Do vậy, người dạy cần vận dụng và phát huy triệt để mọi phương tiện để thúc đẩy các hoạt động giao tiếp nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ, gây được sự hứng thú trong học tập, khích thích k
Trang 1lượng đào tạo Dạy học là quá trình trợ giúp người học chiếm lĩnh nội dung và kiến
thức Theo PPDH truyền thống, dạy học thường được xem là quá trình truyền thụ kiến thức từ thầy sang trò theo lối ghi - chép; tuy nhiên với thời kỳ hội nhập quốc tế buộc người lao động phải linh hoạt, sáng tạo và có khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong những tình huống thay đổi Với việc ứng dụng phương pháp giảng dạy theo định hướng tương tác là một sự thay đổi mới mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy
Dạy và học ngoại ngữ được xem là một quá trình khám phá, trong đó người học luôn đóng vai trò chủ động, tiếp nhận kiến thức sử dụng ngôn ngữ phù hợp cho những mục đích giao tiếp cụ thể Do vậy, người dạy cần vận dụng và phát huy triệt
để mọi phương tiện để thúc đẩy các hoạt động giao tiếp nhằm nâng cao khả năng ngôn ngữ, gây được sự hứng thú trong học tập, khích thích khả năng tư duy buộc người học phải nổ lực để có thể chuyển biến thành ngôn ngữ của chính mình
Nâng cao chất lượng dạy học là nhiệm vụ cơ bản và đầu tiên của nhà trường và cũng là nhiệm vụ trực tiếp của mỗi cá nhân giáo viên Từ những lý do trên, người nghiên cứu tiến hành thực hiện đề tài: “ ng dụng phương pháp dạy kỹ năng Nói tiếng Anh theo hướng tương tác cho sinh viên tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu”
* Nội dung của luận văn gồm những phần chính sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy kỹ năng Nói tiếng Anh theo định hướng tương tác Chương 2: Thực trạng tổ chức dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu
Chương 3:Thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả phương pháp giảng dạy
Cuối cùng là kết luận và kiến nghị
Trang 2teaching Teaching is a learning process that helps learners to keep content and knowledge Learning a language is the process of identifying knowledge and training skills According to traditional teaching methods, learning a language is often considered as a passive process transmission knowledge from teacher to learners by write and copy; however, international intergration the labor must be creativity, flexibility, and be able to solve complex problems in many changing situations With the applicaton of communicative approach in teaching English Skills is a new change in teaching
Teaching and learning foreign languages are seen as a discovery process now, in which learner has always play an active role, receiving the knowledge and using language appropriate for the specific purpose of communication In this way, teacher is only the guider and assist students as they needed Therefore, teachers need to use and fully utilized every means to promote communication activities, improve language skills and make exciting learning, stimulate the learners more active in thinking and attempt them brainstorming to be able to move into their own language
To raise the quality of teaching is the first basic task of the school, as well as the direct task of every teacher From the above reasons, the researchers carried out the subject : “Applicaton of Communicative Approach in teaching English Skills
to Bac Liêu Vocational College Students
The contents of the thesis includes the following main sections:
Chapter 1: Rationale of communicative approach in teaching English Skills Chapter 2: The real situation of teaching and learning organization English speaking skill at Bạc Liêu Vocational College
Chapter 3: Experimenting pedagogy and assess the effectiveness of this method Finally, conclusions and recommendations
Trang 3Trang Quyết định giao đề tài
Lý lịch khoa học i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Tóm tắt iv
Mục lục vi
Danh mục từ viết tắt ix
Danh mục các sơ đồ x
Danh mục hình vẽ x
Danh mục các bảng biểu x
PH NăM ăĐ U 1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Giả thuyết nghiên cứu 4
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc luận văn 4
PH NăN IăDUNG CH NGă 1:ă C ă S ă Lụă LU Nă V ă D Yă K ă NĔNGă NịIă TI NG ANH THEO Đ NH H NGăT NGăTÁCă 1.1 Tổng quan .6
1.1.1 Các khái niệm 6
1.1.2 Kỹ năng lời nói 10
1.1.3 Sản sinh và tiếp nhận lời nói 12
1.2 Một số phương pháp dạy học tiếng Anh 15
1.3 Dạy học theo định hướng tương tác 18
