Là một giảng viên đang giảng dạy tiếng Anh, nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy tiếng Anh theo phương pháp giao tiếp, và mong muốn góp phần thực hiện sứ mệnh của quốc gia trong vi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHẠM THỊ KIM HOA
DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN BẬC CAO ĐẲNG TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC
NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 601401 GVHD: TS NGUYỄN TOÀN
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2012
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
A
1 - Lý do chọn đề tài
2 - Mục tiêu nghiên cứu
3 - Nhiệm vụ nghiên cứu
4 - Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5 - Giả thuyết nghiên cứu
6 - Phương pháp nghiên cứu
7 - Giới hạn đề tài
Trang 4THỦ ĐỨC
Chương 3:
DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG
GIAO TIẾP TẠI TRƯỜNG CĐCN THỦ ĐỨC
Trang 5PHẦN KẾT LUẬN
C
1 Tóm tắt đề tài
2 Những thành tựu đạt được của đề tài
3 Hướng phát triển của đề tài
4 Kiến nghị
Trang 6Xin chân thành cảm ơn bộ phận Sau đại học – Phòng Đào tạo, Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh và đặc biệt là quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học Giáo dục học khóa 18B
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức và các bạn đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình trong thời gian làm luận văn
Xin cảm ơn các anh, chị lớp Cao học Giáo dục học khóa 18B đã có nhiều đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn
Xin gửi lòng biết ơn đến gia đình, người thân đã cổ vũ, động viên và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn !
Phạm Thị Kim Hoa
Trang 7TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
Trong giai đoạn công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, với đường lối đổi mới và chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, ngoại ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt khi Việt Nam hiện nay đang là thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới World Trade Organization (WTO) thì ngoại ngữ là cầu nối để giao lưu văn hóa, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Nhưng thực tế năng lực sử dụng tiếng Anh của sinh viên ở trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức còn rất hạn chế Vì thế việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh luôn là mục tiêu hàng đầu và được nhà trường hết sức quan tâm Là một giáo viên giảng dạy môn tiếng Anh, tác giả luôn nổ lực vì mục tiêu chung Chính vì vậy tác giả đã tiến hành thực hiện đề tài: “Dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp cho sinh viên bậc cao đẳng tại trường CĐCN Thủ Đức"
Luận văn gồm 3 phần, trong đó:
PHẦN A: MỞ ĐẦU
Trong chương này tác giả đã trình bày lý do khi lựa chọn đề tài nghiên cứu, xác định mục tiêu nghiên cứu, nhiệm vụ, đối tượng và khách thể, phương pháp và giới hạn nội dung nghiên cứu
PHẦN B: NỘI DUNG
Gồm 3 chương, tập trung vào những vấn đề sau:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận của việc dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp Chương này nêu lên tổng quan nghiên cứu phương pháp dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp, tìm hiểu một số khái niệm khoa học cơ bản, các yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy tiếng Anh Ngoài ra còn tìm hiểu các phương pháp dạy tiếng Anh và đưa ra qui trình dạy ngữ pháp tiếng Anh
+ Chương 2: Thực trạng về việc dạy ngữ pháp tiếng Anh tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức Chương này giới thiệu về trường cao đẳng Công nghệ Thủ
Trang 8Đức, ngôi trường mà người nghiên cứu đang công tác Trình bày mục tiêu, vị trí, nội dung chương trình môn tiếng Anh giao tiếp, Khung phân phối chương trình; Đồng thời nêu thực trạng về tổ chức dạy và học tại trường
+ Chương 3: Dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức Thiết kế giáo án áp dụng dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp, tiến hành thực nghiệm, xử lý số liệu; Nêu kết quả thực nghiệm; Thống kê và xử lý phiếu thăm dò ý kiến sau khi thực nghiệm
PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trong phần này, Tác giả đã tóm tắt đề tài; Nêu lên những thành tựu đạt được; Trình bày hướng phát triển của đề tài và kiến nghị
Trang 9ABSTRACT
During the period of industrialization and modernization, with the renewal and open-door policy Foreign languages play an important role in our lives Especially, when Vietnam is now a member of World Trade Organization (WTO), foreign language as a bridge for exchanging culture, information and establishing the relationships in many areas between Vietnam and other countries around the world
Actually, Students' communicative competence of English in Thu Duc College of Technology is very limited So renovation of teaching methods to improve the teaching quality is the top target and is very interested in by the school
As a teacher teaching English, the author always try the best for common goals
The topic of the researcher experimentation is:
" Teaching English grammar in communicative approach for students in Thu Duc College of Technology"
The content of the thesis divides in 3 main sections:
SECTION A: PREFACE
This section describe about the main objective and support idea of this topic, identify research purposes, objective, tasks, methods and limit
SECTION B: CONTENTS
The content section includes three sub chapters
+ Chapter 1: describes about the Rationale which concise of synthes is of theories related to methodologies, concepts, the factors affecting the quality of teaching English grammar, the methods of teaching English grammar and 3 steps of
a typical grammar lesson
+ Chapter 2: introduces Thu Duc College of Technology The reseacher has also shown mission, vision and value of school Based on the survey results presented in detail in this chapter, the researcher has provided the analysis,
Trang 10comment and evaluation for the existing teaching English grammar in Thu Duc College of Technology
+ Chapter 3: Focus on proposed solution which is guided by theory and from practical teaching quality survey, the reseacher has presented the solutions to overcome limit and to improve the quality of teaching English grammar
In this chapter the researcher has analysed the grammar syllabus, then designing lesson plans teaching grammar in communicative approach After that conducting the model lessons to find out how effective the new method is and finally using statistical methods to analyse the data from the survey
SECTION C: CONCLUSION
This section provides the summary of the study, the results of the reach, the contribution, the remain points and direction of further development of this subject
Trang 11MỤC LỤC
LÝ LỊCH KHOA HỌC Error! Bookmark not defined LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC vii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC CÁC HÌNH x
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT xi
Phần A: MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 3
