Bài tập 1: Năng lực hành vi dân sự cá nhânCâu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về quy định mất năng lực hành vi dân sự.BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự (sửa đổi)1.Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.→ Bổ sung chủ thể yêu cầu Tòa án tuyên hay hủy bỏ quyết định là “cơ quan, tổ chức hữu quan”→ Thay “kết luận của tổ chức giám định” bằng “kết luận giám định pháp y tâm thần”.Không quy địnhĐiều 23. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (bổ sung)1. Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.2. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.Điều 23. Hạn chế năng lực hành vi dân sự1.Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.2.Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện do Tòa án quyết định. Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày.3.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự. Điều 24. Hạn chế năng lực hành vi dân sự (sửa đổi)1.Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện.2. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc luật liên quan có quy định khác.3.Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự. Câu 2: Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự. Vì:Theo khoản 1 Điều 22 BLDS 2015: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở giám định pháp y tâm thần.”Từ quy định trên ta thấy điều kiện để Tòa án tuyên bố một người là mất năng lực hành vi dân sự bao gồm: mắc bệnh dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi; có yêu cầu; giám định pháp y tâm thần.Ở trường hợp của ông P có bà H yêu cầu, như vậy ta xét tiếp đến các yếu tố còn lại. Trong vụ việc được bình luận theo như kết quả giám định pháp y tâm thần thì ông P mắc bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, nhưng điều này có cho phép ta kết luận ông P “không thể nhận thức, làm chủ hành vi” không?Căn cứ Thông tư số 182015TTBYT ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế Ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, Rối loạn cảm xúc lưỡng cực nằm là một trong 21 bệnh tâm thần, rối loạn tâm thần thường gặp được quy định trong thông tư và mức độ “hiện tại thuyên giảm” như trường hợp của ông P khi kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi không thuộc vào nhóm Mất khả năng nhận thức vàhoặc khả năng điều khiển hành vi mà thuộc nhóm Hạn chế khả năng nhận thức vàhoặc khả năng điều khiển hành vi. Như vậy ta thấy ông P chưa đến mức “không thể nhận thức, làm chủ được hành vi” cho nên ông P không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự.Kết luận, hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận chưa đủ điều kiện để tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
******************
THẢO LUẬN NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ, TÀI SẢN VÀ
THỪA KẾ Buổi thảo luận thứ nhất:
Chủ thể của pháp luật dân sự
Nhóm 3 – Lớp TM42B2
Năm học 2017-2018
Trang 3Bài tập 1: Năng lực hành vi dân sự cá nhân
Câu 1: Cho biết những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005
về quy định mất năng lực hành vi dân sự.
Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần
hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận
thức, làm chủ được hành vi của mình thì
theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích
liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở
kết luận của tổ chức giám định
Khi không còn căn cứ tuyên bố một
người mất năng lực hành vi dân sự thì
theo yêu cầu của chính người đó hoặc
của người có quyền, lợi ích liên quan,
Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định
tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
2 Giao dịch dân sự của người mất năng
lực hành vi dân sự phải do người đại
diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Điều 22 Mất năng lực hành vi dân sự (sửa đổi)
1 Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên
bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết
luận giám định pháp y tâm thần.
Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc
người có quyền, lợi ích liên quan hoặc
của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án
ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bốmất năng lực hành vi dân sự
2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
→ Bổ sung chủ thể yêu cầu Tòa án tuyênhay hủy bỏ quyết định là “cơ quan, tổ chức hữu quan”
→ Thay “kết luận của tổ chức giám định” bằng “kết luận giám định pháp y
Trang 4tâm thần”.
Không quy định Điều 23 Người có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi (bổ sung)
1 Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không
đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của
cơ quan, tổ chức hữu quan, trên
cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa
vụ của người giám hộ.
2 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Điều 23 Hạn chế năng lực hành vi dân
sự
1 Người nghiện ma túy, nghiện các
chất kích thích khác dẫn đến phá
tán tài sản của gia đình thì theo
Điều 24 Hạn chế năng lực hành vi dân
sự (sửa đổi)
1 Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo
Trang 5yêu cầu của người có quyền, lợi
ích liên quan, cơ quan, tổ chức
hữu quan, Tòa án có thể ra quyết
định tuyên bố là người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự
2 Người đại diện theo pháp luật của
người bị hạn chế năng lực hành vi
dân sự và phạm vi đại diện do Tòa
án quyết định Giao dịch dân sự
liên quan đến tài sản của người bị
hạn chế năng lực hành vi dân sự
phải có sự đồng ý của người đại
diện theo pháp luật, trừ giao dịch
nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt
hàng ngày
3 Khi không còn căn cứ tuyên bố
một người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự thì theo yêu cầu
của chính người đó hoặc của
người có quyền, lợi ích liên quan,
cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa
án ra quyết định hủy bỏ quyết
định tuyên bố hạn chế năng lực
hành vi dân sự
yêu cầu của người có quyền, lợi
ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ
chức hữu quan, Tòa án có thể ra
quyết định tuyên bố người này là
người bị hạn chế năng lực hành vidân sự
Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện
2 Việc xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự liên quan đến tài sản của
người bị Tòa án tuyên bố hạn chế
năng lực hành vi dân sự phải có
sự đồng ý của người đại diện theopháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng
ngày hoặc luật liên quan có quy
định khác.
