1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUAN VAN hoan chinh

160 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 449,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về con ngời và cuộc sống cũng nh những phơng diện chínhyếu về t duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.Từ sau 1975, văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng đã có sự chuyển biến về mọi mặ

Trang 1

Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn lớn củanền văn học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX Là một câybút trẻ, sung sức, trởng thành trong kháng chiến chống Mĩ vàphát triển trong thời kỳ đổi mới Hành trình sáng tạo nghệthuật của ông đợc chia thành hai giai đoạn trớc và sau 1975 ởgiai đoạn sáng tác nào cũng thể hiện ông là cây bút đầy tàinăng, tâm huyết, luôn trăn trở trong lao động và sáng tạonghệ thuật Những tác phẩm của ông là một chỉnh thể nghệthuật thống nhất của một quá trình liên tục đổi mới thể hiện ởkhả năng tự vợt mình để hớng tới sự sâu sắc và hoàn thiện.1.2 Sau chiến tranh, đất nớc bớc vào thời kỳ mới Nền vănhọc nớc nhà lại đứng trớc muôn vàn những khó khăn và tháchthức của thời kỳ hậu chiến Đời sống mới đòi hỏi phải có mộtnền văn học mới, đó là một nền văn học vì cuộc sống con ng-

ời Nền văn học sử thi trớc 1975 đến giai đoạn này bắt đầubộc lộ những điểm yếu, không đủ sức chuyển tải những vấn

đề bức xúc sau chiến tranh Nhận thấy đợc điều đó, NguyễnMinh Châu đã âm thầm tự tìm hớng đi mới, tự đổi mới chínhmình trên trang viết để tìm lại cội nguồn đích thực cho mộtnền văn học vì con ngời

1.3 So với các nhà văn trong bớc đầu đổi mới, Nguyễn MinhChâu là ngời đi tiên phong không phải bằng những tuyên ngôn

ồn ào mà bằng những tác phẩm có giá trị, đặt ra nhiều vấn

đề cốt tử cho sự phát triển văn học Giai đoạn trớc 1975,Nguyễn Minh Châu đã khẳng định đợc vị trí xứng đáng củamình trong nền văn xuôi chống Mỹ Nhng sự nghiệp sáng táccủa ông nếu nói là đạt đợc những thành công lớn trên bớc đờngnghệ thuật, thì phải kể đến những sáng tác sau 1975 Đó là

Trang 2

những bớc tiến về t duy nghệ thuật, giúp ông trở thành mộtcây bút tiên phong mở đờng "tinh anh và tài năng" cho mộtthời đại văn học mới Chính vì vậy, các sáng tác sau 1975 củaNguyễn Minh Châu luôn đòi hỏi những nhà nghiên cứu khôngngừng khám phá, vừa để khẳng định vị thế của nhà văn trênvăn đàn, vừa để góp phần khẳng định những thành tựu màvăn học Việt Nam đã đạt đợc trong quá trình chuyển mình và

đổi mới

1.4 Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu nói chung, truyệnngắn sau 1975 nói riêng đã đợc đa vào chơng trình môn văn

từ bậc phổ thông đến bậc đại học Vì vậy, tìm hiểu đề tài

"Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau1975" sẽ góp phần thiết thực cho việc nghiên cứu và giảng dạytác phẩm của Nguyễn Minh Châu thêm sâu sắc và có chất l-ợng hơn

2 Lịch sử vấn đề

"Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể củasáng tạo nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có không gian riêng,thời gian riêng, có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hộiriêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng, chỉ xuấthiện một cách ớc lệ trong sáng tạo nghệ thuật Mỗi thế giới nghệthuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới

Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép đánh giá

và lí giải tác phẩm văn học theo lối đối chiều giản đơn giữacác yếu tố hình tợng với các sự thực đời sống riêng lẻ, mà phải

đánh giá trong chỉnh thể tác phẩm"[28, tr.302]

Tiến hành nghiên cứu Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 chính là khám phá sự thống

nhất, toàn vẹn mà các truyện ngắn sau 1975 của ông đã tạo

ra Qua đó chúng ta nhận ra sự xuyên suốt của một cái nhìn

Trang 3

về con ngời và cuộc sống cũng nh những phơng diện chínhyếu về t duy nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu.

Từ sau 1975, văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng

đã có sự chuyển biến về mọi mặt Trong tiến trình vận động

ấy, nhiều nhà văn đã khẳng định đợc tên tuổi và vị trí củamình trên văn đàn Nguyễn Minh Châu là một nhà văn nhthế Tác phẩm của ông ngay từ khi xuất hiện đã đợc côngchúng hào hứng đón nhận Đã có rất nhiều công trình khoahọc, những bài viết đăng trên các báo, tạp chí và các cuộc hộithảo về Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn sau 1975 của

ông Ngoài số lợng lớn các bài viết đề cập đến con ngời,nghiệp viết, những kỷ niệm, hồi ức những ngày ông còn sống,những nỗi niềm tiếc thơng, những cuộc trò chuyện trực tiếpcủa học giả với nhà văn, trong phạm vi khảo sát liên quan đến

đề tài chúng tôi chỉ nhắc đến những bài nghiên cứu theo hai

xu hớng: Các bài viết, công trình khoa học, cuộc hội thảo đềcập đến những đổi mới của truyện ngắn Nguyễn MinhChâu Và các bài nghiên cứu một số phơng diện nghệ thuậttruyện ngắn sau 1975 của ông

Xu hớng thứ nhất: Các bài viết, bài nghiên cứu, cuộc hội

thảo đề cập đến những đổi mới của truyện ngắn NguyễnMinh Châu sau 1975

Sau khi tiểu luận Viết về chiến tranh đợc đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 11 – 1978, với sự đổi mới t duy nghệ thuật đợc thể hiện qua các sáng tác từ Bức tranh, Ngời

đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Khách ở quê ra, d luận bạn

đọc đã có những ý kiến khác nhau mà "cuộc trao đổi vềtruyện ngắn những năm gần đây của Nguyễn Minh Châu"

do tuần báo Văn nghệ tổ chức vào tháng 6 – 1985 đã thể hiện

tơng đối đầy đủ Điều nổi lên ở cuộc hội thảo này là sự khácnhau giữa hai luồng ý kiến:

Trang 4

Thứ nhất, là các ý kiến đánh giá cao sự tìm tòi, đổi mớicủa Nguyễn Minh Châu Nhà văn Lê Lựu khẳng định: NguyễnMinh Châu "nhìn đâu cũng ra truyện ngắn" Chỉ với "nhữngcái tởng nh bình thờng, lặt vặt trong đời sống hàng ngày, dớicon mắt và ngòi bút của Nguyễn Minh Châu đều trở thànhnhững gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý" (Tô Hoài) Ông lànhà văn mà "cái đa giọng điệu, đa thanh của cuộc đời đã đivào tác phẩm", và do nhận thức "cái quyết định không phải là

đề tài" nên "Nguyễn Minh Châu dần dần tạo ra thế giới nghệthuật cho riêng mình" (Phong Lê) Với "đối tợng mới", "văn phongNguyễn Minh Châu nh "hoạt" hẳn lên" "tỏ rõ thêm một khíacạnh trong tài năng của mình", một sự "thật hết mình tronglao động nghệ thuật" (Lê Thành Nghị) Những ý kiến trên

đây tơng đối tập trung tiêu biểu cho thái độ và cách đánhgiá khác nhau buổi đầu với sự tìm tòi đổi mới Nguyễn MinhChâu

Thứ hai, là một số ý kiến tỏ ra nghi ngại, dè dặt về hớngtìm tòi đổi mới của ông Bùi Hiển cho rằng, sự tìm tòi của ông

đã đợc đẩy "theo một hớng có vẻ phức tạp hơn nhng cha chắc

đã là sâu sắc hơn" Vì thế, trong tác phẩm "cái niềm tin ấyphần nào nh bị hẫng hụt, đồng thời hình tợng quả có kém đi

vẻ chân thực sinh động và sức mạnh thuyết phục" Hoặc "do

có điều gì bối rối trớc hiện thực xã hội diễn biến phức tạp" nên

"ngời đọc rất khó nắm bắt chủ đề của thiên truyện" (XuânThiều) "Một số nhân vật đợc xây dng có tính chất khiên c-ỡng", "độc đáo nhng hơi cá biệt", "cảm hứng của tác giả hơigán ghép" (Phan Cự Đệ) Có ý kiến cho rằng các truyện ngắncủa ông "bị rối, hơi có phần khó hiểu" (Vũ Tú Nam, Đào Vũ),

"nghiêng về những nhân vật dị thờng" (Nguyễn Kiên) Điều

đáng chú ý là ở ngay trong các ý kiến xem ra còn nghi ngại, dè

dặt này, hầu nh ai cũng đều thừa nhận nét mới của ông không

Trang 5

chỉ so với mọi ngời mà còn so với chính ông trong thời kỳ trớc

đó

Tiếp tục khẳng định những đổi mới của truyện ngắnNguyễn Minh Châu sau 1975, Lã Nguyên trong bài "NguyễnMinh Châu và những trăn trở trong đổi mới t duy nghệ thuật",

Tạp chí Văn học, số 2 – 1989 đã nhận thấy: "Khi truyện ngắn Bức tranh vừa xuất hiện, giới phê bình đã nhận thấy bớc ngoặt

tất yếu sẽ xảy ra trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh

Châu Quả thế, liền sau Bức tranh, Nguyễn Minh Châu liên

tiếp cho ra đời hàng loạt tác phẩm làm xôn xao d luận Côngchúng bỗng nhận ra một Nguyễn Minh Châu mới, khác xa với

Nguyễn Minh Châu thời Dấu chân ngời lính Vậy là cùng với

một vài cây bút khác, Nguyễn Minh Châu đã lặng lẽ mày mò,

tự đổi mới trớc khi làn sóng mới đang dâng lên mạnh mẽ trong

đời sống tinh thần dân tộc [60, tr.157]

Nguyễn Văn Hạnh trong bài "Nguyễn Minh Châu những

năm 80 của sự đổi mới cách nhìn về con ngời", Tạp chí Văn học, số 3 – 1993, đã khẳng định: "Cuộc đời Nguyễn Minh

Châu là một tấm gơng lao động sáng tạo và đầy trách nhiệmcho đến hơi thở cuối cùng Chúng ta trân trọng di sản văn họccủa anh, đặc biệt đánh giá cao phần đóng góp của anh vàobớc ngoặt quyết định của văn học trong thời kỳ đổi mới" [27,tr.181]

Mai Hơng trong bài "Nguyễn Minh Châu và di sản văn học

của ông", Tạp chí Văn học, số 1 – 2001 đã khẳng định:

"Nguyễn Minh Châu là cây bút tiêu biểu của nền văn xuôi

chống Mỹ, đồng thời là ngời mở đờng tinh anh và tài năng,

ng-ời đi đợc xa nhất trong cao trào đổi mới văn học đơng đại

[37, tr.138]

Trong bài "Những đổi mới về thi pháp trong sáng tác của

Nguyễn Minh Châu sau 1975", trích trong cuốn Nguyễn Minh

Trang 6

Châu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004,

Nguyễn Tri Nguyên đã nhận định: "Cùng với nhiều nhà văn cùngthế hệ trẻ hoặc trẻ hơn, Nguyễn Minh Châu đã góp phần đổimới nền văn học nớc nhà sau 1975, từ nền văn học đơn thanh

điệu trong thi pháp thể hiện sang một nền văn học đa thanh

điệu, phức điệu trong thi pháp Đó chính là kết quả của sựnghiệp đổi mới của đất nớc, của nhân dân, dới sự lãnh đạocủa đảng ta Nền văn học đó ngày càng hiện thực hơn, nhân

đạo hơn và dân chủ hơn và vì thế có sức thuyết phục hơn"[31, tr.246]

Cùng chung với xu hớng nghiên cứu trên, trong công trình

Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học sau 1975,

Nxb Đại Học S Phạm Hà Nội, 2007, Nguyễn Văn Long – Trịnh ThuTuyết nhận xét: "Trong xu hớng vận động chung của văn xuôiViệt Nam những năm sau chiến tranh, Nguyễn Minh Châu thực

sự trở thành một trong những ngời mở đờng xuất sắc bởi sự

đổi mới điềm đạm nhng toàn diện, sâu sắc trong cả t tởng

nghệ thuật lẫn sáng tác văn chơng" [51, tr.66-67]

Xu hớng thứ hai: Các bài viết, công trình khoa học nghiên

cứu phong cách Nguyễn Minh Châu và một số phơng diệnnghệ thuật truyện ngắn sau 1975 của ông

Theo xu hớng này, tác giả Nguyễn Thị Minh Thái trong bài

"ấn tợng về nhân vật nữ của Nguyễn Minh Châu", Tạp chí Văn học, số 3 – 1985, nhận thấy: "chỉ bằng một chùm truyện ngắn mới nhất trong tập Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành này, với những nhân vật nữ đáng yêu: cô thiếu nữ Phi trong Mùa hè nắng ấy, Hạnh trong Bên đờng chiến tranh, ngời mẹ và con gái

trong Mẹ con chị Hằng, kể cả cô Thoan trong Đứa ăn cắp, cũng thấy rằng Nguyễn Minh Châu có một cái nhìn ấm áp,nhân hậu, luôn chăm chú phát hiện ra vẻ đẹp của ngời phụ nữViệt Nam từ nhiều chiều, nhiều hớng, nhiều phía khác nhau

Trang 7

Trong cả bối cảnh chiến tranh lẫn bối cảnh đời thờng, nhânvật ấy đều đẹp Mỗi nhân vật là một phát hiện mới về hìnhtợng ngời phụ nữ trong văn xuôi hiện đại [70, tr.289].