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 3
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
7 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI 4
Phần B: NỘI DUNG 5
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 7
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH 8
1.4 CÁC THÀNH TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH 13
1.5 DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP 17
1.5.2 Các bước giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp 20
1.5.3 Tổ chức các hoạt động giao tiếp trong giờ dạy ngữ pháp 23
1.5.4 Những lưu ý khi dạy ngữ pháp tiếng Anh 28
1.6 VAI TRÒ CỦA MÔN TIẾNG ANH TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 30
1.6.1 Mở rộng tri thức 31
1.6.2 Tính thực tiễn 31
1.6.3 Phát triển tư duy 31
1.6.4 Sự tự tin trong giao tiếp 31
Kết luận chương 1 32
Trang 12Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 33
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRƯỜNG CĐCN THỦ ĐỨC 33
2.2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ MÔN TIẾNG ANH GIAO TIẾP 39
2.2.1 Vị trí của môn tiếng Anh giao tiếp 39
2.2.2 Mục tiêu của môn tiếng Anh giao tiếp 39
2.2.3 Giới thiệu khái quát về chương trình Toeic 40
2.2.4 Đề cương chi tiết học phần tiếng Anh giao tiếp 41
2.3 THỰC TRẠNG VIỆC DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG 44
2.3.1 Mục đích và đối tượng khảo sát 44
2.3.3 Xử lý và đánh giá kết quả khảo sát 45
Kết luận chương 2 65
Chương 3:ÁP DỤNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP 66
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGỮ PHÁP TIẾNG ANH 66
3.1.1 Phân tích chương trình ngữ pháp trong học phần tiếng Anh giao tiếp 66
3.1.2 Công việc chuẩn bị cho một tiết dạy ngữ pháp tiếng Anh [20] 66
3.1.3 Qui trình dạy ngữ pháp tiếng Anh theo phương pháp giao tiếp 67
3.1.4 Các bước thực hiện trong một tiết dạy ngữ pháp tiếng Anh [20] 67
3.2 ÁP DỤNG DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP 68
3.2.1 Thiết kế giáo án dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp 68
3.2.2 Dạy thực nghiệm sư phạm có đối chứng 75
3.3 KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ 76
3.3.1 Kết quả định tính 76
3.3.2 Kết quả định lượng 88
Kết luận chương 3 94
Phần C: KẾT LUẬN 95
1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI 95
2 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 96
2.1 Đóng góp mới về mặt lý luận 96
2.2 Đóng góp mới về mặt thực tiễn của đề tài 96
3 KIẾN NGHỊ 97
4 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Mức độ cần thiết của học phần tiếng Anh giao tiếp 46
Bảng 2.2: Khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của Sinh viên hiện nay 47
Bảng 2.3: Nhận xét của SV về không khí học tập trong giờ Ngữ pháp 48
Bảng 2.4: Những kỹ năng GV hay chú trọng trong giờ học ngữ pháp 49
Bảng 2.5: Các PPGD giáo viên thường dùng trong giờ học NP 50
Bảng 2.6: Khó khăn khi học ngữ pháp tiếng Anh 51
Bảng 2.7: Mức độ sử dụng các phương tiện dạy học của GV 52
Bảng 2.8: Cơ sở vật chất của nhà trường 53
Bảng 2.9: Sự lựa chọn các phương pháp dạy ngữ pháp 54
Bảng 2.10: Sự cần thiết của việc áp dụng PP giao tiếp để dạy ngữ pháp 55
Bảng 2.11: Mức độ sử dụng các PPDH để giúp SV luyện tập các cấu trúc NP 56
Bảng 2.12: Nội dung giáo trình "Toeic Bridge Test" 57
Bảng 2.13: Năng lực sử dụng TA trong Giao tiếp của SV hiện nay 58
Bảng 2.14: Không khí lớp học trong giờ ngữ pháp 59
Bảng 2.15: Các hình thức kiểm tra đánh giá GV thường sử dụng 60
Bảng 2.16: Kết quả học tập của SV trong những năm qua 61
Bảng 2.17: Cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay 62
Bảng 2.18: Những khó khăn của GV khi dạy ngữ pháp TA theo hướng Giao tiếp 63
Bảng 3.1: Hiệu quả của phương pháp dạy ngữ pháp mà GV đã sử dụng 82
Bảng 3.2: Hướng giải quyết khi gặp bài tập hay tình huống khó 83
Bảng 3.3: Bảng tần suất kết quả học tập của LTN và LĐC ở bài kiểm tra 1 89
Bảng 3.4: Bảng tần suất kết quả học tập của LTN và LĐC ở bài kiểm tra 2 90
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Năng lực giao tiếp 12
Hình 1.2: Các kênh trao đổi thông điệp trong quá trình dạy học 15
Hình 1.3: Learning Pyramid (National Training Laboratories, Bethel, Maine) 16
Hình 1.4: Sơ đồ phân loại tình huống 19
Hình 1.5: Quy trình một bài dạy ngữ pháp tiếng Anh 21
Hình 2.1: Mức độ cần thiết của học phần tiếng Anh giao tiếp 46
Hình 2.2: Khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của Sinh viên hiện nay 47
Hình 2.3: Nhận xét của SV về không khí học tập trong giờ ngữ pháp 48
Hình 2.4: Những kỹ năng GV hay chú trọng trong giờ học ngữ pháp 49
Hình 2.5: Các PPGD giáo viên thường dùng trong giờ học NP 50
Hình 2.6: Khó khăn của SV khi học ngữ pháp tiếng Anh 51
Hình 2.7: Mức độ sử dụng các phương tiện dạy học của GV 52
Hình 2.8: Cơ sở vật chất của nhà trường 53
Hình 2.9: Sự lựa chọn các phương pháp dạy ngữ pháp 55
Hình 2.10: Sự cần thiết của việc áp dụng PP giao tiếp để dạy ngữ pháp 56
Hình 2.11: Mức độ sử dụng các PPDH để giúp SV luyện tập cấu trúc NP 57
Hình 2.12: Nội dung giáo trình "Toeic Bridge Test" 58
Hình 2.13: Năng lực sử dụng TA trong giao tiếp của SV hiện nay 59
Hình 2.14: Không khí lớp học trong giờ ngữ pháp 60
Hình 2.15: Các hình thức kiểm tra đánh giá 61
Hình 2.16: Kết quả học tập của SV trong những năm qua 62
Hình 2.17: Cơ sở vật chất của nhà trường hiện nay 63
Hình 2.18: Những khó khăn của GV khi dạy ngữ pháp TA theo hướng giao tiếp 64
Hình 3.1: Sơ đồ tổng quát dạy ngữ pháp theo quy trình 3 bước 67
Hình 3.2: Biểu đồ tần suất kết quả học tập của LTN và LĐC ở bài kiểm tra 1 89
Hình 3.3: Biểu đồ tần suất kết quả học tập của LTN và LĐC ở bài kiểm tra 2 90
Trang 16Phần A: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong giai đoạn công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, với đường lối đổi mới
và chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, ngoại ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng Đặc biệt khi Việt Nam hiện nay đang là thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới - World Trade Organization (WTO) thì ngoại ngữ là cầu nối để giao lưu văn hóa, học hỏi, trao đổi thông tin, thiết lập các mối quan hệ trong nhiều lĩnh vực giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
Ngày nay ngoại ngữ rất cần thiết mà đặc biệt là tiếng Anh, tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế, không những giúp chúng ta tiếp thu nền khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, nó còn giúp chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại Ngoài ra
nó còn là giấy thông hành để chúng ta có thể đi du lịch, làm việc hay đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài một cách dễ dàng
Ngày 30 tháng 09 năm 2008, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án về “Dạy
và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” Việc ban hành Đề án thể hiện sự quan tâm cũng như quyết tâm của chính phủ trong việc nâng cao trình độ ngoại ngữ của thanh niên Việt Nam ở tất cả cấp học, với yêu cầu cụ thể:
“Đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước….”