1.4 Một số phương pháp dạy học tương tác 22
Trang 41.4.3 Phương pháp thảo luận 24
1.4.4 Phương pháp vấn đáp đàm thoại 30
1.4.5 Phương pháp dạy học trực quan 35
1.5 Các lý thuyết học tập 39
1.5.1 Thuyết hành vi 39
1.5.2 Thuyết nhận thức 40
1.5.3 Thuyết kiến tạo 40
1.6 Tổ chức quá trình dạy học 40
1.6.1 Dạy học theo hướng lấy người dạy làm trung tâm 40
1.6.2 Dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm 41
1.6.3 So sánh đặc trưng của PPDH truyền thống và PPDH hiện đại 42
1.7 Kết luận chương 1 43
CH NGă 2:ă TH Că TR NGă T ă CH Că D Yă VÀă H Că K ă NĔNGă NịIă TI NGăANHăT IăTR NGăCAOăĐ NGăNGH ăB CăLIÊU 2.1 Giới thiệu sơ lược về trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu 45
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 45
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của nhà trường 47
2.1.3 Chuyên ngành đào tạo tại trường 48
2.2 Giới thiệu về môn Anh văn căn bản 49
2.2.1 Vị trí, chức năng và đối tượng môn học 49
2.2.2 Chương trình môn học Anh văn căn bản 50
2.2.3 Thực trạng dạy Anh văn căn bản tại trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu 50
2.2.4 Yêu cầu chung khi giảng dạy môn Anh văn căn bản 51
2.3 Khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu 53
2.3.1 Khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh 53
2.3.2 Một số kết quả khảo sát 54
Trang 52.4 Các giải pháp 58
2.5 Kiểm tra, đánh giá người học 61
2.6 Kết luận chương 2 64
CH NGă 3:ă TH Că NGHI Mă S ă PH M,ă ĐÁNHă GIÁă HI Uă QU ă PH NGăPHÁPăGI NGăD Y 3.1 Mục đích thực nghiệm 65
3.2 Nội dung thực nghiệm 65
3.3 Thiết kế và chọn mẫu khảo sát 66
3.4 Tổ chức thực nghiệm 66
3.5 Kết quả thực nghiệm xử lý số liệu 68
3.5.1 Kết quả định tính về tính tích cực học tập của SV 68
3.5.2 Kết quả định lượng điểm kiểm tra của sinh viên lớp đối chứng và lớp thực nghiệm 73
3.5.3 Kết quả tổng hợp từ phiếu đánh giá nhận xét của giáo viên dự giờ 77
3.6 Kết luận chương 3 80
PH NăK TăLU NăKI NăNGH 1 Kết luận 82
1.1 Kết luận chung về đề tài 82
1.2 Đánh giá đề tài 83
1.3 Những đóng góp của đề tài 83
1.4 Hướng phát triển của đề tài 85
2 Kiến nghị 85
TÀIăLI UăTHAMăKH O 87
PH ăL C
Trang 6Ch ữ viết tắt N ội dung đầy đ
Trang 72 Sơ đồ 1.2 Mô hình tiếp nhận lời nói của M.Halle & K.N Stevens 14
3 Sơ đồ 1.3 Mô hình ba thành tố hình thành PPDH của giáo viên 16
4 Sơ đồ 1.4 Cơ sở khoa học của dạy học trực quan 36
DANHăM CăCÁCăHỊNH 1 Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện khối lượng nội dung môn học 58
2 Hình 2.2 Biểu đồ thể hiện mức độ yêu thích kỹ năng nói T.Anh 59
3 Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện các PP ứng dụng trong dạy kỹ năng Nói T.A 60
4 Hình 3.1 Biểu đồ biểu diễn mức độ yêu thích 70
5 Hình 3.2 Biểu đồ thể hiện không khí tổ chức lớp học 71
6 Hình 3.3 Biểu đồ thể hiện mức độ Nói lưu loát 72
7 Hình 3.4 Biểu đồ thể hiện khả năng trình bày trước tập thể của SV 73
8 Hình 3.5 Biểu đồ thể hiện khả năng hỏi và trả lời câu hỏi 74
9 Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện khả năng vận dụng kiến thức 75
10 Hình 3.7 Biểu đồ phân phối tần số lớp ĐC và TN 77
DANHăM CăCÁCăB NGăBI Uă 1 Bảng 3.1 Mức độ yêu thích kỹ năng Nói 70
2 Bảng 3.2 Kết quả quan sát không khí lớp học 71
3 Bảng 3.3 Khả năng Nói lưu loát tiếng Anh 71
4 Bảng 3.4 PTDH được ứng dụng trong giảng dạy kỹ năng Nói T.A 72
5 Bảng 3.5 Khả năng trình bày trước tập thể 73
6 Bảng 3.6 Khả năng hỏi và trả lời câu hỏi 74
7 Bảng 3.7 Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn 74
8 Bảng 3.8 Thống kê điểm số của lớp ĐC và lớp TN 76
9 Bảng 3.9 Kết quả điểm số của lớp đối chứng và lớp thực nghệm 76
10 Bảng 3.10 Bảng nhận xét của GV sau khi dự giờ lớp ĐC và lớp TN 79
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lýădoăchọnăđ ătƠiă
Cùng với sự toàn cầu hóa, tiếng Anh ngày càng khẳng định tầm quan trọng trên toàn thế giới Ngày nay, Tiếng Anh được xem như một môn ngoại ngữ không thể thiếu, nó còn là phương tiện đặc biệt hữu ích phục vụ cho việc giao tiếp, trao đổi kinh tế, văn hoá…v.v trên toàn thế giới
Việc dạy học tiếng Anh trong những năm gần đây là một nhu cầu tất yếu mang tính chiến lược quốc gia Tiếng Anh không còn là môn học cần khuyến khích mà đã trở thành môn học bắt buộc trong các trường học chuyên nghiệp Bộ cũng khuyến khích giáo viên sử dụng các phương pháp giảng dạy tiên tiến giúp sinh viên hứng thú hơn với việc học tiếng Anh
