TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH PHẠM THỊ HƯƠNG VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN VÀ TIỀN ĐỊNH CỦA ĐOÀN LÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGHỆ AN - 2017... TRƯ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HƯƠNG
VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
VÀ TIỀN ĐỊNH CỦA ĐOÀN LÊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ HƯƠNG
VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH
TRONG TIỂU THUYẾT GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
VÀ TIỀN ĐỊNH CỦA ĐOÀN LÊ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS ĐINH TRÍ DŨNG
NGHỆ AN - 2017
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 10
1.1 Vị trí của hôn nhân - gia đình trong tâm thức của người Việt 10
1.2 Vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 11
1.2.1 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết 1930 - 1945 11
1.2.2 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết 1945 - 1975 18
1.2.3 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết sau 1975 22
1.3 Vị trí của Gia đình bé mọn và Tiền định trong các tiểu thuyết giai đoạn sau 1975 viết về hôn nhân - gia đình 25
1.3.1 Sơ lược về hành trình sáng tác của Dạ Ngân và Đoàn Lê 25
1.3.2 Gia đình bé mọn và Tiền định - hai tiểu thuyết được dư luận chú ý trên đề tài hôn nhân và gia đình 29
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2 NHỮNG SUY TƯ VỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH ĐƯỢC QUAN TÂM THỂ HIỆN TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN VÀ TIỀN ĐỊNH 32
2.1 Những góc nhìn về hôn nhân - gia đình trong Gia đình bé mọn và Tiền định 32
2.1.1 Gia đình - tế bào bé nhỏ nhưng vô cùng quan trọng của đời sống xã hội 32
Trang 42.1.3 Đổ vỡ gia đình - sự khởi đầu của nhiều nỗi bất hạnh 38
2.2 Những lý giải khác nhau về nguyên nhân đổ vỡ trong hôn nhân - gia đình 47
2.2.1 Hôn nhân không tình yêu 47
2.2.2 Sự khác biệt về tính cách, quan niệm sống 50
2.2.3 Sự tác động của hoàn cảnh và sự xuống cấp của đạo đức xã hội 59
2.3 Vấn đề nữ quyền qua thể hiện số phận bi kịch của người phụ nữ 63
2.3.1 Cảm thông sâu sắc với những bi kịch của người phụ nữ 66
2.3.2 Đề cao vẻ đẹp, khát vọng tình yêu đích thực và hạnh phúc của người phụ nữ 77
2.4 Những suy tư về giải pháp để gìn giữ hạnh phúc gia đình 78
2.4.1 Để có một gia đình hạnh phúc, hôn nhân nhất thiết phải được xây dựng trên nền tảng tình yêu và sự tin tưởng 78
2.4.2 Để có một gia đình hạnh phúc các thành viên cần phải tinh thần trách nhiệm 79
2.4.3 Để có một gia đình hạnh phúc, mỗi thành viên phải biết hoàn thiện bản thân và biết tôn trọng nhau trong cuộc sống 81
Tiểu kết chương 2 84
Chương 3 NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN VÀ TIỀN ĐỊNH 85
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 85
3.1.1 Chú trọng xây dựng các nhân vật nữ 85
3.1.2 Đào sâu vào thế giới nội tâm nhân vật 93
3.2 Nghệ thuật tổ chức không gian, thời gian 98
3.2.1 Không gian đời tư, không gian gia đình 98
3.2.2 Thủ pháp thời gian đồng hiện 101
Trang 53.3.1 Giọng trữ tình sâu lắng 108
3.3.2 Giọng suy tư, triết lí 112
3.3.3 Giọng giễu nhại, mỉa mai 114
3.4 Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ 117
3.4.1 Sử dụng lớp từ sinh hoạt gần gũi đời sống 117
3.4.2 Sử dụng phương ngữ 118
Tiểu kết chương 3 120
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong tâm thức của người Việt, gia đình có một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách cá nhân và phát triển cộng đồng xã hội Bởi gia đình vững mạnh, xã hội sẽ phồn vinh Trải qua thời gian lịch sử quan niệm về gia đình có sự đổi thay Đã từng có một thời vấn đề hôn nhân gia đình trở thành chuẩn mực, là thước đo đạo đức của con người Thế nhưng hình thái xã hội thay đổi, vấn đề hôn nhân - gia đình cũng thay đổi theo nhất
là từ sau đại thắng mùa xuân năm 1975, khi đất nước ta bước vào một kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập, tự do, hội nhập trên mọi mặt đời sống kinh
tế, xã hội Nền kinh tế thị trường đã mang đến cho nhân dân ta cuộc sống tốt đẹp hơn nhưng cũng chính những mặt trái của nó đã làm tha hóa, băng hoại đạo đức ở một bộ phận người dân vốn đặt danh vọng, tiền tài, địa vị trên tất
cả Giờ đây những mối quan hệ vốn thiêng liêng, cao cả như hôn nhân - gia đình cũng đang đứng trước những nguy cơ rạn nứt, những mâu thuẫn không thể dung hòa
1.2 Vấn đề hôn nhân gia đình từ lâu đã trở thành mối quan tâm sâu sắc của các nhà quản lý, các tổ chức xã hội Đây cũng là mảnh đất màu mỡ cho cảm hứng sáng tác của các văn nhân, bởi văn học luôn là tấm gương phản ánh chân thực những biến đổi của thời đại Sau năm 1975, nhất là sau thời kì đổi mới, xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc trên mọi mặt đời sống kinh
tế, văn hóa- xã hội, văn học vì thế cũng phải đổi mới để bắt kịp thời đại Từ
đề tài chiến tranh, văn học chuyển sang khai thác đề tài đời tư, thế sự, quan tâm nhiều hơn đến đời sống con người cá nhân Và hôn nhân - gia đình trở thành đề tài mang tính thời sự với nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn Nhiều nhà văn đã khai thác đề tài này, từ người dày dặn kinh nghiệm như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, đến các cây bút trẻ như Tạ Duy
Trang 7Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là các tác giả nữ: Y Ban,
Đỗ Hoàng Diệu, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Dạ Ngân và Đoàn Lê…
1.3 Vấn đề hôn nhân - gia đình trong hai tác phẩm Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê đã sớm được giới nghiên cứu quan
tâm, tìm hiểu Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào khảo sát, làm rõ những đặc điểm của hai cuốn tiểu thuyết này về vấn đề hôn nhân - gia đình Đó là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài: “Vấn đề hôn nhân - gia đình trong
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê” nhằm chỉ ra những
đóng góp về nội dung và nghệ thuật của hai nhà văn cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại về đề tài hôn nhân - gia đình
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Qua tìm hiểu, tôi nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu về vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung và trong
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê nói riêng khá phong
phú và đa dạng Tuy nhiên trong một thời gian nhất định khó có thể điểm hết được các bài viết, các ý kiến đánh giá về vấn đề này Ở đây tôi chỉ xin điểm qua một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
2.1 Những nghiên cứu bàn về vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói chung
Nghiên cứu về vấn đề hôn nhân- gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại cho đến nay có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu Có thể nói tác giả Nguyễn Công Thanh là người khá tâm huyết về vấn đề này Trong
luận văn thạc sĩ Ngữ văn: Vấn đề gia đình trong sáng tác của Ma Văn Kháng
từ 1985 đến nay, Nguyễn Công Thanh viết: “Mùa lá rụng trong vườn gióng
lên hồi chuông cảnh tỉnh những người có tư tưởng bảo thủ cố níu kéo kiểu gia đình truyền thống” Tác giả nhận thấy tác phẩm còn đề cập đến một thực trạng đáng báo động của xã hội buổi giao thời đó là: “Không ít người có lối sống ích kỉ chạy theo dục vọng cá nhân, ham muốn vật chất, thoát ly truyền
thống phá vỡ mọi chuẩn mực đạo đức xã hội” [58]
Trang 8Trong bài viết Bi kịch gia đình trong tiểu thuyết Mùa lá rụng trong
vườn của Ma Văn Kháng (đăng trên Tạp chí khoa học Đại học Vinh, số 4b,
năm 2006), Nguyễn Công Thanh đã điểm lại những trang viết về gia đình trong văn học Việt Nam từ những năm 30 của thế kỉ XX đến nay và khẳng định: “Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng có công khơi lại mạch viết
về gia đình vốn bị ngưng đọng gần nửa thế kỉ trong văn học Việt Nam” Tác giả nhận xét: “Truyền thống văn hóa dân tộc và truyền thống gia đình Việt Nam cùng sự đổi mới và thích ứng của nó là vấn đề cơ bản mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm Khăng khăng giữ lại tất cả những gì của ngày xưa không phải
là chuyện hợp thời, nhưng thoát ly truyền thống, phá vỡ mọi nề nếp nhất định
sẽ dẫn tới bi kịch” [57] Tác giả khẳng định Mùa lá rụng trong vườn là một
tác phẩm để lại nhiều dư âm trong lòng người đọc, giúp họ nhận thức được vai trò quan trọng của mái ấm gia đình Đồng thời qua tác phẩm nhà văn gửi gắm thông điệp rằng đổi mới phải gắn liền với kế thừa, đổi mới nhưng không bao giờ quên những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc
Tác giả Chu Thị Thanh Hương trong luận văn thạc sĩ ngữ văn, với đề
tài: Vấn đề xung đột gia đình trong hai tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn và
gia đình trên bình diện văn học so sánh đã lựa chọn hai tác phẩm tiêu biểu về
đề tài gia đình của Việt Nam và Trung Quốc nhằm làm rõ điểm tương đồng