Ngoại ngữ đã trở thành một môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo của hầu hết các bậc học từ tiểu học đến đại học ở nước ta từ nhiều năm nay Việc dạy và học ngoại ngữ thế nào cho hiệu quả đã được nhiều chuyên gia đề cặp đến Nhưng trong thực tế thì dạy mãi sinh viên vẫn kém “Nếu ở môn học khác, bên cạnh những mặt còn hạn chế thì vẫn có thành công, nhưng với môn ngoại ngữ dạy mãi mà sinh viên vẫn không sử dụng được Đó thật sự là một thất bại”- Thứ trưởng Bộ GD-ĐT
Trang 17Nguyễn Vinh Hiển đã nói như thế tại hội thảo triển khai đề án ngoại ngữ ở các trường đại học do Bộ GD-ĐT tổ chức
Theo thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bành Tiến Long cho rằng: "Để cải tiến chất lượng giảng dạy cũng như học tập môn tiếng Anh, các trường cần chú trọng nâng cấp cơ sở
hạ tầng trang thiết bị dạy tiếng Anh Giáo viên phải tự đổi mới phương pháp giảng dạy
và bổ sung kiến thức để thu hút sinh viên học tập"
Một trong những nguyên nhân khiến việc “dạy học ngoại ngữ mãi vẫn kém” trong các trường đại học là do quan điểm coi ngoại ngữ như một môn học kiến thức chứ không phải kỹ năng Chính vì vậy nên từ chương trình đến cách dạy, cách học đã không chú trọng việc rèn luyện kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho người học Việc dạy
và học chủ yếu phục vụ thi, trong khi các kỳ thi cuối cấp, thi đầu ra ở bậc cao đẳng, đại học vẫn chỉ tập trung vào ngữ pháp Quan niệm này giống như một cản trở lớn trong việc rèn luyện kỹ năng ngoại ngữ của sinh viên, sinh viên
Mục tiêu của việc học ngoại ngữ là để giao tiếp, nên sinh viên cần phải hội đủ các kỹ năng mới thực hiện tốt được quá trình giao tiếp Trong đó việc nắm vững các cấu trúc ngữ pháp không thể xem nhẹ được Vì vậy, học ngữ pháp thực chất là việc chọn con đường ngắn nhất để giúp người học hoàn thiện và nâng cao khả năng tiếp nhận kiến thức mới Thế nhưng đối với hầu hết các bạn sinh viên Việt Nam, nhắc tới
"học ngữ pháp" là gợi nên một cảm giác tẻ nhạt và nhàm chán hay khô khan Một số bạn thì thấy học ngữ pháp là bắt buộc và để đối phó với một kỳ thi nào đó
Việc giảng dạy tiếng Anh hiện nay tại trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức vẫn theo kiểu truyền thống: chú trọng việc dạy ngữ pháp và từ vựng riêng lẻ, các bài tập được lặp đi lặp lại một cách máy móc, yêu cầu sinh viên phải học thuộc lòng một cách thụ động, chưa mang lại hứng thú cho sinh viên Mặc dù trường đã ứng dụng chương trình Toeic vào giảng dạy cho sinh viên bậc cao đẳng theo xu thế thời đại, nhưng phương pháp giảng dạy tại trường chưa thật sự đổi mới Hệ quả là đại đa số sinh viên vẫn không thể giao tiếp được
Là một giảng viên đang giảng dạy tiếng Anh, nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy tiếng Anh theo phương pháp giao tiếp, và mong muốn góp phần thực hiện sứ mệnh của quốc gia trong việc đào tạo thế hệ trẻ có năng lực sử dụng tốt tiếng
Trang 18Anh để phục vụ cho bối cảnh đất nước hội nhập Từ ý nghĩa trên tác giả đã tiếp cận và chọn đề tài: “Dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp cho sinh viên bậc cao đẳng tại trường Cao đẳng Công Nghệ Thủ Đức” làm đề tài nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp cho sinh viên bậc cao đẳng tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu nêu trên, tác giả tập trung các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu lý luận về việc dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp
Khảo sát thực trạng việc dạy và học môn tiếng Anh tại trường CĐCN Thủ Đức
Tổ chức dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp tại trường CĐCN Thủ Đức
Kiểm nghiệm đánh giá kết quả
4 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp tại trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học ngữ pháp tiếng Anh bậc Cao Đẳng tại Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức
5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Nếu áp dụng phương pháp dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp mà tác giả đề xuất thì SV sẽ hứng thú, tự lực, tự chủ trong học tập, mau nhớ và áp dụng nhanh, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh tại trường CĐCN Thủ Đức, đồng thời đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao cho thời kỳ hội nhập
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đã áp dụng các PP nghiên cứu sau:
Trang 196.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Tham khảo các văn kiện, văn bản pháp qui đổi mới phương pháp dạy học Các tạp chí, báo cáo khoa học, tài liệu lưu trữ, sách giáo khoa, số liệu thống kê, thông tin đại chúng, v.v…về phương pháp dạy học nói chung, phương pháp dạy học theo phương pháp dạy học tập hành động hiện nay trên thế giới và Việt Nam, lý thuyết học tập, thiết kế dạy học …
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, phỏng vấn:
Phỏng vấn, trao đổi với các giáo viên bộ môn về việc sử dụng phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp
Phát phiếu hỏi cho sinh viên để điều tra mức độ yêu thích của sinh viên đối với phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp khi áp dụng vào thực nghiệm
Phương pháp quan sát:
Dự giờ, quan sát việc dạy và học môn ngữ pháp tiếng Anh của giáo viên và sinh viên tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng một số bài giảng ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp tại Trường Cao Đẳng Công Nghệ Thủ Đức để kiểm tra tính khả thi của luận văn
6.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê phân tích, xử lý số liệu nhằm so sánh lớp thực nghiệm với lớp đối chứng để thấy được việc tổ chức dạy học theo hướng tích hợp có mang lại hiệu quả như mong đợi hay không
7 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Do quy mô của đề tài và thời gian nghiên cứu hạn chế, nên tác giả chỉ tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu trong phạm vi dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp cho một số bài tại trường CĐCN Thủ Đức
Trang 20đã học có hiệu quả.[16]
Peter Watcyn-Jones, "Grammar games and activities for teacher" Đây là cuốn sách được thiết kế dành cho GV, gồm có 120 hoạt động để thực hành và ôn luyện cấu trúc ngữ pháp từ cơ bản đến nâng cao Sách được chia làm 2 phần, phần 1 hướng dẫn chi tiết cách thực hiện các hoạt động, phần 2 gồm nhiều biểu mẫu, giấy phát tay rất đa dạng… dùng để photocopy cho SV Hầu hết những hoạt động trong sách được thiết kế
để SV làm việc làm việc theo cặp hoặc theo nhóm Ngoài việc làm cho quá trình học được năng động và thú vị hơn, những hoạt động này còn giúp cho chủ đề về ngữ pháp gần gủi hơn với người sử dụng (user friendly).[22]
