiết phát sáng" là chi tiết
đắt giá, chân thực và chi tiết đó phải mang ý nghĩa biểu tr-ng, nghĩa là chi tiết
Trang 16ấy phải bao hàm trong đó một cách nhìn, cách đánh giá về những vấn đề nhân sinh, đồng thời nó thể hiện năng lực t-ởng t-ợng, h- cấu của nhà văn về con ng-ời và cuộc sống Trên một ý nghĩa nh- vậy, chúng ta có thể hình dung, cuộc
đời con ng-ời nh- một dòng chảy thời gian bất tận và ng-ời nghệ sỹ ấy đã biết chớp lấy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó con ng-ời - với đầy đủ ý nghĩa của
nó - có thể bộc lộ hết mình, bộc lộ cái phần ẩn náu sâu kín nhất Và độc giả - không phải là tất cả - mà những ai có tâm hồn nhảy cảm mới có thể hiểu đ-ợc,
đồng cảm đ-ợc những điều mà ng-ời nghệ sỹ muốn g-ởi gắm qua 'chi tiết phát sáng ấy"
Về khả năng phản ánh hiện thực của truyện ngắn mini:
Có thể nhận thấy một mâu thuận là: Do một bên bị giới hạn về số l-ợng câu chữ và một bên là cuộc sống hiện thực vốn đa dạng và phong phú, thì một vấn đề đặt ra là: làm sao truyện ngắn mini có thể phán ánh hết sức cuộc sống với
đầy đủ bản chất vốn có của nó Nh- vậy, truyện ngắn mini không thể tham lam
ôm đồm trong đó tất cả mọi khía cạnhcuẩ đời sóng mà nó phải chú ý đến những khía cạnh tiêu biểu nhất, đáng nhớ nhất trong muôn vàn khía cạnh khác của đời sống hiện thực Và vì nh- thế truyện ngắn mini có thế mạnh đi và khám phá chiều sâu của cuộc sống, khám phá đời sống nội tâm sâu kín của con ng-ời Khả năng khám phá chiều sâu hiện thực của truyện ngắn mini cũng có những
đặc tr-ng riêng so với những thể loại văn xuôi tự sự khác khi nó mang đến cho ng-ời đọc một hình ảnh sinh động của hiện thực khách quan
Nh- một hệ quả tất yếu, truyện ngắn mini có khả năng gợi h-ớng giải quyết vấn đề theo cách riêng của nó Truyện ngắn mini th-ờng có lối kêt thúc
mở Đây là một đặc tính cơ bản của văn xuôi hiện đại nói chung và cũng là một
đặc tr-ng quan trọng của truyện ngắn mini nói riêng Ng-ời đọc tuỳ vào tầm
đón nhận của mình và có thể tạo ra quá trình "đồng sáng tạo trong quá trình tiếp nhận tác phẩm"
Cũng nh- bao thể loại khác của văn xuôi tự sự, truyện ngắn mini có khả năng khám phá hiện thực cuộc sống một cách sinh động Tuy nhiên, chúng ta
Trang 17cũng phải nhận thấy sự hạn chế của truyện ngắn mini về khả năng khám phá hiện thực Nh- chúng ta đã nói, do nó bị hạn chế về dung l-ợng câu chữ nên nó khó có thể có đ-ợc một cuộc sống phong phú, sinh động nh- tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa…- là những thể loại thuộc văn xuôi tự sự Cuộc sống hiện thực vốn phong phú và đa dạng nh-ng khi đi vào truyện ngắn mini thì nó chỉ là lát cắt nhỏ trong vô vàn lát cắt của đời sống hiện thực Cuộc sống con ng-ời cũng vậy nó vốn phong phú, phức tạp với những tính cách, tam hồn, tình cảm…của nó nh-ng khi đi vào truyện ngắn mini thì nó chỉ là một mảnh đời chốc lốt, một tính cách tiêu biểu, một tâm trạng đáng nhớ… Đây là một hạn chế của truyện ngắn mini so với các thể loại văn xuôi tự sự khác về khả năng phản ánh hiện thực
Về ph-ơng diện hình thức:
Ph-ơng diện hình thức cũng là một mặt quan trọng để phân biệt truyện ngắn mini so với các thể loại văn xuôi tự sự khác
Trên ph-ơng diện hình thức của truyện ngắn mini, chúng ta có thể thấy
đó là kết cấu của tác phẩm, tức là toàn bộ toàn bộ tổ chức phức tạp và sinh động của tác phẩm, về nhân vật, về giọng điệu…
Về kết cấu của truyện ngắn mini: đó là sự bổ túc, sắp xếp, tổ chức các chi tiết, sự kiện để tạo thành bố cục, cốt truyện…Về mặt khách quan, hình thức kết cấu của truyện ngắn mini là những quy luật tất yếu của hiện thực đời sống và nó
là cơ sở để tạo nên kết cấu của tác phẩm Còn về mặt chủ quan, hình thức kết của truyện ngắn mini nó phụ thuộc vào ý đồ sáng tạo của ng-ời nghệ sỹ
Về nhân vật trong truyện ngắn mini:
Truyện ngắn mini cũng có đầy đủ các loại nhân vật nh- các thể loại văn xuôi tự sự khác, đó là nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật t- t-ởng…nhân vật trong truyện ngắn mini chỉ xuất hiện qua một vài chi tiết Nhân vật hiện thân cho một nét nhỏ của một tính cách, một quan hệ xã hội, một trạng thái xã hội hay một tình huống nào đó trong cuộc sống Nhân vật tròng truyện ngắn mini th-ờng mang ý nghĩa biểu t-ợng cho một quan điểm về nhân sinh mà ng-ời
Trang 18nghệ sỹ muốn g-ởi gắm Và nhân vật d-ợc khắc hoạ chủ yếu qua ngôn ngữ ng-ời kể chuyện
Về giọng điệu:
Giọng điệu trong truyện ngắn mini th-ờng mang đậm chất trự tình Đó là một chất trự tình sâu lắng đ-ợc tạo nên bởi chất nhạc và chất thơ Chất nhạc và chất thơ đã làm cho truyện ngắn mini luôn luôn níu kéo đ-ợc độc giả, tạo cho
họ đ-ợc những xúc động mạnh liệt, những cảm hứng mạnh mẽ "các chất ấy là cái thần của văn học nghệ thuật, của tác phẩm tự sự, của truyện ngắn cực ngắn Nếu không có cái chất ấy, truyện ngắn cực ngắn chỉ còn trần trụi là giáo lý ngụ ngôn (Lê Ngọc Trà) [6, 123] Về chất nhạc ấy đã tạo nên nét cách tân của những truyện ngắn cực ngắn
Trên đây, chúng ta đã nói đến một cách khái quát nhất những đặc trung của truyện ngắn mini với t- cách là một thể loại văn học đã tồn tại trong đời sống văn học Trên văn đàn Việt Nam và thế giới đã xuất hiện và tồn tại thể loại văn học này Ngay những thập niên XX, Kawabata Yasunari (1899 -1972) nhà văn Nhật Bản đã khai sinh ra thể loại văn học này (truyện ngắn mini ) mà ông còn gọi truyện "Trong lòng bàn tay" Trên thế giới xuất hiện một số tác phẩm tiêu biểu thuộc truyện ngắn mini này, nh- truyện "Đ-ờng lầy" của thiền s- Muju, truyện "Không đề" của nhà văn Mỹ Giôn Xơn Xơpo…còn trên văn đàn Việt Nam khoảng đến năm 2004, trên văn đàn mới xuất hiện một loại hình tự sự khá mới mẻ, đó là loại hình truyện ngắn, cực ngắn (hay còn gọi là truyện ngắn mini và vi hình tiểu thuyết)
Những điều đề cập trên chúng ta có thể thấy: truyện ngắn mini là một thể loại văn xuôi tự sự có nhiều đặc tr-ng riêng biệt và là một thể loại phán ánh đặc tính cơ bản của văn xuôi hiện đại Thể loại này ngày càng có -u thế trong đời sống văn học đ-ơng đại Đi vào tìm hiểu truyện trong lòng bàn tay của nhà văn Y.Kawabata phần nào sẽ thấy đ-ợc những đặc tr-ng riêng biệt cũng nh- những -u thế của nó mà gần một thế kỷ qua "ng-ời lữ hành vĩnh cửu) Y.Kawabata đã khai sinh ra nó
Trang 191.2 Sáng tác của Y.Kanabata là hành trình đi tìm cái đẹp
Chúng ta có thể thấy trong ba nền văn hoá lớn của ph-ơng Đông, nếu ấn