và khác biệt trong việc thể hiện các xung đột gia đình trong hai tiểu thuyết từ
đó đưa ra nhận xét: “Mùa lá rụng trong vườn đã thành công trong việc thể hiện sự không phù hợp của gia đình trong điều kiện lịch sử cụ thể, lựa chọn xây dựng các hình tượng nhân vật tiêu biểu đến sự tập trung miêu tả những mối xung đột và cách thức thể hiện xung đột đó” [20, 80]
Năm 2011, Nguyễn Thị Thủy trong luận văn thạc sĩ của mình đã nghiên
cứu về đề tài: Vấn đề hôn nhân- gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Đây là công trình nghiên cứu có khảo sát sâu rộng về vấn đề hôn nhân- gia đình trong nhiều tác phẩm nhất Tác giả nhận thức về vấn đề hôn nhân, gia đình
Trang 9hiện nay: “Không dừng lại ở chức năng giáo dục thẩm mỹ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú, Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Tiễn biệt những ngày buồn, Phố và Gia đình bé mọn còn phát hiện và dự báo những vấn đề có tính chất nóng hổi của xã hội: Mâu thuẫn hôn nhân gia đình hiện nay không dừng lại giải quyết trong nội bộ một gia đình mà nó còn đang diễn ra hết
sức gay gắt, phức tạp ảnh hưởng tới toàn xã hội” [64]
2.2 Những nghiên cứu bàn về vấn đề hôn nhân - gia đình trong
“Gia đình bé mọn” của Dạ Ngân và “Tiền định” của Đoàn Lê
2.2.1 Những nghiên cứu bàn về Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân là một cuốn tiểu thuyết của một cây bút
nữ cá tính, giàu màu sắc tự truyện, nên xung quanh bài viết này có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu đáng quan tâm
- Trần Thiên Đạo khi viết Gia đình bé mọn - lời tự thú chân thật, cho rằng: “Chính thuật kể chuyện truyền thống vọt ra từ gan ruột và máu huyết,
không hoa hòe, không kiểu cách, không cầu kỳ, có thể bảo là cổ điển đó mới
là thành tố bất phân với nội dung biến thiên truyện gia đình bé mọn của Dạ Ngân thành tác phẩm độc đạo- độc đạo chứ không phải độc đáo” [13]
- Hoàng Xuân Tuyền bài phỏng vấn nhà văn Dạ Ngân trên báo Văn
nghệ trẻ với tiên đề Gia đình lớn của gia đình bé mọn đã đưa ra nhận định:
"Gia đình bé mọn" của chị được miêu tả trong bối cảnh của một "đại gia đình", ấy là xã hội Việt Nam thời kỳ vẫn thường được gọi tắt là "hậu chiến"? Đọc cuốn tiểu thuyết của chị, thấy một vấn đề cũng rất đáng được chú ý: sự thay đổi về hệ thống các giá trị hình thành nên quan niệm sống của các nhân vật đại diện cho những thế hệ: thế hệ bà cô Ràng, thế hệ Tiệp, thế hệ Vĩnh Chuyên [68]
- Trong bài Dạ Ngân - người đàn bà mang dấu chấm thiên di Dương
Bình Nguyên đã nhận xét: “Tôi cứ hình dung Dạ Ngân chính là nhân vật Tiệp trong tiểu thuyết Gia đình bé mọn của chị Tiệp là đại diện cho khao khát
Trang 10sống bản năng và thành thật của con người trước những biến động xã hội và
cả những lề thói đôi khi hủ lậu và khắc nghiệt, khiến con người hành xử với nhau một cách bạo tàn, giả dối Tất nhiên, cuốn tiểu thuyết ấy không phải là một cuốn tự truyện và hình dung của tôi chỉ là mong ước của một người đọc
Dạ Ngân nói, chị không viết tự truyện mà đã tiểu thuyết hoá một mặt cắt của
đời sống mà chính mình và nhiều người thân là nguyên mẫu ” [45]
- Tác giả Hoài Nam trong bài Gia đình bé mọn - bản dập- cuộc đời Dạ
Ngân đã bình luận: “Như tên gọi của tác phẩm cho biết, Gia đình bé mọn
trước hết là cuốn tiểu thuyết kể chuyện gia đình Đúng hơn là kể chuyện những gia đình của nhân vật trung tâm - nữ nhà văn tên Tiệp” Gia đình thứ nhất là gia đình lớn nơi đã sinh ra Tiệp, gia đình thứ hai là gia đình mà Tiệp
và người chồng tên Tuyên là những vật liệu xây dựng tỏ ra đã chẳng có chút kết dính nào ở những phẩm chất nhân tính cơ bản, và vì thế, tan vỡ là kết cục tất yếu của nó Gia đình thứ ba là gia đình với Đính người đã cùng Tiệp đi qua cái “đích lịch trình khổ nạn” là mười một năm yêu đương trong cảnh người Bắc kẻ Nam, trong cái nghèo đói đáng rùng mình của một thời bao cấp, trong
cả những điều tiếng tàn nhẫn của dư luận xã hội Con đường đời của Tiệp là
đi từ gia đình một đến gia đình ba.Tất nhiên, con đường ấy không hề bằng phẳng Để có được gia đình ba, gia đình lý tưởng của mình, Tiệp đã phải chịu nhiều trả giá Nhưng vượt lên trên tất cả Tiệp cũng cho thấy một mẫu hình phụ nữ chủ động lèo lái con thuyền cuộc đời mình, một kiểu phụ nữ kiên nhẫn tới mức “lì lợm” để sống thật và sống đẹp với chính nhu cầu tinh thần của mình Và ở phương diện này, phải chăng “Gia đình bé mọn” chính là thiên tiểu thuyết tiếp tục cái mạch mà tiểu thuyết cổ điển thế kỷ XIX rất hứng thú: khẳng định cá nhân, ca ngợi những con người dám đương đầu với tất cả để bảo vệ hạnh phúc, bảo vệ phẩm giá của mình?” [43]
Trong luận văn thạc sĩ ngữ văn: Phong cách truyện ngắn Dạ Ngân, tác
giả Hoàng Thị Kim Cúc cũng dành nhiều trang để nghiên cứu về Gia đình bé
Trang 11mọn Qua nghiên cứu, tác giả đã rút ra bài học: “Hôn nhân không tình yêu là hôn nhân cằn cỗi sớm muộn cũng sẽ tan vỡ, chỉ có tình yêu chân chính mới là sức mạnh để con người vượt qua phong ba bão tố và đưa họ đến bến bờ hạnh phúc” [7] Mặc dù trong đề tài này, tác giả chú trọng hơn đến phong cách sáng tác truyện ngắn nhưng cũng đó chị đã đưa ra nhận xét khái quát về vấn
đề hôn nhân - gia đình được phản ánh trong sáng tác Dạ Ngân nói chung:
“Gia đình để ta nhớ đến, hướng về những lúc chợt thấy bất an Nhưng cũng gia đình có người lại muốn ra đi, muốn thoát khỏi nó càng nhanh càng tốt Coi trọng hay xem nhẹ điều đó còn phụ thuộc vào cảm thức của từng cá nhân đang tồn tại trong không gian gia đình nhất định” [7, 52]
2.2.2 Những nghiên cứu bàn về “Tiền định” của Đoàn Lê
Có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu nói về Tiền định của
Đoàn Lê trong số các tác giả ấy có nhà văn Hồ Anh Thái- người đã có cả một quá trình dài dõi theo những sáng tác của nữ sĩ Trong lời giới thiệu cuốn tiểu
thuyết Tiền định, Hồ anh Thái có viết: “Một câu chuyện thật được gia giảm
bằng những chi tiết, những tình huống hư cấu thú vị Những chi tiết tâm linh khiến người ta ngờ ngợ, rồi yếu tố huyền ảo đưa vào khiến người ta bất ngờ
Và chính yếu tố huyền ảo này làm cho không khí hiện thực trở nên đa diện và
hấp dẫn hơn” [55]
Bài viết Đọc tiểu thuyết Tiền định của nhà văn Đoàn Lê, tác giả Nguyễn Xuân Khánh cho thấy Tiền định là cuốn tiểu thuyết thể hiện một
bước tiến mới, có nhiều đổi mới trong cách viết tiểu thuyết của Đoàn Lê:
“Nếu như ở cuốn trước tác giả thiên về miêu tả sự việc thì sang cuốn này tác giả thiên về tâm trạng và số phận nhân vật Nội dung cuốn sách mới này cũng rộng rãi, khái quát hơn Nhất là cách viết của tác giả, có nhiều đổi mới” [32]
Tác giả chỉ ra đổi mới trước hết của Tiền định là cách xây dựng cốt truyện
Truyện xoay quanh một nhân vật mà tác giả kể lúc thì ở ngôi thứ nhất, lúc lại
ở ngôi thứ ba Cách kể chuyện không theo tuyến tính từ nhỏ đến lớn mà bằng
Trang 12phương pháp liên tưởng…Về phương diện cấu trúc, tác giả cho rằng đây là cuốn tiểu thuyết gồm nhiều truyện ngắn gộp lại mà ở đó nhân vật trung tâm
gắn kết các câu chuyện ấy lại với nhau là cô Chín Ở Tiền định Đoàn Lê đã đề
cập đến vấn đề mà rất nhiều nhà tiểu thuyết hậu hiện đại quan tâm: vấn đề nữ quyền Cuối cùng tác giả kết luận: “Tôi nghĩ, ở thời đại ngày nay, không có khuynh hướng văn học nào độc tôn và thống trị Thời đại mới bao dung tất cả Viết theo kiểu truyền thống cũng được, miễn là hay Tuy nhiên, trong sách có những điều hiện đại mới mẻ cũng là điều rất đáng hoan nghênh Một lần nữa, tôi xin chúc mừng thành công của Đoàn Lê, và mong được đọc những tác phẩm mới của tác giả” [32]
Trong luận văn thạc sĩ ngữ văn: Nhân vật nữ trong truyện ngắn và tiểu
thuyết của Đoàn Lê, Trần Ngọc Thạch dành nhiều trang viết về Tiền định Tác
giả viết: “Đây là cuốn tiểu thuyết mang màu sắc tự truyện, ở đó nhà văn đã
“tự mổ xẻ một cách thành thực nhất, không ngại ở những vết dao sắc cứa vào những sai lầm riêng tư” Tính chất luận đề của tiểu thuyết bộc lộ rất rõ, từ tên cuốn sách cho tới cách lặp đi lặp lại những suy nghĩ về số mệnh của nhân vật chính Chín đã luôn nỗ lực vùng vẫy để chạy trốn những gì nàng cho là tiền định, nhưng chạy không thoát khỏi số trời Cuộc đời nghiệt ngã đã đày đọa nàng đến tận cái chết Qua tiểu thuyết, Đoàn Lê muốn thể hiện một thông điệp mang tính triết lý, đậm màu sắc duy tâm, lý giải mối quan hệ giữa chữ tài và chữ mệnh Ngoài câu chuyện về một cuộc đời, một tiền định, cuốn tiểu thuyết tái hiện cả một thời đại mà cô Chín sống Điểm hấp dẫn của cuốn tiểu thuyết
là giọng kể chuyện tình cảm, những đối thoại hấp dẫn và sự thú vị của từng chi tiết được nhà văn chọn lọc” [54, 19-20]
Trong buổi trả lời phỏng vấn của Thủy Chi trong bài Nữ sĩ Đoàn Lê tâm
sự về Tiền định, nhà văn đã bày tỏ tâm sự và nói lên mong muốn của mình rằng:
“Tiểu thuyết là hồi ức của người phụ nữ tên Chín về cuộc đời đã qua Tiền định
là một câu chuyện hư cấu mà ở đó, nhân vật Chín là hiện thân phần nào con
Trang 13người của tôi Bản thân tôi là một người có cuộc sống tự nhận là khá truân chuyên, đó chính là “chất liệu” để viết, là nguồn cảm hứng và vốn kiến thức để tôi hoàn thành tác phẩm Tôi muốn xây dựng một câu truyện vừa như thực, lại