Trong bài "Bến quê một phong cách trần thuật giàu chất

Tập trung nghiên cứu phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh

Châu, tác giả Tôn Phơng Lan với công trình nổi bật Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu – sự hình thành và những đặc trng, Nxb Khoa học xã hội, 1999, đã đi vào tìm

hiểu quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu và sựtriển khai quan điểm ấy vào văn bản tác phẩm Quá trìnhnghiên cứu toàn bộ sáng tác của Nguyễn Minh Châu ở cả haigiai đoạn, tác giả công trình đã nhận thấy: "phong cách nghệthuật Nguyễn Minh Châu chỉ thực sự đợc hình thành vào

đầu những năm 80, cho đến thời điểm ông mất dăm ba năm,với sự thăng hoa của ngòi bút, phong cách đó mới phát triển và

đang dần đến độ chín" [44, tr.27]

Trịnh Thu Tuyết trong bài "Nguyễn Minh Châu với nghệthuật xây dựng nhân vật truyện ngắn", trích trong cuốn

Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Hà

Nội, 2004, đã có nhận xét: "khảo sát hệ thống nhân vật trongnhững truyện ngắn sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu, cóthể thấy ông đã có những thay đổi căn bản trong nghệ thuậtxây dựng nhân vật Từ vai trò của những khách thể với tínhcách định hình trong các sáng tác trớc năm 1975, nhân vậttruyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu đợc miêu tả nhnhững "chủ thể tự nó" với những bí ẩn khôn lờng, những diễn

Trang 8

biến phức tạp của quá trình vận động tâm lý, tính cách, Với

sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con ngời, Nguyễn MinhChâu đã đến với nhân vật từ góc độ tiếp cận nhân bản, vàsau một chặng đờng lao động nghệ thuật vất vả, nghiêm túc,

từ Bức tranh đến Phiên chợ Giát, ông đã thu đợc những thành

công nhất định" [31, tr.247]

Nhận xét về không gian nghệ thuật, Lê Văn Tùng trong bài

"không gian Bến quê và một sự nhận thức đau đớn sáng ngời

của con ngời", trích trong cuốn Nguyễn Minh Châu về tác gia

và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004, đã nhận định: "yếu

tố thi pháp nổi nhất của truyện này là không gian nghệ thuật.Nguyễn Minh Châu tập trung khai thác nó nh một hình thứccủa quan niệm, của t tởng Các yếu tố khác của tác phẩm nhthời gian nghệ thuật, hệ thống nhân vật, chi tiết nghệ thuật,

là các yếu tố cộng hởng tạo một không gian độc đáo gắn liềnvới vận mệnh tinh thần văn hóa của nhân vật chính: anh Nhĩ"[31, tr.194]

Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài "vấn đề tình huốngtrong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu", trích trong cuốn

Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Hà

Nội, 2004, đã có sự so sánh giữa hai tác giả Nguyễn Minh Châu

và Nguyễn Huy Thiệp trong vấn đề tạo dựng tình huống:

"khác với Nguyễn Huy Thiệp thờng tạo ra tính bất ngờ cho tình

huống (ví dụ: Sang sông), thì Nguyễn Minh Châu trái lại, cố

gắng tạo tính chất tự nhiên cho tình huống Vì thế truyệnngắn Nguyễn Minh Châu nh một "mũi khoan" ngày càng xoáysâu vào ngời đọc, càng về cuối càng tập trung Tình huốngtrong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp mang "sức nổ" còntruyện ngắn của Nguyễn Minh Châu là "sức xoáy" [31, tr.314] Qua khảo sát một số bài viết và ý kiến đánh giá của cáctác giả nêu trên, nhìn chung các bài viết đã đánh giá đúng tài

Trang 9

năng của Nguyễn Minh Châu và nghệ thuật truyện ngắn của

ông Nhng tình hình trên cũng cho thấy, các bài viết dờng nhchỉ tập trung vào một hoặc một vài phơng diện nghệ thuậtnào đó của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Cho đến nay,vẫn cha có một công trình nào đặt vẫn đề thế giới nghệthuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu nh một đối tợng nghiêncứu chỉnh thể, chuyên biệt Nhận thấy đây vẫn còn là mộtkhoảng trống đã củng cố thêm nhiệt tình cho chúng tôi đếnvới đề tài này, với mong muốn có đợc một cái nhìn tơng đối

toàn vẹn, chỉnh thể về thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 Trên cơ sở tiếp thu những

thành quả nghiên cứu của những ngời đi trớc, chúng tôi sẽ cốgắng nhận diện những giá trị và đặc điểm chủ yếu của thếgiới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 mộtcách chỉnh thể, toàn vẹn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đặt truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong bối cảnh

chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1975, để từ đó thấy

đ-ợc vai trò, vị trí và những đóng góp của truyện ngắn NguyễnMinh Châu sau 1975 trong tiến trình đổi mới văn học sau

1975

3.2 Khảo sát, phân tích đặc điểm thế giới nghệ thuậttrong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 trên các ph-

ơng diện: Nhân vật, Không gian, Thời gian nghệ thuật

3.3 Nhận diện, tìm hiểu những đặc điểm thi pháp củatruyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 ở các phơng diện:cốt truyện, tình huống và nghệ thuật trần thuật

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

Trang 10

Đúng nh tên gọi, Đối tợng nghiên cứu của luận văn là Thế giới nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau

1975

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Do mục đích nghiên cứu quy định, đề tài tập trungkhảo sát toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975 đ-

ợc in trong Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Nxb

Văn học, Hà Nội, 2006 Trong quá trình tìm hiểu, chúng tôi có

đối chiều thêm một số truyện ngắn và tiểu thuyết trớc 1975của Nguyễn Minh Châu để từ đó thấy đợc quá trình vận

động và đổi mới t duy nghệ thuật của ông

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận

văn đợc triển khai trong 3 chơng:

Chơng1: Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trong bối cảnhtruyện ngắn Việt Nam sau 1975

Chơng 2: Nhân vật, Không gian, Thời gian nghệ thuậttruyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Chơng 3: Cốt truyện, tình huống và nghệ thuật trần thuậttruyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Trang 11

Chơng 1 TRUYệN NGắN NGUYễN MINH CHÂU TRONG

BốI CảNH TRUYệN NGắN VIệT NAM SAU 1975

1.1 Bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam sau 1975

Ba mơi năm, cuộc kháng chiến trờng kỳ của dân tộc ViệtNam đã kết thúc bằng một mốc sơn chói lọi, đại thắng mùaxuân năm 1975 Sự kiện lịch sử trọng đại này đã mở ra một kỷnguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên chủ nghĩa xãhội Chiến thắng đã có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp đấutranh bảo vệ đất nớc của toàn dân tộc Tuy nhiên, với một đấtnớc nhỏ bé đã anh dũng giành đợc thắng lợi qua hai cuộc khángchiến chống đế quốc Chúng ta đã phải dồn hết tất cả chocuộc kháng chiến Việc xây dựng chủ nghĩa xã hội trongnhững năm đầu hoà bình không phải dễ dàng gì Nhất là vớimột đất nớc vừa bớc ra khỏi chiến tranh với bao thơng tíchnặng nề Đó không những thiệt hại về vật chất mà còn haotổn lớn về sức ngời, khó có thể bù đắp đợc trong một thời gianngắn Con đờng chúng ta đi không phải là con đờng bằngphẳng mà chông gai, gập ghềnh, trải qua không ít những khókhăn, "vấp váp và trả giá" (Nguyên Ngọc) Khi vết thơng chiếntranh còn cha lành, chúng ta lại phải gồng mình bớc vào cuộckiến thiết thời hậu chiến với muôn vàn khó khăn và thử thách.Nền kinh tế sau chiến tranh bị khủng hoảng trầm trọng Cácmặt phải, mặt trái, cái phi đạo đức, phi nhân cách hàng ngàyvẫn len lỏi trong tất cả mọi ngõ ngách của đời sống Mâu

Trang 12

thuẫn giai cấp, các tầng lớp xã hội ngày càng nổi rõ khó bề đợcgiải quyết Tâm lý con ngời hoang mang lo lắng khi đối diệnvới những biến động và khủng hoảng xã hội Đó là môi trờngthích hợp cho những tiêu cực có thể xảy đến bất cứ lúc nào.

Đối với đất nớc là "ngổn ngang bao vấn đề, xoá bỏ khoảng cáchcòn lại, từ t tởng, lối sống và chính kiến, khắc phục tàn d lốisống cũ, hàn gắn vết thơng chiến tranh và bớc vào xây dựng

đời sống mới" Song "cái mảnh đất bao lớp ngời liên tiếp đổ

x-ơng máu giành đợc độc lập, xa nay đất dới chân ngời thắnggiặc có bao giờ nở sẵn đầy hoa" (Nguyễn Minh Châu) Khókhăn lớn của một đất nớc vừa mới đợc giải phóng nh là một lờithách thức, "nh một thứ chiến trờng mới, lập tức mở ra trên vùngchiến trờng cũ", đòi hỏi con ngời phải đầy đủ nghị lực và trítuệ mới vợt qua đợc Đúng nh Nguyễn Minh Châu đã từng đề

cập đến trong tiểu thuyết Miền cháy "Bớc ra khỏi cuộc chiến

tranh cũng cần phải có đầy đủ nghị lực nh bớc vào một cuộc

chiến tranh" [35, tr.881]

Sau 1975 cũng là giai đoạn mà những d âm của cái caocả, của anh hùng ca và cái ta cộng đồng bắt đầu bộc lộ nhữngbất ổn và đổi thay Nếu trớc chiến tranh, mọi quan hệ của conngời đều đợc đặt trong mối quan hệ cao nhất đó là tình yêu

tổ quốc, thì sau chiến tranh con ngời phải đối diện với nhữngmối quan hệ xã hội phức tạp Nguyễn Minh Châu đã từng nói

"cuộc đời đa sự, con ngời đa đoan" Con ngời trong cuộc sống

họ nhỏ bé, bon chen, ganh đua, chà đạp lẫn nhau,"sống ích

kỷ và nhỏ nhen chỉ biết quyền lợi cho riêng mình" Bên cạnh

đó, mối quan hệ của con ngời đều bị cân, đong, đo, đếmbởi các nhu cầu về vật chất