Trong Nghị quyết TW 2, Khoá VIII, BCH Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ kiến thức một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên nhất là sinh viên đại học Phát triển phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân nhất là trong thanh niên” [18,41]
Đổi mới PPGD nhằm tích cực hoá hoạt động học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên (SV) Giúp SV nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổi mới để phát triển, gắn lý thuyết với thực hành biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, đổi mới phương pháp còn hướng SV tích cực tham gia các hoạt động xã hội của trường, lớp Giáo viên (GV) là người giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn người học giữ vai trò chủ động, tích cực trong quá trình học tập và tham gia nghiên cứu khoa học
Trong quá trình học tiếng Anh, người học luôn gặp phải những khó khăn liên quan đến cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Trong bốn kỹ năng đó, người học
Trang 9nhận thấy khó khăn, một trong những nguyên nhân đó là trong quá trình học tiếng
Anh ở trung học cơ sở, trung học phổ thông, hay học tiếng Anh ở các trường chuyên nghiệp kỹ năng Nói thường không được chú trọng Trong khi đó kỹ năng Nói đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong môi trường năng động như ngày nay Kỹ năng Nói (Speaking skill) được xem là kỹ năng khó rèn luyện trong bốn kỹ năng ngôn ngữ Vì vậy, phát triển và cải thiện kỹ năng Nói tiếng Anh cho sinh viên ở các trường Nghề là thực sự cần thiết
Việc rèn luyện cho người học kỹ năng giao tiếp được xem là mục tiêu cơ bản trong tiến trình dạy học ngôn ngữ trong đó cả bốn kỹ năng Nghe - Nói - Đọc - Viết đều được đặc biệt chú trọng Nghe nói không còn là kỹ năng ngôn ngữ thụ động đòi hỏi kỹ năng tiếp nhận (receptive skill) như một số giáo viên quan niệm trước đây Nghe nói trở thành kỹ năng chủ động, trong đó người học đóng vai trò tích cực của người tham dự vào thông tin được nghe, xử lý thông tin, hiểu và giải mã được thông tin để cuối cùng phản hồi lại với thông tin đó, đúng như tiến trình gồm bốn thao tác: cảm nhận - hiểu - đánh giá - phản hồi Chỉ khi nào người nghe có thể phản hồi được thông tin thì quá trình giao tiếp mới đạt được kết quả mong muốn Kỹ năng nói bị hạn chế có thể làm hỏng tiến trình giao tiếp Vì vậy, kỹ năng nói (Speaking Skill) được xem là yếu tố cơ bản của quá trình giao tiếp
Thực tế cho thấy rằng, sinh viên sau khi tốt nghiệp ở bất kỳ ngành học nào, nếu trong tay cầm chắc một chuyên môn vững vàng song song với việc có khả năng giao tiếp, sử dụng tiếng Anh lưu loát sẽ giúp sinh viên đó giành được ưu thế vượt trội trong các kỳ tuyển dụng Thậm chí ngay cả khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nếu sinh viên có khả năng sử dụng tiếng Anh thì điều đó cũng giúp họ tiếp cận với các nền khoa học và văn minh thế giới, cập nhật và mở rộng các kiến thức ngoài bài giảng, tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học một cách nhanh chóng, hơn hẳn những sinh viên không sử dụng được tiếng Anh Nhưng các sinh viên ở nước ta hiện nay đã đáp ứng đòi hỏi đó như thế nào? Công tác giảng dạy và học tập tiếng Anh hiện nay tại trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu vẫn chưa có được bước tiến, bộc
lộ nhiều hạn chế, chưa vận dụng những phương pháp mới, áp dụng phương pháp
Trang 10dạy học chưa thật sự hiệu quả; chưa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhằm giúp người học có khả năng tự học, tự nghiên cứu Trình độ tiếng Anh nói chung và kỹ năng giao tiếp của các sinh viên trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu nói riêng không cao
Là một người làm công tác giáo dục, người nghiên cứu luôn cố gắng cải thiện tình trạng học tập của sinh viên cũng như luôn tìm tòi phát huy và khắc phục những
ưu nhược điểm trong bộ môn giảng dạy của mình, đồng thời ứng dụng một cách hiệu quả nhất các phương pháp dạy học nhằm cải thiện kỹ năng Nói tiếng Anh của các sinh viên, ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
Để trang bị cho sinh viên vốn ngôn ngữ và kỹ năng nhằm sử dụng được khi giao tiếp, người dạy cần phải tổ chức, xây dựng và tạo điều kiện môi trường ngôn ngữ nhằm khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động Nói trên lớp một cách
tự nhiên và có hiệu quả
Với mục tiêu trên người nghiên cứu chọn đề tài “ ng dụng phương pháp dạy
kỹ năng nói tiếng Anh theo hướng tương tác cho sinh viên tại trường Cao Đẳng Nghề Bạc Liêu.”
