1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn HOÀN CHỈNH Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam.

106 447 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 524,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đã bổ sung, góp phần hoàn thiện khái niệm tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự; cơ sở, ý nghĩa, nội dung, chủ thể và mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với một số nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật tố tụng dân sự. Phân tích, đánh giá được các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự, đã chỉ ra được một số những vướng mắc, bất cập của các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật làm hạn chế vai trò của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam. Qua đó, đã đưa ra được một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật để phát huy vai trò của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH VĂN CHUNG

NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRỊNH VĂN CHUNG

NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG

TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự

Mã số: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ANH TUẤN

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người cam đoan

Trịnh Văn Chung

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của Đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 1

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu Đề tài 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Điểm mới của Luận văn 4

7 Kết cấu của Luận văn 4

Chương 1- KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 5

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 5

1.1.1 Tranh tụng trong tố tụng dân sự 5

1.1.2 Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 10

1.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 11

1.2 Cơ sở của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 12

1.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 12

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 15

1.3 Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với một số nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự 16

1.4 Lược sử hình thành và phát triển các quy định về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam 19

1.4.1 Từ năm 1945 đến trước năm 2005 19

1.4.2 Từ năm 2005 đến nay 25

Kết luận Chương 1 28

Chương 2- CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 29

2.1 Quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ về tranh tụng của người tham gia tố tụng 29

2.1.1 Quy định về quyền bình đẳng trong tố tụng dân sự 29

Trang 5

2.1.2 Quy định về quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc

lập và thời điểm được bổ sung yêu cầu trong quá trình Tòa án

giải quyết tranh chấp 29 2.1.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng

trong việc thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ; được biết tài

liệu, chứng cứ do người khác xuất trình 31 2.1.4 Quy định về quyền bảo vệ và tranh luận 35

2.2 Quy định về trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm tranh

tụng trong tố tụng dân sự 36

2.2.1 Sự độc lập, vô tư của Toà án trong tố tụng dân sự - tiền đề

cần thiết của việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng 36 2.2.2 Quy định về trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm

cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp thực hiện

tranh tụng trong tố tụng dân sự 39 2.2.3 Quy định về trách nhiệm của Toà án trong việc bảo đảm

cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp thực hiện

các quyền tố tụng khác 41

2.3 Các quy định về thủ tục liên quan đến nguyên tắc tranh tụng

trong tố tụng dân sự 42

2.3.1 Các quy định về thủ tục khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự

liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 42 2.3.2 Các quy định về thủ tục trong giai đoạn chuẩn bị xét xử

liên quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 44 2.3.3 Các quy định về thủ tục tại phiên tòa xét xử sơ thẩm liên

quan đến nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 50 2.3.4 Các quy định về thủ tục phúc thẩm liên quan đến nguyên

tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 56

Kết luận Chương 2 58Chương 3- THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG

60TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 603.1 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 60

3.1.1 Kết quả đạt được trong thực hiện nguyên tắc tranh tụng

trong tố tụng dân sự 60 3.1.2 Những tồn tại, hạn chế trong thực hiện nguyên tắc tranh

tụng trong tố tụng dân sự và nguyên nhân 63

3.2 Kiến nghị về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự 70

Trang 6

3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tranh tụng trong tố tụng

dân sự 70

3.2.2 Kiến nghị thực hiện pháp luật về tranh tụng trong tố tụng dân sự 87

Kết luận Chương 3 92

KẾT LUẬN CHUNG 93

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Xây dựng và hoàn hiện bộ máy Nhà nước, bộ máy cơ quan tiến hành tốtụng; pháp luật về tố tụng để góp phần bảo vệ quyền con người, quyền và lợiích hợp pháp của công dân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng,Nhà nước và Nhân dân ta đang hướng tới Thực hiện chủ trương của Đảng vềcải cách tư pháp nói chung và hoạt động xét xử, giải quyết các vụ việc của Tòa

án nói riêng trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu nhất định, gópphần quan trọng vào việc đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Trong lĩnh vực TTDS, vấn đề xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranhtụng đang thu hút sự quan tâm rộng rãi của nhiều nhà khoa học cũng nhưnhững nhà hoạt động thực tiễn Tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trongTTDS là gì? Nội dung, ý nghĩa, vai trò của nguyên tắc này trong điều kiện cảicách tư pháp được thể hiện ra sao? Việc áp dụng nguyên tắc tranh tụng đối vớipháp luật TTDS và thực tiễn Việt Nam như thế nào? Nghiên cứu một số vấn đềmang tính lý luận, pháp luật thực định và thực trạng về nguyên tắc tranh tụngtrong TTDS Việt Nam sẽ góp phần mở ra một bước đi mới trong việc hoànthiện và thực hiện pháp luật TTDS ở nước ta hiện nay nhằm nâng cao chấtlượng giải quyết các vụ án dân sự, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các quyếtđịnh, bản án dân sự bị hủy, sửa do vi phạm thủ tục tố tụng Quá trình nghiêncứu này cũng không nằm ngoài định hướng cải cách tư pháp mà Đảng và Nhà

nước ta đang đề cập đến hiện nay Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ luật học.

2 Tình hình nghiên cứu

Quá trình xây dựng BLTTDS năm 2004 và sau khi Bộ luật được ban hành

đã có một số công trình nghiên cứu khoa học pháp lý được công bố có đề cậptới vấn đề này như: Kỷ yếu hội thảo (của Nhà pháp luật Việt – Pháp ngày

18/01/2002) về “Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng.

Trang 9

Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm và quản lý Thẩm phán; Luận văn thạc sỹ luật học “Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, một

số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2002; Bài về “Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự” của TS Nguyễn Công Bình đăng trên Tạp chí Luật học số 6/2003; Bài “Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa” của PGS.TS Trần Văn Độ đăng trên tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2004; Đề tài cấp cơ sở “Tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp” do Trường Đại học Luật Hà Nội thực hiện năm 2011; Bài viết “Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự” của TS Mai Bộ đăng trên trang Web của Tòa án nhân dân tối cao năm 2014 v.v… Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu các

công trình này mới chỉ đề cập đến một số nội dung của đề tài dưới dạng riêngbiệt, chưa nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống các vấn đề liên quan vềnguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam

Ngoài ra, phần lớn các công trình này đều được thực hiện trước khi ra đờiBLTTDS sửa đổi năm 2011 Trong khi đó BLTTDS sửa đổi năm 2011, Hiếnpháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, BLTTDS năm

2015 đã có nhiều nội dung mới có liên quan đến vấn đề này đòi hỏi phải có sựnghiên cứu kịp thời và đầy đủ về nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu Đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu Đề tài là làm rõ hơn những vấn đề lý luận

về tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam, nội dung các quyđịnh của pháp luật liên quan đến tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trongTTDS Phát hiện những bất cập, vướng mắc trong các quy định này và thựctiễn thực hiện để đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của tranh tụngtrong TTDS theo tinh thần cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta

Nhiệm vụ của việc nghiên cứu Đề tài là: Tìm hiểu những vấn đề lý luận vềtranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong TTDS, các nội dung và yếu tố quyếtđịnh của nguyên tắc tranh tụng trong TTDS; phân tích, nghiên cứu thực tiễn xét

Trang 10

xử, giải quyết các vụ án dân sự để phát hiện những vướng mắc, bất cập trongcác quy định của pháp luật liên quan đến tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng;nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập để từ đó đề ra những giải pháp đểnâng cao vai trò của tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong TTDS.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài

Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là những vấn đề lý luận về tranh tụng vànguyên tắc tranh tụng trong TTDS, thực tiễn thực hiện các quy định của phápluật Việt Nam về những quy định này Liên quan đến Đề tài, có nhiều nội dungkhác nhau, trong phạm vi của một luận văn thạc sỹ không thể xem xét giảiquyết hết mọi vấn đề mà chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu các nội dungsau:

- Một số vấn đề lý luận về tranh tụng, nguyên tắc tranh tụng trong TTDSnhư khái niệm, nội dung, ý nghĩa, cơ sở, đối tượng và lịch sử các quy định vềtranh tụng để hình thành nên nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam;