như một giấc mơ về cuộc đời của người đàn bà trong xã hội hiện nay” [6]
Như vậy mặc dù có khá nhiều công trình khoa học và bài viết nghiên cứu về vấn đề hôn nhân- gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói
chung cũng như vấn đề hôn nhân- gia đình trong hai tác phẩm Gia đình bé
mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê nói riêng nhưng chưa có công
trình nào khảo sát hai tác phẩm này trên bình diện đối sánh Những ý kiến đánh giá, những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Vấn đề hôn nhân - gia đình trong
hai tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền Định của Đoàn Lê
3.2 Phạm vi văn bản khảo sát
Luận văn tập trung vào việc khảo sát hai cuốn tiểu thuyết:
- Gia đình bé mọn - Dạ Ngân (Nxb Thanh Niên, 2010)
- Tiền định - Đoàn Lê (Nxb Hội Nhà văn, 2009)
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn, khi cần thiết để đối chiếu, chúng tôi còn tham khảo một số tác phẩm khác của Dạ Ngân, Đoàn Lê
và một số tiểu thuyết Việt Nam hiện đại viết về đề tài hôn nhân và gia đình
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 144.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát những vấn đề về hôn nhân- gia đình được quan tâm, thể hiện
trong tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê
- Khảo sát nghệ thuật thể hiện vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu
thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê
- Bước đầu chỉ ra những đóng góp của Dạ Ngân và Đoàn Lê cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại về đề tài hôn nhân - gia đình
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp thống kê - phân loại
6 Đóng góp của luận văn
Tìm hiểu về vấn đề hôn nhân - gia đình trên phương diện đối sánh hai
hai tiểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân và Tiền định của Đoàn Lê,
chúng tôi hy vọng góp thêm một góc nhìn mới, đa diện hơn về bức tranh hôn nhân- gia đình người Việt từ đó gợi ý những giải pháp thích hợp để giữ gìn hạnh phúc gia đình Qua luận văn chúng tôi cũng gửi gắm những suy tư, trăn trở về vấn đề “nữ quyền” vốn rất được quan tâm, chú ý trong xã hội hiện nay
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết
Việt Nam hiện đại Chương 2: Những suy tư về hôn nhân - gia đình được quan tâm
thể hiện trong Gia đình bé mọn và Tiền định
Chương 3: Nghệ thuật thể hiện vấn đề hôn nhân - gia đình trong
Gia đình bé mọn và Tiền định
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Vị trí của hôn nhân - gia đình trong tâm thức của người Việt
Gia đình có một vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách cá nhân và phát triển cộng đồng xã hội Ănggen nói: Tình yêu chân chính là tình yêu dẫn đến hôn nhân Hôn nhân là điều kiện khởi đầu của một gia đình Chứng tỏ hôn nhân là một trong những sự kiện trọng đại của cuộc đời mỗi con người Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người, cũng là nơi gìn giữ, vun đắp và phát huy những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc
Gia đình luôn được coi là một trong những yếu tố then chốt nuôi dưỡng, giáo dục nhân cách con người Gia đình không đơn thuần là nơi nghỉ ngơi cho các thành viên sau một ngày làm việc mệt nhọc, mà là nơi trẻ em được giáo dục, nuôi nấng để khôn lớn, trưởng thành Cuộc sống vốn luôn tồn tại nhiều mặt đối lập: người tốt, kẻ xấu, kẻ thất bại, người thành danh, nhưng dù hạnh phúc hay khổ đau, vinh quang hay sa ngã thì gia đình vẫn là nơi mở rộng vòng tay đón chúng ta trở về Sự trưởng thành của các thành viên trong gia đình không phải chỉ do yếu tố vật chất mà quan trọng hơn cả là yếu tố tâm lý, tình cảm Họ là những người quyết định sự tồn vong của xã hội bởi họ chính là những công dân tương lai của quốc gia, dân tộc Muốn xã hội ổn định, tiến bộ, trước tiên phải hoàn thiện gia đình bởi gia đình không chỉ là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, là vòng tay che chở cho con người trước sóng gió, biến cố của cuộc đời mà còn là nơi rèn luyện nhân cách cá nhân Con người là tổng hòa các mối quan hệ khác nhau: gia đình- bạn bè- xã hội nhưng trong các mối quan hệ ấy, gia đình vẫn là nơi gắn bó, thiêng liêng nhất trong tâm hồn mỗi người
Trang 16Vì thế có thể khẳng định rằng trong tâm thức của người Việt, gia đình luôn là nơi quan trọng nhất Nó vừa là tổ ấm mang lại hạnh phúc cho đời sống
cá nhân, vừa là nơi góp phần không nhỏ trong việc xây dựng và bình ổn xã hội Vậy nên mỗi người phải luôn có ý thức xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình để nó thực sự trở thành bến đỗ bình yên nhất trong tâm hồn chúng ta
1.2 Vấn đề hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Văn học là một hình thái ý thức xã hội đặc thù phản ánh chân thực mọi mặt của cuộc sống con người Nếu như mỗi người coi gia đình là điểm tựa quan trọng nhất cho tâm hồn mình, thì văn học cũng xem vấn đề hôn nhân - gia đình là một trong những vấn đề then chốt được khá nhiều các tác giả quan tâm khai thác Tuy không phải là đề tài mới nhưng hôn nhân- gia đình lại là vấn đề không bao giờ cũ trong các sáng tác văn chương Nó trở thành đề tài lớn trong văn học nói chung và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng qua tiến trình phát triển
1.2.1 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết 1930 - 1945
Năm 1858, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược nước ta Sau gần nửa thế kỷ bình định về mặt quân sự, đến đầu thế kỷ XX chúng mới thực sự khai thác thuộc địa về mặt kinh tế Sau cuộc khai thác ấy kéo theo những thay đổi lớn lao trong đời sống chính trị, văn hóa xã hội Việt Nam không còn là một nước thuần nông như xưa nữa, giờ đây một số thành phố công nghiệp ra đời, các đô thị mọc lên như nấm ở nhiều nơi Cơ cấu xã hội thay đổi, xuất hiện nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp mới như: tư sản, tiểu tư sản, công nhân, dân nghèo thành thị Đây là một lớp công chúng có đời sống tinh thần và thị hiếu mới Họ thoát khỏi hệ tư tưởng nho giáo phong kiến từ ngàn năm kìm hãm con người để tìm đến với tư tưởng phóng khoáng của phương Tây Con người bấy giờ như chợt bừng tỉnh ý thức cá nhân Họ thấy vai trò của cá nhân là rất to lớn đối với sự phát triển của xã hội Sự thay đổi trong tư duy mỗi con người đặt ra những vấn đề mới cho văn học Chưa bao giờ việc
Trang 17đề cao cá nhân lại trở thành một nội dung phổ biến trong văn học như giai đoạn này Nó được đề cập đến trên mọi thể loại nhưng tập trung nhất là trong tiểu thuyết của nhómTự lực văn đoàn
Các tác phẩm của Tự lực văn đoàn đề cao con người cá nhân, quyền cá nhân, nêu cao tinh thần phản phong, bảo vệ quyền sống cho con người đặc biệt đề cao tình yêu và hạnh phúc lứa đôi trong hôn nhân gia đình Tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn ủng hộ cái mới, kịch liệt chống lại lẽ giáo phong kiến cổ hủ, giả dối tàn ác Tự lự văn đoàn thường đặt các cô gái mới trong đại gia đình phong kiến để thể hiện mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ Họ chính là những chiến sĩ đấu tranh không mệt mỏi cho hạnh phúc cá nhân trong tình yêu, hôn nhân- gia đình
Trong xã hội phong kiến, người phụ nữ thường không chủ động trong tình yêu, hôn nhân mà thuận theo sự sắp đặt của cha mẹ Những cuộc hôn nhân
ấy không xuất phát từ tình yêu vậy nên trong nhờ, đục chịu May mắn có được người chồng tử tế thì có hạnh phúc bằng không cả cuộc đời họ cam chịu, nhẫn nhục, chịu đựng không than phiền, phản kháng bởi lễ giáo phong kiến bao đời nay mặc định trong tâm trí của họ tư tưởng “ Tam tòng”: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử Nghĩa là người phụ nữ không được quyền sống cho riêng mình, không được quyền quyết định hạnh phúc cá nhân
Tự lực văn đoàn không chấp nhận lối sống cam chịu ấy, nhân vật của
họ đấu tranh giải phóng bản thân mình Trong Đời mưa gió, Nhất Linh để cho
nhân vật của mình nổi loạn Tuyết - nhân vật chính trong truyện là một người phụ nữ có đủ đức tính để trở thành một người vợ đảm đang, ngoan hiền Nhưng cha mẹ bắt ép cô lấy một người chồng u mê dốt nát, bắt cô sống trong một khuôn khổ chật hẹp theo những giáo điều quy tắc gò bó của lễ giáo Tuyết không chấp nhận lối sống ấy, cô từ bỏ gia đình, không tái hôn sống một cuộc đời mưa gió: Không tình, không cảm chỉ coi lạc thú như một vị thuốc trường sinh
Trang 18Ở Lạnh lùng, Nhất Linh viết về nỗi đau khổ của người phụ nữ làm vợ
không có tình yêu, cả đời sống trong bất hạnh Không mạnh mẽ như Tuyết
trong Đời mưa gió, Nhung là một người vợ sớm góa chồng, trẻ trung, xinh
đẹp, khát khao yêu thương, mà phải chôn vùi tuổi xuân trong bốn bức tường nhà chồng Lễ nghi phong kiến, danh dự của bản thân và tiếng thơm của gia đình, tất cả những rào cản ấy đã ngăn cô không được đi bước nữa Nhung vẫn