2 M cătiêuăvƠănhi măv ănghiênăc uă
+ Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở khảo sát thực trạng và thực nghiệm phương pháp giảng dạy, đề tài
đề xuất ứng dụng một số phương pháp dạy học theo định hướng tương tác phù hợp
với kỹ năng Nói tiếng Anh cho sinh viên tại trường Cao đẳng nghề Bạc Liêu
+ Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về PPDH ngoại ngữ và dạy học theo định hướng tương tác
- Khảo sát thực trạng dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu
- ng dụng một số phương pháp giảng dạy theo định hướng tương tác nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tại trường
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá, kiểm chứng phương pháp đã đề xuất
Trang 113.ăăGi ăthuy tănghiênăc u
Nếu ứng dụng phương pháp dạy kỹ năng Nói theo định hướng tương tác sẽ cải thiện kỹ năng Nói tiếng Anh của sinh viên, nâng cao chất lượng học tập và khả năng giao tiếp; phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo ở người học, tạo điều kiện thuận lợi nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường đáp ứng nguồn nhân lực
và nhu cầu ngày càng cao của xã hội
4 Đ iăt ngăvƠăkháchăth ănghiênăc uă
+ Đối tượng nghiên cứu : Phương pháp dạy kỹ năng Nói tiếng Anh theo định hướng tương tác
+ Khách thể nghiên cứu : Nội dung chương trình học kỹ năng Nói thuộc bộ môn Anh văn căn bản hệ trung cấp tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Người nghiên cứu sẽ tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm so sánh kết quả tiếp thu bài của sinh viên cũng như để kiểm
chứng hiệu quả của việc ứng dụng phương pháp dạy học theo định hướng tương tác vào thực tiễn
- Phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu: để xác định hiệu quả của phương pháp giảng dạy, rút ra kết luận về giả thuyết nghiên cứu
Trang 12- Cơ sở lý luận về dạy học theo định hướng tương tác người học
- Một số phương pháp dạy học tương tác: PP nêu vấn đề, PP đóng vai, PP trò chơi, PPDH bằng tình huống, PP thảo luận, PP vấn đáp-đàm thoại, PPDH trực quan
- Các lý thuyết học tập : Thuyết nhận thức, thuyết hành vi, thuyết kiến tạo
Chương 2 : Thực trạng tổ chức dạy và học kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu
- Sơ lược về trường Cao đẳng Nghề Bạc Liêu
- Khảo sát thực trạng lấy ý kiến của giáo viên và sinh viên về dạy và học
kỹ năng Nói tiếng Anh tại trường
Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm, đánh giá hiệu quả phương pháp giảng dạy Bao gồm: Mục đích thực nghiệm, nội dung thực nghiệm, tổ chức thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của phương pháp đề xuất
* Kết luận - Kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 13PH ẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY KỸ NĂNG NÓI
TI ẾNG ANH THEO ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG TÁC
1.1 T ngăquan
1.1.1 Cácăkháiăni m
Theo GS Nguyễn Quang:“Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình người
học chiếm lĩnh nội dung học, trong và bằng cách đó phát triển và hình thành nhân
cách (năng lực, phẩm chất)” “Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh
khái niệm khoa học (nội dung học) dưới sự điều khiển sư phạm của giáo viên”
[4,11]
D yăhọc: Dạy học được xác định như một nổ lực để giúp một người nào đó
có được, hoặc thay đổi một kỹ năng, kiến thức và các ý tưởng Nói cách khác, nhiệm vụ của người giáo viên là tạo ra hoặc gây ảnh hưởng để có thể dẫn tới một sự thay đổi về hành vi mong muốn [ Nguyễn Hữu Châu (2005)]
N iă dungă d yă học:ăLà một bộ phận được chọn lọc trong nền văn hoá của
dân tộc và nhân loại; đó là những hệ thống tri thức, những cách thức hoạt động, những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và những tiêu chuẩn về thái độ đối với thế giới, con người phù hợp về mặt sư phạm nhằm hình thành và phát triển nhân cách người học
T ngătác: Theo nhà tâm lý học Piaget tương tác là sự tác động vào người
học làm cho người học có khả năng thực hiện một hành động hay làm được một việc gì đó năng động hơn, linh hoạt hơn, trong đó người học được đặt vào tình huống để suy nghĩ và giải quyết các vấn đề, từ đó hình thành và phát triển hoạt động học tập của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Ngo iăng : là một ngôn ngữ cụ thể được tạo ra để thoả mãn nhu cầu giao
tiếp và nhu cầu nhận thức bằng ngôn ngữ khác với ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ của người học