- Nội dung và một số quy định liên quan đến tranh tụng trong TTDS hiệnhành, tập trung vào các quy định trong các BLTTDS của Việt Nam (bao gồm

cả BLTTDS năm 2015) chủ yếu ở trong và trước giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự, có so sánh với các quy định về tranh tụng và nguyên tắc tranh tụngcủa một số nước có nền tố tụng phát triển trên thế giới;

- Những kết quả đạt được và hạn chế, nguyên nhân của các quy định phápluật liên quan đến tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam

Từ đó đưa ra một số kiến nghị về xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật đểhoàn thiện và nâng cao vai trò của tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng tronggiải quyết vụ án dân sự

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện nghiên cứu Đề tài, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luậnduy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng HồChí Minh, quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật và chủ trương về cảicách tư pháp trong giai đoạn hiện nay Việc nghiên cứu cũng đã sử dụng các

Trang 11

phương pháp truyền thống như: phương pháp logic - lịch sử, phương phápthống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp

6 Điểm mới của Luận văn

Đây là công trình nghiên cứu về tranh tụng trong TTDS Việt Nam dướigóc độ là một nguyên tắc pháp luật nên có những điểm mới như sau:

- Bổ sung, làm rõ và góp phần hoàn thiện khái niệm, ý nghĩa, cơ sở, nộidung của tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Việt Nam;

- Trong bối cảnh BLTTDS năm 2015 mới ra đời, chưa có hiệu lực phápluật, Đề tài sẽ làm rõ một số nội dung liên quan đến nguyên tắc tranh tụngtrong tố tụng dân sự giúp cho quá trình áp dụng luật và hướng dẫn luật trongthời gian sắp tới

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt và Tài liệu thamkhảo, Luận văn gồm 3 chương như sau:

- Chương 1 - Khái quát về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

- Chương 2 - Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyêntắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

- Chương 3 - Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

và kiến nghị

Trang 12

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG

TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.1 Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

1.1.1 Tranh tụng trong tố tụng dân sự

Đối với việc nghiên cứu đề tài nguyên tắc tranh tụng trong TTDS ViệtNam thì khái niệm tranh tụng trong TTDS là một vấn đề hết sức quan trọng,khái niệm này giúp hiểu đúng và đầy đủ về nguyên tắc tranh tụng trong TTDS.Theo các nhà nghiên cứu, tố tụng tranh tụng xuất hiện sớm nhất ở Châu

Âu, cùng với sự xuất hiện của Tòa án nhà nước Loại hình tố tụng này được áp

dụng tại Hy Lạp cổ đại, sau đó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”[10, tr.2] Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa,

phát triển và cho đến nay nó được áp dụng ở hầu hết các nước thuộc hệ thốngluật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ

Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệmnày Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng có nghĩa

là “cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”[12, tr.621]; theo Đại từ điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”[26, tr.1686], đây có thể coi là những

cách hiểu chung nhất về “từ ngữ” tranh tụng Tại Từ điển luật học thì tranh

tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”[30, tr.807-808] Cách hiểu này đã

thể hiện được một số đặc trưng của tranh tụng như: “là hoạt động tố tụng củacác bên tham gia tố tụng”; “có quyền bình đẳng với nhau để bảo vệ các quanđiểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đốilập” Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với

Trang 13

những hoạt động tố tụng khác và cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của mộtchủ thể là Tòa án.

Xung quanh khái niệm tranh tụng trong TTDS còn có nhiều quan điểmkhác, ví dụ như:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “tranh tụng trong TTDS được hiểu là một phương thức tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình, toà án xác định

sự thật khách quan của vụ án”[7].

Quan điểm thứ hai cho rằng: “Tranh tụng là việc các bên đương sự đưa

ra các chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo vệ quyền lợi của mình và Tòa án chủ yếu dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự”[30, tr.19].

Quan điểm thứ ba cho rằng:

“Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi có yêu cầu khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Quá trình tranh tụng này không chỉ bao gồm các giai đoạn khởi kiện, chuẩn bị xét xử, thu thập, trao đổi chứng cứ, tài liệu, quan điểm về việc giải quyết vụ án, đối chất giữa các bên đương sự, xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà cả giai đoạn xét xử theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm Thậm chí quá trình tranh tụng có thể được tiến hành lại từ giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm trong trường hợp khi bản án, quyết định về vụ án bị Tòa án cấp trên hủy để tiến hành xét xử lại.

Theo nghĩa hẹp, quá trình tranh tụng được tiến hành tại các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, theo đó các bên đương sự dưới sự điều khiển của Hội đồng xét xử trực tiếp trình bày yêu cầu, chứng cứ, tranh luận và đối đáp với nhau về chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ, lập luận để chứng minh rằng yêu cầu, phản yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình đối với đương sự phía bên kia là có căn cứ

và hợp pháp Trên cơ sở kết quả tranh tụng của các bên đương sự, Hội đồng xét xử ra phán quyết về việc giải quyết vụ án dân sự”[27, tr.6].

Trang 14

Nghiên cứu các quan điểm nêu trên, nếu hiểu tranh tụng trong TTDS nhưquan điểm thứ nhất thì chưa cụ thể vì mới chỉ coi tranh tụng là một phươngthức (hay phương pháp) tố tụng để đương sự bảo vệ quyền lợi của mình; Tòa

án xác định sự thật khách quan của vụ án, theo cách hiểu này thì chưa xác địnhđược những đặc điểm của tranh tụng để phân biệt với các phương pháp tố tụngkhác Đối với quan điểm thứ hai, đã chỉ ra được những đặc điểm của tranh tụngnhưng lại không nêu được bản chất của tranh tụng, đó là tranh tụng chỉ diễn ratrong quá trình giải quyết vụ án dân sự chứ không có trong quá trình giải quyếtviệc dân sự; hoạt động tranh tụng phải được chứng kiến, ghi nhận bởi Tòa án.Đối với quan điểm thứ ba, đã đưa ra hai góc nhìn khác nhau về tranh tụng theonghĩa “rộng” và “hẹp” Tuy nhiên, tranh tụng không đồng nghĩa với quá trìnhgiải quyết vụ án mà là hoạt động được diễn ra trong quá trình đó

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tranh tụng trong TTDS như

sau: “Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và kết quả của quá trình này được Tòa án sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án”.

Cũng cần phải phân biệt giữa tranh tụng và tranh luận Tranh luận có xuấtphát điểm từ tranh chấp, mâu thuẫn, tranh luận là cốt lõi và sự biểu hiện tậptrung của tranh tụng, nếu không có tranh luận thì sẽ không có tranh tụng hoặctranh tụng sẽ không được biểu hiện rõ nét nhưng tranh luận chưa phải là tranhtụng Tranh tụng là một tổng thể gồm cả tranh luận và quyền, nghĩa vụ cungcấp chứng cứ; quyền được biết chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý áp dụng của phíađối lập, quyền được hỏi những người tham gia tố tụng khác để bảo đảm choviệc tranh luận Như vậy, trong một số trường hợp (như thủ tục giải quyết việcdân sự, giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng ) vì không có tranhchấp giữa các bên đương sự với nhau nên không có quá trình tranh tụng

Trang 15

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, hai loại chủ thể có liên quan chủyếu tới việc thực hiện và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong TTDSViệt Nam là đương sự (chủ thể tham gia tranh tụng) và Tòa án (chủ thể bảođảm tranh tụng).

Chủ thể tham gia tranh tụng được hiểu là những chủ thể mang quyền,nghĩa vụ tố tụng, tham gia vào quá trình tranh tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp của mình trước Tòa án Do đó, quá trình tranh tụng luôn có sự thamgia của hai bên đương sự, là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động,quyết định kết quả tranh tụng Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát từ chínhyêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của họ trong vụ án, kết quả tranh tụng ảnhhưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của bản thân các đương sự Hơn nữa, các

vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi ích giữa cácđương sự Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phảithuộc về các đương sự, người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh ra tranhchấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nhất để biết rõ sự thật, mà còn làm cácbên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại theo đúng quy định của phápluật

Đương sự trong vụ án dân sự gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan nhưng chủ thể tranh tụng trước hết và chủ yếu là nguyênđơn và bị đơn Họ là những chủ thể có mâu thuẫn về quyền và lợi ích, họ đứng

ở vị trí tố tụng đối lập nhau Trong suốt quá trình tranh tụng, nguyên đơn và bịđơn bình đẳng với nhau và liên tục trao đổi với nhau những chứng cứ, lý lẽ, căn

cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trướcToà án trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS

Ngoài nguyên đơn và bị đơn, tham gia vào quá trình tranh tụng còn cóngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong trường hợp này họ cũng đượccoi là chủ thể tranh tụng, bởi họ cũng có lợi ích liên quan đến vụ án, tham giatranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan cũng có quyền đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn

Trang 16

Do vậy, họ cũng được đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ và lập luận đểchứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của các đương sựkhác.