Độ đ-ợc coi là duy linh, Trung Quốc duy lý, thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình [23,6] Ng-ời Nhật nói chung là một dân tộc duy mỹ Từ thời cổ đại, cho dù những nguyên lý về cái đẹp ch-a đ-ợc định hình và gọi thành tên nh-ng cảm giác muốn h-ớng tới, đạt đ-ợc nó đã ngự trị cuộc sống trên nhiều mặt và bằng nhiều dáng vẻ Ngay trong "Cổ sự ký" (Kojiki) - huyền tích về thuở hồng hoang của n-ớc Nhật cũng đã nói lên đ-ợc khát vọng h-ớng tới cái đẹp của con ng-ời Cái đẹp luôn đ-ợc ca ngợi và là các đích h-ớngtới của con ng-ời ngay từ thuở hồng hoang Và cũng từ đó, dần dần trong tâm thức ng-ời Nhật hình thành nên những cảm thức mang tính thẩm mỹ cao Tất cả điều đó cho thấy: Cái đẹp luôn luôn là khát vọng h-ớng tới của triệu triệu ng-ời trên thế giới trong đó có cả ng-ời ở xứ sở Phù Tang
Đối với Y.Kawabata nhà văn đ-ợc sinh ra và lớn lên trên cái nôi của nền văn hoá duy mỹ ấy đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự tôn vinh và ca ngợi
vẻ đẹp Nhật Trong toàn bộ tr-ớc tác cuẩ mình Y.Kawabata luôn luôn tôn vinh
vẻ đẹp Nhật bằng cách này hay cách khác Ngay từ tác phẩm đầu tay (Nhật ký tuổi 16), truyện ngắn Vũ nữ Iru, cho tới những tác phẩm cuối đời, tiểu thuy ết Tiếng rền của núi, Ng-ời đẹp say ngủ hay các truyện ngắn, truyện trong lòng bàn tay… đều toát lên âm h-ởng của một "du khách u buồn lang thang đi tìm cái
Trang 20tạo nghệ thuật không mệt mỏi của ông Đó là sự tôn vinh ng-ời nghệ sỹ - Kawabata trên hành trình đi tìm cái đẹp đã mất
Khát vọng đi tìm cái đẹp là khát vọng chân chính của tất cả mỗi con ng-ời Đối với Y.Kawabata, khát vọng h-ớng tới cái đẹp d-ờng nh- đã trở thành niềm đau đáu trong tâm thức của ông Hơn ai hết, là một con ng-ời sinh ra từ máu thit của xứ sở hoa anh đào, Kawabata đã biết lấy những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc mình làm điểm tựa cho niềm tự hào, kiêu hãnh
Niềm tự hào và kiêu hãnh về cái đẹp, sự ca ngợi cái đẹp cũng đ-ợc bắt nguồn từ truyền thống yêu cái đẹp trong văn học Nhật Bản và cuộc đời đầy sinh
ly tự biệt của Y.Kawabata
Văn học Nhật Bản đ-ợc hình thành dựa trên tín ng-ỡng tôn thờ cái đẹp Vì vậy, đã có một truyền thống yêu cái đẹp trong văn học Nhật Bản Có thể kể
đến những hiện t-ợng tiêu biểu nh- thơ của các Thiền s-, thơ Haiku và đặc biệt văn học thời Heian từ thế kỷ IX đến thể kỷ XII - thời văn học của cái đẹp Những bài thơ Haiku của Basho, nhất là trong tập Con đ-ờng sâu thẳm đ-ợc xem là khúc giao h-ởng của một tâm hồn đang hoà nhập với thế giới Con
đ-ờng sâu thẳm là cuộc hành trình về với thiên nhiên vũ trụ tinh khiết Chúng ta hãy th-ởng thức những bài thơ giàu sức ám gợi sau:
Mùa xuân ra đi Tiếng chim thổn thức Mắt cá lệ đầy
Sao vàng vây quanh [ ]
Sự gắn bó hoà hợp với thiên nhiên là chủ đề xuyên suốt trong Con đ-ờng sâu thẳm Đó là cuộc hành trình đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên ở miền Bắc xa xôi và xa hơn trong thế giới tinh thần con ng-ời
Trong thơ ca cổ điển Nhật Bản cũng luôn nói đến truyền thống yêu cái
đẹp Đó là thơ của các Thiền s- mà tiêu biểu là Myoe - nhà thơ của ánh trăng Thơ của Myoe luôn tràn ngập ánh trăng:
Trang 21Ôi, sáng quá, sáng quá
Ôi, sáng quá, sáng quá, sáng quá
Ôi, sáng quá, sáng quá
Ôi, sáng quá, sáng quá, sáng quá
Là ánh trăng! ánh trăng! ánh trăng!
[18,962]
Bằng ba m-ơi mốt âm tiết, Myoe tâm sự một cách thân tình tin cậy với trăng không chỉ nh- với một ng-ời bạn, mà là một ng-ời thân gần gũi "Ta nhìn trăng, ta hoá thành trăng Trăng ta nhìn lại hoá thành ta Ta đắm mình hoà nhập với thiên nhiên"[18,963] Y.Kawabata th-ờng chép tặng mọi ng-ời những câu thơ của Myoe vì chúng chan chứa lòng nhân hậu, tình cảm ấm áp, đằm thắm với thiên nhiên và con ng-ời - thể hiện sự dịu dàng sâu lắng của tâm hồn Nhật Bản Chính những vần thơ của các Thiền s- này đã đ-ợc Y.Kawabata chấp bút để thể hiện một tâm hồn khát khao tìm đến cái đẹp
Truyền thống yêu cái đẹp trong văn học Nhật Bản là cội nguồn cho ng-ời nghệ sỹ Y.Kawabata tôn vinh và ngợi ca cái đẹp trong các tác phẩm văn học của mình Đi cùng với truyền thống yêu cái đẹp trong văn học Nhật Bản là cuộc đời
đầy sinh ly tự biệt của Chính sự trải nghiệm trong cuộc đời ng-ời nghệ sỹ là một động lực để ng-ời nghệ sỹ ấy tìm về với cái đẹp truyền thống
Chúng ta biết, Kawabata Yasunari là một nhà văn có một tuổi thơ đau buồn: 4 tuổi cha qua đời, 7 tuổi mẹ qua đời, chị gái của ông cũng sớm ra đi khi
ông tròn 9 tuổi Những cái chết của ng-ời thân đã để lại trong lòng ông một nỗi
đau lớn Đặc biệt, khi ông 15 tuổi, Kawabata lang thang kiếm sống Trong hành trình lang thang kiếm sống ấy, Kawabata hiểu đ-ợc nỗi cay cực của một kẻ mồ côi Tất cả những nỗi đau ấy đã trở thành những "vết th-ơng tâm linh", thành ẩn
ức trong tâm hồn và nó in dấu ấn lên tác phẩm của ông Lớn lên chút nữa, Kawabata lại phải chứng kiến một giai đoạn n-ớc Nhật với đầy biến động, đặc biệt là sau hai cuộc thế chiến Sau chiến tranh, nền kinh tế đ-ợc phục hồi và có
Trang 22b-ớc phát triển thần kỳ song các giá trị văn hoá truyền thống bị hoen mờ bởi lối sống thực dụng của Tây âu tràn sang Trà đạo, nghệ thuật v-ờn cảnh, vẻ đẹp tâm hồn ng-ời phụ nữ Nhật…một thời đã làm nên bản sắc Nhật trong ngàn năm qua
Kawabata đã sống và chứng kiến tất cả và ông đã thể hiện một sự nuối tiếc, một niềm khao khát trở về cái đẹp truyền thống Ông đã lặng lẽ phát biểu quan niệm của mình, đã âm thầm cứu vớt những giá trị truyền thống dân tộc bằng những tác phẩm mang đậm bản sắc dân tộc Nhật
Từ sự nhận diện cái đẹp qua những trải nghiệm trong cuộc đời cá nhân vốn đầy sinh ly tự biệt ấy, Kawabata đã đề ra nguyên tắc phản ánh cái đẹp "Đó
là sự tìm tòi và tôn vinh cái đẹp trong một hiện hữu hỗn tạp giữa cái thiện và bất thiện, giữa cái tinh khiết và cái dung tục, giữa sự chân thành và giả dối, giữa những phù hoa giả tạo bề ngoài và chiều sâu thẳm của nội tâm"[4,69] Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Kawabata nh- Ng-ời đẹp say ngủ(1960), Ngàn cánh hạc (1949-1952) Xứ tuyết ( ) cho đến những truyện ngắn, truyện trong lòng bàn tay…đều là sự tôn vinh cái đẹp Đọc tác phẩm của ông, điều mà ng-ời
đọc cảm nhận đ-ợc lầ một thế giới lung linh màu sắc của vẻ đẹp Nhật: thiên nhiên, lối sống, cách ứng xử, tính cách, tâm hồn… đều toát lên những cách độc
đáo xứ sở hoa anh đào riêng không thể hoà lẫn hình ảnh đất n-ớc hoa anh đào hiện lên một cách rõ nét với những đặc trung riêng trong tác phẩm của Kawabata nh- mô nh- một minh chứng cho sự kiếm tìm, cứu vớt cái đẹp của ng-ời nghệ sỹ