là một người phụ nữ có trái tim cần sự yêu thương, chia sẻ Cô gặp và yêu Nghĩa, đã có những tháng ngày hò hẹn, những cuộc gặp gỡ táo bạo trong vườn nhà, trên chùa hay nơi quán trọ Mối tình vụng trộm ấy càng kéo dài bao nhiêu Nhung càng héo hon, sầu khổ bấy nhiêu Cô ngỏ ý với mẹ đẻ, đã quyết tâm vượt thoát khỏi ràng buộc: “Thầy mẹ không cho lấy thì con sẽ trốn đi” [36, 136] Nhưng với bản tính yếu đuối, cuối cùng Nhung vẫn chịu cảnh sống tẻ nhạt đi ngang về tắt với người mình yêu để giữ lấy tiếng thơm Nhất Linh đã đứng về phía người phụ nữ, chủ trương giải phóng họ ra khỏi quan niệm trinh tiết hẹp hòi
Với Nửa chừng xuân, Khái Hưng thông qua câu chuyện tình yêu giữa
Mai và Lộc mà lên án quan niệm môn đăng hộ đối của xã hội phong kiến Chỉ
vì Mai sinh ra trong một gia đình lao động nghèo mà bà Án coi thường, kiên quyết ngăn cản không cho Lộc cưới Mai ngay cả khi bà biết Mai đang mang trong mình giọt máu của Lộc Thế nhưng khi người con dâu mà đích thân bà lựa chọn không thể sinh đẻ thì bà lại tìm cách ép Mai về làm lẽ cho con trai bà Nhân vật bà Án điển hình cho những người đàn bà danh giá, quyền quý mà khắc nghiệt, ích kỉ, hẹp hòi Bà luôn kinh thường những người nghèo khổ, dùng tiền bạc, quyền lực chèn ép, áp đặt hạnh phúc của người khác Thế nhưng
bà không thực hiện được ý đồ của mình khi gặp Mai và Huy- họ là những người có tư tưởng tiến bộ, có ý thức đổi mới chống lại những quan niệm khắt khe, bảo thủ của xã hội phong kiến Vì thế Huy không ngại ngùng mà nói thẳng vào mặt bà Án: “Thưa cụ, cụ là cái biểu hiện, tức là cái đại diện cho nền luân lý
Trang 19cũ Mà tâm lý chúng cháu thì đã trót nhiễm tư tưởng mới, hiểu nhau khó lắm thưa cụ” [26, 18] Và Mai đã cương quyết trả lời bà: “Thưa cụ, sáu năm về trước hình như tôi đã trình cụ rằng nhà tôi không có mả lấy lẽ” [26, 18]
Trong Đoạn tuyệt, Nhất linh xây dựng thành công nhân vật Loan- một
cô gái có học thức Cô bị cha mẹ ép gả cho Thân- một chàng trai giàu có nhưng thất học, cổ hủ Ngày bà Phán Lợi- mẹ Thân mang lễ nghi qua nhà Loan, cô đã trốn đi tìm Dũng- người mà cô yêu thương để thổ lộ lòng mình nhưng thật trớ trêu- họ không gặp nhau Loan đành quay trở về chấp nhận lấy Thân, từ đó cuộc đời cô đầy trái ngang, nghiệt ngã, đêm tân hôn cô ví mình như thân phận gái giang hồ với biết bao ê chề, tủi nhục Và đau đớn hơn khi
cô nhận ra gia đình chồng lấy cô về vì chỉ cần người hầu hạ, phục vụ chứ không cần một nàng dâu Những tháng ngày làm vợ Thân là những tháng ngày chìm trong ác mộng bởi sự cay nghiệt của gia đình chồng Loan bị sẩy thai và không thể có con được nữa nên phải chấp nhận để Thân lấy vợ lẽ nhưng cô càng nhẫn nhịn, chịu đựng, càng cố gắng tận tụy với gia đình chồng bao nhiêu cô lại càng khổ ải, bất hạnh bấy nhiêu Loan cay đắng nhận ra:
“Nàng đã hèn nhát sống theo tục lệ, không có can đảm phá tan cái tục lệ mà cái học của nàng biết rằng đáng bỏ, đáng phá” [37, 288] Tức nước vỡ bờ, khi
bà Phán Lợi đánh đập, chửi bới, lăng mạ, xỉ nhục quá nhiều, Loan đã không còn im lặng được nữa Cô đã phản kháng, thẳng thắn nói vào mặt mẹ chồng: “ Không ai có quyền chửi tôi, không ai có quyền đánh tôi Bà là người tôi cũng
là người, không ai hơn ai kém ai” [37, 290] Sự phản kháng của Loan chính là
sự đấu tranh chống lại chế độ hà khắc, chống lại những lẽ giáo phong kiến đã
đè nặng lên đôi vai người phụ nữ suốt bao thế kỷ qua Cuối tác phẩm nhân vật trạng sư để nói thaytư tưởng của tác giả: “Con bà chết là lỗi tại bà Lỗi tại cái luân lý nửa mùa quá ư trái ngược kia Nhưng nếu vượt lên trên và nghĩ rộng
ra, không kể đến cá nhân nữa thì sự việc xảy ra không phải lỗi ở người nào cả,
mà là lỗi ở sự xung đột hiện thời đương khốc liệt của hai cái mới cũ” [37,
Trang 20310] Chủ đề tiểu thuyết thể hiện qua lời kêu gọi: “Hãy giữ lấy gia đình nhưng xin đừng lầm giữa giữ gia đình với giữ lại nô lệ” [37, 311]
Tiểu thuyết Gia đình lại được Khái Hưng đi sâu miêu tả những mâu
thuẫn trong hôn nhân giữa An - Nga An là người có dòng dõi khoa bảng nhưng anh lại thích cuộc sống an nhàn, vui thú điền viên Nga là người có lòng tham lam, ham tiền tài, danh lợi Cô có tham vọng cho chồng đỗ đạt để
có dịp lên mặt ra oai với thiên hạ nên tìm mọi cách thuyết phục, thúc ép thậm chí đay nghiến, dày vò để chồng phải thực hiện ý nguyện của mình An n cố gắng làm theo những mong muốn của gia đình Nhưng khi tất cả họ đạt được ước nguyện, đã chạm tay vào cuộc sống mới giàu sang, phú quý của quan trường vốn nhiều toan tính, giành giật khiến cả hai vợ chồng chán nản, thất vọng An ngày một mệt mỏi, Nga không còn hứng khởi, ham thích quan lộc tước vị nữa mà thầm ao ước một cuộc sống bình dị như xưa nhưng không còn nữa Phản ánh cuộc sống của gia đình An- Nga qua hai thái cực ở hai thời điểm khác nhau, Khái Hưng tố cáo mạnh mẽ thế lực phong kiến đương thời
Mô hình hôn nhân- gia đình phong kiến vốn đã mục ruỗng tới tận xương tủy, những con người ở đó không có tình yêu thương, sự chân thành, tôn trọng nhau mà chỉ là những toan tính vị kỉ, nhỏ nhặt của cá nhân Khái Hưng muốn đạp đổ mô hình cũ nát ấy để dựng lên những hình mẫu hôn nhân-gia đình lý tưởng của thời đại mới Tuy nhiên đó không phải là chuyện dễ dàng
Như vậy trước Cách mạng tháng Tám, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã công kích nhiều mặt vào chế độ phong kiến đặc biệt là luân lý cổ hủ trói buộc người phụ nữ Họ đứng về phía cái mới để chống lại cái cũ, đứng về phía cá nhân mà chống lại cái xấu xa, nhỏ nhen, ti tiện của đại gia đình phong kiến
Họ đề cao sự tự do và hạnh phúc cá nhân con người cho nên các nhà văn để cho nhân vật của mình đi tìm sự tự do, đi tìm tình yêu đích thực: Lan trong
Hồn bướm mơ tiên đã bỏ nhà lên chùa cắt tóc đi tu Mai trong Nửa chừng xuân thì đến ở với em, Nhung yếu đuối chịu cảnh sống dối trá để duy trì tình
Trang 21yêu Tuyết là cô gái mạnh mẽ, bỏ chồng, bỏ con, bỏ nhà ra đi sống tự do, phóng túng
Vần đề hôn nhân- gia đình không chỉ có sức hút với các nhà văn Tự lực văn đoàn mà còn các nhà văn hiện thực cũng quan tâm khai thác như Kim Lân, Nam Cao, Nguyên Hồng tuy nhiên các tác giả này chủ yếu phản ánh vấn đề hôn nhân gia đình trong thể loại truyện ngắn Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi khảo sát vấn đề hôn nhân - gia đình trên thể loại tiểu thuyết, vì vậy chúng tôi chỉ tìm hiểu vấn đề hôn nhân- gia đình trong một số tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng
Trong Trúng số độc đắc: “Tấm vé trúng thưởng mười vạn bạc đã được
tác giả dùng làm phép thử để thử thách lòng dạ con người” [51, 167] Phúc là người chồng người con vô tích sự, ăn bám trong nhà chịu nhiều sự miệt thị khinh ghét từ chính cha, anh thậm chí vợ con mình Một lần ngẫu nhiên mua
vé số, anh lại trúng, thậm chí trúng độc đắc Chính từ lúc đó mọi quan hệ trong gia đình anh bị đảo lộn Phúc: “chua chát tàn nhẫn với người thân khác hẳn vẻ hiền lành tự ti ngày thường” [51, 168] Thậm chí cái số độc đắc không chỉ làm sinh ra hài kịch gia đình mà còn làm nổ ra những bi kịch ghê gớm hơn nữa: “Bố và anh cả Phúc tranh nhau năm trăm bạc như hai con thú trước một miếng mồi” [51,502] Vũ Trọng Phụng mỉa mai thế lực của đồng tiền làm thay bậc đổi ngôi, xói mòn tất cả những giá trị đạo đức tôn ti đã tồn tại từ rất lâu đời trong gia đình Đồng tiền có thể mua được tình cảm, có thể để người
ta từ căm ghét, khinh rẻ một người mà nhanh chóng chuyển sang yêu mến, kính trọng, ca ngợi, tôn sùng họ, vật chất làm anh sợ em, cha: “Sợ con quá, ấy
là sợ bất hiếu với con” [51, 15]
Cuốn tiểu thuyết Lấy nhau vì tình của Vũ Trọng Phụng miêu tả chân
thực thành thị Việt Nam 30 năm đầu thế kỉ XX và những tác động của nó đến đời sống gia đình cũng như mỗi cá nhân trong gia đình ấy Quỳnh và Liêm là một trong số ít những cặp đôi đến với nhau vì tình yêu và được gia đình hai
Trang 22bên hết sức ủng hộ Những tưởng họ sẽ được hạnh phúc viên mãn nhưng ai ngờ chỉ sau lễ cưới đúng năm ngày, cô dâu đã tìm đến cái chết khiến dư luận bàng hoàng.Vũ Trọng Phụng đã lý giải nguyên nhân của bi kịch ấy là do sự ghen tuông bóng gió, thiếu lí trí của Liêm Anh và Quỳnh đều là người có tư tưởng tiến bộ, cả hai được tự do yêu đương và sự đồng thuận của gia đình, có
lẽ vỉ thế mà quỳnh đã tin tưởng mà trao thân gửi phận cho anh không chút đắn
đo suy nghĩ Nhưng chính điều này lại làm Quỳnh mất giá trị bản thân của người con gái Liêm không những không trân trọng mà còn coi thường người yêu.Từlá thư nặc danh, anh ghen tuông bóng gió và nghi ngờ sự trong sáng, hiền thục của vợ tương lai.Anh cho rằng Quỳnh là người lẳng lơ, hư hỏng nhưng vẫn quyết lấy về để hành hạ cho bõ cái đau bị lừa dối Bi kịch trong hôn nhân- gia đình của vợ chồng Quỳnh - Liêm ngày càng cao khiến Quỳnh không thể chịu đựng được Cô tìm đến cái chết để giải thoát Tác phẩm là tiếng nói cảnh tỉnh của Vũ Trọng Phụng Xã hội đã lên án, đấu tranh để đào thải kiểu hôn nhân phong kiến vốn được cho là cổ hủ, lỗi thời nhưng có được quyền tự do trong hôn nhân rồi chưa phải đã hết điều phải suy nghĩ: “ai đảm bảo rằng con người hiện nay đã hết sức đúng đắn trong tình yêu rồi, đã hoàn hảo về tư cách rồi, vì thế đã hết những thảm kịch tình yêu, những vụ án vì