Như vậy, có thể thấy đương sự là những chủ thể giữ vị trí và vai trò trungtâm trong quá trình tranh tụng Tuy nhiên, trên thực tế có những đương sựkhông thể hoặc không có điều kiện thực hiện tốt nhất quyền tranh tụng củamình nên việc tranh tụng của các đương sự này do người đại diện hoặc ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện Việc tham gia tranhtụng của người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương

sự xuất phát từ quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự chứkhông phải xuất phát trực tiếp từ lợi ích của họ bởi họ không phải là các chủthể tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung

Người đại diện của đương sự là người thay mặt cho đương sự tham giavào quá trình tranh tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự như bảo vệ quyền lợi cho chính mình Người đại diện có quyền vànghĩa vụ tố tụng của đương sự khi tham gia vào tranh tụng Do đó, người đạidiện có quyền được biết tất cả chứng cứ, lý lẽ của bên đương sự đối phương vàđược quyền trình bày ý kiến, đối đáp về những vấn đề mà đối phương có yêucầu đối với đương sự mà mình đại diện Người đại diện của đương sự phải cóquyền bình đẳng với bên đương sự đối lập trước Tòa án trong việc thực hiệntranh tụng

Trong tranh tụng thì không thể thiếu một chủ thể quan trọng đó là ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Họ là người giúp đỡ đương sự

về mặt pháp lý, đồng thời tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự Người bảo vệ có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, có cácquyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định chứ không bị ràng buộc bởi quyền vànghĩa vụ của đương sự như người đại diện Người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của đương sự thông thường là các Luật sư hoặc là những người am hiểupháp luật Trong quá trình tranh tụng, do người bảo vệ là người có kiến thức

Trang 17

pháp luật, kinh nghiệm tham gia tố tụng và kỹ năng tranh tụng nên có thể giúpcho các bên đương sự bảo vệ tốt quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nhất làtrong việc đưa ra chứng cứ, căn cứ pháp lý và các lập luận Không những thế, ýkiến tham gia tranh tụng của người bảo vệ còn giúp cho Tòa án trong việc giảiquyết vụ án.

Tòa án có vai trò quyết định bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng trongTTDS được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và hiệu quả Để bảo đảm sự côngbằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự thì trong quá trìnhtranh tụng Tòa án, mà trước tiên là Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án

và HĐXX tại phiên tòa phải thực hiện đúng chức năng của mình là người tàiphán công minh, xem xét, đánh giá toàn diện tất cả các chứng cứ, căn cứ, lậpluận mà các bên đương sự đưa ra trong quá trình tranh tụng Tòa án điều khiểnquá trình tranh tụng, bảo đảm quá trình này diễn ra một cách rõ ràng, đúng quyđịnh của pháp luật TTDS và bảo đảm sự bình đẳng của các bên tham gia tranhtụng, kết quả tranh tụng sẽ là căn cứ để Tòa án ra quyết định giải quyết vụ án

1.1.2 Khái niệm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Từ điển tiếng Việt, khái niệm từ “nguyên tắc” là “điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”[28, tr.694] Theo Giáo trình

lý luận chung nhà nước và pháp luật của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

thì “nguyên tắc pháp luật” được hiểu là “những tư tưởng chỉ đạo cơ bản, mang tính xuất phát điểm, định hướng, chịu sự quy định của những quy luật phát triển khách quan của xã hội, xuyên suốt nội dung, hình thức pháp luật, toàn bộ thực tiễn pháp luật, hoạt động xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, hành vi pháp luật, ý thức pháp luật” [34, tr.344] Còn theo Giáo trình lý luận nhà nước

và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “nguyên tắc pháp luật xã hội

chủ nghĩa” được hiểu là “những tư tưởng chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật” [33, tr.405] Đối với lĩnh vực TTDS, theo

Giáo trình luật TTDS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “nguyên

tắc” của luật TTDS Việt Nam được hiểu là “những tư tưởng pháp lý chỉ đạo,

Trang 18

định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật TTDS và được ghi nhận trong các văn bản pháp luật TTDS” [32, tr.36].

Như vậy nguyên tắc tranh tụng trong TTDS được hiểu là: “những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết vụ án dân sự, theo đó các bên đương sự có quyền xuất trình, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của mình; phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án và Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng để quyết định về việc giải quyết vụ án dân sự”.

1.1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

- Nguyên tắc tranh tụng đề cao tính chất dân chủ, công khai và minh bạchtrong hoạt động TTDS:

Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS là tư tưởng pháp lý chỉ đạo thể hiện rõnhất tính chất dân chủ, công khai và minh bạch của TTDS Trong quá trìnhthực hiện việc tranh tụng, các đương sự, người đại diện của đương sự đều đượcbình đẳng, chủ động và công khai đưa ra các chứng cứ, căn cứ pháp lý và đốiđáp nhau để làm rõ sự thật khách quan của vụ án dân sự Tòa án là cơ quan tiếnhành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình tranh tụng, sử dụng kết quả tranhtụng của các bên để giải quyết vụ án dân sự một cách khách quan, công bằng vàđúng pháp luật

- Nguyên tắc tranh tụng tạo cơ hội cho các bên đương sự bảo vệ quyền vàlợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án:

Với việc giải quyết vụ án dân sự theo nguyên tắc tranh tụng, các đương sự

có điều kiện trong việc trình bày, đưa ra các chứng cứ, lý lẽ chứng minh choquyền và lợi ích hợp pháp của mình Hơn nữa, tranh tụng cũng buộc các đương

sự phải nỗ lực, tích cực hơn trong việc tham gia tố tụng Kết quả tranh tụng là

cơ sở để Tòa án quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm mọi cách đểthu thập chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu cầu củamình là có căn cứ và hợp pháp, bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia

Trang 19

- Nguyên tắc tranh tụng góp phần bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa

án đã tuyên là có căn cứ và hợp pháp:

Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự thực hiện các quyền

và nghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa án xác định được sự thậtkhách quan của vụ án dân sự Trên cơ sở đó, Tòa án giải quyết được yêu cầucủa các đương sự, xác định đúng các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên theo quyđịnh của pháp luật Vì khi đương sự thực hiện đầy đủ các quyền TTDS củamình như quyền đề đạt yêu cầu để Tòa án bảo vệ, quyền đưa ra chứng cứ vàchứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, quyền được biếtchứng cứ do bên kia cung cấp hoặc do Tòa án thu thập, quyền yêu cầu Tòa án

áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyền được tự bảo vệ hoặc nhờ ngườikhác bảo vệ, quyền tranh luận tại phiên tòa… thì các tình tiết của vụ án đượclàm sáng tỏ, Tòa án có đầy đủ chứng cứ để giải quyết vụ án dân sự một cáchchính xác, công minh và đúng pháp luật

- Thông qua nguyên tắc tranh tụng trong TTDS giúp cho mọi công dânhiểu biết thêm pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào chế độ, vào đường lối,chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước Trên cơ sở đó góp phần vàoviệc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộcsống xã hội của Nhân dân, tạo điều kiện cho việc củng cố trật tự pháp luật vàpháp chế xã hội chủ nghĩa

1.2 Cơ sở của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

1.2.1 Cơ sở lý luận của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Tranh tụng trong TTDS là loại hình tố tụng đề cao vị trí, vai trò của đương

sự trong việc giải quyết tranh chấp, nó là một loại hình TTDS dân chủ nhất, thểhiện được sự tiến bộ của nền văn minh nhân loại [7, tr.6] Tranh tụng phát huyđược tính tích cực, chủ động của các đương sự trong việc thu thập, cung cấp vàđánh giá chứng cứ, thực hiện tranh tụng theo quy định của pháp luật TTDSnhằm giúp Tòa án nhanh chóng nhận thức được các tình tiết của vụ án để xácđịnh sự thật, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan, đúng