Theo Kawabata, ng-ời nghệ sỹ có sứ mệnh kiếm tìm những giá trị đích thực của cuộc sống, đó là những giá trị đích thực ẩn tàng trong hiện hữu Nếu văn học có chức năng phản ánh cái đẹp thì nhà văn phải là chủ thể thẩm mỹ tích cực khám phá cái đẹp Cái đẹp luôn hiện diện trong tác phẩm của Kawabata Đó
là dải ngân hà lóng lánh trong Xứ tuyết, từ n-ớc men màu đỏ nhạt của chiếc bình gốm trong Ngàn cánh hạc, đến cặp chân trần trắng nõn nh- cây ngô đồng
Trang 23non trong Vũ nữ Izu, đến những âm thanh ám gợi trong Tiếng rền của núi…đó là những cái đẹp trong hiện hữu và cái đẹp trong hiện hữu ấy chỉ có đ-ợc khi nhà văn là chủ thể thẩm mỹ khám phá cái đẹp Khát khao tìm về cội nguồn của cái
đẹp đã thôi thúc Kawabata viết lên những tác phẩm chứa đựng cái đẹp cuôc sống
Có thể thấy khát vọng trở về với cái đẹp đã mất là khát vọng khôn nguôi của Kawabata Ông đã làm một cuộc hành trình trở về miền sâu thẳm, trở về với những giá trị truyền thống một thời đã làm nên bản sắc Nhật Trong hành trình
ấy, Y.Kawabata đã bắt gặp dấu chân x-a cũ ng-ời nghệ sỹ Basho Basho tự nguyễn làm một lữ nhân của phù thế để đến miền sâu thẳm của tiếng gọi trái tim Basho đều "đi tìm cái kỳ diệu của cuộc sống đó cũng chính là cái đẹp, đó là cái đẹp bị con ng-ời đánh mất trong xã hội hiện đại của Edo, của những thành phố đông đảo mà rỗng không" [13,269] Kawabata đã tiếp b-ớc Basho trên hành trình phiêu lãng để đi tìm cái đẹp trong thiên nhiên, trong một nền văn hoá đậm
đà chất cốt Nhật Bản
Tâm hồn Nhật Bản, truyền thống yêu cái đẹp giữ gìn và ph át huy giá trị vĩnh hằng của cái đẹp trong đời sống con ng-ời và trong nghệ thuật trở thành chủ đề chính trong tác phẩm của Y.Kawabata Vì thế ông th-ờng đ-ợc mệnh danh "Ng-ời lữ hành muôn đời đi tìm cái đẹp" (Mishima Yakio), "Ng-ời cứu rỗi cái đẹp" (Nhật Chiêu) [17,74] Cái đẹp mà Kawabata suốt đời kiếm tìm và trân trọng đó là cái đẹp trong tâm hồn ng-ời phụ nữ Nhật Trong tác phẩm lừng danh
Xứ tuyết, vẻ đẹp của Yoko hiện lên nh- một vẻ đẹp truyền thống của ng-ời phụ nữ Nhật Vẻ đẹp trong trái tim nàng nh- một ánh hào quang, có sức mạnh thôi thúc con ng-ời v-ơn lên cái chân - thiện - mỹ Và nàng đã chết, nàng giống nh- một cánh hoa anh đào rụng giữa độ rực rỡ nhất Bế thi thể của Yoko trên tay, Shimamura cảm thấy d-ờng nh- "dải ngân hà chạy tuột vào trong n g-ời chàng trong một tiếng gầm dữ dội [22,186] Cái đẹp đã làm một cuộc hoá thân đau đớn nh-ng thật cao cả Vẻ đẹp linh thiêng của dải ngân hà đã hoá thân thành Shimamura trong giây phút chàng đốn ngộ Yoko - hiện thân của cái đẹp, của
Trang 24tình yêu, của lý t-ởng…là vẻ đẹp truyền thống ngàn đời của ng-ời phụ nữ Nhật Bản Shimamura đã rời thành phố Tokyo hoa lễ để lên xứ tuyết nh- muốn tìm lại miền sâu thẳm trong tâm hồn Và phải chăng, vẻ đẹp tâm hồn và tình yêu của Yoko chính là miền sâu thẳm mà Shimamura khát khao tìm đến?
Vẻ đẹp tâm hồn ng-ời phụ nữ Nhật còn tìm thấy ở Kyoko - nhân vật chính của truyện ngắn Thuỷ nguyệt Vẻ đẹp của nàng toát lên từ một tâm hồn rất đỗi diụ dàng, e lệ, vị tha, yêu th-ơng nh-ng cũng hết sức cứng cỏi nghị lực Hạnh phúc chẳng bao giờ mỉm c-ời với nàng nh-ng điều mà ng-ời đọc cảm phục là bản lĩnh v-ơn lên tìm hạnh phúc trong tro tàn đau th-ơng của nàng Tâm hồn nàng trong sáng đã giúp nàng có đ-ợc niềm tin ở phía tr-ớc và tìm lại đ-ợc hạnh phúc của cuộc đời mình
Khi lối sống Tây Âu du nhập, vẻ đẹp tâm hồn ng-ời phụ nữ Nhật đang trở thành một thứ hàng hoá thì vẻ đẹp tâm hồn của Yoko (trong Xứ tuyết) hay của Kyoko (trong Thuỷ nguyệt)… là một minh chứng sinh động cho sự cứu vớt cái
đẹp ngày đang phai tàn của ng-ời nghệ sỹ Kawabata
Sự tôn vinh và cứu vớt cái đẹp nó gắn liền với sự gắn bó nền văn hoá Nhật Bản Sự gắn bó ấy bền chặt đến nỗi đọc tác phẩm của ông, chúng ta lần l-ợt
đ-ợc tiếp xúc với từng ph-ơng diện của nghệ thuật Phù Tang Đó là những nghi
lễ trà đạo (Ngàn cánh hạc), kịch No (Tiếng rền của núi) hay những lễ hội chùa chiền và aó kimono (Cố đô)… tất cả những nét văn hoá trên đã làm nên bản sắc dân tộc Nhật Chỉ có điều là những giá trị văn hoá đó đang ngày càng hoen ố, tàn phai Và Kawabata bằng những tác phẩm của mình mong muốn góp phần cứu vớt cái đẹp khỏi trầm luân
Vẻ đẹp của đất n-ớc Nhật còn là vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên Đó là một thiên nhiên đậm màu sắc Nhật: một xứ tuyết thơ mộng, một cánh hoa anh
đào rực rỡ…tất cả đã làm nên vẻ đẹp Nhật từ bao đời Vẻ đẹp của thiên nhiên là
vẻ đẹp của những cái nguyên sơ và con ng-ời có thể tìm đến sau những bộn bề
và lo toan của cuộc sống th-ờng nhật Và nơi ấy chính là hành trình tìm lại chính mình của mỗi con ng-ời Kawabata d-ờng nh- đã thắp sáng niềm tin cho
Trang 25con ng-ời bằng hình ảnh thiên nhiên đậm màu sắc Nhật ấy Ngô Quý Giang nói:
"Ông đã chiến đấu để bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc tr-ớc làn sóng Âu - Mỹ hoá đang tràn ngập đất n-ớc Nhật Bản và buộc ng-ời Nhật phải suy nghĩ đến việc cứu lấy vẻ đẹp cổ kính của đất n-ớc Nhật"[ ]
Khát vọng tìm về cái đẹp là khát vọng chân chính của ng-ời nghệ sỹ Nguyễn Tuân trong "Vang bóng một thời" cũng đã say mê kiếm tìm cái đẹp nghệ thuật thuần chất khi quay về thú thả thơ, làm đèn kéo quân, thú chơi chữ …- những thú chơi tao nhã đã mai một Với "Vang bóng một thời", Nguyễn Tuân nh- muốn tìm lại những nét đẹp x-a đã từng làm nên nét đẹp văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Đó là sự gặp gỡ giữa Nguyễn Tuân và với Y.Kawabata ở hành trình đi tìm cái đẹp đã mất Có thể nói, cái đẹp thì hiện hữu, nó luôn có quanh ta Nh-ng khám phá ra nó và cứu vớt nó khỏi trầm luân lại là chuyện của mỗi ng-ời Cái đẹp sẽ vĩnh hằng trên trang giấy chỉ bởi bàn tay và trái tim của những nghệ sỹ chân chính mà thôi! Sức sống của những tác phẩm đó sẻ còn mãi mãi làm say đắm lòng ng-ời qua thử thách của thời gian Aono Xuêtuti viết:
"mỗi lần đọc tác phẩm của Kawabata, tôi lại thấy các âm thanh xung quanh tựa
hồ nh- lắng đi, không khí bỗng trở nên trong trẻo, còn tôi thì hoà tan vào trong
đó Tôi không biết có tác phẩm nào khác có sự tác động mạnh mẽ đến nh- thế không? Và sự dị có hiện t-ợng nh- vậy vì trong sáng tác của Kawabata không
có gì vẫn đục hay dung tục" [8,302] Lời ca ngợi của Aono Xuêtuti cũng là lời của triệu triệu con ng-ời khi tôn vinh một nhà văn chân chính nh- Y.Kawabata
- "ng-ời lữ hành muôn đời đi tìm cái đẹp" Và điều này giải thích tại sao trong diễn từ nhận giải Nobel năm 1968, Y.Kawabata tự hào và kiêu hãnh rằng" Tôi sinh ra bởi vẻ đẹp Nhật Bản" [18,961]