tình” [50, 34] Như vậy Lấy nhau vì tình ngoài giá trị văn chương nó còn có ý
nghĩa giáo dục rất cao
Giống như các tác phẩm của Tự lực văn đoàn, Làm đĩ là một tác phẩm
được Vũ Trọng Phụng khai thác về quá trình sa ngã của một người phụ nữ trong gia đình Huyền là một cô gái xinh đẹp, thông minh, có học thức, đoan chính Cô bị gia đình ép gả cho một đám xứng đôi vừa lứa Cuộc sống hôn nhân không tình yêu ấy đã đẩy Huyền vào con đường trụy lạc đáng thương Trong phút yếu lòng Huyền phản bội chồng để chạy theo tình nhân mới nhưng cay đắng thay gã tình nhân ấy đểu giả, phụ bạc, ruồng rẫy cô Chán nản Huyền đi vào con đường làm đĩ lúc nào không hay Xét cho cùng nguyên
Trang 23nhân sâu xa dẫn đến bi kịch của Huyền cũng là do cha mẹ cô ép duyên con Bởi một gia đình hạnh phúc trọn vẹn nhất định phải được xây đắp từ tình yêu chứ không thể từ những toan tính, vụ lợi Câu chuyện như như một lời dự báo, cảnh tỉnh: Trong gia đình sự hòa hợp đồng cảm giữa hai cá nhân, hai tính cách là yếu tốquyết định sự bền vững của hạnh phúc lứa đôi Trong hai tiểu
thuyết Giông tố và Số đỏ, Vũ Trọng Phụng cũng đề cập đến những mâu thuẫn
khác nhau trong gia đình giữa cha mẹ, con cái và anh em Có sự khác biệt chênh lệch về tính cách này chủ yếu do học thức, tư tưởng của mỗi cá nhân có
sự xa nhau Tuy vậy Vũ Trọng Phụng chưa đi sâu vào nguyên nhân đó mà nói
về sự tác động của hoàn cảnh xã hội vào cuộc sống hôn nhân - gia đình
Như vậy, vấn đề hôn nhân - gia đình là một đề tài quen thuộc của văn học 1930- 1945 Một mặt các tác giả ca ngợi tình yêu tự do, trong sáng, thủy chung, mặt khác lên án sự băng hoại đạo đức, phản bội trong gia đình và tố cáo chế độ phong kiến bảo thủ gò ép, đè nén con người
1.2.2 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết 1945 - 1975
Sau cách mạng tháng Tám thành công, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ lần lượt xâm chiếm nước ta, Việt Nam lại bước vào một cuộc bão táp lịch sử khác Hòa chung vào không khí cách mạng của cả nước, văn học Việt Nam luôn theo sát tiến trình vận động của lịch sử dân tộc, phục vụ kháng chiến Các nhà văn, nhà thơ tập trung ca ngợi chiến công chói lọi của dân tộc, ca ngợi tầm vóc vĩ đại của những anh hùng thời đại Bởi thế, âm hưởng chủ đạo của giai đoạn văn học này là cảm hứng sử thi Trong hoàn cảnh tất cả vì tiền tuyến, tất cả vì chiến thắng giặc ngoại xâm thì lợi ích của cộng đồng, của dân tộc được đặt lên hàng đầu Những tình cảm cá nhân, gia đình phải đặt xuống hàng thứ yếu Văn học thời kì đó không hoặc ít đề cập đến vấn đề hôn nhân - gia đình, có chăng cũng là miêu tả những gia đình có công với đất nước, chiến công của các thành viên trên mặt trận chống kẻ thù chung Tình yêu hôn nhân gia đình gắn liền với lợi ích của cách mạng, gắn với tình đồng bào, đồng chí
Trang 24Thời đại cả dân tộc cùng ra trận “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, người dân Việt Nam sẵn sàng hy sinh hạnh phúc cá nhân để trọn vẹn nghĩa vụ và trách nhiệm với tổ quốc Theo tiếng gọi của tổ quốc, nhiều gia đình tạm phải chia ly, xa cách Sự hy sinh của người chồng, người
vợ, của những đứa con là những đau đớn mất mát lớn lao mà người ở lại phải chịu đựng Nhưng chiến tranh càng gian khổ thì tình yêu thương, lòng thủy chung son sắt của người Việt Nam càng ngời sáng Bom đạn kẻ thù có thể hủy hoại sự sống nhưng không thể phá bỏ mối liên hệ thiêng liêng gắn kết giữa cá nhân với gia đình, giữa gia đình với dân tộc
Nổi bật ở các sáng tác trong kháng chiến chống Pháp có viết về vấn đề gia đình, chưa phải là tiểu thuyết mà là các truyện ngắn, chúng ta có thể kể
đến Thư nhà của Hồ Phương, Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài… Với bối cảnh
xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các cây bút tiểu thuyết có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến vấn đề hôn nhân - gia đình Họ chủ yếu khai thác bình diện mâu thuẫn nẩy sinh trong gia đình giữa các thế hệ già - trẻ Nhiều
tiểu thuyết nổi tiếng ra đời, chúng ta có thể kể đến các tác phẩm như: Đi Bước
nữa của Thế Phương, Cái sân gạch, Vụ lúa chiêm của Đào Vũ, Bão biển của
Chu Văn Các tác phẩm này đã đặt vấn đề gia đình trong mối quan hệ với không khí miền Bắc đang bước vào thời kì làm ăn tập thể
Sự đổi thay nhanh chóng của thời cuộc dẫn đến nẩy sinh những mâu
thuẫn, bất đồng trong các thế hệ già - trẻ ấy Trong truyện Cái sân gạch, nhân
vật lão Am là người đứng đầu trụ cột trong gia đình cũng là người đại diện cho thế hệ đi trước Mặc dù xung đột giữa lão và cậu con trai không gay gắt làm nên những lục đục li tán trong gia đình, nhưng qua đây Đào Vũ muốn cho người đọc một cái nhìn mới về thời cuộc lúc bấy giờ Lớp người đi trước từng trải, kinh nghiệm, nhưng không hẳn tất cả những tư tưởng của họ đều thức thời Lớp con cháu là thế hệ trẻ mang đến những điều mới mẻ, tiến bộ, văn minh hơn nhưng cũng cần dung hòa, thuyết phục được lớp cha ông Xung đột,
Trang 25mâu thuẫn trong tư tưởng của hai thế hệ già - trẻ là cơ hội để cái mới, cái đúng vươn lên khẳng định mình trong xã hội mới Vấn đề hôn nhân - gia đình trong giai đoạn này còn khai thác mối quan hệ cá nhân với cộng đồng Trong bối cảnh đất nước còn khó khăn, hai miền chia cắt, con người cá nhân hy sinh hạnh phúc, ước muốn cá nhân đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết
Nhân vật Tiệp trong Bão biển của Chu Văn đã không ngừng đấu tranh
với cá nhân trước cám dỗ, sa ngã Anh sống khuôn mẫu, chuẩn mực, lặng thầm từ chối tình yêu để sống và cống hiến cho lý tưởng anh theo đuổi Đồng thời không khí xã hội lúc bấy giờ cũng làm thay đổi suy nghĩ và tư tưởng của con người Vượng và Ái là hai con người sống trong cảnh nghèo khó, thiếu thốn lại bị những lễ giáo phong kiến trói buộc nhưng vẫn yêu thương, động viên nhau vượt qua mọi rào cản Vượng là một thanh niên từ vùng du kích về, anh yêu Ái với tất cả lòng say mê chân thành của mình Song Ái là người phụ
nữ đã có chồng, bị chồng phụ bạc, đối xử tàn tệ Do quan niệm mù quáng, ích
kỉ, mà chính Nhân - chị ruột của Ái ra sức ngăn cản em mình Thế nhưng, tình yêu của Vượng - Ái được cơ quan đoàn thể hết sức ủng hộ Vượt qua hết những rào cản, sự phá hoại, ngăn cấm cuối cùng đám cưới của hai người vẫn được tổ chức theo nếp sống mới ở Ủy ban Cuộc hôn nhân này đã trở thành hình mẫu lý tưởng, một gia đình nhỏ bé mà hạnh phúc, đáng mơ ước trong văn học thời kì này
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt, cả dân tộc lại đặt mục tiêu thống nhất đất nước đặt lên hàng đầu, mối quan hệ gia đình, những tâm tư tình cảm của mỗi cá nhân dồn nén lại Tất cả vì miền Nam phía trước, vì cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của đất nước Khi đế quốc Mỹ đem máy bay đánh phá miền Bắc (1946), chiến trường miền Nam kêu gọi lớp lớp thanh niên lên đường vào mặt trận Những cuộc chia tay, tiễn đưa người lính ra chiến trường diễn ra từng ngày, từng giờ Những cặp vợ chồng tạm chia ly, hi sinh tình cảm riêng của mình vì độc lập tự do của dân tộc Gia đình lúc này
Trang 26trở thành hậu phương vững chắc ủng hộ, che chở cho cách mạng Có những gia đình một lòng một dạ trung thành, sống chết với Đảng như nhà chị Tư
Hậu (Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái), má Bẩy (Gia đình má
Bẩy của Phan Tứ), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi), má Sáu
(Hòn đất của Anh Đức)
Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái đã phản ánh đời sống của
người dân Nam bộ trong vùng địch hậu qua cuộc đời riêng của chị Tư Hậu Chị là người phụ nữ phải chịu nhiều tủi nhục, đau thương do tội ác của thực dân Pháp gây ra Sức mạnh vực chị dậy là tình yêu, sự cảm thông của những người thân yêu trong gia đình Trước hết đó là lòng yêu thương vô hạn của bố chồng khi chứng kiến khổ nhục chị phải chịu đựng, sự bao dung, nghĩa tình sâu nặng của anh Tư với vợ Có thể thấy tình cảm vợ chồng sâu nặng của chị
và anh Tư Khoa có nguồn gốc là tình yêu giai cấp, sự san sẻ của những người chịu quá nhiều cay đắng khổ nhục vì tội ác của giặc Khi chồng hy sinh, chưa
có nỗi mất mát nào dằn vặt, cấu xé tâm hồn chị như vậy Bố chồng bị giặc giết, hai đứa con là niềm an ủi duy nhất còn lại cũng bị giặc bắt, chị Tư Hậu vượt qua đau thương cá nhân, bước vào con đường chiến đấu bằng sự giác ngộ giai cấp Chị Tư Hậu là nhân vật đại diện cho vẻ đẹp của người phụ nữ Nam Bộ không chỉ là một người con dâu hiếu thảo, người vợ chung thủy, người mẹ thương con, mà còn làm tròn nghĩa vụ và trách nhiệm với kháng chiến Trước tội ác tày trời của giặc và sự lầm than của nhân dân mất nước, thời đại này người ta thường xuyên nói đến tình yêu và lý tưởng của thanh niên gắn liền vận mệnh chung của cộng đồng Tình yêu nảy sinh trong công tác, trên nẻo đường ra mặt trận Những cuộc hôn nhân như thế, các cặp vợ chồng thường cùng chung lý tưởng, chung mục đích sống, trong quá trình chung sống họ dìu dắt, nâng đỡ nhau