Trang 14Ph ngăpháp: Phương pháp có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Methods” có
nghĩa là “con đường” Phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, những yêu cầu mà con người phải thực hiện trong khi vươn tới mục đích của mình, phương pháp có
nghĩa là con đường, là cách thức để đạt được những mục tiêu nhất định
P h ngăphápăd yăhọcă(PPDH): Phương pháp dạy học là cách thức làm việc
của người dạy và người học, nhờ đó mà người học nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức
- Theo TS Lưu Xuân Mới: “Phương pháp giảng dạy là tổng hợp các cách
thức hoạt động tương tác được điều chỉnh của giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học”
- Theo nhà giáo dục học Xcatkin: “Phương pháp giảng dạy là hệ thống
những hoạt động có mục đích của giáo viên và hoạt động nhận thức có tổ chức của sinh viên nhằm lĩnh hội tốt nội dung trí dục và đức dục”
- Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (IK Babanxki, 1983)
- Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy và trò
nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lập của người học
và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo (I.D.Dverev,1980)
- Phương pháp dạy học là cách thức, là con đường, là phương hướng hành động để giải quyết vấn đề nhận thức của người học nhằm đạt được mục tiêu dạy học
Đặcăđi măc aăph ngăphápăd yăhọcăă
- Phương pháp được quy định bởi mục đích của công việc (mục đích khác nhau thì phương thức thực hiện cũng khác nhau)
- Phương pháp được cụ thể hoá bởi nội dung Nội dung công việc quy định
cụ thể việc sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác
Trang 15- Thể hiện qua tính tối ưu và tính đa dạng Tính đa dạng được thể hiện ở chỗ
có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện mục tiêu hoạt động Chủ thể hoạt động luôn phải đối mặt với việc lựa chọn, xác định rõ phương pháp nào là tốt nhất,
sử dụng một hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất Điều
đó nói lên tính tối ưu của phương pháp
Ph ngăphápăd yăhọcăngo iăng : Phương pháp dạy học ngoại ngữ là cấu
trúc logic của cách thức, phương thức hoạt động/hành động
Trong dạy học ngoại ngữ nói riêng cũng như trong dạy học nói chung, có ba yếu tố chính: một là người học, hai là môn học, ba là người dạy Là một trường hợp
cụ thể của dạy học, ba yếu tố đó trong dạy học ngoại ngữ được hiểu cụ thể là người học ngoại ngữ, môn học ngoại ngữ, và người dạy ngoại ngữ Đây là ba yếu tố cơ bản nhất cấu thành dạy học ngoại ngữ Bất kỳ một định nghĩa nào muốn đầy đủ và đúng đắn về dạy học ngoại ngữ cũng phải bao gồm được ba yếu tố trên Không đủ
ba yếu tố trên thì không có dạy học ngoại ngữ
Bản chất tâm lý học dạy học ngoại ngữ ở đây được lý giải việc người học nhận thức (nắm vững) nội dung môn học ngoại ngữ như thế nào? Sự nhận thức này diễn ra theo qui luật nào? Bản chất của ngoại ngữ là gì? Và người dạy có vai trò, chức năng như thế nào ở đây, từ đó làm cơ sở để đề ra phương hướng, mục tiêu, đối tượng, nội dung, và phương pháp dạy học ngoại ngữ thích hợp trong dạy học ngoại ngữ
Đặcătr ngăc aăho tăđ ngăd yăhọcăngo iăng : Gồm 5 thành phần
Đ ngă
c
M că đích
Đ iă
t ng
Ph ngă
Trang 16a/ Đ iăt ng: chính là ngoại ngữ, hay ngôn ngữ cụ thể được dạy Ngôn ngữ
được hiểu như đối tượng môn học chính là những tri thức về sự vật hiện tượng, về mối quan hệ giữa chúng với nhau, về bản tính và về hình thức tồn tại của bản tính đó; cũng như các khả năng vận dụng chúng vào đời sống, là đối tượng của các khoa học tự nhiên, xã hội và tư duy khi các khoa học này được đưa vào nhà trường giảng dạy thì đối tượng đó trở thành đối tượng của hoạt động dạy học các môn học tương ứng
b/ăĐ ngăc :ălà việc tổ chức để người học lĩnh hội được các thao tác ngôn
ngữ và các thao tác lời nói trong hoạt động lời nói ngoại ngữ và đưa chúng vào dạng hoạt động để giao tiếp và nhận thức
Thật vậy, dạy học ngoại ngữ trước tiên phải hình thành, gây động cơ học tập cho người học Nhu cầu và động cơ luôn gắn bó mật thiết với nhau đến mức không thể tách rời ra được, chúng tạo thành một khối thống nhất, một môi trường động cơ – nhu cầu Khi người học có hứng thú với môn học thì động cơ bắt đầu có liên quan đến nhu cầu giao tiếp (động cơ đích thực); vì vậy, cần phải tạo ra các điều kiện kích thích hứng thú học tập ngoại ngữ như làm cho người học ý thức được đầy đủ