Trang 20

pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án.Trong quá trình tố tụng, các đương sự trao đổi với nhau những chứng cứ đểchứng minh, biện luận cho quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án trên cơ

sở của các quy định pháp luật TTDS

Tranh tụng trong TTDS xuất phát từ bản chất của quan hệ pháp luật nộidung giải quyết trong vụ án, bao gồm quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân vàgia đình, kinh doanh thương mại và lao động Các chủ thể của quan hệ phápluật nội dung này có quyền tự do, tự nguyện, bình đẳng trong việc thiết lập cácquyền và nghĩa vụ phục vụ cho lợi ích của mình phù hợp với lợi ích chung của

xã hội Các chủ thể có quyền tự định đoạt có tham gia vào quan hệ pháp luậtnội dung hay không, quyết định nội dung của quan hệ gồm các quyền và nghĩa

vụ của các bên, quyết định các phương thức thực hiện các quyền và nghĩa vụ.Khi họ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì việc thamgia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình phải thuộc về các đương sự Hơnnữa các vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh chấp về quyền và lợi íchgiữa các đương sự, do đó việc xác định nghĩa vụ đó có tồn tại hay không phảithuộc về các đương sự Việc xét xử vụ án dân sự thực chất là việc giải quyếtxung đột hoặc liên quan đến quyền lợi của đương sự Đương sự là chủ thể củaquan hệ pháp luật nội dung, là người đưa ra yêu cầu, kết quả của việc giải quyết

vụ án dân sự liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chính họ nên họ có quyền vànghĩa vụ tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tòa án Quá trình giảiquyết tranh chấp trong TTDS đòi hỏi các đương sự phải tranh tụng để làm rõđược quan hệ pháp luật nội dung tranh chấp, quyền lợi hợp pháp của mình trên

cơ sở các chứng cứ, tài liệu được xuất trình và các lý lẽ, lập luận được sử dụng

Vì mâu thuẫn về quyền lợi, nghĩa vụ của các bên đương sự là tiền đề và là độnglực thúc đẩy quá trình tranh tụng Mặt khác để tiến hành tranh tụng, pháp luậtTTDS phải quy định cụ thể quyền hạn, nghĩa vụ của các bên đương sự và Tòa

án trong việc tranh tụng, trình tự và thủ tục tranh tụng Thẩm phán giải quyết

vụ án phải độc lập, khách quan, có trình độ chuyên môn cao và năng lực xét xử

Trang 21

tốt Các đương sự phải biết được yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ của đối phươngđưa ra, phải có sự hiểu biết về pháp luật và những kinh nghiệm tham gia tốtụng nhất định [7, tr.7].

Tranh tụng thực chất là việc các bên đương sự đưa ra các chứng cứ, cáccăn cứ pháp lý, lập luận, đối đáp lại nhau, tranh luận với nhau để bảo vệ quyềnlợi của mình dưới sự chứng kiến của Tòa án Thông qua việc tranh tụng, cáctình tiết của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án nhận thức được sự thật khách quancủa vụ án Khi bên đưa ra yêu cầu đã chứng minh được tính có căn cứ và hợppháp đối với yêu cầu của mình thì bên phản đối yêu cầu cũng phải đưa rachứng cứ, lý lẽ để chứng minh sự phản đối của mình là có căn cứ Trong tranhtụng dân sự, các đương sự là người trong cuộc, biết được sự việc, đưa ra yêucầu nên họ phải cung cấp chứng cứ cho Tòa án và đương sự đối phương, từ đócác bên có thể đưa ra quan điểm của mình, giúp Tòa án có thể làm rõ sự việctranh chấp Để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được khách quan,đúng pháp luật giữa các đương sự phải được bình đẳng về quyền và nghĩa vụTTDS Tòa án có nhiệm vụ thực hiện những biện pháp do pháp luật quy định

để tạo điều kiện cho các đương sự được thật sự bình đẳng với nhau trong việcthực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ Tranh tụng thực chất là việccác đương sự cung cấp chứng cứ, đưa ra các luận điểm, căn cứ pháp lý để đốiđáp, tranh luận với nhau để bảo vệ quyền lợi của mình, giảm bớt trách nhiệmxác minh thu thập chứng cứ của Tòa án, tạo điều kiện để Tòa án trở thành cơquan tài phán độc lập, bảo đảm khách quan trong quá trình giải quyết vụ án dân

sự Loại hình tố tụng tranh tụng quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ tố tụngcủa các đương sự trong vụ án dân sự để họ có thể tự bảo vệ được các quyền, lợiích hợp pháp của mình Tòa án là cơ quan bảo vệ công lý, với chức năng xét xử

có vai trò bảo đảm cho các đương sự thực hiện tranh tụng để đi đến xác địnhđược sự thật của vụ án Các đương sự là chủ thể của tranh tụng nên giữ vai tròquan trọng trong quá trình tranh tụng, có quyền bình đẳng trong việc cung cấp,đánh giá chứng cứ, tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình

Trang 22

Tranh tụng xuất phát từ yêu cầu xét xử đúng pháp luật các vụ án dân sựcủa Tòa án Tranh tụng có ý nghĩa lớn trong việc tìm ra sự thật của vụ án, bảo

vệ quyền lợi của đương sự [7, tr.7] Để giải quyết đúng pháp luật các vụ án dân

sự, Tòa án phải đánh giá, phân tích các chứng cứ, căn cứ pháp lý mà các đương

sự cung cấp Tranh tụng yêu cầu phiên tòa dân sự được diễn ra theo hướng cácđương sự thực hiện nghĩa vụ đưa ra chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho yêu cầucủa mình còn Tòa án chỉ thẩm tra các chứng cứ do các đương sự và nhữngngười tham gia tố tụng khác cung cấp Thông qua tranh tụng Tòa án có điềukiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá chứng cứ làm sáng tỏ các quan hệpháp luật nội dung mà các đương sự tranh chấp trong vụ án Mục đích cuốicùng bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được khách quan và đúng pháp luật

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án cho thấy tỷ lệ các vụ ándân sự bị hủy, sửa còn cao, do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong đó cónhiều trường hợp là khi tiến hành giải quyết các vụ án dân sự Tòa án đã viphạm thủ tục tố tụng, đặc biệt là chưa tạo điều kiện cho các đương sự trình bàychứng cứ, lý lẽ để làm sáng tỏ vụ án Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội vàxây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong giai đoạn hiệnnay việc nâng cao chất lượng xét xử các vụ án dân sự của Tòa án là một đòi hỏicấp bách Vì vậy, phải đổi mới mô hình TTDS trong đó có sự kết hợp nhữngyếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng với thẩm vấn Tranh tụng trongTTDS là giải pháp làm cho Tòa án gần dân, giúp dân, hiểu dân, tăng cườnghiệu quả công tác xét xử các vụ án dân sự, hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các

vụ án dân sự bị hủy, sửa do lỗi chủ quan hoặc phải kéo dài thời hạn giải quyết.Tranh tụng trong TTDS cũng xuất phát từ yêu cầu thực hiện chiến lược cảicách tư pháp của Nhà nước ta Trước những yêu cầu của việc đẩy mạnh côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước trên mọi lĩnh vực, để hoàn thiện hệ thống phápluật nói chung cũng như đổi mới thủ tục TTDS nói riêng trong điều kiện xâydựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, ngày

Trang 23

24/5/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, địnhhướng đến năm 2020 Tiếp đó, ngày 02/6/2005 Bộ chính trị đã ban hành Nghịquyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Cả hai Nghịquyết này đều xác định nhiều định hướng quan trọng, toàn diện cho việc xâydựng hệ thống pháp luật và chương trình cải cách tư pháp đến năm 2020, trong