1.2.2 Sáng tác của Kawabata Yasunari là sự kết tinh t- duy thẩm mỹ tâm hồn Nhật Bản
Khi trao giải Nobel cho Kawabata, hội đồng giải th-ởng đã nhấn mạnh lý do: "Vì nghệ thuật viết văn tuyệt vời và tình cảm lớn lao, thể hiện đ-ợc bản chất của cách t- duy Nhật Bản" [21,104] Đến với tác phẩm của Kawabata, chúng ta
Trang 26lại bắt gặp cách t- duy thẩm mỹ và vẻ đẹp tâm hồn Nhật qua đời sống, thiên nhiên và con ng-ời
Chúng ta có thể thấy, từ Murasaki đến Kawabata, trải dài qua 10 thế kỷ, chúng ta lại tìm thấy tâm hồn Nhật Bản trong Kawabata Tâm hồn ấy xuất hiện
từ tác phẩm đầu tiên " Cốt" viết năm 1916, "Kawabata khởi hành từ mạch sống
ly ti chảy trong dòng máu cam của mình, của ng-ời con trai 16, mạch sống ấy lẫn trong linh hồn ông nội theo khói thiêu bay lên không trung, trụ lại trong đốt x-ơng yết hầu của ng-ời quá cố, trong "ông Phật" của cụ…[18,986] Đó là tâm hồn Nhật Bản Từ dòng máu, từ thân xác, tâm hồn Nhật Bản ấy chảy vào đời sống, qua những long mạch, xuyên qua nghệ thuật geisha trong Xứ tuyết, theo những b-ớc tàn tạ phá sản của trà đạo trong Ngàn cánh hạc, tản mạn những mất mát vụn rã của đời ng-ời trong Tiếng rền của núi và cháy tan những đam me muộn màng, tàn úa trong Ng-ời đẹp say ngủ… Mỗi tinh cầu ấy là một cõi riêng chứa đựng tâm hồn Nhật Bản
Thần thoại Hy Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về chàng lực
sỹ Ăngtê và đất mẹ Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng gắn chặt vào đất mẹ Ăngtê - gaia Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện thực cuộc sống hệt nh- thần Ăngtê và đất mẹ vậy Trên một ý nghĩa nh- vậy, ch úng ta có thể thấy, nhà văn chỉ mạnh chừng nào còn gắn với mạnh đất thực tại - mạch nguồn sâu của văn hoá dân tộc Nhà văn Kawabata sinh ra từ cái nôi văn hoá của xứ sở Phù Tang và những nét văn hoá của xứ sở ấy đã in sâu vào tâm hồn ng-ời nghệ sỹ Và nh- một điều tất yếu, tác phẩm của ông chính là sự phản chiếu cách t- duy và vẻ đẹp tâm hồn Nhật qua đời sống, thiên nhiên và con ng-ời
Những tác phẩm của Kawabata là sự kết tinh t- duy thẩn mỹ và tâm hồn Nhật Bản Đó là một lối t- duy h-ớng nội đậm màu Thiền Ng-ời Nhật có xu h-ớng kiếm tìm cái đẹp trong thế giới tĩnh lặng, thế giới của những suy t-ởng, chiêm nghiệm Đó là thế giới của tố giác tinh thần thuần khiết Với Kawabata, cái đẹp mà ông kiếm tìm ấy là cái đẹp trong sự im lặng Đây là một nét độc đáo
Trang 27của ng-ời nghệ sỹ, nó bắt rể sâu xa từ khuynh h-ớng chiên ng-ỡng của ng-ời dân xứ sở Phù Tang Ng-ời dân Phù Tang tin rằng họ có thể tìm thấy cái đẹp trong sự im lặng " Ng-ời Nhật - Bernard Rudovski viết trong cuốn "Thế giới của Kimono" - đ-a ngôn ngữ của họ lên đến mức trừu t-ợng nghệ thuật Vì thế
họ không chịu nỗi cái tính quá cận thận của ng-ời ngoại quốc cứ bắt họ phải giải thích tỷ mỹ cặn kẻ mọi thứ… Cái tế nhị trong nghi thức đối với họ còn quan trọng hơn cái chính xác trong lối đặt câu hay văn phạm Cái lễ phép trong lời ăn tiếng nói đ-ợc họ đánh giá cao hơn cẩ cái dễ hiểu Bởi thế, không có gì ngạc nhiên rằng cách nói chuyện tốt nhất đối với họ là im lặng" [18,1035] Điều này giải thích tại sao, ng-ời Nhật có thể ngồi thiền nhìn đá mọc, uống trà ch én không, và họ cực kỳ dị ứng với thế giới ồn ào Hữu Ngọc viết "…tính dữ dội hay tính duyên dáng tế nhị là bản chất văn hoá Nhật Nhà văn Mishima đề cao truyền thống nam nhi quyết liệt, còn nhà văn Kawabata lại tìm bản chất văn hoá trong nghệ thuật tế nhị, nữ tính" [15, ] Đó cũng là nét độc đáo trong t- duy của
đất n-ớc Nhật Bản lối t- duy này đ-ợc tìm thấy trong văn phẩm của Kawabata Những Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Truyện trong lòng bàn tay …
là những văn phẩm mang đậm lối t- duy Nhật Bản Đặc biệt là truyện trong lòng bàn tay - nó là một biểu hiện của mỹ học Thiền, mỹ học Thiền thể hiện mối quan hệ giữa nội tâm và ngoại giới
Ng-ời Nhật Bản rất yêu thiên nhiên, trân trọng những gì thuộc về tự nhiên Trầm t- - một trong những nét tính cách tiêu biểu của ng-ời Nhật có lẽ bắt nguồn từ tình cảm này Tr-ớc thiên nhiên con ng-ời th-ờng yên lặng chìm
đắm và dù là bậc nông dân hay bậc trí sỹ thì tình yêu thiên nhhiên của họ không khác nhau "cảm xúc về cái đẹp, khuynh h-ớng chiêm ng-ỡng là đặc tính tiêu biểu của mỗi ng-ời Nhật - từ ng-ời nông phu cho tới nhà quý tộc Bất cứ ng-ời nông dân Nhật Bản bình th-ờng nào cũng là một nhà mỹ học, một nghệ sỹ biết cảm thụ cái đẹp từ trong thiên nhiên…" (P.ISmit)[8,294] Chính vì thế mà gia
đình th-ơng nhân Takichiro (Cố đô) có thể bỏ hàng buổi đi ngắm hoa anh đào trong chùa Heian Dgingu, ngắm thông liễu trên núi Bắc Sơn … Gia đình ông
Trang 28Singo (Tiếng rền của núi cũng sống trong khung cảnh hoà mình vào thiên nhiên
Họ là những con ng-ời với nét tính cách, suy nghị… đặc tr-ng Nhật Bản, họ giữ gìn những quan niệm truyền thống ph-ơng Đông Nét tâm hồn Nhật Bản ấy ( đó
là một dạng văn hoá phi vật thể) có thể dễ dàng tìm thấy trong tác phẩm của Kawabata và nó đ-ợc bảo l-u một cách vĩnh hằng trên trang sách
Công lao của Kawabata là ở chỗ, ông đã cho bạn đọc thấy đ-ợc tính cách
và tâm hồn Nhật - đó là những nét tính cách và tâm hồn riêng không thể hoà lẫn Nh-ng cái công lao vĩ đại của ông còn thể hiện ở chỗ khi trình bày cái sáng tạo
và độc đáo dân tộc của ng-ời Nhật, ông đã gợi đ-ợc ở độc giả n-ớc ngoài mối quan tâm và tình cảm sâu sắc, đồng thời vạch cho thấy đ-ợc cái đặc điểm chung của toàn nhân loại có thể làm cơ sở vững chắc nhất để các dân tộc ph-ơng Đông
và ph-ơng Tây kính trọng lẫn nhau Nói về nét t- duy thẩm mỹ và tâm hồn Nhật Bản trong sáng tác của Kawabata, chúng ta có thể m-ợn lời của Ngô Quý Giang
"Y.Kawabata thuộc loại nghệ sỹ lớn nhất của thế kỷ này Ông là bậc thầy trong nghệ thuật biểu cảm lớn lao, mang đậm bản sắc dân tộc, ng-ời làm nên cái kỳ tích là mở cho nhân loại cánh cửa của t- duy và tâm hồn Nhật Bản vốn vẫn đ-ợc coi là bí hiểm và kín đáo Trong cuộc đời sáng tạo của mình, ông đã tạo nên những tác phẩm bất tử có vai trò thúc đẩy sự phát triển của văn học Nhật Bản"[ ]
1.3 Truyện trong lòng bàn tay của Y.Kawabata
1.3.1 Về tên gọi Truyện trong lòng bàn tay
Có thể thấy, sự nghiệp văn học của Y.Kawabata rất phong phú và đa dạng Ông viết nhiều tác phẩm với rất nhiều thể loại từ thơ, truyện ngăn, tiểu thuyết, tuỳ bút, bình luận văn học… Ng-ời đọc th-ờng chỉ biết đến Kawabata nh- một tiểu thuyết gia vì ông quá lừng danh về thể loại này với các kiệt tác tiêu biểu: Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô… và những tiểu thuyết lừng danh ấy đã