sự cần thiết phải nắm được ngoại ngữ như phương tiện giao tiếp Các điều kiện như: xây dựng chương trình học tập ngoại ngữ hợp lý, tạo tình huống lời nói
c/ăM căđích:ăMục đích của dạy học ngoại ngữ là làm cho người học nắm
được ngoại ngữ như một phương tiện giao tiếp để có thể nói, nghe, đọc, viết, dịch
và nghĩ bằng ngoại ngữ trong giao tiếp ngoại ngữ và trong nhận thức; để từ đó hình thành kỷ năng, kỷ xảo lời nói ngoại ngữ
d/ăPh ngăti n:ăPhương tiện hoạt động dạy học ngoại ngữ cơ bản nhất là
các hoạt động học ngoại ngữ Hoạt động này cũng giống các hoạt động khác như hoạt động phân tích, hoạt động mô hình hoá, hoạt động khái quát hoá, cụ thể hoá nhưng chúng được thực hiện trên đối tượng là các đơn vị ngôn ngữ và lời nói ngoại ngữ (hay phương tiện bên trong của hoạt động dạy học ngoại ngữ) và phương tiện
bên ngoài với vai trò chuyển mục đích của hoạt động dạy ngoại ngữ sang hoạt động học ngoại ngữ đó là ngôn ngữ chung của thầy và trò Đặc biệt trong giai đoạn đầu,
Trang 17dạy học ngoại ngữ với tư cách là phương tiện cần phải hình thành dần dần, phải theo quy luật chuyển dần từ mục đích sang phương tiện dạy học; sử dụng ngôn ngữ tình huống, phải dùng nhiều cử chỉ, điệu bộ và có khi cả tiếng mẹ đẻ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
e/ăĐi uăki n:ăTheo V.A.Archionov (1969) cho rằng điều kiện của hoạt động
dạy học ngoại ngữ bao gồm:
- Đặc điểm của người thầy: trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, thái độ đối với người học, cách tổ chức hoạt động học tập
- Đặc điểm của người học: những khả năng đã có, thái độ đối với môn học, phương pháp học tập
- Môi trường: môi trường tiếng, nhu cầu xã hội
- Tài liệu học tập và các phương tiện kỹ thuật khác
Ph ngă phápă d yă họcătheoăđ nhă h ngăt ngătác:ă là một cách dạy học
linh hoạt nhằm nhấn mạnh vào việc học để giao tiếp thông qua sự tương tác bằng ngôn ngữ Người học được đặt vào tình huống cụ thể để giải quyết vấn đề gắn liền với nhu cầu và gần gũi với cuộc sống Trong cách dạy này người học là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tác động qua lại giữa người dạy và người học Kết quả là sự nổ lực của chính người học để đạt được thành quả trong học tập Dạy học tương tác không chỉ là cơ hội để người học có ý
thức tự học, có trách nhiệm với việc học của mình mà còn là điều kiện tốt khuyến khích sinh viên tham gia xây dựng bài, sáng tạo trong cách suy nghĩ và ngày càng độc lập hơn trong quá trình học tập
Trang 18thực hiện hành động giao tiếp và nhận thức Kỹ năng nói được coi là mặt biểu hiện
năng lực, trí tuệ của con người (Platonov - 1963)
Kỹ năng nói rất đa dạng và phong phú Có nhiều cách để thể hiện ngôn ngữ cần diễn đạt Với những người thường thì người nói sử dụng lời nói để diễn đạt ý tưởng và nguyện vọng của mình (speaking skill); với những người khiếm khuyết về ngôn ngữ thì họ sẽ dùng ngôn ngữ cơ thể như chân tay, ánh mắt để diễn đạt ý (body language) Điều này cho thấy dạy học kỹ năng nói ngoại ngữ chính là dạy học
hoạt động/hành động lời nói ngoại ngữ làm cho người học có được cách thức, phương thức, trình độ thực hiện hành động lời nói ngoại ngữ Quá trình này diễn ra bằng việc rèn luyện khả năng tư duy và phát triển năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ
ở người học
Để đánh giá cuộc giao tiếp thành công cần dựa vào nhiều yếu tố:
- Phản xạ xử lý và giải quyết tình huống một cách nhanh chóng và khéo kéo
- Sử dụng ngôn ngữ lưu loát, ngôn ngữ cơ thể và các giác quan biểu cảm để thể hiện ý muốn diễn đạt
- Khả năng chuyển tải nội dung đến người nghe
- Khi đặt câu hỏi cần đúng, chính xác, chân thành, tôn trọng người đối diện, câu hỏi phải ngắn gọn, tránh gây sự khó chịu trong vấn đề đặt câu hỏi cho người đối diện, tránh đặt câu hỏi dạng mệnh lệnh, nên khơi gợi hướng phát triển vấn đề để người được hỏi lẫn người hỏi cảm thấy không bị áp lực
Một người được xem có kỹ năng nói tốt nghĩa là người đó có khả năng phản
xạ tốt trong mọi trường hợp và xử lý tình huống nhanh chóng Dạy học nhóm cũng
là cơ hội để các sinh viên tự rèn luyện khả năng phản xạ có điều kiện, tự khắc phục những nhược điểm của chính mình
Trang 191.1.3 S năsinhăvƠăti pănh năl iănóiă
S năsinhăl iă nói:ăTheo quan điểm của L.X Vygotsky và nhiều nhà tâm lý
học khác như A.A.Leonchiev, A.R.Luria, I.A.Dimnha hoạt động sản sinh lời nói là