Nếu trong chiến tranh con ngời luôn đối diện với bom đạn,luôn phải phấp phỏng trong mỏng manh của sự sống và cái chết,giữa anh dũng và hèn nhát, thì trong thời bình, dù không còn cái

Trang 13

ác liệt của chiến tranh nhng hiện thực cuộc sống cũng không

đơn giản một tý nào Vì vậy, con ngời trong xã hội luôn phải cốtìm kiếm cho mình một điểm tựa vừa để khỏi tự đánh mấtmình, nhng mặt khác con ngời cũng bị cuốn hút bởi nhữngphức tạp và tiêu cực của đời thờng Hiện thực cuộc sống sauchiến tranh và diễn biến tâm lý phức tạp của con ngời đòi hỏicác lĩnh vực xã hội phải có một cơ chế quản lý thích hợp Đối vớivăn học, ngời nghệ sỹ phải nhìn nhận lại mọi vấn đề đa dạng,phức tạp của cuộc sống Nghệ sỹ là con mắt, lỗ tai của xã hội,bằng thực tế của đời sống văn học phải phản ánh đúng bản chấtcủa hiện thực, phải nói thẳng, nói thật mới mong đáp ứng nhucầu thẩm mỹ của ngời đọc Bởi hơn bao giờ hết "tầm quantrọng của thị hiếu ngời đọc là cái nôi cho tác phẩm thế nàyhoặc thế khác ra đời và sống đợc" [35, tr.4]

1 2 Bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Trong điều kiện thuận lợi, đời sống xã hội bớc sang "mộtthời kỳ khác" (Nguyễn Kiên), thời kỳ mà mỗi con ngời tìm lại đ-

ợc ý nghĩa đích thực cho cuộc sống của mình Đó là sự tự dotrong sinh hoạt, trong tất cả các mối quan hệ xã hội Đối với vănnghệ sỹ, văn học thời kỳ này không còn phải chuyên tâm sángtác vì mục đích phục vụ kháng chiến nữa mà họ đợc tự dotrong sáng tạo, tự do trong việc lựa chọn đề tài chủ đề, trong

cách viết, Càng về sau tinh thần cởi trói cho đội ngũ sáng tác

càng đợc thể hiện một cách triệt để hơn Đây chính là mộttrong những nguyên nhân quan trọng đa đến bớc phát triểnmới cho văn học sau 1975

Nếu trớc 1975, để tái hiện lại khung cảnh hoành tráng vớicuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân ta, các nhà văn thờngtìm đến với những tiểu thuyết Bởi nó là một thể loại tự sự cỡlớn, có khả năng ôm trùm nhiều sự kiện, chi tiết Với những cuốn

tiểu thuyết dài nh Cửa Sông (1966), Dấu chân Ngời Lính

Trang 14

(1972), của Nguyễn Minh Châu có thể dễ dàng miêu tả đầy

đủ cái không khí hào hùng của dân tộc Còn truyện ngắn nóchỉ là một lát cắt của đời sống, khó khăn hơn cho việc dungnạp nhiều sự kiện nhiều chi tiết Nhng cần phải khẳng địnhrằng: truyện ngắn với u thế của thế loại, "Nó tự hàm chứanhững cái thi vị, những điều sâu sắc trong một hình thứcnhỏ gọn và truyền dẫn cực nhanh thông tin mới mẻ Đây là thểloại văn học có nội khí, một lời mà thiên cổ, một gợi mà trămsuy" [50, tr.84] Do đó, truyện ngắn là thể loại gặt hái đợcnhiều thành công giai đoạn này Càng về sau truyện ngắncàng phát triển mạnh hơn với sự xuất hiện nhiều cây bút trẻ,bên cạnh các cây bút trởng thành trong kháng chiến nh:Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên, Nguyễn Khải, Xuân Thiều Chỉ trong vòng mời năm đầu sau chiến tranh (1975 –1985), truyện ngắn đã có những bớc đi mới Truyện ngắn sau

1975 đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lợng lẫn chất lợng với

đội ngũ sáng tác a tìm tòi và khám phá Thời kỳ này ảnh hởnganh hùng ca với những d âm chiến thắng vẫn còn vang vọngtrong các tác phẩm Nhng nhìn chung truyện ngắn sau 1975

đã có sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc khai thác t tởng, chủ

đề mới và sự tìm tòi sáng tạo với phong cách thể hiện mới

Theo con số thống kê của Bùi Việt Thắng, "các cuộc thi do

tuần báo Văn nghệ tổ chức (1978 - 1979) và (1983 - 1984), do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức (1982 và 1983 - 1984) đã

có những con số đa ra chứng minh sự nổ rộ của truyện ngắn

giai đoạn này Hai cuộc thi tuần báo Văn nghệ, ban tổ chức

chấm giải nhận đợc 2.901 truyện ngắn dự thi, in trên báo 203truyện Qua cuộc thi này một loạt các cây bút trẻ mới xuất hiện

và sớm đợc khẳng định nh: Nguyễn Mạnh Tuấn, Hồ Anh Thái,Phạm Thị Minh Th, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Quang Lập, DạNgân Thế hệ các nhà văn đợc coi là già nh: Nguyễn Minh

Trang 15

Châu, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Khải, Nguyễn Kiên,

Hồ Phơng, đã có đợc sự đổi mới trong sáng tác Ngòi bút của

họ có phần linh hoạt và sắc sảo hơn trớc" [71, tr.200]

Hiện tợng đáng chú ý nhất trong mời năm này là Nguyễn

Minh Châu với hai tập truyện ngắn xuất sắc Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983) và Bến quê (1985) Báo Văn nghệ

đã tổ chức một cuộc hội thảo luận về truyện ngắn của ông.Các ý kiến khen chê phong phú và trái chiều nhau nhng thốngnhất ở một điểm - khẳng định sự tìm tòi và đóng góp củanhà văn để đổi mới văn học, để tạo ra chất lợng cao củatruyện ngắn Giai đoạn này có những tác giả viết khỏe trongvòng mời năm in năm tập truyện là Dơng Thu Hơng, NguyễnMạnh Tuấn, Lê Minh Khuê

Truyện ngắn ra đời đầu tiên sau 1975 là Hai ngời trở lại trung đoàn (1976) của nhà văn Thái Bá Lợi Truyện ngắn này đã

từ bỏ lối nhìn đơn giản về con ngời, tác giả đã mạnh dạntrình bày tính cách phức tạp của con ngời đơng thời đã đợcthử thách qua chiến tranh đang chuẩn bị hành trang chomình bớc vào cuộc sống đời thờng Con ngời đợc phát hiệntrên bình diện đạo đức, đợc tìm hiểu trên tiến trình hìnhthành nhân cách mới

Sau 1975 là giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn học cáchmạng sang văn học thời kỳ hậu chiến Do vậy, ở thời kỳ này một

số nhà văn vẫn theo đà quán tính cũ, vẫn viết về đề tài chiếntranh và khuynh hớng sử thi vẫn nổi trội trong những năm đầusau chiến tranh Mặc dù vẫn có những bớc tìm tòi phát triểnmới, song mạch cảm hứng trữ tình sử thi vẫn tiếp tục dòngchảy mạnh mẽ cùng với xu hớng nhận thức lại chiến tranh và sốphận con ngời Thời kỳ này vẫn có sự phát triển của một loạt tr-ờng ca, là bản tổng kết của một thế hệ "dàn hàng ngang gánh

đất nớc trên vai", là những bài ca "thô sơ"và "hực sáng" gửi tới

Trang 16

ngày mai Đó là các tác phẩm: Những ngời tới biển của Thanh Thảo, Đờng tới Thành phố của Hữu Thỉnh, S đoàn của Nguyễn

Đức Mậu, Mặt trời trong lòng đất của Trần Mạnh Hảo, ở văn

xuôi giai đoạn này, các tác phẩm viết về chiến tranh đợc nhìn

từ nhiều góc độ, có hớng tiếp cận cự ly và có cái nhìn toàn cục

về chiến tranh Đó là các tác phẩm: Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thuỵ) Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Đất Trắng (Nguyễn Trọng Oánh) Nắng đồng bằng (Chu Lai)

Trong ý thức nghệ thuật của hầu hết các nhà văn kỳ nàyvẫn còn bị chi phối âm hởng anh hùng ca cách mạng, cả ngờiviết và ngời đọc vẫn cha kịp bắt nhịp với thực tiễn xã hội Vìthế, đây là khoảng thời gian mà Nguyên Ngọc gọi là "khoảngchân không trong văn học" Nhng cũng chính trong những nămnày đã diễn ra sự vận động chiều sâu của đời sống văn họcvới những trăn trở, vật vã tìm tòi quyết liệt ở một số nhà vănmẫn cảm với đời sống và có ý thức trách nhiệm trong lao độngnghệ thuật Cũng từ đây với yêu cầu mới của lịch sử, khuynh h-ớng sử thi và cảm hứng lãng mạn không còn phù hợp, không đápứng đợc nhu cầu thẩm mỹ của ngời tiếp nhận Do đó, văn họccần phải có sự đổi mới, buộc nhà văn phải thay đổi cáchnhìn, thay đổi cảm quan hiện thực cũng nh t duy nghệ thuật.Nhà văn phải viết theo những điều mắt thấy tai nghe, gắnliền với sự công bằng trong đối xử, quan hệ giữa ngời với ngời.Quan niệm về con ngời giai đoạn này cũng khác trớc, đợc bổsung toàn diện hơn, con ngời đợc nhìn nhiều chiều khôngnhững thấy đợc những mặt tốt đẹp, mà còn thấy đợc nhữngnét tính cách đời thờng, trong sự đa dạng và phức tạp của nó.Tất cả những điều đó đều đợc nhà văn truyền tải vào truyệnngắn

Nhìn chung trong mời năm đầu sau chiến tranh (1975 1985), truyện ngắn tập trung nghiên cứu về hiện trạng sau

Trang 17

-chiến tranh, tinh thần xã hội Đó là các hiện trạng phức tạp, đanxen các mặt tích cực và tiêu cực, tính chất phức tạp của đờisống xã hội, kết quả tất yếu của hậu quả tàn d chiến tranh đểlại Thời kỳ này, "các nhà văn đã quan tâm đa ngòi bút củamình tham qua trợ lực vào cuộc giao tranh giữa cái tốt và cáixấu trong mỗi một con ngời - một cuộc giao tranh không có gì

ồn ào nhng xảy ra từng ngày, từng giờ và khắp các lĩnh vựccủa đời sống" [35, tr.85]

Các truyện ngắn đã đề cập đến những vấn đề gai góccủa cuộc sống Đề tài đời t - thế sự là đề tài nổi bật trongtruyện ngắn giai đoạn này, càng về sau đề tài này càng đợcphát huy trong hầu hết các truyện ngắn Theo Bùi Việt Thắng

"giai đoạn này thậm chí, đã hình thành quan niệm văn họcthế sự" [71, tr.202] Nhà văn có thể tự do sáng tạo, tự do bày tỏnhững khúc mắc, những nổi niềm, truyền tải những quanniệm, t tởng, tình cảm của mình qua truyện ngắn, có thể lànỗi cô đơn, sự dằn vặt, phán xét, Các truyện ngắn đã len lỏivào tận các ngõ ngách của đời sống, đã nhìn sâu hơn vào cáccảnh ngộ và số phận đời t con ngời, tiêu biểu nh: Nguyễn Minh

Châu viết Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Nguyễn Quang Thân viết Ngời không đi cùng chuyến tàu, Lê Hoàng viết Lời cuối trong kịch bản đã phản ánh các sự kiện, hiện t-

ợng của đời sống một cách trung thực nhất

Nếu trong chiến tranh mọi tình cảm uỷ mị đều đợc cácnhà văn né tránh, họ ít nói đến cái ác liệt dữ dội của bom đạnthì sau chiến tranh, tất cả mọi nỗi đau đó đều đợc hiện lên

trên trang viết của các nhà văn Các tác phẩm: Bức tranh, Cơn giông, Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vờn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo

Ninh), không chỉ viết về cuộc chiến tranh đã đi qua mà cònphản ánh chân thực cuộc sống hôm nay - một cuộc sống thô

Trang 18

ráp, xù xì, góc cạnh mà ít nhiều trong kháng chiến nó bị coi làngoại trừ để nhờng chỗ cho chất thi vị, lãng mạn Dới ngòi bútcủa các nhà văn sau 1975, chất đời t hiện lên một cách sinh

động hơn, chân thực hơn Các truyện ngắn sau 1975 còn đisâu vào khám phá đời sống nội tâm con ngời với mục đích

"tìm con ngời bên trong con ngời" (Bakhtin) Nhà văn chú ý

đào sâu vào nội tâm con ngời với mục đích thấy đợc suy ttrăn trở dằn vặt của con ngời, khi sống dới các mối quan hệphức tạp Truyện ngắn thời kỳ này nhìn con ngời dới góc độ

đa diện có sự phân tuyến giữa: tốt – xấu, thiện ác, trắng

-đen, cao cả - thấp hèn

Sau 1986, truyện ngắn có bớc đột phá là do không khídân chủ, cởi mở trong công cuộc đổi mới văn học Nhà vănkhông còn bị bó buộc bởi "cái hành lang hẹp" và "thấp" kianữa mà ý thức của các nhà văn sau đổi mới đã tự khuyên nhủlẫn nhau "tự bạt cái thấp" đi để khỏi chạm trần, để đợc tự do

đi lại thoải mái trong "cái hành lang" kia Tinh thần tự do sángtạo của nhà văn đã đợc "cởi trói" Điều này đã đợc đề cập trongcuộc nói chuyện giữa tổng bí th Nguyễn Văn Linh và 100 vănnghệ sỹ là cuộc gặp gỡ đầu tiên thể hiện t duy mới của ngờilãnh đạo cao nhất của đảng với văn học nghệ thuật Với vănnghệ sỹ thì nghị quyết 05 của Bộ chính trị - BCH TW Đảng

cộng sản Việt Nam là nghị quyết đầu tiên về Đổi mới nâng

cao trình độ quản lý văn học văn hoá phát triển nâng lên mộtbớc mới Sự kiến chính trị quan trọng đó đã tạo điều kiện,

động lực thúc đẩy cho văn học sau 1975 đặc biệt là sau 1986

có sự đổi mới vợt bậc Chính vì lẽ đó trong các truyện ngắnthời kỳ này, đời sống xã hội càng đợc phản ánh trong tác phẩmmột cách chân thực hơn Các truyện ngắn về sau mật độcàng tăng lên nhiều với các tên tuổi mới càng làm phong phú

Trang 19

thêm cho bức tranh truyện ngắn sau 1975 đa dạng hơn baogiờ hết

Phát triển trong điều kiện mới, đội ngũ sáng tác văn họcthời kỳ này đợc tự do thể hiện mình Nhiều tác phẩm truyệnngắn ra đời đã đáp ứng đợc nhu cầu của xã hội Chính vì vậyvào thời điểm này truyện ngắn phát triển với tốc độ nhanh

"Đến đây thấy một quy luật rất thú vị về sự phát triển thế loạivăn hoá Truyện ngắn bổng nổi bật lên hàng đầu Những nămtrớc đây truyện ngắn gần nh lịm đi, bị đè bẹp bởi sức nặngcủa tiểu thuyết đã chiếm ngồn ngộn Bây giờ len qua kẻ hởcủa vô số truyện ngắn ngổn ngang kia nó ngoi lên và bùng nổ.Tôi có cảm giác nh đang đứng trớc một vụ mùa truyện ngắn.Truyện ngắn đông và thật sự có một số truyện ngắn hay"[58, tr.44]

Theo con số thống kê của Phan Thị Hoà trong bài "viết nh

một phép ứng xử", Báo Văn nghệ, số 4 -1989, "chỉ có ba cuộc thi truyện ngắn của báo Văn nghệ hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức sơ bộ đã có

gần tới 7000 truyện ngắn Nếu tính cả những truyện ngắn

đăng trên báo, tạp chí trong năm, con số này phải lên đến

hàng vạn"

Truyện ngắn giai đoạn này đã mở rộng phạm vi đề tài, cácnội dung phản ánh, cách viết và hình thức đa dạng nên nhanhchóng đáp ứng đợc nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ của độc giả.Ngời đọc tìm đến với truyện ngắn nhiều hơn vì gần gũihơn với đời sống hàng ngày, dung lợng lại ngắn câu chữ lại súctích để đọc Vì vậy, truyện ngắn đã đi sâu vào đề tài thế

sự, những thực trạng còn tồn tại của xã hội, những t tởng phiếndiện, bảo thủ, trì trệ của một số con ngời, kiểu làm ăn cá thể

trên môi trờng tập thể, tiêu biểu nh Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu) Các nhà văn đã lột tả hết mọi cung

Trang 20

bậc của đời sống truyện ngắn ở thời kỳ này không còn là "mũi

khoan thăm dò nhỏ nhẹ" (Nguyên Ngọc) nữa mà đã mang một

sức nặng mới của sự khái quát đời sống xã hội Việt Nam sau

1986 Thời kỳ này vẫn là sự đóng góp của những cây bút ởng thành trong kháng chiến chống Mỹ và phát triển trong thời

tr-kỳ đổi mới nh Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, NguyễnKiên, trong đó Nguyễn Minh Châu là một trong những nhàvăn sớm nhận ra nhu cầu bức thiết của lịch sử Ông là ngời cảmnhận ra sớm nhất, sâu xa nhất tận máu thịt tâm tởng củamình cái yêu cầu bức bách sống còn của công cuộc trở dạ màngày nay chúng ta gọi là công cuộc đổi mới, lặng lẽ âm thầm,khiêm nhờng mà cực kỳ dũng cảm, kiên định đi vào con đờng

chông gai và hiểm nguy đó Các tác phẩm của Nguyễn Minh

Châu thời kỳ này đã đổi mới trên nhiều phơng diện từ đề tài,cảm hứng đến cách xây dựng nhân vật, không gian, thời giannghệ thuật, cốt truyện, tình huống, nghệ thuật trần thuật

Đổi mới của Nguyễn Minh Châu cũng là sự đổi mới chung củavăn học lúc bấy giờ

Sự phát triển của truyện ngắn sau 1975 là một hiện tợngmang tính tất yếu không chỉ bởi sự phát triển nội tại của bảnthân thể loại mà còn do sự tác động của những đổi mới vềmọi phơng diện của môi trờng sáng tạo mới Về cơ bản, truyệnngắn sau 1975 đã kế thừa và tiếp thu những truyền thốngcủa văn học dân tộc Truyện ngắn giai đoạn này đã mở ranhững bình diện mới trong việc thể hiện, lý giải con ngời và

đã kịp thời bổ sung những gì còn thiếu mà giai đoạn 1945

-1975 cha có Văn học sau -1975, thực sự đã trở với quy luật vĩnhhằng của đời sống Thực sự là một nền văn học vì con ngời vàcàng về sau, văn học càng hớng tới những giá trị cao nhất củavăn chơng đó là giá trị chân - thiện - mỹ

1 3 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Trang 21

1.3.1 Vài nét về cuộc đời, con ngời

Nguyễn Minh Châu sinh ngày 20/10/1930, tại làng Thơi, xãQuỳnh Hải, huyện Quỳnh Lu, tỉnh Nghệ An Làng Thơi chuyênlàm nghề đánh cá khơi và làm muối Đây là một vùng quênghèo, đời sống văn hoá thấp Những còn ngời vùng biển quê

ông vốn là những con ngời "chất phác, cục mịch, lực lỡng nhmọc lên từ sỏi đá Rồi nhờ sóng gió bão táp mà luyện thành x-

ơng sắt đa đồng Những con ngời nh thuộc về một thế giớihoang sơ nào" [55, tr.178] Sau này Nguyễn Minh Châu đãtừng viết về ngời dân dân quê ông trong một số tác phẩm nh:

Cửa Sông, Mảnh đất tình yêu, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát.

Cho đến lúc sắp ra đi Nguyễn Minh Châu vẫn tâm niệm một

điều rằng "nếu tôi còn sống, tôi sẽ viết tiếp truyện Lão Khúng" Cha của Nguyễn Minh Châu cũng có chút học hành Mẹcủa ông quanh năm làm công việc đồng áng Mặc dù không đ-

ợc đi học nhng ở ngời phụ nữ này lại rất giàu tình thơng vàlòng vị tha đối với các con Nguyễn Minh Châu là con út tronggia đình, từ nhỏ đã đợc học hành tử tế Còn các chị của ôngquanh năm vất vả ở quê nhà mà sau này đã để lại trong lòngnhà văn một niềm kính trọng các chị vô hạn

Lúc còn nhỏ, Nguyễn Minh Châu vốn là ngời rụt rè, nhútnhát Cho đến sau này, khi ông đã bớc vào độ tuổi tóc đã lấmchấm điểm bạc thì cái bản tính đó vẫn không hề thay đổitrong ông "Gần 60 tuổi đến một nơi đông ngời tôi chỉ muốnlẩn vào một xó khuất chỉ có thế mới cảm thấy đợc sự yên ổn vàbình tâm nh con dế chui tọt vào lỗ" [35, tr.142] Ông đã có lần

tự bộc bạch về mình bằng những lời chân thành nhất "tôikhông có khả năng làm say mê hoặc chinh phục đám đôngbằng lợi khẩu, tôi chỉ muốn nói đến cái tính dút dát vụng vềtrong cách ăn nói của mình mà trời phú cho từ khi ra đời Nhngthực tình tôi cũng không thích mình là một anh chàng có

Trang 22

khiếu ăn nói Tôi không thật quí cái năng khiếu ấy cho lắm.Sống ở trên đời tôi chỉ thích những anh ăn nói lập bập và ấpúng" [35, tr.142 -143] Đây cũng là một trong những điều chiphối đến tính cách Nguyễn Minh Châu Ông không thích lốisống giả tạo cùng với cách ăn nói hoa mỹ Ông luôn chủ trơngsống thực, sống đúng với bản chất của một con ngời

Năm 1944- 1945, ông học trờng kỹ nghệ Huế Tháng 3/

1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Nguyễn Minh Châu vềquê học tiếp và tốt nghiệp thành chung Năm 1948- 1949, họcchuyên khoa trờng Huỳnh Thúc Kháng Nghệ Tĩnh Tháng1/1950, nhập ngũ cùng năm vào đảng cộng sản Việt Nam Năm

1951, Học viên trờng sỹ quan lục quân Trần Quốc Tuấn, trung

đội trởng thuộc s đoàn 320 Năm 1952- 1956, công tác tại bantác chiến ban tham mu tiểu đoàn 722 và tiểu đoàn 706, chi

ủy viên tiểu đoàn 706 và 722 Năm 1956- 1958, chính trị viênphó đại đội, trợ lý văn hóa thanh niên trung đoàn 64 Năm

1958, đợc phong trung úy sau đó đi học bổ túc quân sự khóa

2, viết tài liệu tổng kết chiến đấu ở quân khu Tả Ngạn Năm

1959, dự hội nghị ban viết toàn quân Năm 1960, công tác tạiphòng văn nghệ tổng cục chính trị quân đội nhân dân ViệtNam Năm 1962, đi học trờng văn hóa quân đội Lạng Sơn, sau

chuyển công tác về tạp chí Văn nghệ quân đội và phục vụ tại

đây với t cách là nhà văn quân đội cho đến lúc mất Ông mấtvào ngày 23/1/1989 tại Bệnh viện quân y 108, Hà Nội

1.3.2 Quan niệm về nghề văn, viết văn

Suy nghĩ của Nguyễn Minh Châu về con ngời là vậy,

nh-ng đối với văn chơnh-ng nh-nghệ thuật thì sao? Có thể nói, đến vớilao động nghệ thuật Nguyễn Minh Châu luôn đặt ra chomình sự nghiêm túc trong nghề văn Ông đã sớm khẳng địnhrằng: "không có một thứ nghề nào mà kết quả công việc lạicắt nghĩa rõ giá trị chân thực của ngời làm ra nó nh nghề