đ-a Kawabata lên đài vinh quang - nhận giải th-ởng Nobel văn học năm 1968 Tuy nhiên, trong sự nghiệp văn học Kawabata chúng ta còn thấy, bên cạnh tiểu thuyết thì còn có mạng truyện ngắn cũng rất đặc sắc với những Truyện trong lòng bàn tay (Tenohira no shosetsu) Chính Kawabata đã khai sinh tên gọi
Trang 29Truyện trong lòng bàn tay cho các tác phẩm truyện ngắn của mình Theo Thuỵ Khuê thì Kawabata viết khoảng 175 truyện ngắn đã in rải rác trên báo, nh-ng
ông chỉ giữ lại 120 truyện trong bộ Kawabata toàn tập (in tại Nhật Bản) [18,988] Còn theo Hoàng Long thì Truyện trong lòng bàn tay có tất cả 146 truyện Đó là "hồn thơ của những ngày trẻ tuổi" nh- chính Kawabata đã từng nhận định "tuổi trẻ trong đời nhiều nhà văn th-ờng dành cho thơ ca Còn tôi, thay vì thơ ca, tôi viết những tác phẩm nhỏ gọi là "Truyện trong lòng bàn tay " … Hồn thơ những ngày trẻ tuổi của tôi sống sót trong những câu chuyện ấy" [18,1078]
Từ năm Đại chính thứ 13 (1924), Kawabata bắt đầu khởi viết "Truyện trong lòng bàn tay" và đã theo đuổi đề tài này suốt đời Vào tháng 6 năm Đại chính thứ 15 (1926) Kawabata xuất bản tác phẩm đầu tay Trang sức tình cảm gồm 36 truyện trong lòng bàn tay Đến năm 1930, Kawabata lại cho ra một tập Truyện trong lòng bàn tay khác là Phòng vật mẫu của tôi gồm 47 truyện
Từ năm 1944 đến năm 1950 cũng là thời kỳ quan trọng của "Truyện trong lòng bàn tay" (theo nhà nghiên cứu Donald Keene) Từ năm 1962 đến 1964 là thời kỳ cuối cùng của Kawabata viết truyện trong lòng bàn tay Toàn bộ Ch-ởng chi tiểu thuyết (Tenohira no shosetsu ) gồm 146 truyện, tập hợp lại về sau này
đ-ợc nhà xuất bản Shinchosha (Tân triều xã) ấn hành năm 1960 với nhan đề truyện trong lòng bàn tay
Nh- vậy, truyện trong lòng bàn tay đ-ợc Kawabata viết trong khhoảng thời gian từ 1921 đến 1964, chính ông đã khai sinh tên gọi thể loại này Vì đây chính là một sáng tạo thể loại truyện thật ngắn của nhà văn Kawabata cách đây hơn 80 năm Những chữ "truyện trong lòng bàn tay" ngụ ý muốn gói trọn toàn thể hoàn chỉnh trong lòng bàn tay Về sau có rất nhiều nhà văn bắt ch-ớc nh-ng rất ít thành công
Ngày nay thể loại văn học này có rất nhiều -u thế trong đời sống văn học
đ-ơng đại Đi vào tìm hiểu truyện trong lòng bàn tay thì chúng ta sẻ thấy đ-ợc những nét độc đáo cũng nh- những -u thế của thể loại văn học này
Trang 301.3.2 Truyện trong lòng bàn tay - chịu ảnh h-ởng của quan niệm mỹ học Thiền (Zen)
ở Nga năm 1971, Grigerieva T.P trong bài " đọc Kawabata Yasunari"
đăng trên tạp chí "Văn học n-ớc ngoài" (Nga), số 8, đã nhận xét: tác phẩm của Kawabata là mẫu mực của vẻ đẹp Nhật Cũng trên tạp chí này, năm 1974, nhà
Đông ph-ơng học Nga N.I Fedorenco với bài "Y.Kawabata - cách nhìn cái đẹp"
đã trình bày suy ngậm về nguyên lý của thuyết duy mỹ Nhật Bản và phát hiện rằng "trong kinh nghiệm nghệ thuật của Y.Kawabata thấy rỏ ảnh h-ởng của các quan điểm mỹ học Thiền" trên tạp chí văn học số 9 - 1999 nhân kỷ niệm 100 năm sinh của Kawabata (1899-1999) L-u Đức Trung có bài "Thi pháp tiểu thuyết Y.Kawabata - nhà văn lớn Nhật Bản đã khẳng định: thi pháp tiểu thuyết của Kawabata gắn với thi pháp thơ Haiku Thơ Haiku ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, một bài thơ chỉ có 3 câu, m-ời 17 âm tiết (5+7+5) có thể diễn tả cả một trạng thái tâm hồn thông qua một âm thanh hay một hình ảnh gây ấn t-ợng cho ng-ời đọc Trong tâm hồn của bài thơ không nằm trong phần chữ mà nằm trong phần nó để trống, cái để ng-ời ta cảm nhận chứ không phải để giải thích, phần không nói ra nh-ng chìm sâu trong ta Đặc tr-ng của Haiku là hoà tan cái động
và cái bất động vào nhau, biến thành sự trống vắng trong suốt, trở thành nh- chân không
Thi pháp chân không đó đòi hỏi ta phải vận dụng mọi giác quan để nhận thức, mở mắt mầ nhìn, lấy tai mà nghe, trải lòng ra mà nhận [9,45]
Thi pháp thơ Haiku cũng là một biểu hiện của mỹ học Thiền Thiền th-ờng dựa vào suy ngẫm bên trong, bộc lộ sức mạnh ý chí đến độ trở thành "vô ngã" Mỹ học Thiền sử dụng ít lời, ít ph-ơng tiện biểu cảm nhất trong sác tác nghệ thuật Nghệ thuật cần tạo ra sự hài hoà giữa nội tâm và ngoại giới Theo
đó, chúng ta thấy, truyện trong lòng bàn tay ảnh h-ởng rõ rệt nhất quan niệm
mỹ học Thiền Thơ Haiku của Basho và truyện trong lòng bàn tay của Kawabata
đã tìm đến mỹ học Thiền nh- một ph-ơng thức tất yếu trên hành trình đi tìm giá
Trang 31trị chân chính của cuộc sống Giá trị chân chính của cuộc sống mà họ tìm kiếm
là những giá trị ẩn sâu đằng sau những ồn ào náo nhiệt của cuộc sốn g th-ờng nhật Cái mà họ kiếm tìm là cái "im lặng" của cuốc sống mà con ng-ời đã vô tình lãng quên Có thể nói, thơ Haiku của Basho và truyện trong lòng bàn tay của Kawabata đều gặp nhau ở chỗ: ý ở ngoài lời, cái "linh hồn" của nó là cái
mà ng-ời đọc cảm thấy chứ không phải đọc đ-ợc, không nằm trong câu chữ mà nằm trong cái nó để trống Đó là biểu hiện của mỹ học Thiền - đi vào cái tâm tĩnh lặng của con ng-ời mà soi chiếu và phản ánh thế giới chung quanh
Cô đọng, hàm súc vốn là một đặc tính cơ bản của truyện trong lòng bàn tay Bởi nh- đã nói, truyện trong lòng bàn tay nó muốn nắm trọn một toàn thể hoàn chỉnh trong lòng bàn tay nên cô đọng, hàm súc nh- một ph-ơng thức tất yếu của thể loại văn học cá biệt này Đây vừa là một biểu hiện của mỹ học Thiền vừa là một biểu hiện của lối thơ Đ-ờng luật "Văn Kawabata thơ mộng, sánh đặc, cô đọng nh- Đ-ờng thi với những khoảng trống ngoài ngôn ngữ Dùng kỹ thuật giải phẩu Tây ph-ơng, ông đi vào lòng ng-ời nh- một nhà hiện t-ợng học, với ánh nổi soi, chiếu từ bên trong, nh- ánh sáng thiền, ông đạt đến thức giác với những nhận xét tế vi, không qua luận chứng, điều mà ít tiểu thuyết gia ph-ơng Đông nào đạt đ-ợc" [18,987] Vì thế, khi đi vào khám phá truyện trong lòng bàn tay, chúng ta phải đi vào cái "tâm" của nó để cảm n hận, soi chiếu
và khám phá Nếu nh- ng-ời Nhật tin rằng họ có thể tìm thấy cái đẹp trong sự
im lặng thì chúng ta - những độc giả cũng sẽ tin rằng: cảm nhận cái đẹp trong tác phẩm của Kawabata là cảm nhận cái đẹp trong sự im lặng Truyện trong lòng bàn tay là nghệ thuật của sự suy t-, lắng sâu vào tâm t-ợng, là t- t-ởng nhân sinh vĩ đại đ-ợc thể hiện trong những câu chữ ngắn gọn, ng-ời đọc khi đọc
nó phải huy động trí t-ợng t-ợng của mình mà đón lấy, mà đoán nốt những gì ch-a nói hết, phải cùng tham gia vào quá trình sáng tạo… T- t-ởng này chính là cơ sở của mỹ học Thiền luận, là nguyên lý triết học và vũ trụ quan của nó