một hoạt động đặc biệt, hoạt động hình thành và thể hiện ý của mình (nói, viết, nghĩ) và của người khác (nghe, đọc, dịch) Hoạt động này gắn với các phương tiện của một ngôn ngữ xác định, nó được thể hiện nhờ các phương tiện của một ngôn ngữ cụ thể
Hoạt động sản sinh lời nói chịu sự chi phối của động cơ của hoạt động chung, nhưng vẫn có mục đích và cấu tạo riêng Mục đích chung của hoạt động sản sinh lời nói là nhận thức hiện thực và giao tiếp giữa những con người với nhau Cấu
Giaoăti p Giaoăti păphiăngônăng
Cận ngôn ngữ Ngoại ngôn ngữ
- Khoảng cách giao tiếp
- Thời gian giao tiếp
- Ánh sáng
- Màu sắc -Nhiệt độ
trường
S ơ đồ 1.1 - Phương tiện giao tiếp c a Nguyễn Quang -
Trang 20tạo của hoạt động sản sinh lời nói bao gồm các hoạt động lời nói, các mục đích lời nói cụ thể và các phương thức, phương tiện thực hiện xác định
Ti pănh năl iănóiă
Kháiăni măchung:ăTiếp nhận lời nói ở đây được dùng để chỉ chung các hoạt
động đọc hiểu và nghe hiểu lời nói và với nghĩa không chỉ là những quá trình tri giác lời nói, mà còn là những hoạt động tư duy, hoạt động trí tuệ phức tạp để thấy được ý và động cơ từ nghĩa ngôn ngữ của người nói hay người viết
Tiếp nhận ngôn ngữ là một vấn đề phức tạp có những điểm còn chưa rõ chưa được thống nhất Tuy nhiên, chỉ khi nào nắm vững được ngôn ngữ thì mới thực hiện được việc tiếp nhận lời nói Để dạy người học tiếp nhận lời nói ngoại ngữ không thể không dạy cho họ nắm vững các kiến thức ngôn ngữ của ngoại ngữ đó
Trang 21Sơ đồ 1.2 Mô hình tiếp nhận lời nói c a M.Halle v̀ K.N Stevens
Các quy
lu ật sản sinh
Kiểm tra
Phân tích sơ
bộ ngữ
âm
Đối chi
u với chuẩn
C
(cụ
thể)
i m)
nhớ
Bộ máy phân tích quang phổ
Trình tự ngữ âm Các snh ững lần phân ố liệu của
tr ước
Tín hi ệu
l ời nói
Đối chiếu với chuấn
Kiểm tra
Phân tích sơ
bộ ngữ
âm
Cơ chế ghi nhớ
Các quy
lu ật sản sinh
C ấu trúc
s ản sinh
l ời nói
Trang 221 2ăM tăs ăph ngăphápăd yăhọcăti ngăAnh
+ Phương pháp nghe - nhìn (Audio Lingual Method): nhằm tạo cho người
học khả năng hoạt động lời nói, tiếp nhận và phản hồi lại lời nói của người khác; tạo
ra ngôn ngữ lời nói của riêng mình trong giao tiếp Đảm bảo giao tiếp là chủ đạo; khẩu ngữ đi trước một bước; đảm bảo tính khái quát, đúng chức năng hoạt động của
lới nói, kết hợp giữa nghe-nhìn
+ Phương trực tiếp (Direct Method): Dùng tiếng nói sinh động trong đời
sống sinh hoạt hàng ngày làm đối tượng chiếm lĩnh chủ yếu (thường được gọi là học sinh ngữ) chứ không là các văn bản viết như trước đây Cụ thể: Tạo tình huống trong học tập bằng các đồ dùng và thao tác trực quan để giải thích ý nghĩa của từ ngữ và nội dung câu Nghĩa của từ mới và cụm từ được giải thích thông qua ngữ cảnh thật Bắt chước tiếng nói tự nhiên của người nước ngoài Tăng cường luyện tập thực hành, tránh giải thích lý thuyết dài dòng
+ Phương pháp ngữ pháp - phiên dịch (Grammar-Translation Method): Giới
thiệu một cách có hệ thống toàn bộ ngữ pháp gắn liền với những thí dụ minh hoạ cho các hiện tượng ngữ pháp mới, theo từng đơn vị bài học và được kết thúc bằng những bài tập đọc nhằm rèn luyện và củng cố những kiến thức cần thiết Phân tích ngữ nghĩa, cấu trúc, cú pháp câu của bài đọc trích dẫn nhằm đạt yêu cầu dịch đúng, hiểu đúng nội dung bài khoá, đọc dịch đúng văn bản ngoại ngữ; diễn đạt được nội dung sang tiếng nước ngoài dưới dạng viết dịch
+ Phương pháp từ ngữ - phiên dịch (Vocabulary-Translation Method): u
điểm của phương pháp này là tận dụng trí nhớ một cách máy móc để ghi nhớ một vốn từ đơn lẻ và rất cần thiết cho việc đọc văn bản; tuy nhiên, hạn chế ở đây là
không vận dụng được trong giao tiếp một cách tự nhiên và nhanh chóng
+ Phương pháp chương trình hoá (Task-Based Method): Mục đích dạy-học
nói chung và từng phần được xác định rõ ràng, cụ thể xắp xếp hợp lý thuận tiện và theo con đường ngắn nhất để giải quyết từng nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích đã
đề ra
Trang 23Tài liệu dạy và học, các hoạt động của thầy và trò đựơc chia thành từng phần học ứng với phương pháp chương trình hoá
Sử dụng hệ thống thiết bị dạy học điện tử, các tài liệu giáo khoa đã chương trình hoá một cách đồng bộ và thường xuyên và không tách rời quá trình dạy học
Mối liên hệ hai chiều giữa thầy và trò được xác lập và duy trì thường xuyên đảm bảo cho quá trình dạy học được điều khiển và điều chỉnh sát với mục tiêu của hoạt động theo chương trình
Phương pháp dạy học tiếng Anh theo quan điểm của Rodgers & Jack Richards [22,3] được chia thành ba phần là tiếp cận, thiết kế, và thủ tục thể hiện qua
đề mình học?