Trang 23

viết văn" [35, tr.9] Nghề văn theo ông là một thứ nghề cao quí

mà qua các tác phẩm, nhà văn có thể chuyển tải những quanniệm, t tởng, tình cảm, thái độ của mình về con ngời và hiệnthực cuộc sống Cũng chính qua những trang viết, ngời đọc cóthể tìm thấy trên trang sách nhà văn một sự rung động sâusắc, một sự quan tâm thực sự đối với cuộc đời thật của họ,một niềm tin yêu, một tiếng nói chung Chính vì lẽ đó,Nguyễn Minh Châu đã đặt ra vấn đề nghiêm túc của văn học

và sứ mạng đích thực của ngời nghệ sỹ "Viết văn là phải đàosâu tận cùng cái đáy của cuộc đời để săn tìm các quy luật"

Từ lúc mới bắt đầu cầm bút, Nguyễn Minh Châu đã ý thức

đợc rằng, mối quan hệ giữa nhà văn với ngời đọc, nhà văn vớicuộc sống, nhà văn với khát vọng riêng t của con ngời nh một sợidây vô hình mà nhà văn phải dựa vào thì mới mong đa ngòibút của mình đi đúng hớng và tìm thấy đợc chỗ dựa tinhthần vững chắc nhất cho lao động nghệ thuật Theo ông,

"trong đời sống văn học, có những nhà văn tài năng và đónggóp vào một cách viết, một sự cách tân về thể loại, ngôn ngữ,

… có ngời chỉ cho ngời đọc thởng thức một vẻ đẹp độc đáo,nhỏ nhặt đáng quí Nhng xét cho cùng, "cái phần chủ yếu củamột ngời viết văn vẫn là tiếng nói của anh ta trớc những vấn

đề đông đảo mà mọi ngời quan tâm tới" [35, tr.11] Mỗi nhàvăn có thể mang đến và góp vào văn học dân tộc một phơngdiện nào đó sở trờng nhất Nhng điều cơ bản cuối cùng là tácphẩm văn học đó có thực sự phản ánh đúng cuộc sống haykhông? đó là điều quan trọng nhất

Trong hoàn cảnh đất nớc chiến tranh, Nguyễn Minh Châu

đến với văn học khi cả nớc đang dồn sức cho cuộc kháng chiếnchống Mỹ Văn học thời kỳ này chịu sức ép lớn của quy luật lịch

sử nghiệt ngã, khi mà cả dân tộc đang dồn vào một con đờng,

"ấy là con đờng ra trận, con đờng cứu nớc" Vì vậy, cha bao

Trang 24

giờ bằng lúc này, thái độ của nhà văn trớc vận mệnh chung lại

đợc đặt ra cấp bách và nghiêm khắc đến thế Khi "mỗi nhàvăn, mỗi ngời đọc trong xã hội chúng ta đều có một mối quantâm thờng trực về vận mệnh dân tộc mình, về số phận khátvọng của nhân dân trong những năm đầy sóng gió Đòi hỏinguồn cảm hứng sáng tạo và nhân cách của ngời cầm bút cũngbắt nguồn từ đó" [19, tr.85] Vì vậy, đòi hỏi thái độ nhiệtthành của ngời cầm bút, thái độ ấy phải đợc biểu lộ trên trangviết và trong các hoạt động khác Trớc những diễn biến và yêucầu bức thiết của lịch sử "Lẽ nào nhà văn lại có thể làm ngơ đ-

ợc, lẽ nào có thể viết những câu văn trái với điều mà nhiều

ng-ời chung quanh hiện phải lo nghĩ để chiến thắng giặc" [35,tr.12]

Nguyễn Minh Châu luôn ý thức đợc trách nhiệm và sứmệnh cao cả của ngời nghệ sỹ Từ những năm 1970, trong

trang sổ tay viết văn ông đã khẳng định: "không thể lấy việc

khoác ba lô đi thực tế làm mục đích cuối cùng và cảnh tỉnhmột số anh chị em viết văn trẻ đứng dẫm chân hơi lâu ở bớc

đi đầu Nhất là khi tái tạo hiện thực ngoài đời thành "một hònnon bộ" xinh xẻo Văn học bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi củangày hôm nay, bao giờ cũng phải đối thoại với ngời đơng thời

về những câu hỏi cấp bách của đời sống Tình thế đất nớclúc này bắt buộc nhà văn phải là ngời chiến sỹ trên mặt trậncủa đảng, mà cái trách nhiệm thiêng liêng đó của ngời nghệ sỹ

là phải sáng tác ra những tác phẩm văn học, là nguồn cổ vũ

động viên tinh thần rất lớn cho nhân dân" Những tác phẩm ra

đời trớc hết với ý thức nóng bỏng đợc góp phần cùng toàn dântham gia đánh giặc" của ông, đã đáp ứng nhu cầu cấp bách

đó của cả dân tộc về một khát vọng tự do hòa bình

Là một nhà văn tâm huyết với nghề, Nguyễn Minh Châu

đã sớm nhận ra những khó khăn, bất cập của nền văn học

Trang 25

kháng chiến "Hiện thực chiến tranh theo ông nh một cánh rừnggià cha khai phá với biết bao nhiêu vấn đề còn nơng náu tronghai cuộc kháng chiến cứu nớc, những vấn đề con ngời chúngta" Vậy mà đội ngũ sáng tác lúc này nhận thức vẫn còn bồngbột, cha thật sự quan tâm, trau dồi nghề văn của mình "Khinhững tác phẩm văn học ra đời cha phải là mối quan tâm th-ờng trực tha thiết đối với họ và cũng cha phải là điều chiêmnghiệm có tính chất triết học của cả một đời văn" [16, tr 24 –25] Tác phẩm vẫn còn thiếu đi phần ký thác của ngời viết, vốn

là t tởng, là linh hồn của tác phẩm nên cái phần hiện thực củatác phẩm "nhẹ bỗng đi" đó là những điều mà ông từng bănkhoăn, trăn trở trong nghề nghiệp sáng tác Nguyễn Minh Châu

đã từng mơ ớc rằng: "Trớc cái hiện thực bề bộn của cuộc sống,nhà văn hãy cố gắng ôm cho hết vòng tay của mình đi Nếukhông ôm nổi một trái núi thì hãy ôm lấy một cành cây trên s-

ờn núi ấy, nếu cha khái quát đợc những vấn đề rộng lớn củacuộc kháng chiến thì hãy ghi lấy một dáng dấp, một khungcảnh, một nét rung động của ngòi bút" [35, tr.18]

Trên nền của hiện thực ấy, nhà văn đã suy nghĩ rấtnghiêm túc về lao động nghệ thuật Nghệ sỹ là ngời luôn sángtạo ra cái đẹp cho đời Đã là một ngời nghệ sỹ chân chính phải

có tâm, có trách nhiệm với đời Tác phẩm ra đời phải là sảnphẩm tinh thần của một quá trình dài trăn trở, phải là nguồn

động viên lớn về tinh thần và phải nằm trong mạch chung củavăn học kháng chiến Nhà văn phải thực sự tâm huyết với nghề,

để những tác phẩm viết ra "đừng nhạt nhẽo" và "ngời đọc có

thể bắt gặp những dáng dấp của họ trên trang sách" Chỉ có

nh vậy nhà văn mới có thái độ tỏ rõ sự trân trọng đối với nghềvăn của mình Chính vì sự đòi hỏi rất cao của bản thân,Nguyễn Minh Châu không bao giờ tự bằng lòng với những gìmình có, ông luôn day dứt, trăn trở, nghiền ngẫm là nguyên

Trang 26

nhân tạo nên những "cơn cớ thất thờng" trong cuộc đời cầmbút Nguyễn Minh Châu đã đặt ra một loạt vấn đề ở cấp độ

lý luận xoay quanh việc viết văn Đó là mối quan hệ giữa vănhọc với hiện thực, giữa văn học với cách mạng, giữa tác giả- tácphẩm và công chúng, giữa nhà văn ngời viết và ngời phê bình,giữa hình thức và nội dung, giữa tự do sáng tác và vấn đềphục vụ chính trị, và cao hơn nữa là giữa dân tộc với nhânloại Với Nguyễn Minh Châu trong sáng tác, tính chân thật là

điều kiện tiên quyết

Tất cả những điều đó khiến những tác phẩm ra đời trớc

1975 của Nguyễn Minh Châu mang đậm âm hởng anh hùng

ca và chất giọng sử thi hào sảng Nhng đằng sau nó cũng thểhiện một nỗi niềm suy t trăn trở của ông về hiện thực cuộcsống phức tạp mà hiện nay văn học vẫn còn trong trạng thái

"minh họa", không thể chuyển tải hết đợc những phức tạp, thôráp của cuộc sống vào trong tác phẩm Với văn học, đích đếncuối cùng là con ngời Vì thế, trong khoảng nửa đời văn,.Nguyễn Minh Châu luôn đi tìm "vẻ đẹp tiềm ẩn trong mỗicon ngời" ở họ vừa có cái phi thờng trong chiến tranh, lại vừa cócái bình thờng trong cuộc sống Từ đó ông đã đi đến việccắt nghĩa lý giải về những con ngời này Đằng sau sự gan dạ,dũng cảm với sức mạnh phi thờng của họ còn ẩn dấu bề sâu vẻ

đẹp tâm hồn, của đam mê khát vọng và niềm tin yêu vàocuộc sống "Mỗi con ngời trong chiến tranh đều cha đựngtrong lòng những nét đẹp đẽ kỳ diệu đến nỗi cả một đời ng-

ời cũng cha đủ để nhận thức, khám phá tất cả những cái đó".Chỉ với những cái nhìn đặc sắc và xác thực về con ngời, nhàvăn mới mong có đợc những dự báo, những kiến giải có ýnghĩa về đời sống, về xã hội, từ hớng ngoại đến hớng nội, từ sựkiện đến vấn đề con ngời, từ số phận cộng đồng đến số

Trang 27

phận cá nhân Đó cũng là những đặc điểm cơ bản của vănhọc sau 1975

Nếu sinh thời Nam Cao là nhà văn luôn trăn trở giữa "sống

và viết" thì trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, NguyễnMinh Châu cũng luôn ý thức đợc trách nhiệm của mình trớcnghề nghiệp Ông và Nam Cao gặp gỡ nhau ở điểm: "Chất văntrong văn và chất nghệ sỹ ở con ngời, ở niềm khắc khoải lớn vềnhân sinh, cõi đời" [44, tr.9] Trong những năm bảy mơi lànhững năm mà ngòi bút Nguyễn Minh Châu đang đợc mùa vềsáng tác, thì cũng chính trong thời gian này ông bắt đầu xuấthiện một nỗi băn khoăn trăn trở về một điều gì đó có vẻ nh là

"bất ổn, bất bình thờng" trong đời sống văn học Đọc nhữngtrang văn xuôi thời kỳ này, ông có cảm giác rằng "hình nh cuộcchiến đấu anh hùng sôi nổi hôm nay đang đợc thơ ca tránglên một lớp men trữ tình hơi dày cho nên ngắm nghía nó mớithấy mỏng manh và ông cho rằng đó cha phải là mối quantâm thờng trực của ngời viết, cha phải là tâm huyết cũng chaphải là điều chiêm nghiệm có tính chất triết học của cả một

đời viết văn….Tính chất anh hùng, tính chất lý tởng có phầnnào tách rời hiện thực không toát lên từ quá trình sinh thànhkhiến cho cuộc sống kháng chiến vĩ đại, anh hùng của chúng takhiến thế giới phải khâm phục trở nên bé bỏng và tầm thờng

đi" [35, tr.17] Ông đã sớm nhận ra giá trị đích thực của vănchơng chỉ quen ca tụng một chiều mà ông cho là chỉ quen vớiviệc "cài hoa, kết lá" cho những khuôn khổ đã có sẵn Điều