Truyện trong lòng bàn tay, chúng ta thấy, cái vĩnh hằng của vũ trụ đựơc nhận thức thông qua tính biến dị vô cùng, vô tận và qua những biến đổi của nó
Trang 32Chính vì thế mới có những dị bản của thứ "mật tự" này là những cách nói ẩn, nói bóng gió, -ớc lệ khi mà nhiều cái không đ-ợc nói ra hoặc nói không hết Phải chăng thứ "mật tự " này mang trong mình bóng dáng của bức hoạ Nhật - cái nghệ thuật nằm trong chiều sâu tâm linh của nó Chúng ta thấy, đọc tác phẩm của Kawabata cũng nh- nhìn thấy một phiến đá trong ngôi v-ờn cảnh Nhật Trong ngôi v-ờn cảnh Nhật, đá là yếu tố đóng vai trò dị th-ờng hơn cả Đá mang một ý nghĩa nghệ thuật, t-ợng tr-ng và triết học Từ xa x-a đến nay, ng-ời Nhật bao giờ cũng có thái độ trân trọng đối với đá, coi chúng là một vật thể sống có ngôn ngữ riêng Đá là vật vô tri với những ai vô cảm tr-ớc cuộc đời Nh-ng đá sẻ trở thành mối tâm giao với những ai có tâm hồn đồng điệu Và ng-ời Nhật có thể ví đọc truyện trong lòng bàn tay của Kawabata nh- khi ngắm nhìn một tảng đá vậy! Chẳng hạn khi đọc truyện Tia nắng rạng đông, ng-ời đọc phải mở hồn, trải tấm lòng ra mà đón nhận Truyện thật ngắn, câu thật ngắn Nh-ng cái ngắn ấy phủ lên chiều dài, chiều rộng, chiều sâu của cõi mênh mông Nghệ thuật của Kawabata nằm trong chỗ trống, chỗ không, nh- không mà có
Nó chính là khoảng lặng trong thơ Haiku của đại thi hào Matshu Basho Kawabata đã tạo ra một vũ trụ sắc không, thuần tuý Nhật Bản, vận dụng khoảng không nh- một vũ trụ bên trong con ng-ời, ông tung ra "Tia nắng rạng đông" để ng-ời đọc nội suy, ngoại suy, tìm kiếm… không ngừng đặt câu hỏi với nhà văn
và với chính mình: ng-ời con gái trong truyện Tia nắng rạng đông là ai?, nàng trong trắng ngây thơ "đợi ng-ời yêu đến c-ới" hay nàng là sự mờ ám" mỗi đêm một ng-ời đàn ông khác"… Do nghệ thuật của Kawabata nằm trong chỗ trống cho nên các truyện trong lòng bàn tay đều có kết thúc mở Cái kết thúc mở ra trong lòng độc giả bao suy nghĩ, bao nỗi niềm Bằng trí t-ởng t-ợng, ng-ời đọc
có thể đoán nốt những bức thông điệp mà nhà văn g-ởi gắm Bức thông điệp ấy lại đ-ợc thể hiện qua những hình ảnh mang tính biểu t-ợng Đó là cái "chất" của nền văn học ph-ơng Đông trong một thứ nghệ thuật lấy im lặng là nguyên tắc biểu đạt cao nhất của cảm xúc Nói nh- Daizets Suzuki: "khi tình cảm đạt đến
Trang 33độ cao nhất ta lặng thinh bởi lẽ không có ngôn ngữ nào diễn tả thích đáng" Và khi đọc tác phẩm của Kawabata, ngôn ngữ cũng phải đành bất lực vậy
Với truyện trong lòng bàn tay, Kawabata đã tiếp nhận sâu sắc những triết
lý thẩm mỹ truyền thống của Thiền đạo Nhật Bản qua những bức Zenga, thơ, triết ngôn và t- t-ởng của các thiền s- truyền lại Đó là một mỹ học của chân không, bộc lộ tất cả sức mạnh tinh thần đến độ trở thành "vô ngã" Truyện trong lòng bàn tay đã để lại "ấn t-ợng nhiều nhất bằng những ph-ơng tiện ít nhất" [4,78] điều này sẽ tạo dựng một thi pháp chân không của Kawabata, mang đến cho Kawabata năng lực trực cảm v-ợt trên mọi -ớc lệ để nắm bắt ngay đ-ợc ánh chớp loé từ sự vật tr-ớc khi nó tan biến trong tâm trí Điều đó đã giúp Kawabata tạo ra những thi phẩm thể hiện ý niệm nhân sinh của Thiền về sự sống và cái chết sẽ đ-ợc trải nghiệm trong suốt cuộc đời cũng nh- sự nghiệp văn học của Kawabata; là những thi phẩm kiếm tìm sự hoad đồng bản thể giữa con ng-ời với thiên nhiên
Gắn bó với thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên là một lối sống của ng-ời ph-ơng Đông Thiên nhiên luôn đặt trong niềm suy t-ởng, nỗi hoài niệm của con ng-ời Đây cũng là một nét đặc tr-ng của mỹ học Thiền Và trong kinh nghiệm nghệ thuật của Kawabata, ta cũng thấy rõ ảnh h-ởng của các quan điểm
mỹ học Thiền - nghệ thuật cần tạo ra sự hài hoà giữa nội tâm và ngoại giới Hầu hết trong các tác phẩm của ông, thiên nhiên luôn đ-ợc đặt trong niềm suy t-ởng, nỗi hoài niệm về cái đẹp đã qua Trong khung cảnh bao la, tĩnh lặng của thiên nhiên ta bắt gặp những khoảnh khắc tầm t-, suy t-ợng của con ng-ời Cái "chất"
đó là chất của nền văn minh ph-ơng Đông phát triển trên cơ sở lấy thiên nhiên làm gốc
Đọc truyện trong lòng bàn tay ta thấy một giọng điệu trữ tình, man mác bởi trong đó nó chứa đựng một sự hoà điệu giữa con ng-ời với thiên nhiên Chính nhờ giọng văn đó mà khi đọc truyện trong lòng bàn tay ta có cảm giác nh- một bài thơ trữ tình, thắm đ-ợm một nỗi buồn man mác, xao động Sinh thời Kawabata từng thể hiện niềm say mê của mình với văn ch-ơng truyền
Trang 34thống Nhật Bản, đặc biệt là văn ch-ơng thời Heian Chính vì thế tác phẩm của
ông toát lên một tinh thần, một ấn t-ợng Heian, cái mà ng-ời ta gọi là "phong cách Kawabata": trữ tình sâu lắng nh-ng cũng rất m-ợt mà, trong sáng Chất giọng chung tác phẩm của ông là giọng trầm t- - triết lý đó là những suy t- lắng đọng về con ng-ời và cuộc đời Giọng kể tự nhiên ấy phù hợp với tính thiền trong văn hoá ph-ờng Đông
Trong sáng tác của mình Kawabata đã kết hợp hài hoà các sắc thái thẩm
mỹ truyền thống: Sabi (vẻ đẹp cổ kính, không sặc sỡ, lộng lẫy, phảng phất nét cô tịch u hoài), Wabi (nhỏ nhoi, đơn sơ, bình th-ờng), Karuni (nhẹ nhàng, man mác)… Mỗi thời đại trong văn học Nhật Bản đều có những lỹ t-ợng thẩm mỹ cơ bản nh- aware (nỗi buồn sự vật) thời Heian, yugen (u huyền) thời Kamakura, wabi( giản dị) thời Mủomachi…Có thể ở mọi thời đại mỗi nguyên lý, vai trò, vị trí khác nhau nh-ng gần nh- không bao giờ bị loại trừ Thậm chí cho tới tận thời
kỳ hiện đại, Kawabata Yasunari - nhà văn theo đuổi lý t-ởng duy mĩ vẫn sử dụng chúng nh- những yếu tố thẩm mĩ đặc tr-ng cho tác phẩm của mình
Thật vậy, trong các tác phẩm của mình, đặc biệt là truyện trong lòng bàn tay, Kawabata đã sử dụng các nguyên lý thẩm mĩ đó cho việc tạo ra những giá trị riêng trong các tác phẩm của mình Tác phẩm của Kawabata đ-ợc ngợi ca là mang đậm chất thơ, nỗi u buồn với những vẻ đẹp nhuần nhị dễ đi vào lòng ng-ời đó chính là vẻ đẹp của ngày th-ờng, là dấu ấn của thời gian, sự thanh tĩnh
ma ng-ời đọc cảm nhận từ các tác phẩm truyện trong lòng bàn tay Đó là Sabi
"Sabi là cái mà ta cảm nhận đ-ợc khi đắm mình vào không gian trong tác phẩm của Kawabata, không gian của niềm cô tịch" [23,25] Đó cũng là một biểu hiện của mỹ học Thiền
ở truyện trong lòng bàn tay cũng có cái đẹp mang hình hài của cái đẹp thật sự Một vẻ đẹp quyến rũ bởi sự tao nhã thanh cao, bởi nỗi buồn dịu dàng, sự cảm th-ơng tr-ớc sự vật Đó là aware Aware là "nỗi buồn sự vật"[23,28] dùng
để "gợi tả đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vô th-ờng của Phật