đó trọng tâm là đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp nhằmbảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tham gia TTDS, người dân có cơ hộiđược tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua quá trình tranhtụng góp phần hạn chế các tranh chấp dân sự đang ngày càng gia tăng Ngày29/03/2011 khi Quốc hội ban hành BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã bổ sungthêm Điều 23a về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luận trong TTDS Tuy vậy,

do tranh luận không phải là tranh tụng nên nguyên tắc này chưa thật sự bảođảm được các yêu cầu của tranh tụng Tiếp đó, khi Hiến pháp năm 2013 được

thông qua, tại Điều 103 khoản 5 Hiến pháp khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” Đây là quy định mang tính chất bản lề cho

việc xây dựng và hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong các luật tố tụng nóichung và trong luật TTDS nói riêng Vì vậy, khi BLTTDS năm 2015 đượcthông qua thì nguyên tắc tranh tụng trong TTDS đã được khẳng định là mộttrong những nguyên tắc chung nhất của luật TTDS

1.3 Mối quan hệ giữa nguyên tắc tranh tụng với một số nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự

- Nguyên tắc tranh tụng có mối liên hệ với nguyên tắc “Cung cấp chứng

cứ và chứng minh trong TTDS” (được quy định tại Điều 6 BLTTDS năm 2004

và Điều 6 BLTTDS năm 2015) Trên cơ sở của nguyên tắc cung cấp chứng cứ

và chứng minh trong TTDS thì các đương sự biết được các yêu cầu và chứng

cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý cho yêu cầu của mình đưa ra và thông qua đó cácđương sự có thể tranh luận với nhau về các yêu cầu, phản yêu cầu, đưa ra các lý

lẽ để chứng minh cho quyền lợi hợp pháp, viện dẫn các quy định pháp luật làm

Trang 24

căn cứ cho những nhận định và kết luận của mình Thực chất của tranh tụng làviệc các bên đi tìm và so sánh chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình

là xác thực hơn Bên cạnh đó, các đương sự bình đẳng với nhau trong việc cungcấp chứng cứ, căn cứ pháp lý, lý lẽ chứng minh là điều kiện tốt nhất để cácđương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, việc tranh tụngchỉ có hiệu quả khi nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDSđược bảo đảm

- Nguyên tắc tranh tụng có mối liên hệ với nguyên tắc “Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS” (được quy định tại Điều 8 BLTTDS năm 2004

và Điều 8 BLTTDS năm 2015) Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng về quyền vànghĩa vụ dân sự giữa các cá nhân, pháp nhân Trong TTDS bình đẳng về quyền

và nghĩa vụ tố tụng là điều kiện thuận lợi để thực hiện việc tranh tụng tại Tòa

án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tranh tụng công bằng nhất làtranh tụng giữa các bên có vị trí pháp lý ngang bằng nhau Tòa án bảo đảm chocác đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS chính là bảo đảm cho cácđương sự bình đẳng trong việc tranh tụng tại Tòa án

Trang 25

- Nguyên tắc tranh tụng còn có mối liên hệ với nguyên tắc “Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” (được quy định tại Điều 5 BLTTDS năm

2004 và Điều 5 BLTTDS năm 2015) Theo nguyên tắc quyền quyết định và tự

định đoạt của đương sự trong TTDS, các đương sự có quyền tự quyết định việcbảo vệ quyền, lợi ích của mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật như khởikiện, thay đổi yêu cầu khi khởi kiện, bổ sung yêu cầu Như vậy, việc thực hiệnnguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong TTDS sẽquyết định phạm vi của những vấn đề mà các bên cần tranh tụng để bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngược lại, nếu Tòa án bảo đảm triệt

để tôn trọng và thực hiện nguyên tắc tranh tụng thì quyền tự quyết định việcbảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án mới có ý nghĩa Mốiliên hệ giữa hai nguyên tắc này cũng là mối liên hệ hai chiều qua lại, bổ sungcho nhau

- Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” (quy định tại Điều 9 BLTTDS năm 2004 và Điều 9 BLTTDS năm

2015) có mối quan hệ mật thiết với nguyên tắc tranh tụng trong TTDS Đương

sự tranh tụng mục đích là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vìvậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng tức là bảo đảm chotranh tụng Theo nguyên tắc này, đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ Luật

sư hay người khác có đủ điều kiện theo quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của mình, đối với một số đối tượng yếu thế, có khó khăn sẽ được hưởngtrợ giúp pháp lý theo quy định

Trang 26

- Nguyên tắc “Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai; Bảo đảm sự

vô tư, khách quan trong TTDS” (quy định tại Điều 15, 16 BLTTDS năm 2004

và Điều 15, 16 BLTTDS năm 2015) Sự công bằng, vô tư, khách quan của cơquan, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng là yếu tố hết sức cầnthiết cho tranh tụng, có những yếu tố này thì tranh tụng mới trở nên thực chất

và có ý nghĩa Tranh tụng là sự so sánh chứng cứ, sự so sánh này phải dựa trên

cơ sở là lẽ công bằng chứ không phải gì khác ngoài lẽ công bằng Tòa án làtrọng tài của quá trình tranh tụng và Tòa án luôn phải bảo đảm sự vô tư, kháchquan trong quá trình này, không được định kiến hay thiên vị bất cứ bên nào

1.4 Lược sử hình thành và phát triển các quy định về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam

1.4.1 Từ năm 1945 đến trước năm 2005

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám, nhà nước Việt Nam dânchủ cộng hòa ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước ta, đó

là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân Đểxây dựng, củng cố chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản phápluật, trong đó phải kể đến là Sắc lệnh số 34/SL ngày 13/9/1945 bãi bỏ haingạch quan hành chính và tư pháp cũ; Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 duytrì tổ chức Luật sư cũ với một số điểm sửa đổi cho thích hợp với tình hình mới.Trong lĩnh vực TTDS, đáng chú ý nhất là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946

đã đánh dấu bước phát triển của hoạt động tư pháp Việt Nam Sắc lệnh này quyđịnh khá rõ trách nhiệm của Thẩm phán trong việc bảo vệ các quyền, lợi ích

của đương sự “Thẩm phán không được tự đặt ra lệ mà xử đoán” (Điều 81);

“Thẩm phán không được biện hộ trước Tòa án, nếu không phải việc của mình, việc của vợ, con của thân thuộc, thích thuộc về trực hệ của mình hay của trẻ chưa thành niên mà làm giám hộ” (Điều 82); “Các Thẩm phán phải làm đầy

đủ bổn phận, dự đều các phiên tòa, xét xử thật nhanh chóng và thật công minh Thanh liêm là đức tính thiêng liêng của Thẩm phán” (Điều 83) Bên cạnh các

quy định trên, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, tại Điều 26 có quy định:

Trang 27

“Khi ra phiên tòa bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo có quyền yêu cầu Tòa

án thi hành phương sách cần thiết để chứng tỏ sự thật”.

Sau đó, để bảo đảm dân chủ trong tố tụng Sắc lệnh số 69/SL ngày18/6/1949 đã được ban hành, trong đó mở rộng quyền bào chữa cho các bị can.Tại Điều 1 Sắc lệnh này quy định:

“Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ toà án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư, bào chữa cho.

Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh

án thừa nhận”.

Ngày 22/12/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 144/

SL sửa đổi Điều 1 của Sắc lệnh số 69/SL, mở rộng cho người không phải làLuật sư cũng được bào chữa, bảo vệ quyền lợi của các đương sự trong vụ ándân sự Điều 1 Sắc lệnh số 144/SL quy định như sau:

“Từ nay, trước toà án việc xử hộ và thương mại, trước các toà án thường

và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình, đại hình, trừ toà án binh tại mặt trận, nguyên cáo, bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải là Luật sư bênh vực cho mình.

Công dân đó phải được ông Chánh án thừa nhận”.

Để cụ thể hóa Sắc lệnh số 69/SL, Bộ Tư pháp đã ban hành Nghị định số 1/NĐ-VY ngày 12/01/1950 ấn định điều kiện để làm bào chữa viên và phụ cấpcho bào chữa viên

Bước vào những năm 50, chúng ta đã có cuộc cải cách tư pháp nhằm pháttriển chế độ dân chủ nhân dân, đó là việc ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó quy định Luật

sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự

Các quy định trong các văn bản pháp luật nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa ban hành đã thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc

Trang 28

mở rộng dân chủ trong TTDS, phát huy vai trò tích cực của các bên và của cácLuật sư.

Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lạihòa bình ở Việt Nam được ký kết đã đánh dấu thắng lợi của cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp Miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến lên xây dựng chủnghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến để giành độc lập thống nhấtđất nước Ở miền Nam chính quyền Ngụy quyền trong một thời gian dài vẫn ápdụng những văn bản pháp luật cũ thời Pháp thuộc Đến ngày 20/12/1972, chínhquyền Ngụy quyền ban hành Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng, trong đó đãthừa nhận quyền tự bảo vệ của đương sự, quyền nhờ Luật sư, tôn thuộc, tithuộc, vợ chồng, anh em, đồng thừa kế và đồng hội viên thay mặt (Điều 50);đồng thời Bộ luật này cũng quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh, đó là

“người nào viện dẫn một sự kiện thuận lợi cho mình, có trách nhiệm dẫn chứng Đối phương muốn phủ nhận tín lực của sự kiện được chứng minh phải xuất trình bằng cớ tương phản” (Điều 56) “Nếu không có đủ bằng cứ theo luật về chủ trương của mình, đương sự sẽ bị bác khước về những khoản không chứng minh được” (Điều 58) và đặc biệt Bộ luật đã quy định quá trình giải

quyết vụ kiện phải qua tranh tụng Như vậy, các quy định pháp luật về tranhtụng trong TTDS của chính quyền Ngụy quyền có tiến bộ hơn so với pháp luật

tố tụng thời Pháp thuộc, tuy nhiên chưa có quy định về quyền và nghĩa vụ củacác đương sự thể hiện được nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết vụ kiện,cũng như chưa có những bảo đảm cho tranh tụng được thực hiện trên thực tế

Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm

1960 được ban hành làm nền móng cho việc xây dựng một thiết chế xét xử xãhội chủ nghĩa Nhiều văn bản pháp luật ra đời quy định cụ thể về nghĩa vụchứng minh của đương sự, vai trò của Luật sư, về sự vô tư, khách quan củaThẩm phán trong khi xét xử và tranh luận tại phiên tòa Thông tư số 39/NCPLngày 20/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp

Trang 29

và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình, tranh chấp về dân sự cóhướng dẫn như sau:

“Sau khi nguyên đơn đưa đơn kiện, Tòa án nhân dân phải cho bị đơn và người dự sự biết nội dung đơn kiện và yêu cầu của nguyên đơn, nếu xét thấy cần thiết và không có hại cho việc hòa giải thì Tòa án nhân dân có thể cho nguyên đơn, bị đơn và người dự sự xem hoặc sao chép đơn và lời khai của nhau Sau khi được biết những yêu cầu và những chứng cứ của những đương

sự khác, mỗi đương sự đều có thể nộp hoặc đến khai trước Tòa án nhân dân để trình bày những lý lẽ và chứng cứ nhằm xác định hoặc bác bỏ một phần hay toàn bộ những yêu cầu đó, đồng thời cũng có quyền đề xuất những lý lẽ và chứng cứ về yêu cầu của mình” [13, tr.59].

Thông tư số 06/TT-TATC ngày 25/02/1974 đã quy định thêm về quyền

yêu cầu và nghĩa vụ chứng minh như sau: “Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn

và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình” [13, tr.40].

Ngoài ra, Thông tư số 16-TATC ngày 27/9/1974 quy định:

“Viện kiểm sát nhân dân, bị cáo (nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện dân sự) và những người khác tham gia tố tụng có quyền tranh luận về chứng

cứ cũng như về việc áp dụng pháp luật, đường lối, chính sách xét xử Các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cần tránh tư tưởng cọi nhẹ việc xét hỏi và việc tranh cãi ở phiên tòa vì chỉ tin vào hồ sơ hoặc chỉ là để hợp pháp hóa một chủ trương xét xử đã được dự kiến trước” [13, tr.164].

Đặc biệt, ngày 08/02/1977 Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số69/NCPL hướng dẫn trình tự xét xử sơ thẩm Công văn quy định quyền vànghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đề xuất chứng cứ và yêu cầu

về biện pháp khẩn cấp tạm thời; được đề xuất những câu hỏi trong khi Tòa ánthẩm vấn và được tham gia tranh luận, cụ thể:

Trang 30

“* Được Tòa án nhân dân cho xem hoặc sao chép đơn từ, tài liệu của các đương sự khác, nhân chứng, giám định viên nếu nhận thấy việc đó cần thiết cho đương sự chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ những quyền lợi của họ.

* Được đề xuất yêu cầu, bổ sung yêu cầu hoặc thay đổi yêu cầu của việc kiện.

* Được đề xuất chứng cứ và những yêu cầu về điều tra hoặc về biện pháp khẩn cấp tạm thời được Tòa án nhân dân giải quyết.

* Được đề xuất những câu hỏi trong khi Tòa án nhân dân thẩm vấn và được tham gia cuộc tranh luận ” [14, tr.33]

Bên cạnh đó, Công văn còn xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dântrong việc bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền bình đẳng trong tố tụng;phân biệt giữa xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, trình tự, thủ tục tranh luận tạiphiên tòa sơ thẩm

Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nhà nước ta đã thông

qua Hiến pháp năm 1980, tại Điều 133 Hiến pháp quy định: “Tổ chức Luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” Trên cơ

sở đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 quy định: “Các đương sự có quyền nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi của mình” (Điều 9) Tiếp đó, Luật tổ chức

Tòa án nhân dân năm 1988 khẳng định các đương sự không những có quyềnnhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi cho mình mà còn có quyền tự bảo vệ quyền lợihợp pháp của mình Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, Pháp lệnh tổ chứcLuật sư được ban hành ngày 18/12/1987 tạo cơ sở cho việc hình thành và pháttriển của đội ngũ Luật sư ở Việt Nam, phát huy vai trò của Luật sư trong tư vấn

và tham gia tố tụng

Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này nhiều văn bản pháp luật TTDS đãđược ban hành nhằm phát huy và đề cao quyền và nghĩa vụ chứng minh củacác đương sự và Luật sư Nhiều quy định tiến bộ về quyền bình đẳng trong tốtụng, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, tranh luận tại phiên tòa, trách nhiệm của Tòa án

Trang 31

nhân dân trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đượcghi nhận.

Kế thừa và phát triển các quy định về TTDS của giai đoạn trước, ngày29/11/1989 Hội đồng nhà nước đã thông qua PLTTGQCVADS Pháp lệnh đãđánh dấu bước phát triển của pháp luật TTDS, quy định một cách có hệ thống

về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, nghĩa vụ chứng minh củađương sự, vị trí, vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự Tại Điều 3PLTTGQCVADS quy định:

“Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Toà án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác”.

Pháp lệnh cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trongđó:

“Các đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng cứ để bảo

vệ quyền lợi của mình; được biết chứng cứ do bên kia cung cấp; yêu cầu Toà

án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết, quyết định biện pháp khẩn cấp tạm thời; tham gia hoà giải; tham gia phiên toà; yêu cầu thay đổi Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch; đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi người khác; tham gia tranh luận tại phiên toà; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án” (Điều 20).

Ngoài ra, tại Điều 51 Pháp lệnh đã quy định về thủ tục tranh luận tại phiêntòa như sau:

“1 Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc hỏi, các đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại diện tổ chức xã hội khởi kiện về lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát biểu một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý Nếu thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử cho phát biểu thêm Sau đó kiểm sát viên trình bày ý kiến về hướng giải quyết vụ án.

Trang 32

2 Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.