đó trái với Nguyễn Minh Châu vì trong cuộc đời cầm bút ônglại không quen với việc sẵn sàng thích nghi với mọi thứ lý luận

và luật lệ cầm bút một cách suôn sẻ và bình thản Vì thế,Nguyễn Minh Châu đã sớm chủ trơng đa văn học trở về với quyluật bình thờng, coi tính chân thật là điều kiện tiên quyếtcủa chủ thể sáng tác Ông đã dũng cảm bày tỏ quan điểm của

Trang 28

mình về tính chân thực trong văn chơng, với ý thức chống lạithói quen "mĩ lệ hóa", hiện thực đời sống bao gồm cả hiệnthực chiến tranh và những số phận cuộc đời con ngời ẩn đằngsau cuộc chiến tranh đó Nguyễn Minh Châu đã nhận ra cái tôi

dễ giãi về cách nhìn và sự phô bày đời sống một cách đơngiản, về "nghệ thuật trình diễn đời sống cha đợc khúc xạ qualăng kính nghệ thuật" Vì thế, khi xem văn học là quy luật của

đời sống con ngời, ông đã đi sâu vào con ngời để tìm kiếmcho mình con đờng đi tới cái đích xa xôi của nghệ thuật

Nguyễn Minh Châu sống, viết và suy nghĩ về cuộc đời,

về nghề văn và văn học luôn với một thái độ nghiêm túc với mộttinh thần hết mình Ngời ta không thấy ở ông một hình ảnh

bệ vệ oai phong với giọng nói hào sảng, hùng hồn mà luôn làmột con ngời trầm tính, ăn nói nhỏ nhẹ và ít lời Nhng bêntrong con ngời đó bao giờ cũng đau đáu một nỗi niềm "viếtsao cho chạm đợc vào tận đáy sâu sự thật về quê hơng đất n-

ớc mình" ý thức lao động nghệ thuật này nó không những chiphối ở một số sáng tác trớc 1975 của Nguyễn Minh Châu mà nócòn đợc biểu hiện rõ trong toàn bộ sáng tác sau 1975 của ông Qua một số ý kiến của Nguyễn Minh Châu về nghề văn,viết văn từ đó cho thấy nổi lên một số đặc điểm cơ bảntrong t tởng nghệ thuật, bộc lộ trực tiếp t tởng nghệ thuật của

ông trong quá trình tìm kiếm cho mình cái đích xa xôi củanghệ thuật cũng là quá trình dài Nguyễn Minh Châu thể hiệncái riêng của mình trong quan điểm viết văn, trong cách nhìn,cách thể hiện những kiến giải độc đáo của ông trớc các vấn

đề của hiện thực đất nớc "con đờng của nhà văn khám phásáng tạo là con đờng của ngời nghệ sỹ chân chính, nói chungthờng gập ghềnh và có khi gặp nguy hiểm thờng ít ngời đi và

vì thế cũng vắng vẻ, và cái đích đến cũng xa xôi" (Văn học cách mạng) Song với sự quyết tâm và lòng dũng cảm, ông đã

Trang 29

tìm cho mình con đờng lao động nghệ thuật chân chính.Một thứ nghệ thuật đích thực mà cuộc sống con ngời trớc vàsau chiến tranh hằng mong đợi Nguyễn Minh Châu xứng

đáng là cây bút "đi đợc xa nhất" trong cao trào đổi mới vănhọc những năm tám mơi Sự đổi mới của nhà văn không chỉ làkết quả một sớm một chiều mà cả một quá trình dài trăn trở,

và thể nghiệm hớng đi mới, không ngừng lật sâu tận đáy xã hộimong tìm thấy đợc những "vỉa quặng quí" còn sót lại Sự

đổi mới đó đã đợc âm thầm chuẩn bị, nung nấu từ lâu vàbứt phá một cách quyết liệt nh một ngời chạy nớc rút Do vậy

mà trong số các nhà văn thực sự có tâm huyết cho bớc đầu

đổi mới nh: Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn khải, LêLựu, Chu Lai, Ma Văn Kháng… Và cả những cây bút mới xuấthiện nh: Trần Huy Quang, Dơng Hớng, Bảo Ninh, Nguyễn KhắcTrờng, Tạ Duy Anh, Dơng Thu Hơng, Nguyễn Huy Thiệp, PhạmThị Hoài… Nguyễn Minh Châu không phải là ngời đầu tiên

đổi mới nhng lại gặt hái đợc nhiều thành công nhất và xứng

đáng là nhà văn đi tiên phong cho công cuộc đổi mới Đổi mới

ở Nguyên Minh Châu không phải bằng lý thuyết ồn ào, mà luônchứng minh bằng các tác phẩm có giá trị cho một giai đoạn vănhọc Đúng nh nhà văn Nguyễn Khải đã nhận xét: "Mãi mãi nềnvăn học kháng chiến cách mạng ghi nhớ cống hiến to lớn của anhChâu Anh là ngời kế tục xuất sắc bậc thầy nền văn xuôi ViệtNam và cũng là ngời mở đờng cho những cây bút trẻ đầy tàinăng sau này Anh Châu bất tử, là một ngời nghệ sĩ lớn của

đất nớc, một đời sáng tác trọn vẹn không chút tỳ vết"

Trên cái hành trình đi tìm văn chơng đích thực đó nhcòn vang vọng mãi lời nhắn nhủ của nhà văn cho thế hệ hômnay và mai sau: "Hãy làm tất cả, hãy lao động nghệ thuậtnghiêm túc để có đợc một nền văn học đích thực vì con ngời,

đều có thể đợc sống yên ổn trên Mảnh đất tình yêu"

Trang 30

1.3.3 Đóng góp của truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

Nguyễn Minh Châu là một trong số những nhà văn mà sốphận cuộc đời gắn liền với sự phát triển của văn xuôi nhữngnăm chống Mỹ cho đến những năm đầu đổi mới Bớc chânvào làng văn khá muộn màng trong khi những đồng nghiệp

cùng thời đã có những hành trang đáng kể: Hồ Phơng với Th nhà, Cỏ non, Xuân Thiều với Đôi vai, Nguyên Ngọc với Đất nớc

đứng lên, Nguyễn Khải với Xung đột, Mùa lạc…là những thử

thách lớn đối với Nguyễn Minh Châu Cũng nh các nhà văn khác,Nguyễn Minh Châu quan niệm "Văn học là vũ khí góp phầnvào cuộc tái thiết và bảo vệ tổ quốc" Ông đã cần mẫn đixuống thao trờng nơi những ngời lính ngày đêm tập luyệnchuẩn bị chiến đấu Từ thực tế của cuộc sống đó đã giúp ông

có t liệu viết bài, lần đầu tiên đợc đăng trên báo, Tạp chí Văn nghệ quân đội Bắt đầu bằng truyện ngắn đầu tay Sau một buổi tập ( 10/1960), tiếp đến là Đôi đũa trúc, Gốc sắn,

Đất quê ta,… lần lợt đã ra đời ghi nhận bớc đầu sáng tác văn học

của một nhà văn chiến sỹ

Trong những năm bom đạn chiến tranh ác liệt, NguyễnMinh Châu đã hăng hái đi xuống các đơn vị chiến đấu nơinhững ngời lính hải quân khai hỏa mở đầu cho chiến dịch,cho cuộc kháng chiến chống Mỹ Ông đã viết bài gửi về tòa

soạn những trang ghi chép còn nóng hổi hơi thở cuộc sống Hãy trở thành những chiến sỹ dũng cảm, Kỷ niệm hạm tàu, Trong

ánh đèn gầm Tuy những trang viết khởi đầu cha có gì gây

đợc ấn tợng, nhng nó đã khẳng định đợc ý thức cầm bút đồngthời là vũ khí chiến đấu của một nhà văn non trẻ mới vào nghề

đã sớm ý thức đợc sứ mệnh cao cả của ngời nghệ sỹ

Theo dòng thời gian, cuộc kháng chiến trờng kỳ chống Mỹcủa nhân dân ngày một cam go và khốc liệt hơn Đối với

Trang 31

Nguyễn Minh Châu, những tác phẩm của ông về sau càng đợcphát triển và nâng cấp hơn cả về số lợng lẫn chất lợng Các tácphẩm sau này của ông nhuần nhuyễn đến độ có thể địnhdạng một khuôn mặt mới trên văn đàn mà mỗi khi nhắc đếnvăn xuôi chống Mỹ ngời ta không thể không nhắc đến Nguyễn

Minh Châu với Cửa sông (1967), viết về cuộc sống của một

ngôi làng nhỏ ven sông trong những năm chiến tranh phá hoại

tàn bạo của đế quốc Mỹ và không thể không nhắc đến Dấu chân ngời lính (1972) với không khí ào ào ra trận "Xẻ dọc trờng

sơn đi cứu nớc" của cả dân tộc

Song song với sự ra đời của tiểu thuyết, truyện ngắn thời

kỳ này cũng chiếm đợc vị trí đáng trân trọng Những vùng trời khác nhau, Mảnh trăng cuối rừng, Bên đờng chiến tranh, Lá

th vui, Một nhành mai, Nguồn suối,… ở những truyện này,

Nguyễn Minh Châu khẳng định vẻ đẹp của những con ngời

đã làm nên chiến thắng Đó là vẻ đẹp của sự mu trí, dũngcảm, vẻ đẹp của đức hy sinh quên mình vì đồng đội, vì

đất nớc Các truyện ngắn ra đời cũng là sự minh chứng chongòi bút Nguyễn Minh Châu đã tham gia đắc lực vào cuộc

"kháng chiến vệ quốc vĩ đại" Cảm hứng chung trong cáctruyện là cảm hứng tự sự lãng mạn, cảm hứng này đã phát triểnthành chủ nghĩa anh hùng và giọng điệu chung trong cáctruyện ngắn trớc 1975 là giọng điệu trang trọng ngợi ca xuấtphát từ nhận thức và mục đích là sáng tác để phục vụ chínhtrị

Nhìn chung, dù các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc

1975 đã đạt đợc những thành tựu nhất định nhng những sángtác ấy về cơ bản vẫn hòa chung vào nền văn xuôi sử thi Vìthế đóng góp về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu cũngcha nhiều, cha gây đợc ảnh hởng lớn đối với văn học Đúng nhNguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá trong bài viết: "Hớng đi và

Trang 32

triển vọng của Nguyễn Minh Châu" đã nhận xét.’’Cha có mộtthành tựu nào tài hoa xuất sắc"

Giai đoạn sau 1975 là giai đoạn chuyển biến lớn đối vớicác sáng tác của Nguyễn Minh Châu, ông không những thànhcông ở lĩnh vực tiểu thuyết mà còn để lại dấu ấn riêng vềtruyện ngắn của mình Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau

1975 đã chiếm đợc vị trí đáng trân trọng trong nền văn họcViệt Nam đơng đại Đặc biệt là đến những năm 1980 đã pháttriển đến đỉnh cao của nghệ thuật Khảo sát toàn bộ truyệnngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975, chúng tôi thấy nổi bậtnhững vấn đề chính nh sau

1.3.3.1 Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu sau 1975

đợc viết với cảm hứng nhân sinh mới

"Cảm hứng là một trong những trạng thái tình cảm mãnhliệt, say đắm, xuyên suốt trong tác phẩm nghệ thuật, cảmhứng gắn liền với một t tởng xác định, một sự đánh giá nhất

định gây tác động đến cảm xúc ngời tiếp nhận tác phẩm"[28, tr.44-45] Biêlinxki coi cảm hứng là điều kiện không thểthiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực bởi nó "biến

sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với t tởng thành tình yêudối với t tởng, một tình yêu mạnh mẽ với khát vọng nhiệt thành"