Trang 35giáo"[13,116] Trong tác phẩm của mình, aware đã d-ợc Kawabata tái sinh d-ới một cái nhìn mới: sự rung động, th-ơng cảm, xót xa tr-ớc những vẻ đẹp của con ng-ời và vạn vật Cái đẹp th-ờng gắn với nỗi buồn - nh- chính quan niệm của Kawabata Thơ Haiku là hình thức phản ánh đáo nhất, chính xác nhất cảm thức này trong tâm hồn ng-ời Nhật.mỗi bài thơ mang trông mình chỉ m-ời bảy âm tiết ấy là một lát cắt, một khoảnh khắc ngắn ngủi của cuộc sống Nỗi buồn th-ơng cho sự hạn hữu của vẻ đẹp đã ăn sâu vào tâm hồn ng-ời Nhật còn thể hiện cho sự lựa chọn và tôn vinh cho mình một loài hoa đ-ợc coi là "quốc hoa": hoa anh đào Căng mọng, rực rỡ, hiến mình hết thảy chỉ trông đôi ba ngày rồi
"từng đám mây hoa" tả tơi rơi xuống đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong thơ
ca Nhật Bản Basho và Kawabata đã tiếp nối truyền thống thơ ca dân tộc đã viết lên trong tác phẩm của mình những dòng thơ, dòng văn mang đậm một "nỗi buồn sự vật"
Nh- đã nói, nghệ thuật của Kawabata nằm ở chỗ trống, chỗ không, cho nên truyện trong lòng bàn taycó kết thúc mở Đó chính là Yugen - "vẻ đẹp của
điều nói bỏ lửng" - đó cái đẹp nằm ở chiều sâu của sự vật chứ không muónn lộ
ra bề mặt"[23,23] Đây cũng là một biểu hiện của mỹ học Thiền -mỹ học dựa vào suy ngẫm bên trong, khám phá sự vật ở chiều sâu tâm linh của nó
Việc sử dụng các nguyên lý thẩm mĩ truyền thống trong truyện trong lòng bàn tay thì không thể không nói đến Wabi Wabi là "sự vắng mặt một cái gì đấy cầu kỳ, sặc sỡ, cố ý mà theo quan niệm của ng-ời Nhật là sự tầm th-ờng" [23,34] Tiếp nhận Wabi nh- một trong bốn tiêu chí thẩm mỉ truyền thống cơ bản, tác phẩm của Kawabata ngập tràn sự giản dị, cái đẹp của ngày th-ờng trong cốt truyện, trông ứng xử của các nhân vật và trong từng chi tiết nhỏ Có thể thấy, cốt truyện trong truyện trong lòng bàn tay là những cốt truyện "phi cốt truyện";
đó là những câu chuyện giản dị bình th-ờng của cuộc sông nh-ng chứa đựng ý nghĩa sâu xa Điều này cũng ảnh h-ởng từ quan điểm mỹ học Thiền - mỹ học sử dụng ít lời, ít ph-ơng tiện biểu cảm nhất trong sáng tác nghệ thuật Và trong truyện trong lòng bàn tay, Kawabata đã sử dụng Wabi để tạo nên sức hấp dẫn
Trang 36cho các tác phẩm của mình - sức hấp dẫn toả sáng từ những điều bình th-ờng, giản di là cuộc sống nh- nó vốn có Giản di giống nh- sự thật vậy
Tóm lại, cả 4 nguyên lý thẩm mĩ mà Kawabata kế thừa từ nghệ thuật truyền thống đều mang trong mình những minh triết của Thiền học Đông ph-ơng Và những nguyên lý thẩm mĩ ấy đã làm nên vẻ đẹp cho truyện trong lòng bàn tay - vẻ đẹp của nỗi u hoài, tinh thần trầm mặc của Thiền tông từ ngàn x-a vẫn không ngừng lắng đọng và lan toả đến tác phẩm của Kawabata
Đọc truyện trong lòng bàn tay, ta có cảm giác linh hồn của t- duy mỹ học Thiền tông Nhật Bản nghìn x-a vẫn không ngừng lan toả nh- một sự thức tỉnh hiện tại, thậm chí ít nhiều tìm đ-ợc sự đồng điệu với những lý luận của chủ nghĩa ấn t-ợng, chủ nghĩa t-ợng tr-ng…của ph-ơng Tây "Thấu cảm mỹ học Thiền là thấu cảm mỹ học Kawabata Thấu cảm đ-ợc mỹ học Thiền ta sẽ mở rộng vô cùng giới hạn của bản thể trong những triết lý về nhân sinh và vũ trụ, ta
sẽ hiểu mỗi giọt s-ơng có chiều sâu đại d-ơng vĩ đại, một cánh hoa anh đào rơi gợi cảm giác phù du của mọi kiếp sinh linh"[4,79]
1.3.3 Truyện trong lòng bàn tay là một đóng góp lớn của Y.Kawabata trên hành trình phục h-ng văn xuôi Nhật Bản
Nh- chúng ta đã biết, sáng tác văn học chịu ảnh h-ởng không phải chỉ một loạt điều kiện xã hội trong đó nó ra đời, mà còn cả hệ thống di sản tinh thần văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc thể hiện qua các tác phẩm -u tú nhất của nghệ thuật ngôn từ
Đối với Y.Kawabata, một trong những nguồn cổ vũ và tác động mạnh mẽ nhất đến việc hình thành nên khuynh h-ớng thẩm mĩ của ông là tác phẩm văn học cổ điển trứ danh của Nhật Geji monogatari (truyện Genji) - một thiên truyện
đ-ợc viết với trình độ nghệ thuật điêu luyện, một thứ "tiểu thuyết tâm lý" kể về cuộc đời của Genji vĩ đại - cuốn tiểu thuyết đầu tiên trong lịch sử văn học thế giới Truyện Genji là thánh th- của cái đẹp trong văn hoá Nhật Bản Sự tôn thờ
vẻ đẹp của thời Heian đ-ợc thể hiện tinh tế và đa ph-ơng trong tác phẩm này và băng qua hàng trăm năm, ng-ời dân xứ sở hoa anh đào vẫn coi thiên tiểu thuyết
Trang 37này là kiệt tác bậc nhất trong kho tàng văn học của mình nh- ng-ời Việt Nam nghĩ về Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du vậy! Mọi ph-ơng diện văn hoá của Nhật Bản (thơ ca, tiểu thuyết, hội hoạ, sân khấu, v-ờn cảnh …) đều thấm
đ-ợm màu sắc Genji
Với Kawabata, nhiều tác phẩm -u tú của văn học Nhật Bản đã ảnh h-ởng
rõ rệt đến tài năng sáng tạo của ông, trong đó có truyện Genji Kiệt tác này đã tác động sâu sắc đến việc hình thành khiếu thẩm mỹ và ngôn ngữ của ông Kawabata đã từng viết "Nhiều tác giả sau này cố bắt ch-ớc Genji nh-ng đều thua xa nó về mọi mặt Không phải bàn cãi gì nữa, bút pháp của Genji thật là vô song Phong cảnh Nhật với sắc trời thay đổi theo bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, hình ảnh những ng-ời đàn ông và ng-ời phụ nữ Nhật đ-ợc mô tả rõ ràng, sinh
động đến mức t-ởng t-ợng nh- trông thấy con ng- ời bằng x-ơng, bằng thịt" [18,1047] Tác phẩm -u tú của tác giả cổ điển Nhật đó Kawabata luôn bị hấp dẫn bởi những t- t-ởng cao th-ợng, bởi những quan niệm về cái đẹp nh- yếu tố quan trọng nhất cảu văn hoá và sức mạnh đạo đức, có ảnh h-ởng vô cùng to lớn
đến quan hệ con ng-ời và thế giới tinh thàn của mỗi cá nhân T- t-ởng về cái
đẹp bên trong, về những giá trị vĩnh hằng của nó trong đời sống con ng-ời và trong nghệ thuật luôn luôn quyến rũ nhà văn, ám ảnh đầu óc ông, ăn sâu vào tiềm thức ông trong suốt con đ-ờng sáng tạo Và băng qua hàng thế kỷ thời gian
" niềm bi cảm aware, cái cảm xúc xao xuyến vô th-ờng nhân gian, cái cảm thức
đ-ợc thể hiện thâm trầm nhất trong cõi mênh mông, trong kiệt tác Genji… trong thơ Tanka, Haiku… lại đ-ợc truyền xuống ngòi bút Kawabata"[18,86]
Trong văn học Nhật Bản hiện đại, hơn ai hết Kawabata là nghệ sỹ của niềm bi cảm aware ấy, phục sinh linh hồn của cái đẹp mà nàng Murasaki thiên tài của nghìn năm tr-ớc đã thể hiện một cách thần tình Sau kiệt tác Genji, sau thơ Tanka, Haiku, ng-ời Nhật chờ đợi một điều gì đó có ý nghĩa cho nền văn học của mình Và phải hơn 10 thế kỷ sau, từ "Nhật ký tuổi 16", "Cô vũ nữ xứ Izu", đến "Truyện trong lòng bàn tay" rồi những tiểu thuyết (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc…), Kawabata đã làm sống dậy một nền văn ch-ơng Nhật Bản Và ông