2 Khi không còn căn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan
hoặc của cơ quan, tổ chức hữu
quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏquyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 6Câu 2: Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận có thuộc trường hợp
mất năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự Vì:
Theo khoản 1 Điều 22 BLDS 2015: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là mất năng lực hành vidân sự trên cơ sở giám định pháp y tâm thần.”
Từ quy định trên ta thấy điều kiện để Tòa án tuyên bố một người là mất năng lực hành
vi dân sự bao gồm: mắc bệnh dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi; có yêucầu; giám định pháp y tâm thần
Ở trường hợp của ông P có bà H yêu cầu, như vậy ta xét tiếp đến các yếu tố còn lại Trong vụ việc được bình luận theo như kết quả giám định pháp y tâm thần thì ông P mắc bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực, nhưng điều này có cho phép ta kết luận ông P “không thể nhận thức, làm chủ hành vi” không?
Căn cứ Thông tư số 18/2015/TT-BYT ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế Ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng trong giám định pháp y tâm thần, Rối loạn cảm xúc lưỡng cực nằm là một trong 21 bệnh tâm thần, rối loạn tâm thần thường gặp được quy định trong thông tư và mức độ “hiện tại thuyên giảm” như trường hợp của ông P khi kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành
vi không thuộc vào nhóm Mất khả năng nhận thức và/hoặc khả năng điều khiển hành vi
mà thuộc nhóm Hạn chế khả năng nhận thức và/hoặc khả năng điều khiển hành vi Như
vậy ta thấy ông P chưa đến mức “không thể nhận thức, làm chủ được hành vi” cho nên ông P không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự
Kết luận, hoàn cảnh của ông P như trong Quyết định được bình luận chưa đủ điều kiện
để tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự
Trang 7Câu 3: Nêu những điểm giống và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự và
mất năng lực hành vi dân sự.
Giống:
- Một người bị xem là hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự khi và chỉ khi Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự
- Tòa án chỉ ra quyết định tuyên bố một người là hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự khi có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan
- Người hạn chế năng lực hành vi dân sự và mất năng lực hành vi dân sự không thể
tự mình xác lập các giao dịch dân sự trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu hằng ngày
- Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự khi không còn căn cứ tuyên bố và có yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan,
phá tán tài sản của gia đình
- Chỉ cần có yêu cầu từ các chủ thể được
quy định trong luật thì Tòa án có thể ra
quyết định tuyên bố hạn chế năng lực
hành vi dân sự
- Người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng
lực hành vi dân sự khi xác lập thực hiện
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản
thì phải có sự đồng ý của người đại diện
theo pháp luật, trừ giao dịch phục vụ
nhu cầu sinh hoạt hằng ngày
Mất năng lực hành vi dân sự
- Đối tượng là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ đượchành vi
- Khi có yêu cầu từ các chủ thể đượcquy định trong luật Tòa án phải dựa trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thân để ra quyết định
- Người bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự không thể tự mình xác lập thực hiện giao dịch dân sự, người đại diện theo pháp luật sẽ xác lập, thực hiện thay, trừ trường hợp giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu hằng ngày
Trang 8- Người đại diện của người hạn chế năng
lực hành vi dân sự do Tòa án chỉ định
- Người đại diện có thể được chỉđịnh hoặc đương nhiên trở thànhngười đại diện theo quy định củapháp luật
Câu 4: Trong Quyết định được bình luận, ông P có thuộc trường hợp người bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự không? Vì sao?
Trong quyết định được bình luận, ông P không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Vì:
Theo khoản 1 điều 24: “Người nghiện ma túy, nghiên các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố người này là người
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.”
Căn cứ vào quy định này ta thấy Tòa án chỉ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự khi người này thuộc đối tượng người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình, mà trường hợp của ông P mắc bệnh tâm thần cho nên không thuộc đối tượng trên Như vậy ông P không thuộc trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
Câu 5: Điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tiêu chí Hạn chế năng lực hành vi dân sự Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
Chủ thể
Người nghiện ma túy, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.
Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi tuy nhiên chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự.
Người yêu
cầu
Người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.
Bản thân người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan.
Cơ sở kết
luận
Dựa trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Không có.
Trang 9Câu 6: Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi có thuyết phục không? Vì sao?