Hiến pháp năm 1992 được thông qua đã tiếp tục khẳng định các quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như tổ chức Luật sư được thành lập để giúpcác đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Luật tổ chức Tòa án

nhân dân năm 1992, tại Điều 9 quy định: “Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự” Để đáp

ứng những chuyển biến to lớn về mọi mặt trong đời sống xã hội, chủ động hộinhập kinh tế khu vực và thế giới Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời đã tạo cơ

sở pháp lý cho sự phát triển của đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp có phẩm chấtđạo đức, trình độ chuyên môn, phát huy vai trò của Luật sư trong tư vấn vàtham gia tố tụng

Tóm lại, qua nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật TTDSViệt Nam giai đoạn này cho thấy, đã có nhiều quy định về những vấn đề thuộcnội dung của nguyên tắc tranh tụng và những vấn đề liên quan đến tranh tụng

Pháp luật Việt Nam không sử dụng thuật ngữ “tranh tụng” cũng như nguyên

tắc tranh tụng trong TTDS chưa được thừa nhận nhưng những quy định đãphân tích ở trên là gần gũi với những quy định về tranh tụng của các nước trênthế giới và phần nào đã thể hiện được tranh tụng là một nguyên tắc cần phải cócủa TTDS

1.4.2 Từ năm 2005 đến nay

Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các cơquan tư pháp theo hướng mở rộng tranh tụng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của côngtác tư pháp trong thời gian tới Trên cơ sở đổi mới của Đảng, từ thực trạng phápluật TTDS và thực tiễn xét xử các vụ việc dân sự, ngày 27/5/2004, Quốc hộinước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS năm 2004,

có hiệu lực từ ngày 01/01/2005

Trang 33

BLTTDS năm 2004 ra đời đã đánh dấu một bước phát triển của các quyđịnh liên quan đến vấn đề tranh tụng trong TTDS Mặc dù trong các nguyên tắccủa pháp luật TTDS mà Bộ luật nêu ra chưa có quy định nào về áp dụngnguyên tắc tranh tụng nhưng nội dung của hoạt động tranh tụng trong TTDS đãđược đề cập khá cụ thể và chi tiết BLTTDS năm 2004 đã có những quy địnhliên quan đến quá trình tranh tụng như quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ

và chứng minh của người khởi kiện; quyền phản tố của bị đơn, quyền yêu cầuđộc lập của người có quyền và nghĩa vụ liên quan Nghĩa vụ chứng minh củađương sự được đề cao hơn trước, trong trường hợp xét thấy chứng cứ trong hồ

sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổsung chứng cứ và Tòa án chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trườnghợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầuhoặc trong trường hợp do pháp luật quy định Bên cạnh đó, việc quy định thủtục tranh luận tại phiên tòa theo hướng Tòa án không được hạn chế thời giantranh luận của các đương sự mà phải tạo điều kiện cho người tham gia tranhluận trình bày hết ý kiến của họ đã góp phần bảo đảm cho tranh tụng trongTTDS có cơ sở thực hiện, đây là bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp sovới các văn bản pháp luật trước đây

Tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luậtsửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, có hiệu lực ngày01/01/2012 Trong đạo luật này đã có nhiều quy định mới liên quan đến việcbảo đảm tranh tụng của các đương sự như: đương sự trong các vụ việc dân sự

có thêm quyền được trực tiếp đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liênquan đến vụ án khi được phép của Tòa án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn

đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.Đặc biệt, Điều 23a của Luật này ghi nhận nguyên tắc bảo đảm quyền tranh luậntrong TTDS:

Trang 34

“Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Toà án bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”.

Quy định này tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quyền tranh tụngcủa các chủ thể tranh tụng đặc biệt là đương sự Hơn nữa nó càng thể hiện rõnét các nội dung của một nguyên tắc, đó là nguyên tắc tranh tụng trong TTDS

Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, BLTTDS năm 2015 đãđược Quốc hội khóa XIII thông qua vào ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệulực từ ngày 01/7/2016 Trong đó, để thi hành khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp,BLTTDS năm 2015 đã bổ sung quy định tại Điều 24, coi tranh tụng là mộttrong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS Việt Nam, cùng với đó lànhiều quy định mới khác nhằm bảo đảm cho nguyên tắc này được thực hiện cóhiệu quả như: quy định rõ nội hàm của nguyên tắc này theo hướng Tòa án cótrách nhiệm bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp phápcủa đương sự thực hiện việc thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ kể

từ khi Tòa án nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; trình bày, đối đáp, phát biểuquan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêucầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác.Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình

hoặc do Tòa án thu thập; có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc người đại

diện hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ Tòa án phảibảo đảm mọi tài liệu, chứng cứ phải được xem xét công khai Tòa án điều hànhviệc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để

ra bản án, quyết định

Trang 35

Kết luận Chương 1

Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguyên tắc tranh tụng trongTTDS Việt Nam có thể rút ra một số kết luận sau:

1 Tranh tụng trong TTDS là phương pháp giải quyết vụ án dân sự trên cơ

sở thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của các bên đương sự về việc đưa ra,trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luận cho yêu cầucủa mình và phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án, được Tòa án làm căn cứ đểgiải quyết vụ án

Chủ thể thực hiện tranh tụng là đương sự và người đại diện, người bảo vệquyền lợi của đương sự (nếu có), thực hiện tranh tụng xuất phát từ việc bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Tòa án là cơ quan bảo đảm cho quátrình tranh tụng và ghi nhận kết quả tranh tụng trong quyết định giải quyết vụ

án

2 Nguyên tắc tranh tụng trong TTDS được hiểu là những tư tưởng chỉđạo, định hướng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật để giải quyết vụ ándân sự trên cơ sở thực hiện quyền và nghĩa vụ TTDS của các bên đương sự vềviệc đưa ra, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện luậncho yêu cầu của mình và phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án, Tòa án căn cứvào kết quả tranh tụng để giải quyết vụ án dân sự

3 Nguyên tắc tranh tụng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong TTDS ViệtNam, giúp Tòa án tìm ra sự thật khách quan của vụ án một cách nhanh nhất đểgiải quyết vụ án Đây cũng là một phương thức giải quyết vụ án một cách dânchủ, thông qua việc thu thập, cung cấp chứng cứ; đối đáp, tranh luận còn giúpcho đương sự thêm hiểu biết pháp luật và tạo lòng tin vào pháp luật Các quyđịnh có tính tiền đề về tranh tụng đã được ghi nhận trong lịch sử lập pháp ViệtNam và cho đến nay tranh tụng đã được ghi nhận là một nguyên tắc trongBLTTDS năm 2015

Trang 36

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH

VỀ NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 Quy định ghi nhận quyền và nghĩa vụ về tranh tụng của người tham gia tố tụng

2.1.1 Quy định về quyền bình đẳng trong tố tụng dân sự

Điều 8 BLTTDS năm 2004 ghi nhận sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụtrong TTDS, theo đó:

“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác.

Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”.

Quy định tại khoản 1 Điều 58 BLTTDS sửa đổi năm 2011 tiếp tục ghi

nhận: “Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng” Quy định về sự bình đẳng này là nền tảng căn bản để thực hiện nguyên

tắc tranh tụng, tạo ra môi trường thuận lợi nhất cho các bên đương sự có thểtranh tụng một cách thực chất Người đại diện của đương sự là người thực hiệnthay các hoạt động tranh tụng của đương sự, họ thực hiện các quyền và nghĩa

vụ tố tụng của đương sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự tại Tòa án

Do vậy, người đại diện trong TTDS cũng có quyền bình đẳng về quyền vànghĩa vụ tố tụng trước Tòa án như đối với đương sự mà họ đại diện Đây chính

là tiền đề căn bản của việc thực thi nguyên tắc tranh tụng trong TTDS

2.1.2 Quy định về quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và thời điểm được bổ sung yêu cầu trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp

Quyền yêu cầu phản tố là một trong những quyền liên quan đến tranh tụng

Trang 37

trong TTDS, xét trong mối quan hệ giữa yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vớiyêu cầu phản tố của bị đơn có thể thấy đã có sự đối kháng nhau về quyền lợi,đòi hỏi cần tranh tụng để giải quyết Tuy nhiên, việc phản tố của bị đơn đượcthực hiện sau việc khởi kiện nguyên đơn Do vậy, để yêu cầu phản tố nàykhông gây khó khăn cho việc thực hiện tranh tụng của nguyên đơn, pháp luật

đã có quy định giới hạn quyền phản tố trong một số trường hợp nhất định Cụthể là theo quy định tại Điều 176 BLTTDS sửa đổi năm 2011 thì yêu cầu phản

tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cóyêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận mộtphần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập;

- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu đượcgiải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chínhxác và nhanh hơn

Ngoài ra, để yêu cầu phản tố không gây khó khăn cho việc thực hiện tranhtụng của nguyên đơn, khoản 3 Điều 176 BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã có quy

định giới hạn thời điểm mà bị đơn có thể thực hiện quyền phản tố là “trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm” Quy định này tạo điều kiện

cho nguyên đơn có thời gian tiếp cận hồ sơ, chuẩn bị chứng cứ, tài liệu và lậpluận cần thiết để tranh tụng trước phiên tòa

Cũng với mục đích bảo đảm tranh tụng của nguyên đơn và bị đơn cũngnhư các đương sự khác, Điều 177 BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã có những quyđịnh tương tự đối với quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụliên quan Theo đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầuđộc lập khi hội đủ các điều kiện như: việc giải quyết vụ án có liên quan đến

Trang 38

quyền lợi, nghĩa vụ của họ; yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đangđược giải quyết; yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ ánlàm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn Người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan cũng chỉ có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Toà

án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm

Việc nghiên cứu cho thấy mặc dù pháp luật tôn trọng quyền tự định đoạt

của đương sự và ghi nhận quyền “Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu ” của đương sự tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi năm 2011

nhưng để quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu này không gây khó khăn cho cácđương sự khác trong việc thực hiện tranh tụng, tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS

năm 2004 đã quy định: “Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu”.