Trong truyện kí Người mẹ cầm súng, Nguyễn Thi đã dựng lại chân thực
cuộc sống gia đình của chị Út Tịch Chị là người bản lĩnh, giàu ý chí đáng
Trang 27khâm phục, vừa lo toan việc nước, đảm việc nhà, chăm sóc con cái cho chồng yên tâm công tác Người đọc không chỉ cảm nhận được tình yêu thương chị dành cho chồng, mà còn thấy tình đồng chí hòa quyện trong tình cảm vợ chồng anh Tịch - chị Út Hình ảnh những đứa con trong gia đình chị Út cũng khiến người đọc xúc động cho một thời đại mà mọi thành viên trong gia đình đều ra sức chiến đấu vì tổ quốc Có thể nói ở đây quyền lợi của gia đình đã hòa quyện trong cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc
1.2.3 Hôn nhân - gia đình trong tiểu thuyết sau 1975
Sau 1975 với biến động của các mối quan hệ xã hội vấn đề hôn nhân- gia đình mới trở thành trung tâm chú ý của các nhà văn Các tác phẩm bắt đầu
đề cập đến vấn đề này với tư cách là một vấn đề độc lập Đất nước trải qua hai cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại, hòa bình lập lại mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc
Sau những năm tháng chiến tranh gian khổ, con người trở về với đời sống thường ngày, tưởng sẽ thoát khỏi những ám ảnh, khổ đau của cảnh thiếu thốn, gian truân nhưng rồi cuộc sống hậu chiến ngột ngạt cả về vật chất lẫn tinh thần kiến con người vỡ mộng Hoàn cảnh xã hội thay đổi đã tác động đến tất cả các mặt trong đời sống xã hội, tác động ấy ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng và nhận thức của các văn nghệ sĩ Hoàn cảnh mới không cho phép nhà văn sáng tác theo lối cũ mà phải sáng tác những tác phẩm mang hơi thở của thời cuộc, viết về những vấn đề mới mẻ, phản ánh chân thực, kịp thời đời sống tâm hồn của con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Trong tình hình ấy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986)
là một sự kiện chính trị lớn của dân tộc, ảnh hưởng đến sự phát triển của văn học nghệ thuật thời kì này Một không khí đổi mới - dân chủ đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn nghệ Họ như được “cởi trói” để tự do sáng tác Cảm hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi trong văn học 1945 - 1975 được thay thế bằng cảm hứng đời tư - thế sự Các sáng tác không gò bó, hạn hẹp
Trang 28trong khuôn khổ những đề tài liên quan đến nhiệm vụ chính trị, mà được mở rộng từ đề tài hôn nhân- gia đình đến tình yêu, số phận mỗi cá nhân Những vấn đề đời tư, đời sống tình cảm được đề cao Các nhà văn không né tránh mà
đi sâu, khai thác các mặt trái, góc khuất trong hiện thực đời sống
Chưa bao giờ văn xuôi Việt Nam lại có số lượng tác giả, đi sâu khai thác, khám phá đời sống riêng tư trong xã hội nhiều như vậy mà nổi lên trong đời sống cá nhân của mỗi người là vấn đề hôn nhân - gia đình Trước hết, đó
là sự đổi mới cảm xúc, đề tài của các nhà văn khá nổi tiếng trong sáng tác truyền thống thuộc giai đoạn văn học trước như: Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Lê Lựu, Nguyễn Minh Châu Tiếp đó là sự xuất hiện của các cây bút mới trẻ như: Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái Đặc biệt là sự xuất hiện và nổi danh của các nhà văn nữ trên văn đàn như: Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân, Đoàn Lê, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu Họ đều có những sáng tác về
đề tài hôn nhân - gia đình Nhiều sáng tác đã đạt giải thưởng cao của hội nhà văn và để lại ấn tượng trong lòng độc giả
Các sáng tác viết về đề tài gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975 đã
đi sâu khai thác các mối quan hệ phức tạp, đa chiều của các thành viên trong gia đình thời mở cửa, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường Mỗi nhà văn có một cách riêng gắn với phong cách của mình để thể hiện vấn
đề này Những ngày đầu đất nước cải cách chuyển mình đi lên xã hội chủ nghĩa, các nhà văn khai thác vấn đề hôn nhân - gia đình qua mối quan hệ giữa các cá nhân và gia tộc, mâu thuẫn giữa các gia tộc ở nông thôn Việt Nam trong
việc tranh chấp quyền lợi kinh tế, chính trị Mảnh đất lắm người nhiều ma của
Nguyễn Khắc Trường dựng lại bộ mặt nông thôn Việt Nam những ngày đầu cải cách với những rối ren, lủng củng trong nội bộ cán bộ xã, huyện nói riêng và trong quan hệ giữa các dòng họ lớn ở địa phương nói chung Xoay quanh mối
tư thù cá nhân của hai dòng họ: Vũ Đình và Trịnh Bá ở xóm Chùa, tác giả nói
Trang 29đến thực trạng đấu đá, tranh giành nhau chỉ vì tư tưởng “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp” của nhân dân ta Cuộc hôn nhân của ông Hàm - bà Son
là một sự kết hợp cọc cạch của hai tâm hồn chênh lệch nhau cả về ngoại hình lẫn tư tưởng Bà Son lầm lỡ khi trẻ tuổi nhưng khi lấy chồng đã nhẫn nhục, cam chịu, chung thủy hết mình vì chồng vì con Chính sự yếu đuối, nhẫn nhịn
ấy của bà đã bị anh em Hàm, Thủ lợi dụng cho mưu đồ tranh quyền đoạt vị, đấu đá cá nhân xấu xa của họ Cái chết của bà ở gần cuối tác phẩm không đủ để những kẻ say hận thù, ham mê quyền lực kia dừng lại Mảnh đất giếng Chùa như lời cô thống Biệu đã nói: “Ma sống đã nổi lên thì chẳng có bùa ngải nào trị nổi Bùa ngải chỉ yểm được ma chết chứ ma sống thì chịu” [65, 363]
Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng lại viết về câu chuyện một
gia đình trí thức còn giữ nhiều nền nếp cổ truyền Nhìn trên nét lớn đây là một gia đình kiểu Tứ đại đồng đường, bởi trong gia đình lớn có sự tồn tại của các gia đình nhỏ (Đông - Lý, Luận - Phượng) Bề ngoài đây là một gia đình mô phạm, mẫu mực, có gia phong nhưng trước cuộc sống khó khăn, đầy biến động động của đất nước sau chiến tranh đã đẩy gia đình ấy đến những rạn nứt khó có thể khắc phục
Trong Đám cưới không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng khai thác bi
kịch gia đình xoay quanh cuộc sống của một thầy giáo dạy văn trong thời kì bao cấp Tự là một người thầy tài năng, yêu nghề, hết lòng vì học sinh Xã hội đổi thay, mọi giá trị đạo đức dường như có sự xoay chiều đảo lộn Ngôi trường cấp III như hình ảnh thu nhỏ của xã hội rối ren, Tự như một người lỡ bước, chệch khỏi quỹ đạo nghiệt ngã đó Xuyến vợ anh vì khinh thường, coi
rẻ chồng mà ngang nhiên ngoại tình ngay trên căn gác xép nơi chồng làm việc Anh không còn tìm thấy sự bình yên trong gia đình mình nữa Tự nhận
ra sự xuống cấp của một thế hệ trẻ đang tự buông thả cho đạo đức trượt dài, băng hoại Bi kịch của Tự để lại cho ta ấn tượng về nhân tình thế thái, về một thời đại cả nước chật vật đi lên sau chiến tranh
Trang 30Ngoài nguyên nhân dẫn đến bi kịch gia đình, các nhà văn cũng chú ý đến tác hại của tấn bi kịch của sự đổ vỡ gia đình Các vấn đề băng hoại, xuống cấp của đạo đức, sự méo mó của nhân cách trong bối cảnh kinh tế thị trường, sự va chậm về cá tính, lối sống được các tác giả khéo léo lồng trong
những câu chuyện hôn nhân - gia đình Các tiểu thuyết như Ngõ lỗ thủng của Trung Trung Đỉnh, Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc Sơn, Ngược dòng
nước lũ của Ma Văn Kháng, Xuân Từ chiều của I Ban, Gia phả của đất của
Hoàng Minh Tường…đã miêu tả sinh động nhiều tấn bi kịch gia đình đổ vỡ
hoặc tồn tại trong thảm kịch dối trá: Xoay và Sương (Ngõ lỗ thủng), Lê Hòe
và Kim Phụng, Lê Đại và Thụy Miên (Luật Đời và cha con), Khiêm và Thao (Ngược dòng nước lũ)…Sự xuất hiện của các cây bút nữ như: Nguyễn Thị
Thu Huệ, Y Ban, Lê Minh Khuê, Đỗ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư là một yếu tố quan trọng góp phần biến đổi cảm hứng văn xuôi Việt Nam sau đổi mới
Như vậy vấn đề tình yêu, hôn nhân, gia đình đã được phản ánh rất đa dạng ở nhiều trạng huống, nhiều góc độ với những cung bậc cảm xúc khác nhau trong văn xuôi, đặc biệt là trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
1.3 Vị trí của Gia đình bé mọn và Tiền định trong các tiểu thuyết
giai đoạn sau 1975 viết về hôn nhân - gia đình
1.3.1 Sơ lược về hành trình sáng tác của Dạ Ngân và Đoàn Lê
- Hành trình sáng tác của Dạ Ngân
Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga, sinh ngày 6-2-1952, là một người con của vùng sông nước miền Tây Nam Bộ Sinh ra trong gia đình có truyền thống cách mạng, Dạ Ngân đã tiếp nối những chặng đường kháng chiến của cha đi vào Cứ kháng chiến từ khi mới mười bốn tuổi (1966) và nghiệp cầm bút cũng đến với bà từ đây Mười bốn tuổi Dạ Ngân bắt đầu viết tin, làm thư
ký đánh máy, rồi làm báo Sống những tháng ngày đạn bom ác liệt, với bao khó khăn, thiếu thốn, vất vả gian nan Nhưng lẫn trong những gian khổ, vẫn
Trang 31có những giây phút bình yên, ấm áp với đồng đội, với người thân Những tháng năm trong Cứ, đẹp đẽ, hào hùng, mà cũng thật khó nhọc, hiểm nguy sống mãi trong ký ức của Dạ Ngân, nó đã trở thành những ám ảnh nghệ thuật trong các tác phẩm của bà