Tòa án xác định ông P thuộc trường hợp người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn thuyết phục
Khoản 1 điều 23 BLDS 2015 có quy định: “Người thành niên do tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quanhoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, trên cơ sở giám định pháp y tâm thần, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ”
Căn cứ vào quy định này ta thấy để Tòa án tuyên bố một người là có khó khăn trong nhậnthức làm chủ hành vi thì phải có các điều kiện: người này là người thành niên do tình trạng thể chất tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự; có yêu cầu; cơ sở giám định pháp y tâm thần
Trường hợp của ông P là người thành niên và thỏa mãn điều kiện có yêu cầu (bà H yêu cầu), ta xét tiếp đến tình trạng thể chất tinh thần của ông P dựa trên kết quả giám định pháp y tâm thần Theo giám định pháp y tâm thần ông P mắc bệnh Rối loạn cảm xúc lưỡng cực Căn cứ Thông tư số 18/2015/TT-BYT ngày 14 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế Ban hành quy trình giám định pháp y tâm thần và biểu mẫu sử dụng tronggiám định pháp y tâm thần, Rối loạn cảm xúc lưỡng cực nằm là một trong 21 bệnh tâm thần, rối loạn tâm thần thường gặp được quy định trong thông tư và mức độ “hiện tại thuyên giảm” như trường hợp của ông P khi kết luận về khả năng nhận thức và điều
khiển hành vi thuộc nhóm Hạn chế khả năng nhận thức và/hoặc khả năng điều khiển
hành vi Như vậy ta thấy ông P do mắc bệnh mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ
hành vi nhưng vẫn chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự (đã lý giải ở câu 2) Điều này có nghĩa là trường hợp của ông P thỏa mãn các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều 23 để Tòa án có thể tuyên bố một người là có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Cho nên ta kết luận Tòa án tuyên bố ông P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là hoàn toàn đúng đắn
Câu 7: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P là thuyết phục, vì:
Trang 10Khoản 4 điều 54 có quy định “người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong những người giám hộ quy định tại Điều 53 của
Bộ luật này Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.”
Những người giám hộ quy định tại Điều 53 bao gồm: Vợ/chồng, con, cha, mẹ Tính đến thời điểm Tòa án ra quyết định bà H vẫn còn là vợ của P, như vậy theo nguyên tắc bà H
sẽ được chỉ định là người giám hộ cho ông P Tuy nhiên bà H yêu cầu tuyên bố ông P có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi với mục đích yêu cầu là để giải quyết vụ án lyhôn giữa bà H và ông P Như vậy đến lúc Tòa án tuyên bố ông P là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì khả năng rất cao là thủ tục ly hôn sẽ được tiến hành, điều này có nghĩa là quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông P chấm dứt, bà H không còn là
vợ ông P, hiển nhiên bà H sẽ không còn thuộc những người giám hộ được quy định tại điều 53 Và xét trên khía cạnh tình cảm, nguyện vọng, bà H muốn ly hôn, tức muốn chấmdứt quan hệ tình cảm với ông P cho nên bà H sẽ không thể là người giám hộ cho ông P Kết luận, việc Tòa án không để bà H là người giám hộ cho ông P là thuyết phục
Câu 8: Việc Tòa án để bà T là người giám hộ cho ông P có thuyết phục không? Vì sao?
Khoản 4 điều 54 có quy định “người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong những người giám hộ quy định tại Điều 53 của
Bộ luật này Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.”
Những người giám hộ quy định tại Điều 53 bao gồm: Vợ/chồng, con, cha, mẹ Ông P có
vợ là bà H, nhưng xét trên hoàn cảnh thực tế bà H không thể là người giám hộ cho ông P.Trong quyết định không đề cập đến con của ông P ta mặc nhiên xem như ông P không có con Ta xét đến cha mẹ của ông P Ông P có cha là ông Lê Văn H nhưng ông H đã chết, còn mẹ ông bà Lê Thị H thì đã bỏ nhà đi hơn 20 năm không rõ ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết Như vậy ông P không có người giám hộ theo khoản 1 điều 53
Theo khoản 4 điều 54 thì trường hợp như ông P Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ hoặc
đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ Với tinh thần nhân đạo, tuy không quy định rõ trong luật, nhưng hầu hết các trường hợp chỉ định người giám hộ Tòa án sẽ chỉ định người có quan hệ gần gũi với người được giám hộ Bà Huỳnh Thị T tuy không phải
là mẹ ông P nhưng là người nuôi dưỡng ông P từ nhỏ đến tuổi trưởng thành và hiện tại ông P cũng đang chung sống với bà T Dựa trên mối quan hệ này bà T thích hợp làm người giám hộ cho ông P Bà T đồng ý làm người giám hộ và ông P cũng có nguyện vọng
bà T làm giám hộ Cho nên Tòa chỉ định bà T là người giám hộ là hợp tình, hợp lý