David Bolton and Noel Goodey, "Trouble with verb?" Tác giả đã đề cập đến những điểm ngữ pháp khó mà SV thường mắc phải khi sử dụng thì và động từ, giúp
SV không nhầm lẫn khi dùng các thì: hiện tại đơn hay hiện tại tiếp diễn, quá khứ đơn hay hiện tại hoàn thành… Sách gồm có 15 bài và mỗi bài đều được tiếp cận theo 4 bước sau: What's the rule? Teaching points, classroom activities, practice exercises Phần giới thiệu cấu trúc NP bằng những hình ảnh rất thú vị, giúp SV dễ tiếp cận.[18]
Trang 21Morag Reive, "Complete basic grammar" Tác giả đã trình bày khá đầy đủ các điểm ngữ pháp cơ bản của tiếng Anh Đây là cuốn sách sinh viên có thể tự học, các bài tập trong sách rất đa dạng và được liệt kê từ dễ đến khó Đặc biệt, sinh viên có thể thực hành giao tiếp qua các đoạn hội thoại được thiết kế theo những chủ đề thông dụng hàng ngày.[27]
Bài viết của GV Lê Văn Ân, Trường CĐSP Quảng Trị, đã nêu lên những bất cập về phương pháp dạy ngoại ngữ, thái độ học tập của SV, trình độ ngoại ngữ chênh lệch của sinh viên ở các cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông là những nguyên nhân dẫn đến khả năng sử dụng tiếng Anh để giao tiếp của sinh viên còn kém.[1]
Tài liệu hội thảo 2 “Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh trong các trường Đại học – Cao đẳng đào tạo giáo viên trung học cơ sở”, của Dự án đào tạo giáo viên trung học cơ sở, năm 2003, đã đề cập đến vai trò của ngoại ngữ, thực trạng của dạy và học ngoại ngữ hiện nay và giải pháp, đổi mới phương pháp giảng dạy và cách kiểm tra đánh giá
Vũ Thị Bích Thủy (2009), “Nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh chuyên ngành tại trường cao đẳng sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long theo hướng tích cực hóa người học ” [11]
Trang 22Đề tài đã đưa ra một kế hoạch dạy học có ý nghĩa và có tính khả thi cao, đạt được mục tiêu nghiên cứu: nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đối với môn tiếng Anh chuyên ngành cơ khí động lực
Nguyễn Thanh Tùng (2011), “Nâng cao chất lượng dạy học theo hướng tích cực hóa môn tiếng Anh cơ bản tại trường Trung cấp nghề Trà Vinh” [15]
Đề tài đã xây dựng được quy trình vi mô để thực hiện giảng dạy tiếng Anh theo định hướng thực hành giao tiếp với quy trình ba bước tổng quát của giờ lên lớp: Giới thiệu- Luyện tập- Vận dụng và việc vận dụng quy trình lên lớp cho từng kỹ năng, nội dung ngôn ngữ qua ba giai đoạn: Trước khi- Trong khi- Sau khi là hoàn toàn phù hợp với quan điểm giao tiếp, phù hợp với chương trình, nội dung và đối tượng người học
là SV trường Trung cấp nghề Trà Vinh Quy trình dạy học này giúp SV phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạo trong quá trình luyện tập kỹ năng đồng thời đảm bảo được tính chặt chẽ, hợp lý trong các bước thực hiện các nhiệm vụ thực hành giao tiếp
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1 Ngữ pháp (Grammar)
Ngữ pháp là việc xem xét các quy tắc chủ yếu trong sử dụng ngôn ngữ Việc tạo ra các quy tắc chính cho một ngoại ngữ riêng biệt là ngữ pháp của ngoại ngữ đó, vì vậy mỗi ngoại ngữ có một ngữ pháp riêng biệt của nó.[2]
Ngữ pháp là những qui luật về cách từ vựng thay đổi dạng và kết hợp với những từ khác để tạo thành câu.[17]
Ngữ pháp đơn giản là qui luật từ vựng mà người sử dụng ngoại ngữ tuân theo Chúng ta đều cần những qui tắc này giống như là luật chơi của 1 trò chơi Một số người học rất hứng thú với việc tìm ra những qui luật ngữ pháp và làm nhiều bài tập ngữ pháp Người khác thì ghét học ngữ pháp và nghĩ đó là thứ tẻ nhạt nhất trong ngoại ngữ Cho dù người học có ý kiến gì đi nữa thì ngữ pháp vẫn là một phần không thể thiếu trong từng câu nói, nghe, đọc và viết Nếu không có luật chơi, mỗi người sẽ chơi một kiểu và trò chơi sẽ sớm kết thúc Ngoại ngữ cũng tương tự như thế Không có qui tắc, mọi người sẽ không thể giao tiếp được với người khác
Trang 231.2.2 Giao tiếp (Communication)
Giao tiếp là hoạt động mang tính xã hội của con người, là một trong những điều kiện quan trọng để xã hội loài người tồn tại và phát triển Trong đó, “ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” (V.I.Lênin)
Giao Tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin, giao tiếp là quá trình hai mặt liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau.[22]
Giao Tiếp có nghĩa người học tương tác với nhau trên nền kiến thức đã có bằng một thứ tiếng khác để tranh luận hay giải thích, mở rộng ý hay tiếp nhận kiến thức mới dưới vỏ bọc ngoại ngữ mới Người dạy đứng lui ra đằng sau để hỗ trợ, chỉ giải thích những vấn đề ngoại ngữ gây trở ngại cho giao tiếp [19]
1.3 CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
Khi đề cập về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, ắt hẳn mỗi giáo viên đều biết đến nhiều PPGD khác nhau như phương pháp ngữ pháp - dịch, phương pháp trực tiếp, phương pháp nghe - nói, phương pháp giao tiếp… Mỗi phương pháp ra đời sau đều được coi như một cố gắng kế thừa những thành tựu và khắc phục nhược điểm của phương pháp ra đời trước nó.[21]
1.3.1 Phương pháp ngữ pháp - dịch (Grammar Translation Method)
Phương pháp ngữ pháp - dịch là phương pháp ra đời sớm nhất, trong thế kỷ 19 giảng dạy ngoại ngữ đã ảnh hưởng mạnh mẽ bởi cách 'chết' ngoại ngữ cổ điển - Latin
và Hy Lạp - đã dạy Sinh viên dịch những câu từ ngoại ngữ này sang ngoại ngữ khác đôi khi rất vô nghĩa Sinh viên thường nghiên cứu các tác phẩm văn học nổi tiếng, vì vậy kỹ năng đọc và viết chiếm ưu thế Thường ít, hoặc không có, nói và nghe
Mục đích chủ yếu của phương pháp ngữ pháp - dịch là phân tích ngữ pháp, chú trọng nhiều vào việc học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ pháp, theo PP này người học chủ yếu dựa vào các nguyên tắc ngữ pháp để lý giải ý nghĩa của từng thành
tố trong câu để nắm được nghĩa của cả câu, cả đoạn rồi đến cả bài mà hầu như không phải thực hành nghe hoặc nói Tóm lại, người học chỉ ghi nhớ các nguyên tắc ngữ pháp và áp dụng chúng vào kỹ năng đọc, viết để tìm cách chuyển dịch nghĩa sang
Trang 24tiếng mẹ đẻ hoặc tiếng Anh Phương pháp này đã rất thịnh hành trước đây và ngay cả hiện nay ở Việt Nam vì nó phù hợp với thói quen học truyền thống của người Việt
Ưu điểm:
Sinh viên được rèn luyện rất kỹ về NP và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn
Sinh viên nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài khóa mẫu
Sinh viên có thể đọc hiểu nhanh các văn bản
Hạn chế:
Không giúp sinh viên “giao tiếp” được Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy; nghĩa là người thầy giảng giải, nói nhiều, sinh viên thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè
Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - sinh viên hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của sinh viên bị hạn chế nhiều
1.3.2 Phương pháp trực tiếp (The direct Method)
Theo các nhà phê bình, sinh viên học một ngoại ngữ trong nhiều năm theo phương pháp truyền thống (phương pháp ngữ pháp - dịch), thì không thể thực hiện được một công việc đơn giản như yêu cầu một ly nước Lí do đó SV được khuyến nghị nên học ngoại ngữ theo một cách tự nhiên như trẻ em học ngoại ngữ đầu tiên của
họ Trường Berlitz nổi tiếng đã đi tiên phong trong phương pháp này
Như một phản ứng chống lại dịch ngữ pháp, phương pháp trực tiếp nhấn mạnh
kỹ năng nói Cách phát âm cũng được nhấn mạnh và ngữ âm học đã được sử dụng để giúp phát âm tốt hơn Mục tiêu học ngoại ngữ thứ 2 được sử dụng trong lớp học Các
từ vựng mới được giới thiệu qua các tranh ảnh bằng lời hoặc được minh họa để truyền đạt ý nghĩa Từ vựng và ngữ pháp đã được trình bày theo cấp độ, từ dễ đến khó Dạy ngữ pháp là gợi ý cho sinh viên tự khám phá ra các quy tắc cho bản thân
Những hướng dẫn dành cho các giáo viên trường Berlitz
Trang 25o Không dịch - minh họa
o Không giải thích - hành động
o Không đọc diễn văn - đặt câu hỏi
o Không bắt chước lỗi - sửa lỗi
o Không nói 1 từ đơn lẻ - sử dụng nguyên câu
o Không nói quá nhiều - để sinh viên nói nhiều
o Không sử dụng giáo trình - phải dùng giáo án
o Không nhảy lòng vòng - có kế hoạch
o Không dạy quá nhanh - phải bằng tốc độ tiếp thu của sinh viên
o Không nói quá chậm - nói tốc độ bình thường
o Không nói quá nhanh - nói tự nhiên
o Không nói quá lớn - nói bình thường
o Không được mất kiên nhẫn - có tâm trạng thoải mái
1.3.3 Phương pháp nghe- nói (Audio-Lingual Method)
Phương pháp này ra đời tại Mỹ trong thời chiến tranh thế giới thứ hai để đáp ứng nhu cầu học ngoại ngữ một cách nhanh chóng để phục vụ các mục đích của quân đội nên còn được gọi là "phương pháp quân đội" Phương pháp này đã chú trọng hơn vào việc nghe - nói nhưng chủ yếu lại học theo cách bắt chước
Trong phương pháp này GV cho một sự kích thích bằng lời nói, ví dụ như đặt một câu hỏi, và các SV đáp lại bằng cách trả lời GV ca ngợi những câu trả lời đúng, làm tăng cường sự tích cực các mối quan hệ theo thuyết hành vi, và sửa chữa những sai lầm Lỗi được tránh bởi vì sự nguy hiểm của việc học những thói quen xấu
Phương pháp nghe nói nhấn mạnh đến vai trò của luyện tập thành thục các mẫu cấu trúc có sẵn, bằng cách lặp đi lặp lại và hình thành chuỗi dài Cách dạy này bắt người học phải ghi nhớ hoặc học thuộc các mẫu để áp dụng vào những tình huống cần thiết Mặc dù người học có thể nâng cao được khả năng nghe, nói nhưng PP này tỏ ra đơn điệu máy móc và thiếu tính sáng tạo
Trang 26 Sinh viên có khả năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, nhưng cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực
1.3.4 Phương pháp giao tiếp (The communicate Approach)
Phương pháp giao tiếp xuất hiện vào cuối những năm 60 đầu những năm 70, để khắc phục những hạn chế của các PP trước đây, PP này có tính đột phá trong giảng dạy tiếng Anh PPGT xác định mục tiêu “Học ngoại ngữ là để giao tiếp, để trao đổi thông tin” Các nhà ngoại ngữ học như Widdowson nhấn mạnh tầm quan trọng của ngoại ngữ là dựa vào cấu trúc hoặc ngữ pháp của ngoại ngữ đó Nhưng ngoại ngữ là
để giao tiếp, vì thế khả năng giao tiếp thì quan trọng hơn có kiến thức về NN đó và biết giao tiếp
Dạy ngoại ngữ theo PPGT nhấn mạnh đến khả năng tương tác của người học trong bối cảnh giao tiếp, trong đó mỗi hành vi giao tiếp của người học sẽ thay đổi tùy thuộc vào những phản ứng và câu trả lời trước đó của những người cùng tham gia Vì vậy việc nâng cao năng lực giao tiếp là mục tiêu của dạy học ngoại ngữ
Năng lực giao tiếp (communicative competence) đã được Oxford dựa trên quan niệm của các nhà ngoại ngữ tổng kết thành bốn điểm sau đây:
Trang 27Discourse Competency
Grammatical Competency
Strategic Competency
Socio-Linguistic CompetencyCommunicative Competence
Hình 1.1: Năng lực giao tiếp
Năng lực ngữ pháp (Grammartical competency or accuracy) là khả năng sử dụng chính xác ngoại ngữ gồm ngữ âm, từ vựng và cú pháp
Năng lực Ngôn ngữ xã hội (Socio-linguistic competency) là khả năng hiểu hay vận dụng ngoại ngữ phù hợp vào các tình huống giao tiếp thực tế trong xã hội
Năng lực diễn ngôn (Discourse competency) là khả năng gắn kết các ý để tạo ra một diễn ngôn mạch lạc và liên kết chặt chẽ
Năng lực phương pháp (Strategic competency) khả năng sử dụng các biện pháp, cách tiếp cận, thủ pháp, hay các bước phù hợp để khắc phục một số khó khăn hạn chế và thúc đẩy hiệu quả dạy và học ngoại ngữ
Phương pháp giao tiếp coi người học là trung tâm, còn thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn và kích thích khả năng sử dụng và giao tiếp ngôn ngữ của người học Người học sẽ được phát triển toàn diện tất cả các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết một cách trôi chảy và chính xác Sinh viên chủ động, sáng tạo trong các hoạt động tương tác để tiếp thu, vận dụng và điều chỉnh kiến thức và các kỹ năng ngoại ngữ
Trang 28Phương pháp này có nhiều ưu thế như vậy nên đã được áp dụng phổ biến nhất hiện nay trên toàn thế giới Thực chất, đây là tổng hợp những mặt mạnh của nhiều phương pháp trước đây Phương pháp giao tiếp hiện đã rất phổ biến ở Việt Nam, song
để phát huy tính hiệu quả của nó còn tùy thuộc vào khả năng chọn lựa ứng dụng và đổi mới sao cho thật phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Không ai khác ngoài giáo viên mới thực hiện được điều này
Ưu điểm:
Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp hoàn chỉnh Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và phát triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành
và phát triển các kỹ năng giao tiếp Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho
SV có khả năng sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp
Hạn chế:
Phương pháp giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cách thích đáng Kết quả là một số SV cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì SV làm sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng Nói cách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp
1.4 CÁC THÀNH TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH
Việc giảng dạy tiếng Anh có hiệu quả hay không phụ thuộc vào nhiều thành tố trong một hệ thống bao gồm: mục tiêu đào tạo, phương pháp dạy học, phương tiện dạy
Trang 29học, đội ngũ giáo viên Trong đó phương pháp dạy học là một thành tố quan trọng, có quan hệ biện chứng với các thành tố khác trong quá trình dạy học
1.4.1 Mục tiêu đào tạo
Mục tiêu quan trọng nhất của các chương trình đào tạo tiếng Anh giao tiếp là hình thành các năng lực giao tiếp cho người học Mục tiêu đào tạo được xây dựng dựa vào kết quả đánh giá và yêu cầu của thị trường lao động, trên cơ sở phân tích nghề để đảm bảo đào tạo được những người học có chất lượng đáp ứng được yêu cầu nghề nghiệp của xã hội
Việc xác định mục tiêu đào tạo cụ thể, chính xác là rất quan trọng, nó vừa là điểm xuất phát có tính chất định hướng cho toàn bộ hoạt động đào tạo đồng thời là cơ
sở để thiết kế nội dung chương trình đào tạo cho các ngành nghề cụ thể, phù hợp với từng loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.4.2 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ dạy học: trang bị tri thức, kỹ năng thực hành, hình thành các phẩm chất nhân cách, phát triển những khả năng và năng lực
Phương pháp dạy học nào thì kết quả dạy học ấy PPDH của giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên Nếu dạy học chỉ đòi hỏi
ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự dập khuôn cứng nhắc, chờ đợi sự chỉ dẫn thì cũng chỉ có thể hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy móc, tính thụ động, chờ đợi chỉ dẫn, chứ không thể hình thành cho người học tư duy logic, óc sáng tạo và tinh thần khám phá tri thức khoa học
Như vậy, chất lượng của hoạt động dạy học phụ thuộc rất lớn vào PPDH Trong quá trình dạy học, PPDH nổi lên như nhân tố chủ quan (về phía GV) hàng đầu quyết định chất lượng dạy học Có thể nói rằng: có đạt kết quả hay không còn tùy thuộc vào người GV có nắm vững và vận dụng tốt các PPDH một cách sáng tạo, linh hoạt, tận dụng ưu điểm của từng PP hay không Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng
Trang 30PPDH phù hợp luôn có ý nghĩa sống còn đối với CLDH ở bậc đại học, nhất là khi chúng ta đang tiến dần tới chuẩn đào tạo đại học của các nước trong khu vực Asian
1.4.3 Phương tiện dạy học
PTDH là toàn bộ các phương tiện mang tin, phương tiện truyền tin và phương tiện tương tác được sử dụng trực tiếp vào quá trình dạy học để chuyển biến nội dung thành mục đích dạy học Quá trình dạy học là một quá trình truyền thông có sự trao đổi thông điệp giữa hai hay nhiều người đồng thời phát và nhận thông điệp của nhau theo 3 kênh tương ứng:
(Luận văn thạc sĩ, Nguyễn Phương Hà, 2011)
Hình 1.2: Các kênh trao đổi thông điệp trong quá trình dạy học
- Thông điệp được truyền từ giáo viên đến người học: hướng dẫn, thông tin người học được học, hiểu hoặc thực hành
- Thông tin về sự tiến bộ học tập, mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng từ người học truyền về giáo viên Giáo viên tiếp nhận, xử lý và quyết định điều chỉnh hay tiếp tục thực hiện công việc dạy học của mình
- Thông tin phản hồi từ GV đến người học (uốn nắn, hướng dẫn, động viên, … Như vậy, lời nói và chữ viết cũng là một loại PTDH Tuy nhiên, khi tách khỏi chủ thể của quá trình dạy học là thầy và trò thì PTDH là phần vật chất khách quan gồm toàn bộ những trang thiết bị, máy, tài liệu, phục vụ việc giảng dạy và học tập
Từ các phương tiện đơn giản như bàn ghế, bảng đen, phấn trắng đến các thiết bị cơ
Trang 31điện tử, dây chuyền tự động Mỗi loại phương tiện khác nhau đều có những tính chất đặc biệt riêng của nó, nếu chúng ta biết phối hợp và khai thác tốt những tính chất đó
sẽ giúp cho hoạt động dạy học mang tính hiệu quả cao hơn, nâng cao CLDH Việc sử dụng PTDH phải tuân theo các nguyên tắc: bảo đảm sự phù hợp giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và trình độ của người học
Năng lực giáo viên là điều kiện quan trọng góp phần đảm bảo CLDH cho một
cơ sở đào tạo Giáo viên có kiến thức chuyên môn sâu rộng, tay nghề cao, khả năng sư
Trang 32phạm tốt và có tư duy khoa học sáng tạo sẽ hình thành ở sinh viên kiến thức vững vàng, năng lực tự học và khả năng thích ứng tốt với công việc
Số lượng giáo viên trên tổng số sinh viên cũng ảnh hưởng rất lớn đến CLDH,
để quá trình dạy học đạt chất lượng cao nhất phải đảm bảo tỉ lệ giáo viên và sinh viên, đảm bảo số giờ dạy chuẩn của giáo viên và tổ chức tốt quá trình nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ giáo viên Một cơ sở đào tạo có đội ngũ giáo viên giỏi sẽ là tài sản
vô giá giúp cho sự tồn tại và phát triển bền vững của đơn vị
1.5 DẠY NGỮ PHÁP TIẾNG ANH THEO HƯỚNG GIAO TIẾP
1.5.1 Một số phương pháp giảng dạy tiếng Anh
Ngữ pháp tiếng Anh vô cùng phong phú và đa dạng SV đôi khi bị ngợp trước hàng loạt các cấu trúc ngữ pháp mới và thường rất bối rối khi gặp những cấu trúc ngữ pháp tương tự nhau Nắm rõ ngữ pháp sẽ khiến SV tự tin hơn khi sử dụng tiếng Anh cũng như nâng cao được các kỹ năng như nghe, nói, đọc, viết Vậy làm thế nào để có thể giúp SV học tốt ngữ pháp Sau đây là một số PP dạy và học ngữ pháp hiệu quả.[8]
1.5.1.1 Dạy ngữ pháp thông qua việc đưa ra các ví dụ đơn giản, dễ hiểu
Khi giới thiệu một cấu trúc NP mới, giáo viên hãy đưa ra nhiều ví dụ cụ thể để sinh viên có thể hình dung ra hoàn cảnh áp dụng cấu trúc ngữ pháp đó Ví dụ minh họa càng cụ thể và dễ hiểu thì sinh viên càng dễ tiếp thu bài học mới và cảm thấy hào hứng Nên để sinh viên tự phát hiện và nhận ra hiện tượng ngữ pháp mới trong ví dụ
mà giáo viên đưa ra Đây cũng là phương pháp giảng dạy NP phổ biến nhất từ trước đến nay ở Việt Nam vì các giáo viên thường đưa ra các câu ví dụ điển hình rồi mới phân tích cấu trúc NP có trong các câu ví dụ đó
- Từ vựng dùng trong những câu ví dụ phải là những từ mà sinh viên đã biết, giáo viên nên dùng những từ đơn giản để giải thích bài giảng cũng như đưa ra ví dụ dễ hiểu để sinh viên có thể tập trung vào bản thân cấu trúc ngữ pháp đó Không nên sử dụng từ ngữ khó khi giảng dạy Điều quan trọng nhất là giáo viên phải biết cách đơn giản hóa ngôn ngữ cũng như từ vựng khi giải thích một cấu trúc ngữ pháp
- Cấu trúc ngữ pháp mới nên được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, sẽ không bao giờ
là thừa bởi việc nhắc lại sẽ giúp sinh viên ghi nhớ dễ dàng hơn và lâu hơn Hơn nữa,
Trang 33bất cứ khi nào một vấn đề mới được giới thiệu thì giáo viên cũng nên nhắc lại những vấn đề liên quan mà sinh viên đã được học trước đây để kiến thức của sinh viên có thể dần dần được nâng lên thông qua biện pháp ôn tập cuốn chiếu này