Trang 38xứng đáng đ-ợc mệnh danh là "ng-ời phục sinh văn xuôi Nhật Bản" Những sáng tác của ông luôn bám rể sâu vào mạch nguồn văn hoá dân tộc lại không ngừng v-ơn lên bám lấy những t- t-ởng mang tầm thời đại đã làm nên những kiệt tác mang đậm tính truyền thống - hiện đại
Việc phục h-ng nền văn học dân tộc nó gắn với quan điểm của Kawabata
về con đ-ờng kiếm tìm, sáng tạo nghệ thuật của ông Và trên những quan điểm
về con đ-ờng kiếm tìm, sáng tạo nghệ thuật của mình, Kawabata đã bắt gặp R.Tagore Cả R.Tagore và Y.Kawabata b-ớc vào con đ-ờng sáng tạo nghệ thuật khi mà nên văn hoá của dân tộc đang đứng tr-ớc cuộc xâm lăng ồ ạt và nguy cơ
bị đồng hoá của văn hoá ph-ơng Tây Hai ông đã chứng kiến những cuộc kiếm tìm con đ-ờng phát triển văn hoá, văn học dân tộc mình
Đối với Kawabata, sau chiến tranh thế giới thứ II n-ớc Nhật bị bao phủ một không khí nhục nhã kèm theo đó là nỗi đau tinh thần với những mất mát ghê gớm về vật chất và tinh thần của ng-ời dân Nhật Bản N-ớc Nhật đang đứng tr-ớc sự xâm lăng ồ ạt của văn hoá ph-ơng Tây, đặc biệt là văn hoá Mỹ Những truyền thống văn hoá tốt đẹp có nguy cơ bị băng hoại bởi lối sống thực dụng
Điều này đã ảnh h-ởng không nhỏ đến t- t-ởng, tình cảm của những nhà văn chân chính, trong đó có Kawabata - ng-ời luôn kiêu hãnh và tự hào về văn hoá truyền thống của dân tộc Trong bối cảnh đó Kawabata đã chứng kiến các cuộc kiếm tìm con đ-ờng phát triển văn hoá văn học dân tộc Ngay những năm 20 của thế kỷ XX trên văn đàn Nhật Bản đã xuất hiện một số tr-ờng phái sáng tác, nh-: Shirakaba, Shimshicho, vô sản, đại chúng Giữa các tr-ờng phái ấy Kawabata không bị lệ thuộc vào bất cứ tr-ờng phái nào, ông tự tìm cho mình con đ-ờng đi riêng Cùng với các nhà văn Yokomitsu Riichi (1898 - 1947), Kataka Tetsubei (1894 - 1944)… thì Kawabata sáng lập tờ Tạp chí văn nghệ thời
đại (1924 - 1927) và nhen nhóm phái sáng tạo Tân cảm giác với chủ tr-ơng: dùng trực giác đến với mọi sự vật, nhất là đến với cái đẹp Đây có thể xem là
đóng góp lớn của Kawabata cho văn học Nhật Bản, đặc biệt là trong bối cảnh chủ nghĩa duy lý của ph-ơng Tây đang tràn vào Nhật Bản
Trang 39Bằng cuộc đời sáng tạo không mệt mọi Kawabata đã làm sống dậy nền văn xuôi Nhật Bản Đối với truyện trong lòng bàn tay đó là cuộc hành h-ơng đi tìm cái đẹp của ng-ời nghệ sỹ Cái đẹp trong truyện trong lòng bàn tay là cái
đẹp mà chúng ta phải cảm nhận bằng tất cả mọi giác quan, hay nói cách khác là phải cảm nhận bầng tâm hồn mình Đây chính là ngọn nguồn cho sáng tác của Kawabata, trong đó có truyện trong lòng bàn tay đều toát lên âm h-ởng của một
"du khách u buồn lang thang đi tìm cái đẹp"[17,5] Nếu nh- Tagore đ-ợc mệnh danh là "nhà cách tân vĩ đại", là "ngôi sao sáng của ấn Độ phục h-ng thì Kawabata đ-ợc tôn x-ng là "ng-ời phục sinh văn xuôi Nhật Bản"
Việc tiếp thu những tinh hoa truyền thống của dân tộc, điều này không
đồng nghĩa với việc ông phủ nhận hoàn toàn những ảnh h-ởng mà văn hoá ph-ơng Tây mang lại nh-ng ông nhận thấy những hạn chế của nó Trong thời gian khoảng từ năm 1924 đến 1927 khi lập ra tờ Tạp chí văn nghệ thời đại thì cũng chính là khoảng thời gian mà ông bị hấp dẫn bởi làn sóng ph-ơng Tây hoá thứ hai tại Nhật Bản Ông đã từng viết "đôi mắt chúng tôi cháy lên niềm khát vọng v-ơn tới những biểu hiện của niềm vui đ-ợc thảo luận với nhau những gì mới lạ" [10,87] Và quả đúng nh- vậy, lý thuyết thẩm mỹ và nhiều sáng tác của
ông chịu nhiều ảnh h-ởng của nền học thuật châu Âu đ-ơng thời, bao gồm chủ nghĩa ấn t-ợng Pháp qua đại diện Marcel Proust (1871 - 1922), thủ pháp dòng ý thức trong sáng tác của James Joyce (1822 - 1931) và lý thuyết phân tâm học của Sigmund Freud (1856 - 1939) Trung thành với truyền thống yêu cái đẹp của dân tộc nh-ng trong sáng tác của ông có thể thấy đ-ợc sự hài hoà của phong cách Đông - Tây ở hệ thống nhân vật, chi tiết liên truyện Đặc biệt các nhân vật trong tác phẩm của ông đều có thiên h-ớng đi kiếm tìm vẻ đẹp Trong truyện trong lòng bàn tay thì nhân vật ng-ời lữ khách xuất hiện ở hầu hết các tác phẩm
và trong suốt cuộc đời mình, ng-ời lữ khách nguyện ra đi để kiếm tìm cái đẹp
đã mất Trong truyện trong lòng bàn tay, Kawabata còn công khai nói đến Freud, đến giải phẩu y học hiện đại Truyện trong lòng bàn tay thì thủ pháp
Trang 40dòng ý thức cũng đ-ợc Kawabata chú ý và sử dụng nó trong tác phẩm của mình
"Dòng ý thức" là một khuynh h-ớng văn học tiêu biểu của thế kỷ XX, chủ yếu
là h-ớng tới tái hiện đời sống nội tâm cảm xúc và liên t-ởng tự do của con ng-ời" [18,1095] ở đây, Kawabata đã vận dụng sáng tạo cách viết dòng ý thức Vì vậy, các hồi ức, kỷ niệm của nhân vật đ-ợc phớt lờ trình tự thời gian mà phụ thuộc vào những liên t-ởng trong tâm hồn nhân vật Phong cách hiện đại - cụ thể hơn là những kiến giải về thế giới vô thức của Freud - còn in dấu trong tác phẩm của Kawabata qua một thủ pháp khác: không gian giấc mơ huyền ảo nhờ cách khai thác các giấc mơ tài ba của mình, Kawabata đã tạo đ-ợc sự tác động trở lại tr-ớc lối viết huyền ảo của ph-ơng Tây cụ thể là qua G.Marquez
Chúng ta thấy truyện trong lòng bàn tay là một thể tài hiện đại và Kawabata đã khai sinh ra tên gọi này cho các tác phẩm truyện ngắn của mình Với thể tài hiện đại, nh-ng truyện trong lòng bàn tay là những sáng tác gắn bó với truyền thống - một truyền thống văn ch-ơng cắm rể sâu vào thế giới hiện thực vào tâm linh con ng-ời, kiếm tìm sự hoà diệu giữa hai thế giới ấy Có thể nói, truyện trong lòng bàn tay đã m-ợn những kỷ thuật văn ch-ơng và thể tài hiện đại, Kawabata đã phục sinh văn xuôi Nhật Bản bằng cách đan dệt những yếu tố cũ và mới, thực và ảo, sống và chết… Dù có khát vọng cái mới nh-ng trong huyết quản của Kawabata vẫn là dòng máu của xứ sở hoa anh đào: "tôi đã tiếp nhận lễ rửa tội nơi văn ch-ơng Tây ph-ơng hiện đại và tôi cũng đã bắt ch-ớc nó, nh-ng chủ yếu tôi là một ng-ời Đông ph-ơng và suốt 15 năm qua tôi ch-a từng đánh mất phong cách ấy của mình" [10,87] - nh- lời Kawabata tâm
sự
R.Tagore trong lần đến thăm Nhật năm 1916 có phát biểu trong bài mang tên Tâm hồn Nhật nh- sau "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện cho thế giới thấy rõ bản chất dân tộc mình Nếu một dân tộc không đem lại cho thế giới một điều gì cả thì phải xem đó là một tỗi lội của dân tộc… Mỗi dân tộc có trách nhiệm làm cho cái -u tú nhất mà nó có thể trở thành tài sản chung của