Lý luận văn học xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố củabản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ, t tởng, cảm xúcngời nghệ sỹ đối với thế giới đợc mô tả Cảm hứng đem đếncho tác phẩm một cảm xúc tinh thần nhất định, thống nhất tấtcả các yếu tố, cấp độ, nội dung tác phẩm Đây là cái mức căngthẳng của cảm xúc mà nhờ đó nghệ sỹ khẳng định cácnguyên tắc của thế giới quan của mình trong tác phẩm

Trong sáng tác văn học nghệ thuật không thể không cócảm hứng Viết văn là cả tấm lòng, là tâm huyết, là gan ruột

Trang 33

Và nó thực sự chỉ đợc bộc lộ những gì đã viên mãn, tràn đầytrong lòng Nó không thật sự ra đời một tác phẩm khi chủ thểsáng tạo ra nó với một tâm hồn bằng phẳng, vô vị và miễn c-ỡng đợc

Nếu trong văn học hiện thực phê phán 1930- 1945, các nhàvăn hiện thực phê phán có một quan điểm t tởng tiến bộ, với họsáng tạo nghệ thuật là một công việc có ý nghĩa nhân sinh mới

mẻ Họ muốn bằng tác phẩm của mình có thể cảm thông, bênhvực những kiếp ngời bất hạnh Họ lên án tính chất vô nhân

đạo của xã hội cũ Họ có thái độ không bằng lòng với hiện thực

và cảm hứng chủ đạo trong văn học hiện thực 1930- 1945 làcảm hứng phê phán Các nhà văn hiện thực phê phán họ mongmuốn có một xã hội nhân đạo hơn đối với con ngời, song hìnhmẫu xã hội đó nh thế nào và làm thế nào để giải phóng đợcgiai cấp thì họ cha hiểu hết Hầu hết trong các tác phẩm của

họ, nhân vật rơi vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc, luẩnquẩn, tuyệt vọng không lối thoát Nguyên nhân sâu xa là docác nhà văn hiện thực phê phán bị hạn chế bởi thế giới quan Đối với các nhà văn cách mạng, do tiếp thu t tởng triết họcMác- Lênin về mặt thế giới quan họ có t tởng tiến bộ hơn so vớicác nhà văn hiện thực phê phán Họ có cái nhìn thế giới trong sựvận động biến đổi và phát triển Họ có lý tởng xã hội mới, xãhội chủ nghĩa trong đó con ngời có cuộc sống tự do bình

đẳng, cá nhân hiểu đợc con đờng giải phóng áp bức "ở đâu

có áp bức là ở đó có đấu tranh" Vì vậy mà các tác phẩm củacác nhà văn cách mạng luôn thể hiện cảm hứng anh hùng, tácphẩm của họ không những nhìn thấy con đờng đó mà còn tintởng ủng hộ vào cuộc đấu tranh Đây cũng là cơ sở của cảmhứng lãng mạn của dòng văn học cách mạng Việt Nam ra đời

Đặc biệt là giai đoạn 1965- 1975 khi đất nớc bớc vào nhữngnăm cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cũng là những

Trang 34

năm chiến trang ác liệt và anh dũng nhất Các nhà văn vừa làngời lính trực tiếp cầm súng chiến đấu trên mặt trận chốngquân thù, vừa dùng ngòi bút của mình làm vũ khí gián tiếpchiến đấu Thời kỳ này biểu hiện tập trung cảm hứng anh hùngcách mạng, đó là hình ảnh những anh bộ đội nói riêng vànhững ngời cầm vũ khí nói chung Họ sống chiến đấu theo lýtởng xã hội cao cả là giải phóng cho miền nam Cuộc đời ngờilính bừng sáng khi đối mặt với kẻ thù Họ "đàng hoàng nổsúng" tiến công trên trận địa, và huy hoàng nhất là giờ phút

hy sinh tất cả đều đợc biểu hiện đầy đủ, rõ ràng, chân thựcnhất và cũng không kém phần lãng mạn tạo nên chủ nghĩa anhhùng cách mạng Khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn đócũng chính là cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác trớc 1975của Nguyễn Minh Châu

Trớc 1975, những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu viết vềngời lính, thờng mang vẻ đẹp lãng mạn, chất thơ bay bổng.Truyền thống yêu nớc đã trở thành những nét tính cách của ng-

ời dân Việt Nam, khiến cho con ngời tự giác làm tất cả côngviệc, cống hiến tất cả, thậm chí hy sinh tính mạng mình vì

đất nớc Thời kỳ này nhân vật chủ yếu trong các tác phẩm của

ông là những ngời chiến sỹ trẻ nh Lãm (Mảnh trăng cuối rừng), Thụy (Bên đờng chiến tranh), Sơn và Lê ( Những vùng trời khác nhau) và những cô gái mang trong mình vẻ đẹp hình thể lẫn nội tâm nh Nguyệt (Mảnh trăng cuối rừng), Hạnh (Bên đờng chiến tranh)… Tất cả đều đợc Nguyễn Minh Châu miêu tả để

phát hiện ra vẻ đẹp nội tâm con ngời Sự lãng mạn khôngnhững thể hiện ở nội dung tác phẩm mà còn đợc biểu hiện ở

nhan đề tác phẩm Mảnh trăng cuối rừng sự vật là "trăng" nhng

là "mảnh trăng" chứ không phải là vầng trăng nh ngời ta vẫn

th-ờng gọi, và "mảnh trăng" ấy lại đợc đặt ở "cuối rừng" tạo nên sựkhuất lấp và liên tởng mơ hồ lãng mạn đậm chất thi vị trữ

Trang 35

tình Sự lãng mạn đó còn thể hiện ở trăng đồng nghĩa vớinhân vật Nguyệt "Nguyệt là trăng, trăng là Nguyệt", mối tìnhcủa Nguyệt và Lãm cũng là mối tình lãng mạn chỉ biết nhauqua lời kể của chị Tính và tình cờ đi chung xe nhng vẫn

không nhận ra nhau Hay ở các tác phẩm Nguồn suối tác giả ngợi

ca những ngời anh hùng nh huyện đội trởng Ngạn Những vùng trời khác nhau ca ngợi Sơn và Lê là những con ngời sẵn sàng hy

sinh vì đất nớc mình Cảm hứng bao trùm của các sáng tác giai

đoạn này là cảm hứng cách mạng, cách mạng là sự gặp gỡ củatình đồng chí, đồng đội và ngời lính Dù chiến tranh có gâybiết bao đau thơng tang tóc nhng tinh thần lạc quan tin tởngvào cách mạng, có cách mạng là có tất cả, cách mạng đổi đờicho nhân dân

Đối lập với cảm hứng lãng mạn trớc 1975, là cảm hứng "vềnỗi lo âu sao mà lớn lao khắc khoải" (chữ dùng của Nguyễn

Minh Châu trong Mùa trái cóc ở miền nam) là cảm hứng thờng

trực trong hầu hết các truyện ngắn sau 1975 của NguyễnMinh Châu Các truyện sau 1975 đều đợc trình bày lý giảihiện thực mới, hiện thực của đất nớc sau những năm chiếntranh, khi lối sống đạo đức có nguy cơ bị chủ nghĩa cá nhânthâm nhập Nguyễn Minh Châu lại là nhà văn sử dụng cây bútcủa mình nh một thứ vũ khí sắc bén Bằng cảm quan của mộtngời nghệ sỹ chân chính, ông đã sớm nhận ra cái éo le bất cậpcủa đời sống sau chiến tranh "Những biểu hiện của lối sống

đạo đức, thậm chí cả quan niệm sống của những ngời xungquanh ta nhất là những thanh niên khiến chúng ta không thểkhông quan tâm và lo lắng… Tôi nghiệm thấy mỗi khi đất nớc

từ trong chiến tranh sang hòa bình chúng ta lại đặt ra vấn

đề chống chủ nghĩa cá nhân, nhng so với lần hòa bình năm

1945, thì cái lần hòa bình sau năm 1975 này diện mạo của

chủ nghĩa cá nhân to lớn hơn" [35, tr.87]

Trang 36

Từ cái nhìn nhạy cảm đó, Nguyễn Minh Châu đã "quyết

định xông vào cái mặt trận đạo đức" Tất cả truyện ngắncủa ông thời kỳ này đều dựa trên những cái nhìn đầy lạcquan với sự tinh tế của một nhà văn vốn nhạy cảm trớc cuộcsống hiện thực ông đã thấy rằng "Con ngời thời kỳ này ngời tốtvẫn chiếm đa số Nhng họ luôn có một cuộc đấu tranh giữabản thân cái thiện và cái ác, giữa lý trí và dục vọng, giữa cáiriêng và cái chung bên trong con ngời Ngời ta vẫn tốt nhng cáitính hồn nhiên trong con ngời tốt dờng nh ít hơn xa" [35, tr.88-

89] Vì vậy khi nhận ra đợc điều này có thể nói đây là địa

bàn hoạt động cho hàng loạt truyện ngắn sau 1975 củaNguyễn Minh Châu viết về đời t thế sự về đạo đức và tất cảmọi mối quan hệ phức tạp trong thời ký hậu chiến Với cáctruyện ngắn sau 1975, thành công chủ yếu của Nguyễn MinhChâu là đem đến cho ngời đọc một cái nhìn mới về hiệnthực đất nớc sau chiến tranh Nhìn cuộc sống hàng ngày tởng

nh bình yên nhng thực chất đằng sau cái bình yên ấy là tất cảcác mối quan hệ xã hội phức tạp., Nguyễn Minh Châu đi tìmtất cả các mối quan hệ phức tạp đó của cuộc sống theo cáchriêng của ông Mỗi truyện ngắn ông nêu ra là một trờng hợp cụthể xen vào mạch kể chuyện ông bàn bạc một quan niệm sống

và báo động về một điều gì đó" Vì thế hàng loạt truyện

ngắn của Nguyễn Minh Châu ra đời thời kỳ này nh Bức tranh Bến quê, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Chiếc thuyền ngoài xa, Một lần đối chứng, Mẹ con chị hằng, sắm vai, Đứa

ăn cắp, Dấu vết nghề nghiệp, Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền nam, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát… Mỗi truyện ngắn ra đời là một

thông điệp Nguyễn Minh Châu muốn gửi đến độc giả quanniệm của ông về cuộc sống và các chuẩn mực đạo đức, cácbậc thang giá trị của con ngời ngày một xuống cấp nghiêmtrọng

Trang 37

Phần lớn các truyện ngắn sau 1975 của nguyễn Minh Châu

đều đợc thể hiện dới dạng cấu tứ một luận đề Truyện ngắn

Bức tranh đặt ra một luận đề về đạo đức với một thông điệp

khẩn thiết "Xin mọi ngời hãy tạm ngừng ít phút cái nhịp sốngbận bịu chen lấn để tự suy nghĩ về chính mình" [17, tr.134]

Trong truyện ngắn Một lần đối chứng, không đa ra giải pháp

nhng nhân vật tôi trong truyện đã đề nghị một cuộc đốichứng "nhân danh loài ngời" nh muốn nhắc nhở chúng ta phải

lu tâm đến bản chất con ngời bao hàm cả ánh sáng và bóngtối, nhân cách và phi nhân cách, lý trí, trí tuệ và bản năng mùquáng,…"lu tâm để thấu hiểu và cảnh giác với chính mình,với cái phần vô thức vẫn nơng náu trong những góc sâu kín

nhất của con ngời"[17, tr.364].

Truyện ngắn Nguyễn Minh Châu còn thể hiện những

nghịch lý của đời sống Bến quê là truyện ngắn mà tác giả đã

sáng tạo ra tình thế đặc biệt để đặt nhân vật vào đó màsoi rọi vào thế giới bên trong của họ làm nổi bật lên vấn đề t t-

ởng của truyện Tình huống trong Bến quê là hoàn cảnh đầy

vẻ nghịch lý, nhân vật chính là Nhĩ vào thời điểm cuối đời

mới phát hiện ra vẻ đẹp của Bến quê ngay cạnh nhà mình cũng

là lúc anh không còn thời gian và khả năng để đạt tới đợc.Hành động của Nhĩ "Cố thu mình nhặt hết mọi sức lực cònsót lại để đu mình nhô ra ngoài, giơ cánh tay gầy guộc rangoài cửa sổ khoát y nh đang khẩn thiết ra hiệu cho một ai

đó là anh đang nôn nóng thúc giục đa con trai hãy mau kẻo lỡchuyến đò trong ngày Nhng hình ảnh này còn gợi ra sức liên t-ởng khái quát hơn Đó là ý muốn thức tỉnh mọi ngời phải dứtkhoát với những cái vòng vèo chùng chình mà chúng ta đang savào đờng đời, để hớng tới những giá trị đích thực vốn giản

dị, gần gũi và bền vững" [26, tr.80].