1.5.1.2 Sử dụng hình ảnh minh họa sinh động
Đối với một số vấn đề ngữ pháp, việc sử dụng hình ảnh là một sự lựa chọn tối
ưu giúp giáo viên đưa ra cấu trúc một cách sinh động, trực tiếp và rõ ràng trong một tình huống cụ thể Việc sử dụng hình ảnh thông qua sự trợ giúp của các phương tiện nghe nhìn trong giảng dạy sẽ giúp giáo viên truyền tải hiệu quả và dễ dàng hơn các khái niệm khó và trừu tượng Dạy ngữ pháp bằng hình ảnh trực quan sẽ có hiệu quả hơn so với phương pháp giáo viên chỉ giảng bằng lời
Hình ảnh sẽ giúp sinh viên tiếp cận và nắm bắt thông tin nhanh hơn vì SV có thể hình dung ngữ cảnh rõ ràng Với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, giáo viên sẽ dễ dàng tìm hình ảnh thích hợp để hổ trợ cho phần dạy ngữ pháp Nếu cần thiết, giáo viên có thể vận dụng các ảnh động để giảng bài cũng như yêu cầu sinh viên vận dụng cấu trúc ngữ pháp đặt câu theo ảnh cho sẵn
Cách thức giới thiệu ngữ pháp thông qua hình ảnh khá thú vị nhưng không phải lúc nào giáo viên cũng có thể làm được, đặc biệt trong những trường hợp cấu trúc hay vấn đề ngữ pháp khó và phức tạp, cũng như khi giáo viên không có thời gian tìm kiếm hình ảnh thích hợp
1.5.1.3 Giới thiệu vấn đề, cấu trúc ngữ pháp thông qua tình huống
Cách thức giới thiệu ngữ pháp thông qua hình ảnh khá thú vị nhưng không phải lúc nào ta cũng có thể làm được, đặc biệt trong những trường hợp cấu trúc hay vấn đề ngữ pháp khó và phức tạp Trong những trường hợp như thế này thì việc giới thiệu vấn đề hay cấu trúc ngữ pháp trong một tình huống thực tế cụ thể sẽ giúp sinh viên tiếp nhận kiến thức mới dễ dàng hơn Ngoài ra, cách giới thiệu này cũng rất có ích trong quá trình thực hành sau này bởi sinh viên đã biết cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp trong tình huống thực tế ngoài đời
Dạy ngữ pháp thông qua tình huống là một phương pháp mới, hiện đại và rất hiệu quả Sinh viên sẽ rèn được kỹ năng giao tiếp trong môi trường với những tình
Trang 34huống đa dạng trong cuộc sống Môi trường này chủ yếu do giáo viên tạo ra dưới dạng những tình huống giao tiếp mà sinh viên phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp với từng tình huống cụ thể
Phân loại tình huống: có 2 loại
Tình huống thật (Real situation)
Tình huống giả (Contrived situation)
Sơ đồ phân loại tình huống
Situations
(Contexts)
Hình 1.4: Sơ đồ phân loại tình huống
Tình huống thật: bao gồm tình huống có sẵn và tình huống nhớ lại
- Tình huống có sẵn: là những gì mà sinh viên được chứng kiến trực tiếp ngay lúc đang học, những gì mà sinh viên có thể nghe thấy, nhìn thấy, sờ thấy… Tình huống này xảy ra trong lớp nơi mà cả thầy và trò đang sử dụng ngôn ngữ có liên quan đến tình huống đó
-Tình huống nhớ lại: là những tình huống không có sẵn không xảy ra trong lớp nhưng SV bằng những kinh nghiệm của mình có thể nhận ra Những tình huống này được sinh viên chứng kiến một cách trực tiếp ngoài cuộc sống và rất dễ dàng cho các
em nhớ lại
Tình huống giả: gồm TH qua dụng cụ trực quan và tình huống bằng lời
- Tình huống qua dụng cụ trực quan: là những tình huống do giáo viên tạo ra với sự trợ giúp của dung cụ trực quan như: vật thật, vật tượng trưng, tranh ảnh…
Trang 35- Tình huống bằng lời: là loại tình huống khó sử dụng nhất, vì sinh viên hiểu ngôn ngữ chỉ duy nhất với sự trợ giúp của các từ khác xunh quanh Loại tình huống này thường được áp dụng cho các lớp tiếng Anh có trình độ cao
Khi giới thiệu ngữ cấu trúc mới, trong nhiều trường hợp một tình huống hay ngữ cảnh không đủ làm rõ ý nghĩa và cách sử dụng của ngôn ngữ Một phương pháp rất hữu hiệu là phối hợp các loại tình huống khác nhau
1.5.1.4 Phương pháp tư duy
Hầu hết các sinh viên học ngữ pháp bằng cách ghi nhớ máy móc các cấu trúc cũng như cách thức sử dụng Đây là một trong những lý do tại sao sinh viên luôn cảm thấy khó khăn khi học ngữ pháp Giáo viên nên giúp sinh viên sử dụng và phát huy khả năng tư duy khi học ngữ pháp Giáo viên nên hướng dẫn sinh viên phân biệt giữa thông tin nào cần học thuộc lòng và thông tin nào cần tư duy để nhớ
Khi dạy một cấu trúc ngữ pháp mới, giáo viên nên giúp sinh viên so sánh các điểm cũng như cấu trúc ngữ pháp có mối tương quan nhằm giúp sinh viên phân biệt rõ ràng các cấu trúc ngữ pháp và hiểu sâu hơn cách thức sử dụng để tránh nhầm lẫn Thông qua cách so sánh, sinh viên sẽ tự phát triển khả năng tư duy và mối quan hệ của các điểm ngữ pháp Nếu sinh viên có thể liên hệ những kiến thức cũ thì việc học kiến thức mới sẽ diễn ra dễ dàng và thuận lợi hơn
1.5.2 Các bước giảng dạy ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp
Dạy ngữ pháp là một nội dung không thể thiếu được và là một trong những nội dung cơ bản cần thiết trong một bài học về ngôn ngữ, nhằm cung cấp cho sinh viên những cấu trúc ngữ pháp mới để họ có thể có thể sử dụng trong suốt quá trình bài học đó Bài dạy ngữ pháp gồm có 3 bước cơ bản
Trang 36Presentation (Giới thiệu)
Các thủ thuật giới thiệu 1 cấu trúc ngữ pháp mới
Sử dụng đồ dùng trực quan / Tình huống thực tế
Giải thích cấu trúc ngữ pháp
Nghĩa Sử dụng Dạng thức Phát âm
Practice (Thực hành có sự kiểm soát của giáo viên)
Kiểm tra mức độ hiểu cấu trúc vừa được học
Production (Thực hành tự do)
Vận dụng trong những tình huống thực tế
Hình 1.5: Quy trình một bài dạy ngữ pháp tiếng Anh
Bước 1: Giới thiệu cấu trúc (Presentation)
Trong một bài học cần phải giới thiệu cho sinh viên cấu trúc ngữ pháp mới, cơ bản, được sử dụng nhiều lần trong bài học và chưa từng gặp trong các bài học trước, còn những cấu trúc hãy để sinh viên tự đoán nghĩa theo ngữ cảnh Không nên giới thiệu quá nhiều cấu trúc ngữ pháp trong một tiết dạy
Để giúp nắm vững được một cấu trúc ngữ pháp mới về cả các đặt điểm cấu tạo, ý nghĩa và cách sử dụng cấu trúc ngữ pháp trong những tình huống khác nhau , giáo viên cần phải tiến hành giới thiệu cấu trúc ngữ pháp theo một trình tự nhất định Trên phương hướng của nguyên tắc thực hành giao tiếp bắt đầu từ nghe nói rồi đến đọc viết Dưới đây là một số cách dùng để giới thiệu cấu trúc NP mới:
- Dùng tình huống: Giáo viên tạo ra một tình huống ở trong hoặc ngoài lớp mà trong đó cấu trúc đó có thể sử dụng một cách tự nhiên Tình huống có thể có thực,
Trang 37tưởng tượng hoặc sáng tạo Thông qua tình huống sinh viên có thể nhận ra khi nào thì dùng mẫu câu đó, phát huy sự sáng tạo và khả năng suy luận của sinh viên
- Dùng thị giác: Giáo viên dùng đồ vật, hình vẽ hoặc tranh ảnh có thể kết hợp với nét mặt, điệu bộ giúp gây ấn tượng về hình ảnh để sinh viên liên hệ trực tiếp với ý nghĩa của câu