Hòa bình lập lại bà tiếp tục con đường viết văn làm báo Từ bộ phận làm tin thuộc Sở Văn hoá Thông tin tỉnh Hậu Giang, bà được chuyển sang Hội Văn nghệ tỉnh sau khi truyện ngắn đầu tayvào năm 1978 Đầu năm 1982,
bà có truyện ngắn in trên tuần báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn và tháng tư năm ấy bà được mời đi dự Trại sáng tác của Hội ở Vũng Tàu Tại đây, giữa mấy thế hệ nhà văn tên tuổi Nguyên Ngọc, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Quang Thân, Nhật Tuấn, Nguyễn Mạnh Tuấn, bà như người được vỡ hoang,
bà tin vào văn chương và cũng tin hơn vào bản thân mình Cuộc đời đưa bà sang một trang khác, bà bước vào cuộc hôn nhân thứ hai với nhà văn Nguyễn Quang Thân và chuyển ra Hà Nội sinh sống Bà từng tâm sự “Đời tư của tôi đóng vai trò rất lớn trong công việc của tôi, ngược lại văn chương cũng không rời tôi trong mọi chặng đường do chính tôi thiết kế và xả thân cho nó Tôi viết nhiều, viết đều đặn trong tâm trạng bị người đời đàm tiếu kỳ thị, nhiều lúc, dư luận chính giới xem tôi như cô Anna trong mắt họ, đó là lúc tôi thấy rõ giá trị của cô đơn và niềm đau khổ đích thực của nghệ sĩ”
Năm 1987, bà được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam và về làm việc
ở Hội từ năm 1995 và đảm nhiệm vai trò Trưởng Ban văn xuôi của tuần báoVăn nghệ từ năm 2005 đến năm 2008
Trong suốt một phần tư thế kỷ cầm bút, sống trong Nam ngoài Bắc, người phụ nữ miệt vườn viết văn ấy đã chứng minh được sức bền trong sáng
tạo nghệ thuật khi chị lần lượt cho ra đời rất nhiều đầu sách: tập truyện Quãng
đời ấm áp (1986), Tiểu thuyết Ngày của một đời (1989), tập truyện Con chó
và vụ ly hôn (1990), truyện dài thiếu nhi Mèo mẹ (1992), tập truyện Cõi nhà
(1993) tập truyện Truyện ngắn chọn lọc Dạ Ngân (1995), tập tản văn Mùa đốt
Trang 32đồng (2000), tập ký Lục bình mải miết (2002), tập truyện Nhìn từ phía khác
(2002), truyện dài thiếu nhi Miệt vườn xa lắm (2003), tiểu thuyết Gia đình bé
mọn (2005), "100 tản mạn hồn quê" (2007), tập truyện ngắn Nước nguồn xuôi mãi (2008)
Bà viết rất nhiều thể loại khác nhau: truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết, cả kịch bản phim và hàng nghìn kì thư “Tư vấn gia đình” Ở thể loại nào bà cũng gặt hái những thành công và đạt được rất nhiều giải thưởng văn học cao quý: Giải nhì truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1987, Giải nhì truyện ngắn báo Tuổi Trẻ năm 1989, Giải ba truyện ngắn báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1990, Giải khuyến khích Nxb Kim Đồng năm 2002, Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2005, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2004, 2006)
Dạ Ngân được dư luận chú ý kể từ sau truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn
(1985) khi lần đầu tiên, những chuyện thầm kín khó nói của đời sống vợ chồng được một nhà văn nữ phơi bày thẳng thắn Nhưng tác phẩm thành công vang
dội nhất của bà phải kể đến Gia đình bé mọn Tác phẩm vinh dự được nhận liền
hai giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2005) và Hội Nhà văn Việt Nam (2006), đồng thời mới đây trở thành cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam được Nhà xuất bản Curbstone Press dịch sang tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ Đó là phần thưởng xứng đáng cho những cống hiến của bà với văn chương
Dạ Ngân tâm sự: “Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút Dù vậy, vẫn hơn,
vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tin dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình.Văn chương hoàn toàn xứng đáng được coi như đạo, vì sứ mệnh giải bày và cứu rỗi của nó” [75]
- Hành trình sáng tác của Đoàn Lê
Đoàn Lê tên thật là Đoàn Thị Lê, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1943 tại Hải Phòng Sinh ra trong một gia đình có nghề thuốc gia truyền Cụ Chi Lan khi ấy có ý hướng cho cô con gái nối nghiệp nhà Nhưng khi ấy cô hoa khôi
Trang 33phố biển Đoàn Lê mười bảy tuổi đang thì giàu mơ mộng, bay nhảy nên đã không nghe lời cha, trốn nhà thi vào học Khoa Điện ảnh, Trường Sân khấu Điện ảnh Hà Nội khóa một (1959-1962) và trở thành một trong những diễn viên đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam Sau khi ra trường, Đoàn
Lê được điều về Hãng Phim truyện Việt Nam Sự nghiệp diễn viên ngắn ngủi
bị đứt đoạn bất ngờ, để lại bao nối tiếc
Sau biến cố của cuộc hôn nhân nhiều tai tiếng và bất hạnh, bà bị chuyển sang bộ phận thiết kế mỹ thuật của xưởng phim Thời gian này, dù bận rộn, lao động vất vả cực nhọc nhưng bà vẫn dành thời gian đi học hội họa Đó là những năm tháng gian khổ bà phải chịu cảnh chiến tranh bom đạn cùng những thành kiến, cuộc sống chịu nhiều áp lực, cả nhọc nhằn chán nản,
đã có lúc bà xin chuyển sang làm phóng viên, học võ thuật nhưng “nghiệp điện ảnh không buông chị ra” [74] Sau đó bà quay sang viết kịch bản phim
và làm đạo diễn
Trong cuộc đời lao động văn học nghệ thuật, Đoàn Lê là người không chịu ngồi yên, không bằng lòng với cái mình đã có Bà luôn chấp nhận đối mặt với nhọc nhằn thành bại, tìm mọi cách khai mở những loại thể mới để sáng tạo, mong góp được chút ít ích lợi nào đó cho cuộc đời, cho mỗi phận người mà bà hết lòng yêu quý Bà làm thơ, làm diễn viên, làm thiết kế mỹ thuật điện ảnh, vẽ tranh, làm biên kịch, làm đạo diễn rồi cầm bút viết văn Dường như ở lĩnh vực nào, Đoàn Lê cũng giành được ít nhiều thành công nhất là văn xuôi Năm 2006 bà đoạt giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam về văn xuôi, như một chút phần thưởng dành cho
nữ sĩ sau biết bao trắc trở trên con đường nghệ thuật
Đoàn Lê đến với văn chương từ rất sớm Năm mười tám tuổi Đoàn Lê
đã bắt đầu làm thơ và đã có thơ đăng báo - bài thơ Bói hoa- được bạn đọc hồ hởi đón nhận Sau Bói hoa, Đoàn Lê chuyển sang viết văn xuôi Và cũng hết sức bất ngờ những truyện ngắn đầu tay như: Đôi mắt hoa nhài, Trương Viên,
Trang 34Cây xoan non,…đã lần lượt được đăng trên các báo danh tiếng: Văn nghệ, Đại đoàn kết Những thành công này sẽ là động lực lớn để giúp bà tiếp tục
dấn thân vào con đường văn chương của mình Đoàn Lê có nhiều thành tựu lớn ở bộ phận văn xuôi Bà viết cả truyện ngắn và tiểu thuyết và đã để lại dấu
ấn khó phai trong lòng độc giả, thật sự có những đóng góp nhất định cho văn học nước nhà thời kì sau đổi mới
Sau nhiều năm có chùm truyện ngắn xuất hiện trên văn đàn, năm 1988
Đoàn Lê lại công bố thiên tiểu thuyết đầu tay Cuốn gia phả để lại Cuốn tiểu
thuyết đã được nhiều bạn đọc cảm thấy sửng sốt và yêu thích Với giá trị văn chương của tiểu thuyết đầu tay này, nhà văn Đoàn Lê đã được trao Giải thưởng Hội Nhà văn 1989 - 1990 Cuốn tiểu thuyết này cũng chính là thời điểm Đoàn Lê được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam
Thành công của tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại chính là động lực để Đoàn Lê liên tục cho ra đời các tác phẩm mới như: Người đẹp và đức vua;
Thành hoàng làng xổ số; Lão già tâm thành; Nghĩa địa xóm Chùa; Trinh tiết xóm Chùa; Người khách đêm giao thừa,…và Sex Những tiểu thuyết và truyện
ngắn này đều là những tác phẩm có giá trị của văn học Việt Nam đương đại
Đặc biệt tập truyện Trinh tiết xóm Chùa đã được dịch ra tiếng Anh và giới
thiệu với bạn đọc ở Mỹ
Năm 2010, Đoàn Lê lại tiếp tục cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Tiền định
mang đậm màu sắc tự truyện Giá trị của cuốn tiểu thuyết đã đưa nó lọt vào vòng chung khảo giải Bách Việt và được đông đảo bạn đọc tiếp nhận Và cũng từ đây Đoàn Lê được mọi người biết đến và chú ý nhiều hơn
1.3.2 Gia đình bé mọn và Tiền định - hai tiểu thuyết được dư luận chú ý trên đề tài hôn nhân và gia đình
Là những cây bút trưởng thành trong giai đoạn văn học đầy biến động,
Dạ Ngân và Đoàn Lê đủ tinh tế và tài năng để lĩnh hội những yêu cầu đổi mới văn học tháng 12 năm 1986 Từ sự thay đổi trong quan niệm và cách tiếp cận
Trang 35hiện thực, văn học sau 1986 xuất hiện khuynh hướng nhận thức lại Trước nhu cầu bức thiết của đời sống, yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều tác phẩm đã dũng cảm phơi bày những mặt trái bị che khuất, những vấn đề mang tính nhạy cảm như: nỗi cô đơn, đau khổ trong tình yêu, hôn nhân, gia đình và những khát vọng thầm kín của bản năng con người
Chưa bao giờ văn học nghệ thuật lại có sự chuyển mình, sự bứt phá ngoạn mục cả về chất và lượng đến như vậy Công chúng yêu văn học thực sự không khỏi ngạc nhiên trước sự xuất hiệncủa hàng loạt các cây bút nữ: Một Nguyễn Thi Thu Huệ tinh tế tài hoa mà vô cùng gần gũi khi chị miệt mài đi tìm kiếm hạnh phúc của con người thực tại trên trang văn đậm chất nữ tính của mình, một Võ Thị Hảo sắc sảo đến chát chúa mà vẫn đau đáu trong sâu thẳm khi nói về những mất mát không dễ gì bù đắp của người phụ nữ đến và
đi ra từ chiến tranh trong, một Y Ban luôn trăn trở trước những khát vọng thầm kín về hạnh phúc lứa đôi, về những mong mỏi đầy bản năng của người phụ nữ khi tình yêu bị đánh cắp