2.1.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng trong việc thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ; được biết tài liệu, chứng cứ do người khác xuất trình

2.1.3.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ

Đương sự có quyền và nghĩa vụ “Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (điểm b khoản 2 Điều 58

BLTTDS sửa đổi năm 2011) Đây là quyền và nghĩa vụ thể hiện sự chủ động,tích cực của đương sự khi tham gia tố tụng, theo đó các đương sự có quyền đưa

ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, phản yêu cầu của mình là cócăn cứ và hợp pháp hoặc phản bác yêu cầu của các đương sự khác

Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền cung cấp tài liệu và chứng cứ của đương

sự, tạo điều kiện cho việc thực hiện tranh tụng, BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã

quy định đương sự có quyền “Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án” (điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi năm 2011) Yêu cầu

Trang 39

cung cấp chứng cứ của đương sự được thể hiện dưới hình thức văn bản và khi

nhận được yêu cầu của đương sự “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự… tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự… và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự… biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ” (Điều 7 BLTTDS sửa đổi năm 2011) Ngoài

ra đương sự cũng có quyền “Đề nghị Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng

cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá” (điểm d

khoản 2 Điều 58 BLTTDS sửa đổi năm 2011)

Theo các quy định của BLTTDS năm 2004 và BLTTDS sửa đổi năm 2011thì đương sự có quyền cung cấp chứng cứ cho Tòa án vào bất kỳ giai đoạn nàocủa quá trình xét xử vụ án dân sự Quy định này giống với quy định củaBLTTDS của Trung Quốc: “Điều 125 Bộ luật TTDS Trung Quốc cho phépđương sự có thể đưa ra những chứng cứ mới tại phiên tòa”[27, tr.102] Nhằmhạn chế việc thiếu hợp tác của một bên đương sự, gây trở ngại cho việc tranhtụng, khoản 4 Điều 96 BLTTDS năm 2015 đã có những quy định về thời hạn

cung cấp chứng cứ, theo đó “Thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này…” Như vậy, BLTTDS năm 2015 đã

khống chế thời gian cung cấp chứng cứ của đương sự cho Tòa án bằng việcThẩm phán được phân công giải quyết vụ án dân sự ấn định, nhưng không quáthời hạn chuẩn bị xét xử Vậy, BLTTDS năm 2015 đã hạn chế được phần nàonhững bất cập trong quá trình tố tụng gây ra bởi việc đương sự cố tình khôngxuất trình chứng cứ ngay khi thu thập được mà để đến thời điểm nào đó gâyđược bất ngờ cho bên đương sự đối phương thì mới xuất trình

Trang 40

Các quyền yêu cầu trên đây liên quan đến nguyên tắc tranh tụng bởi lẽnghĩa vụ cung cấp chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức hay trách nhiệm thuthập tài liệu của Tòa án xuất phát từ yêu cầu của đương sự và để chứng minhcho yêu cầu của đương sự, nó thể hiện quan điểm, lý lẽ của đương sự về mộtnội dung nào đó trong vụ án dân sự mà Tòa án đang giải quyết Ngoài ra, trongtranh tụng thì vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

là hết sức quan trọng Đương sự có thể nhờ sự hỗ trợ của Luật sư hoặc ngườikhác để thực hiện việc tranh tụng trước Tòa án Trong hoạt động tranh tụng,người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng được quy định có

quyền “Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Toà án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong

hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”

(khoản 2 Điều 64 BLTTDS) Quy định này tạo điều kiện cho người bảo vệquyền có được các chứng cứ cần thiết để thực hiện việc tranh tụng, tìm ranhững căn cứ cho việc biện hộ từ đó giúp đương sự có thể tranh tụng để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ

2.1.3.2 Quyền được biết tài liệu, chứng cứ do người khác xuất trình

Đương sự có quyền “được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ

do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập” (điểm đ khoản 2

Điều 58 BLTTDS sửa đổi năm 2011) Đây là một quyền quan trọng bảo đảmđương sự có được đầy đủ các chứng cứ của đương sự phía bên kia cũng nhưchứng cứ Tòa án đã thu thập được để chuẩn bị cho việc tranh tụng tại phiên tòa.Điều 17 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP đã có những hướng dẫn về trình tự

cụ thể thực hiện quyền này của đương sự như sau:

“Đương sự chỉ được yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án trước khi Tòa án mở phiên toà xét xử vụ án Khi có yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ, thì họ phải làm đơn gửi Tòa án có thẩm quyền Nếu họ trực tiếp đến Tòa án trình bày yêu cầu được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ, thì họ cũng phải thể hiện bằng văn bản nộp cho Tòa án Nếu

Ngày đăng: 13/05/2019, 15:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga, Nhà xuất bản Tư pháp (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự Liên Bang Nga
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp (2005)
2. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TƯ ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TƯ ngày24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TƯ ngày02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
4. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày02/01/2002 của Bộ Chính trị về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tưpháp trong thời gian tới”
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
5. Lại Văn Trình (2014), Nghiên cứu bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội: Luật học, Tập 30, Số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong Bộluật tố tụng dân sự
Tác giả: Lại Văn Trình
Năm: 2014
6. Liên đoàn Luật sư Việt Nam (2015), Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I (2009-2014) và phương hướng công tác nhiệm kỳ II (2014-2019) của Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác nhiệm kỳ I(2009-2014) và phương hướng công tác nhiệm kỳ II (2014-2019) của Liênđoàn Luật sư Việt Nam
Tác giả: Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Năm: 2015
7. Nguyễn Công Bình (2003), Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự, Tạp chí luật học số 6/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự
Tác giả: Nguyễn Công Bình
Năm: 2003
8. Nguyễn Nho Hoàng (2012), Vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Tòa án trong việc bảo đảm tranhtụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự
Tác giả: Nguyễn Nho Hoàng
Năm: 2012
9. Nguyễn Thị Thu Hà (2002), Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự, mộtsố vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2002
10. Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung về nguyên tắc tố tụngxét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồidưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Năm: 2002
11. Phan Nguyễn (2007), Luật sư phải nói không với tiêu cực, Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 13/04/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sư phải nói không với tiêu cực
Tác giả: Phan Nguyễn
Năm: 2007
12. Thiều Chửu (1993), Hán - Việt tự điển, Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt tự điển
Tác giả: Thiều Chửu
Nhà XB: Nhà xuất bản thành phố Hồ ChíMinh
Năm: 1993
13. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dân sự đã ban hành đến 31/12/1974, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dânsự đã ban hành đến 31/12/1974
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 1976
14. Tòa án nhân dân tối cao (1978), Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dân sự đã ban hành từ năm 1975 - 1977, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng dânsự đã ban hành từ năm 1975 - 1977
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 1978
15. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Về pháp luật tố tụng dân sự, Kỷ yếu dự án VIE/95/017: Tăng cường năng lực xét xử tại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về pháp luật tố tụng dân sự
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Nhà XB: Nhà xuất bảnVăn hóa dân tộc
Năm: 2000
26. Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin
Năm: 1998
27. Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp, TS. Nguyễn Thị Thu Hà chủ nhiệm Đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trước yêu cầu cảicách tư pháp
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Năm: 2011
29. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Một số vấn đề về luật tố tụng dân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật tố tụngdân sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2004
30. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2004), Một số vấn đề về tranh tụng trong tố tụng dân sự, Thông tin khoa học pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tranh tụngtrong tố tụng dân sự
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Năm: 2004
31. Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nhà xuấtbản Tư pháp
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w