- Dùng cách so sánh đối chiếu các cấu trúc ngữ pháp: việc đối chiếu cấu trúc mới với cấu trúc sinh viên đã biết giúp cho SV cũng cố lại những mẫu câu khác nhau trên cơ sở cái đã biết, giúp SV không nhầm lẫn giữa cách sử dụng các mẫu câu đó
- Dùng ví dụ câu chuẩn: nêu ví dụ nhằm cung cấp cho sinh viên cấu trúc câu chuẩn mực, từ đó sinh viên có thể lắp ghép, thay thế từng thành phần câu để tạo nên nhiều câu khác nhau
Giáo viên nên kết hợp các phương pháp giảng dạy cho ví dụ sao cho linh hoạt, không nhất thiết chỉ sử dụng một phương pháp giảng dạy duy nhất Việc kết hợp đa dạng các phương pháp giảng dạy sẽ giúp SV cảm thấy không nhàm chán khi học cũng như GV sẽ dễ dàng truyền tải bài giảng hơn
Bước 2: Luyện tập (Practice)
Đây là phần thực hành có sự kiểm soát của GV, sinh viên sẽ vận dụng kiến thức vừa học vào làm các bài tập cụ thể Những bài tập này được kế thiết theo hướng thực hành giao tiếp và sinh viên bắt đầu làm từ những bài tập đơn giản, nhằm giúp sinh viên nắm vững khái niệm cơ bản Sau đó đến các bài tập nâng cao hơn nhằm giúp sinh viên rèn luyện tư duy vừa mở rộng kiến thức Tuy nhiên các bài tập không nên quá khó vì những sinh viên học yếu sẽ dễ cảm thấy nản Thông qua các dạng bài tập thực hành trên lớp giáo viên có thể biết được sinh viên có nắm được cấu trúc ngữ pháp vừa học hay không, và hiểu được ở mức độ nào để từ đó giáo viên có thể định ra những hoạt động tiếp theo trong bài:
Có cần tăng cường thêm luyện tập ngữ pháp hay không, để giúp sinh viên nắm vững cấu trúc vừa học
Sinh viên đã được trang bị đủ kiến thức về ngữ pháp để có sử dụng những cấu trúc vừa học trong giao tiếp mà không mắc phải những lỗi về ngữ pháp
Trang 38Một số dạng bài tập thực hành nhằm kiểm tra mức độ hiểu bài của sinh viên:
Sinh viên ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tương tự khác GV đưa ra
Ở bước này, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện, SV đóng vai trò chủ đạo, tức là phải phát huy cao độ tính tích cực trong luyện tập thực hành SV cần tập trung rèn luyện sâu vào kỹ năng giao tiếp, muốn thực hiện được, cá nhân SV phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu ý rằng độ lưu loát/trôi chảy trong giai đoạn này là rất quan trọng
1.5.3 Tổ chức các hoạt động giao tiếp trong giờ dạy ngữ pháp
Một lớp học ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp cần phải có nhiều hình thức hoạt động như: làm việc tập thể cả lớp, làm việc theo nhóm, theo cặp và làm việc cá nhân Nhìn chung các sinh viên bậc cao đẳng tuy cũng hào hứng, muốn nắm bắt và sử dụng được ngoại ngữ nhưng khả năng độc lập trong học tập chưa tốt Phần lớn các em còn rụt rè, không tự tin và sợ nói sai Việc đề xuất các hoạt động cá nhân, theo cặp và theo nhóm để tạo ra môi trường học ngôn ngữ đa dạng sẽ giúp cho người học có nhiều
cơ hội tham gia vào quá trình học, từ đó xây dựng động cơ học tích cực, chủ động, tạo niềm tin và hứng thú cho bản thân trong việc học giao tiếp Nói một cách khác, thông qua thực hành và kinh nghiệm trong những những ngữ cảnh và sự kiện xã hội thực tế người học dần dần mở rộng năng lực giao tiếp của họ [19]
Trang 39Với phương pháp dạy truyền thống (Ngữ pháp - dịch) mà phần lớn GV thường
sử dụng, sinh viên ít có cơ hội để luyện tập, hơn nữa sinh viên lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năng ngôn ngữ nên kết quả học tập thường bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc Vì vậy cần phải thường xuyên được sự khuyến khích động viên kịp thời của giáo viên và đặc biệt là sự hổ trợ của bạn học qua hoạt động cặp, nhóm
1.5.3.1 Hoạt động làm việc cả lớp
Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp phổ biến mà trong đó mối quan hệ giữa giáo viên và sinh viên có ưu thế hơn mối quan hệ giữa sinh viên với nhau Hình thức làm việc cả lớp rất phù hợp và có hiệu quả với những hoạt động như mở bài, giới thiệu ngữ liệu mới, luyện phát âm đồng thanh, các hoạt động cần có sự tham gia của
cả lớp hoặc cần sự phản hồi thông tin giữa các sinh viên với nhau như: discussion, games, prediction, matching, brainstorm
Trong hình thức dạy học toàn lớp thường xuất hiện các phương pháp dạy học như phương pháp thuyết trình, đàm thoại, diễn trình
Ưu điểm:
Truyền đạt được thông tin cho toàn bộ sinh viên trong lớp
Giảng viên có thể chủ động bao quát lớp
Giảng viên chuẩn bị bài ít phức tạp
Hạn chế:- Giảng viên chi phối nhiều, hạn chế sự tham gia tích cực của SV không phát huy được năng lực sáng tạo của SV Tốc độ làm việc khó phù hợp, có thể quá nhanh đối với sinh viên yếu và quá chậm đối với sinh viên khá
Hình thức tổ chức dạy học toàn lớp được sử dụng rộng rãi hơn các hình thức tổ chức dạy học khác vì nó đạt được mục tiêu về kiến thức cao và dễ tổ chức Hơn nữa các nhược điểm của nó có thể khắc phục bằng cách giáo viên xen kẽ thay đổi các hình thức tổ chức dạy học khác
1.5.3.2 Làm việc cá nhân
Làm việc cá nhân là một hình thức hoạt động rất phổ biến trong lớp học Loại hình này cho phép giáo viên kiểm tra và đánh giá được sự tiến bộ của từng sinh viên
Trang 40một cách chính xác và dễ dàng hơn Cho phép sinh viên làm việc theo trình độ, tốc độ, phương pháp và nhu cầu riêng, giúp các em làm việc một cách độc lập khi thực hành
và ứng dụng các kĩ năng đã học
Ưu điểm:
Cá biệt hóa về khả năng học tập: sinh viên tự tổ chức quá trình học của mình
Cá biệt hóa về tốc độ học: SV tự xác định tốc độ học phù hợp với đặc điểm của mình
Hạn chế:
Khó kiểm sót được thời gian vì sinh viên làm việc với tốc độ khác nhau
Không có sự trao đổi giao tiếp giữa sinh viên với nhau, dẫn đến hạn chế khả năng sinh viên tự giúp đỡ nhau, làm giảm cơ hội tự đánh giá của sinh viên qua việc so sánh với đáp án của các bạn khác
1.5.3.3 Làm việc theo cặp
Hoạt động làm việc theo cặp là hoạt động không thể thiếu đối với các tiết học ngoại ngữ theo quan điểm giao tiếp Hình thức làm việc theo cặp có thể hổ trợ cho hình thức hoạt động cả lớp hoặc làm việc cá nhân vì hoạt động này tăng cường được việc trao đổi thông tin qua lại giữa các sinh viên với nhau
Ưu điểm:
Tăng cường sự giao tiếp, trao đổi, hợp tác giúp đỡ nhau giữa các sinh viên
Tăng cơ hội tham gia đóng góp xây dựng bài của sinh viên
Tăng thêm tầng số luyện tập, tiết kiệm được thời gian
Tạo cơ hội cho nhiều sinh viên được làm việc cùng một lúc
Hạn chế:
Dễ gây ồn ào ảnh hưởng đến các lớp bên cạnh
Sinh viên có thể không làm việc nếu thiếu tự giác
Đôi khi gặp công việc khó không giải quyết được sinh viên thường bỏ dở