Nằm trong quá trình vận động của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Dạ Ngân và Đoàn Lê cũng đề cập đến nhiều vấn đề của đời sống, đi sâu vào phân tích những mối quan hệ phức tạp, mâu thuẫn trong xã hội, đặc biệt là vấn đề hôn nhân- gia đình Mặc dù đi vào khai thác một đề tài mang tính truyền
thống trong văn học nhưng Gia đình bé mọn và Tiền định vẫn gây được tiếng
vang lớn trong diễn đàn văn học trong nước cũng như ở nước ngoài Chúng vẫn có chỗ đứng vững chắc trong lòng bạn đọc với vị thế riêng không dễ gì trộn lẫn giữa muôn vàn đầu sách, càng khẳng định chắc hơn sức bền của Dạ Ngân và Đoàn Lê
Với đề tài này, hai nhà văn không chỉ mang đến cho văn học cái nhìn mới, đa diện về cuộc đời và con người mà còn có những sáng tạo mới mẻ trong nghệ thuật tiểu thuyết mà chúng tôi sẽ phân tích rõ trong các chương tiếp theo
Trang 36Tiểu kết chương 1
Hôn nhân - gia đình là vấn đề hết sức quan trọng trong văn hóa và tâm thức người Việt Hôn nhân- gia đình cũng là một vấn đề không hoàn toàn mới trong các tác phẩm văn học hiện đại nói chung, trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng Ra đời trong giai đoạn văn học đang trên đà đổi mới mạnh
mẽ, trên văn đàn cũng xuất hiện nhiều sáng tác về đề tài này nhưng Gia đình
bé mọn và Tiền định vẫn gây được sự chú ý quan tâm của độc giả Bằng cách
nhìn, cách viết rất riêng của mình, Dạ Ngân và Đoàn Lê đã đưa tới cho bạn đọc cái nhìn chân thực, độc đáo, giàu tính tự truyện về hạnh phúc và bất hạnh,
về niềm vui và nỗi buồn, kể cả những cay đắng trong hôn nhân và gia đình dưới góc nhìn của người phụ nữ
Trang 37Chương 2 NHỮNG SUY TƯ VỀ HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH ĐƯỢC QUAN TÂM
THỂ HIỆN TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN VÀ TIỀN ĐỊNH
2.1 Những góc nhìn về hôn nhân - gia đình trong Gia đình bé mọn
ca dao, tục ngữ, của cha mẹ, ông bà đã thấm sâu, nuôi dưỡng tâm hồn ta thêm phong phú, để ta lớn lên với những hoài bão, ước mơ, khát vọng chân chính, lương thiện Để ta lớn lên với một tâm hồn không cằn cỗi mà giàu lòng trắc
ẩn, biết sẻ chia, đùm bọc, biết vị tha, bao dung, nhân hậu, biết yêu, ghét, buồn, vui trước mọi lẽ đời Thực tế cuộc sống đã chứng minh con người ta chỉ
có thể được trang bị những phẩm chất tốt đẹp nếu có một môi trường tốt Môi
trường đó trước hết là từ mỗi gia đình, mỗi tế bào của xã hội
Gia đình là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống, hình thành nhân cách con trẻ Chính những người thân trong gia đình dạy ta những bài học đầu tiên từ những bước đi chậm chững đến những lời bi bô tập nói đầu đời và lớn lên là cách đối nhân xử thế trong các mối quan hệ xung quanh
ta Gia đình chính là nơi ươm mầm, tạo động lực cho những hoài bão, ước
Trang 38mơ, khát vọng của con cái thành hiện thực Trong đó cha mẹ có vai trò đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cũng như phát triển về thể lực, trí lực của các con Họ luôn là tấm gương để con cái noi theo, nếu tấm gương ấy sáng thì con cái sẽ học được những điều hay, lẽ phải, sẽ hình thành nhân cách tốt, đóng góp cho xã hội những công dân hữu ích và ngược lại nếu cha, mẹ, ông bà không phải là tấm gương tốt thì tất yếu sẽ hình thành nên những nhân cách không hoàn thiện, những công dân chưa toàn vẹn cả về thể chất lẫn tâm hồn Như vậy có thể thấy, gia đình chính là nguồn cung cấp nhân lực lao động cho xã hội Từ những người lao động chân tay đến lao động trí óc đều được sinh ra, nuôi dưỡng và chịu sự giáo dục của gia đình
Gia đình còn là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống của gia tộc, của cộng đồng, đất nước Đó là tấm lòng bao dung, nhân ái,
là đức hi sinh và lòng chung thủy, là sự cần cù, hiếu học, là khả năng sáng tạo trong lao động, là tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước mình
Trong tiểu thuyết Gia đình bé mọn, Dạ Ngân cho ta thấy rất rõ vai trò
giáo dục của gia đình trong bản lĩnh, tính cách của từng nhân vật Sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nam bộ có truyền thống cách mạng, từ nhỏ anh chị
em Mỹ Tiệp đã sống có lý tưởng nối gót người cha liệt sĩ vào ở cứ, tích cực tham gia kháng chiến Trưởng thành trong gia tộc có “người chỉ huy” như cô
Tư Ràng- một người phụ nữ can trường, tháo vát, đảm đang nên các con, các cháu trong gia tộc đều trở thành những công dân có ích cho xã hội Cô dạy bảo uốn nắn những đứa cháu của mình từ những việc nhỏ nhặt nhất như chải tóc khi ngủ dậy, chuyện gọi dạ bảo vâng, cách ăn cách uống trong nhà Những bài học của người phụ nữ nghiêm khắc, quyền uy ấy là bài học về nhân cách, về đạo đức làm người Lớn lên trong sự giáo dục, rèn giũa nghiêm khắc của gia đình, Mỹ Tiệp trở thành con người bản lĩnh, vững vàng cô luôn xông vào chỗ bất bình mà bảo vệ công lý Tiệp mạnh mẽ, sắc sảo, tinh tế
Trang 39không bao giờ chịu khuất phục trước uy quyền, dám nói, dám làm để bảo vệ chính nghĩa Sau này Tiệp kiên quyết bỏ chồng đi theo tiếng gọi của tình yêu cũng chính là để giữ lòng tự trọng trong tư cách của một người đàn bà Tuy cách hành xử của Tiệp và cô Tư Ràng trong hoàn cảnh này có sự khác nhau
do quan điểm của hai thế hệ nhưng chính sự giáo dục từ gia đình giúp Tiệp giữ vững được bản lĩnh để vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời
Cũng giống như gia đình Mỹ Tiệp, chị em Chín trong Tiền định của
Đoàn Lê, cũng được sinh ra trong gia đình gia giáo Tuy ông Chi Lan có hai dòng con nhưng gia đình vẫn luôn êm ấm, trật tự, có trên có dưới Các con ông khôn lớn, trưởng thành và rất mực yêu thương, đùm bọc nhau Chính tình yêu thương và sự gia giáo của gia đình đã tạo cho chị em cô Chín nhân cách đáng quý Bản thân cô giàu lòng tự trong nên khi thấy chồng cô phản bội cô kiên quyết li dị, mạnh mẽ nhận ra sai lầm của cuộc hôn nhân mà làm lại, bản lĩnh của cô thể hiện trong cách hành xử, luôn kiêu hãnh ngẩng cao đầu mà vượt qua chông gai, thử thách bằng tài năng, nhân cách của mình
Như vậy, gia đình là tế bào nhỏ bé nhưng vô cùng quan trọng đối với
sự hình thành và phát triển của xã hội nhất là trong thời kỳ hội nhập như hiện nay khi mọi giá trị đạo đức, tinh thần vốn bền vững nhất cũng đang bị xô lệch, đổi thay thì vai trò giáo dục con cái trong mỗi gia đình càng quan trọng hơn bao giờ hết Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Gia đình tốt thì xã hội tốt, nhiều gia đình tốt cộng lại thì làm cho xã hội tốt hơn” Vì thế, muốn xây dựng xã hội vững mạnh thì nhất thiết phải chú trọng xây dựng gia đình
2.1.2 Gia đình - bến đậu bình yên, hạnh phúc của mỗi con người
Gia đình không chỉ là tế bào quan trọng của xã hội mà còn là bến đỗ bình yên nhất trong tâm hồn mỗi người Chúng ta từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay đều thuộc về một quê hương, một gia đình cụ thể Nơi ấy
có ông, bà, cha, mẹ, có những người chở che, bao bọc, yêu thương ta vô điều kiện Gia đình chính là nơi ươm mầm, nuôi dưỡng, hiện thực hóa những ước
Trang 40mơ, khát vọng của ta thành hiện thực Khi ta khôn lớn trưởng thành cuộc sống của chúng ta không bó hẹp trong không gian gia đình nữa mà mở rộng ra với với không gian cộng đồng xã hội rộng lớn Nhưng dù ta có là ai- thành danh hay thất bại, mạnh mẽ hay yếu đuối, dù ta có lớn khôn bao nhiêu cũng cần một điểm tựa, một chốn quay về
Mỹ Tiệp sinh ra và lớn lên trong một gia đình cách mạng Theo truyền thống của gia đình anh chị em cô lần lượt bỏ lại sau lưng những khát vọng của tuổi trẻ vào ở cứ tham gia cách mạng từ rất sớm Anh Trường lên cứ khi còn tuổi vị thành niên Mỹ Tiệp cũng xa nhà từ khi mới mười bốn tuổi Mặc
dù không được ở cạnh những người thân yêu nhưng hình ảnh của họ luôn hiện hữu trong trái tim Mỹ Tiệp như một điểm tựa để cô vượt qua sự tàn khốc của cuộc chiến tranh Ngay cảkhi cái chết cận kề cũng là lúc Mỹ Tiệp quên bản thân mà nhớ tới gia đình mà cất tiếng gọi họ: “Cô ơi, má ơi các chị ơi” [44, 101]
Trong cả cuộc đời Mỹ Tiệp, quê hương, gia đình luôn luôn hiện diện trong trái tim cô Vì thế khi xa nó, Tiệp nhớ từng hình ảnh nhỏ nhặt nhất, nhớ mảnh vườn, nhớ mương nước, nhớ cả mùi cỏ lá thân thương nơi quê nhà Nhớ những bài học về sự đoàng hoàng mà thủ lĩnh Tư Ràng dạy chị em cô từ khi còn nhỏ, nhớ từng cử chỉ, tâm tính của người thân Ngay cả những lúc Tiệp rơi vào bế tắc, khi cả gia tộc đưa ra hình phạt nặng nhất- từ mặt cô thì Tiệp cũng không thấy giận mà trái lại cô lại day dứt, nhớ thương người thân da diết nhất Những lúc buồn không biết tâm sự cùng ai Tiệp lại: “đưa hai con lại chỗ bãi cỏ dưới gốc ô môi bên gốc sân gần nhà Một lần nữa Tiệp lại nhớ mương
và nước trong vườn, nhớ má, nhớ chị, nhớ em ” [44, 94] Hay khi Tiệp đã tìm được hạnh phúc của cuộc đời mình bên Đính thì gia đình, người thân vẫn luôn là nỗi day dứt, ám ảnh trong tâm hồn cô: “Hà Nội có gia tộc anh nhưng không có các con nàng tổ tò vò của Đính quả là nhiều gió và dễ dàng nhìn thấy cánh đồng để nàng có thể tha hồ nhớ má nhớ cô nhớ chị Hoài” [44, 277]