Trang 38

Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa phê phán cái nhìn lãng

mạn một chiều về cuộc sống, đồng thời cũng đặt ra tráchnhiệm của ngời làm nghệ thuật phải đào sâu, phải khám phábản chất bên trong của hiện thực "Đằng sau cái vẻ êm đềmphẳng lặng của bãi biển mù sơng là cả một cảnh tợng đau xót.Cảnh chồng đánh vợ ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận

nặng", đó còn là cảnh ngời vợ âm thầm chịu đựng vì hạnh

phúc gia đình và vì cuộc sống của những đứa con Đó còn là

sự phi lý khi ngời vợ ra tòa khóc lóc van xin vì không muốn ly

dị với chồng Truyện là sự phê phán cái xấu, cái ác, thể hiệnnghịch lý trong đời sống hàng ngày Truyện mang đến mộtbài học đúng đắn về cách nhìn nhận con ngời và cuộc sốngmột cách đa diện nhiều chiều, phát hiện ra bản chất sự thậtsau vẻ đẹp đẽ bề ngoài của hiện tợng Đúng nh Nguyễn MinhChâu đã từng khẳng định "nhà văn không có quyền nhìn sựvật một cách đơn giản và nhà văn cần phải phấn đấu để đào

xới bản chất của con ngời vào tầng sâu của lịch sử"

Viết về đề tài đời t thế sự đợc tác giả thể hiện qua một

loạt truyện ngắn: Mẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp, Lũ trẻ ở dãy K, Hơng và Phai Mỗi truyện ngắn là sự tái hiện những mảnh

đời, những số phận con ngời Qua đó nhà văn luận bàn vềnhững vấn đề về đạo đức, nhân cách con ngời Truyện ngắn

Mẹ con chị Hằng - một vấn đề tởng rất bình thờng trong cách

c xử hàng ngày của nhiều ngời nhng qua lối dẫn giắt câuchuyện của tác giả khiến ngời đọc phải giật mình Hóa ra sự

hy sinh âm thầm nhẫn nhục đến mức nh bản năng của ngời

mẹ đôi lúc làm cho con cái trở nên ích kỷ và hàng ngày chúng

ta vẫn sống nh vậy, vẫn xử sự nh vậy mà không nhận ra cái ích

kỷ nhỏ nhen vô trách nhiệm của bản thân đối với cha mẹmình

Trang 39

Truyện ngắn Hơng và Phai là sự tái hiện những mảnh đời

vụn vặt giản dị, những câu chuyện tầm phào ở hiệu sách, vòinớc công cộng, bên chảo ô mai Những chi tiết nghiêm túc bi hàitrong đám cới, những lo toan sinh kế hàng ngày Tất cả đều

đợc dựng lại từ góc nhìn của "Hai con nhóc" nh một lát cắt giởdang của cuộc sống Câu chuyện đợc triển khai từ tình huống

đầy nghịch lý, hớng tới sự chiêm nghiệm và triết lý nhân sinhsâu sắc "Con ngời có khi tạo ra những bất ngờ làm thay đổi

đời ngời, có khi lại bất lực trớc hoàn cảnh" Qua câu chuyệnNguyễn Minh Châu đã giúp cho ngời đọc khái quát đợc nhữngtriết lý nhân sinh, chiêm nghiệm lẽ đời và cảnh tỉnh nhữngtình trạng đạo đức xã hội

Truyện ngắn Đứa ăn cắp, qua một trờng hợp cá biệt nhà

văn muốn ngời đọc lu ý, con ngời ta có thể độc ác một cáchhồn nhiên ngoài ý muốn Qua câu chuyện Nguyễn Minh Châumuốn đề nghị một cách nhìn con ngời sao cho thỏa đáng là

truyện ngắn Dấu vết nghề nghiệp.

Viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh đợc thể hiện

qua truyện ngắn Mùa trái cóc ở Miền Nam Truyện ngắn này

đã xoay quanh vấn đề nhân cách con ngời sau lửa đạn và lên

án sự tha hóa của một số cán bộ có chức quyền Cỏ lau là một

sự thật nghiệt ngã của những con ngời sống sót trở về sauchiến tranh đã phải gánh chịu hậu quả quá nặng nề Chìmkhuất sau đó là biết bao nỗi sự đa đoan của cuộc đời và từng

số phận con ngời, biết bao sự hy sinh mất mát dang dở, chia

lìa Truyện ngắn Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành lại là

một thông điệp về "lịch sử tâm hồn thời đại" Qua câuchuyện, ngời đọc nhận ra một ý tởng lớn của nhà văn chuyển

từ tơng quan đời sống bằng biện pháp nghệ thuật đặc biệtvào bên trong con ngời cụ thể tức là trao cho họ "gánh nặng

tâm hồn" Trong khói lửa của bom đạn chiến tranh Quỳ khao

Trang 40

khát tìm kiếm vô vọng những giá trị tuyệt đối hoàn mỹ Nhngcàng tìm chị càng thấy chua chát cho nỗi thất vọng của mình

và cuối cùng chị nhận ra một điều rằng, cuộc đời không cóthánh nhân cũng nh không có một ngời nào mà tâm hồn có

thể hoàn toàn cứu chữa đợc

Truyện ngắn Sắm vai thể hiện một triết lý nhân sinh sâu

sắc đã từng khiến cho Nguyễn Minh Châu phải suy nghĩtrong nhiều năm trời Đó là vấn đề lựa chọn cách sống, sốngsao cho đúng với cái bản ngã của mình dầu có phai thua thiệthay khổ sở đến mức nào vẫn phải sống thật, phải "nhìnthẳng vào sự thật" Đọc câu chuyện bên ngoài có vẻ nh hài hớc,bên trong là nỗi xót xa Nguyễn Minh Châu xây dựng truyệnnày cũng nhằm liên tởng đến số phận ngời viết văn Nhà văn

sau 1975 có buộc phải Sắm vai hay không đó là điều băn

khoăn trăn trở của Nguyễn Minh Châu và các đồng nghiệp của

ông khi họ đang luẩn quẩn bế tắc trong cái "hành lang hẹp vàthấp kia" mà cha có đủ niềm tin để "lấy lại chiều cao, chiều

ngang đích thực của mình" Khi viết văn vẫn còn trong tình

trạng một câu "trung" phải đi đôi với một câu "nịnh"

Viết về đề tài nông thôn và ngời nông dân trong thời kỳ

quá độ đợc thể hiện qua truyện ngắn Phiên chợ Giát Đây là

thiên truyện tiếp nối ý đồ của Nguyễn Minh Châu đã đợc khởi

thảo từ Khách ở quê ra Truyện đợc nhà văn hoàn thành vào

những ngày cuối cùng khi còn ở trên giờng bệnh để viết tiếp

về truyện lão Khúng Khách ở quê ra và Phiên chợ Giát lên án kiểu

làm ăn cá thể trong khi mọi ngời đang "nô nức kéo nhau vàohợp tác xã ào ào nh trống rong cờ mở" Qua truyện, NguyễnMinh Châu đã khám phá những nét chủ yếu của ngời nôngdân t hữu sản xuất nhỏ thời kỳ hậu chiến với những u, nhợc

điểm xây dựng xã hội hiện tại nhng cũng bộc lộ khá rõ nhữngnét hạn chế của lão Khúng Nếu cứ để lão phát huy hết nhợc

Ngày đăng: 08/09/2021, 01:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyên An (2001), "Nguyễn Minh Châu - Đổi mới chắc chắn từ một sức viết dồi dào", Tập san Văn học và tuổi trẻ, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu - Đổi mới chắc chắn từ một sức viết dồi dào
Tác giả: Nguyên An
Năm: 2001
2. Vũ Tuấn Anh (1991), "T duy nghiên cứu văn học hiện đại trớc yêu cầu đổi mới", Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: T duy nghiên cứu văn học hiện đại trớc yêu cầu đổi mới
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1991
3. Vũ Tuấn Anh (1995), "Đổi mới văn học vì sự phát triển", Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
4. Lại Nguyên Ân (1977), Sống với văn học cùng thời, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lại Nguyên Ân (1977), "Sống với văn học cùng thời
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
5. Lại Nguyên Ân (1987), "Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu", Tạp chí Văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tác truyện ngắn gần đây của Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Năm: 1987
6. Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Bình (Su tầm và biên soạn 10/2006), "Đời sống Văn nghệ thời kỳ đầu đổi mới", http://viet studies.info Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống Văn nghệ thời kỳ đầu đổi mới
7. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Bộ Văn hóa thông tin thể thao, Trờng viết văn Nguyễn Du, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bakhtin (1992), "Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb BộVăn hóa thông tin thể thao
Năm: 1992
8. Bakhtin (1999), Thi pháp tiểu thuyết Đoxtoiepxki, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bakhtin (1999), "Thi pháp tiểu thuyết Đoxtoiepxki
Tác giả: Bakhtin
Nhà XB: Nxb GiáoDục
Năm: 1999
9. Lê Huy Bắc (1996), "Đồng hiện văn xuôi", Tạp chí Văn học, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng hiện văn xuôi
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1996
10. Ngô Vĩnh Bình (1990), "Nguyễn Minh Châu – cuộc đời và văn nghiệp", Báo Quân đội nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu – cuộc đờivà văn nghiệp
Tác giả: Ngô Vĩnh Bình
Năm: 1990
11. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam Sau 1975 (Khảo sát trên những nét lớn), Luận án Phó tiến sỹ, Trờng ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Bình (1996), "Những đổi mới của văn xuôinghệ thuật Việt Nam Sau 1975 (Khảo sát trên những nétlớn
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
12. Nguyễn Minh Châu (1971), "Những trang sổ tay viết văn", Tạp chí Văn nghệ Quân Đội, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trang sổ tay viếtvăn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1971
13. Nguyễn Minh Châu (1977), Lửa từ những ngôi nhà (Tiểu thuyết), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (1977), "Lửa từ những ngôi nhà (Tiểuthuyết
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1977
14. Nguyễn Minh Châu (1987), "Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa", Báo Văn nghệ, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho mộtgiai đoạn văn nghệ minh họa
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
15. Nguyễn Minh Châu (1987), Mảnh đất tình yêu (Tiểu thuyết), Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (1987), "Mảnh đất tình yêu
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1987
16. Nguyễn Minh Châu (1994), Trang giấy trớc đèn, (Tôn Ph-ơng Lan su tầm, tuyển chọn và giới thiệu), Nxb KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (1994), "Trang giấy trớc đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1994
17. Nguyễn Minh Châu (2006), Tuyển tập truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu (2006), "Tuyển tập truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 2006
18. Văn Chinh (1990), "Nguyễn Minh Châu và tập truyện ngắn cuối cùng: Cỏ lau", Báo nhân dân chủ nhật, (48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu và tập truyệnngắn cuối cùng: Cỏ lau
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 1990
19. Đỗ Chu (1995), "Một nền văn học gắn liền với vận mệnh dân tộc", Báo Văn nghệ, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền văn học gắn liền với vận mệnhdân tộc
Tác giả: Đỗ Chu
Năm: 1995
20. Phạm Vĩnh C (1990), "Về những yếu tố tiểu thuyết trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu", Báo Văn nghệ, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về những yếu tố tiểu thuyết trongtruyện ngắn Nguyễn Minh Châu
Tác giả: Phạm Vĩnh C
Năm: 1990

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w