TH ăT Că(Procedure)
Cách thức giáo viên điều hành lớp học
THI TăK ă(Design)
Cách thức giáo viên thiết kế bài giảng, vai trò của giáo viên, học viên, tài liệu
học tập
TI PăC Nă(Approach)
Giáo viên suy nghĩ về bản chất của ngôn ngữ và việc học ngôn ngữ
Trang 24b) Thiết kế (Design)
Thiết kế trong phương pháp dạy học phải bao gồm trách nhiệm của người dạy, người học và tổ chức lớp học Thiết kế cần trả lời các câu hỏi sau:
Mục tiêu chung của dạy học là gì?
Nội dung môn học được sắp xếp như thế nào?
Vai trò của người dạy và người học?
Vai trò của tài liệu giảng dạy?
Những hoạt động nào được sử dụng trong bài giảng?
c) Th tục ( Procedure)
Thủ tục là kỹ thuật và hoạt động được sử dụng trong lớp học dựa trên cơ sở trật tự thời gian Tiếp cận và thiết kế được áp dụng trong trình tự của hệ phương pháp Thủ tục có liên hệ trực tiếp đến lớp học và cần đặt ra những câu hỏi sau:
Trình tự các hoạt động được tiến hành trong lớp như thế nào? Hoạt động nào tiến hành trước, hoạt động nào tiến hành sau?
Mức độ thay đổi các hoạt động diễn ra thế nào? Những hoạt động có thể kéo dài trong 30-40 phút hoặc ngắn hơn từ 5-10 phút
Xác định các hoạt động ra sao? Giáo viên có thể cho toàn bộ lớp làm việc với nhau hoặc phân công việc cho từng sinh viên làm việc độc lập, hoặc phân thành từng nhóm nhỏ nhằm kích thích tính tranh đua trong học tập để hoàn thành tốt bài tập
Quá trình phản hồi của giáo viên ra sao? Một vài giáo viên có thể sửa đúng mọi lỗi mà sinh viên mắc phải; người khác thì có thể để sinh viên tự sửa đúng lỗi Tuy nhiên một số giáo viên khác có thể bỏ qua những lỗi của sinh viên Phản hồi và làm đúng có thể dẫn đến tích cực hoặc tiêu cực Nó có thể được viết hoặc được phát biểu thành lời
Tóm lại, các hoạt động của lớp học cần dựa trên sự thiết kế và tiếp cận vừa
đủ Người dạy cần phải cẩn trọng trong việc lựa chọn phương pháp để mang lại thành công trong bài giảng
Trang 251.3 D yăhọcătheoăđ nhăh ng t ngătácă
- Tương tác: Là sự tác động vào người học làm cho người học có khả năng
thực hiện một hành động hay làm được một việc gì đó năng động hơn, linh hoạt hơn, phát triển và nâng cao tính tích cực của người học, hình thành và phát triển hoạt động học tập của họ nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Dạy học thông qua tương tác nhằm tạo nên mối quan hệ tương tác giữa trò với trò, giữa thầy với trò, sự bình đẳng trong quan hệ giữa các thành viên và tạo nên môi trường học tập an toàn Thầy nêu ra nội dung vấn đề, đóng vai trò là người thiết
kế, tổ chức, hướng dẫn, khơi gợi và điều khiển hoạt động, còn việc giải quyết vấn
đề đó như thế nào là việc của trò, chính trò tự mình tìm cách giải quyết vấn đề và qua đó rút ra cho mình những tri thức mình cần, chứ không phải thụ động tiếp thu những kiến thức mà thầy áp đặt Trong môi trường đó mỗi cá nhân được phép thể hiện tối đa khả năng nhận thức và kinh nghiệm của mình một cách tự tin và thoải mái bởi cảm giác an toàn Học tập hợp tác theo nhóm còn phát triển cho người học
kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển và lãnh đạo Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ và được chia sẻ Sinh viên không chỉ
có điều kiện học tập với nhau mà còn học tập lẫn nhau Kiến thức mà người học thu được là sự đóng góp của nhiều người Đồng thời qua học tập hợp tác, các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng lắng nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phát triển Người thầy phải là người “cầm cân nảy mực”, sáng suốt trong việc điều khiển, định hướng cho lớp học cũng như các cuộc thảo luận, đồng thời trong các hình thức kiểm tra và đánh giá Người thầy không những phải đáp ứng về kiến thức mà còn về phương pháp lãnh đạo, tổ chức, điều hành,… Thông qua đó hình thành ở sinh viên những phẩm chất của người lao động mới
Trang 26+ Quan niệm: Học là quá trình kiến tạo, tìm tòi, khám phá, phát hiện và khai thác xử lý các thông tin, tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
+ Bản chất: Tổ chức hoạt động nhận thức, dạy người học cách tìm ra chân lý, khai thác động lực học tập trong bản thân người học, coi trọng lợi ích yêu cầu cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội
+ Mục tiêu: Chú trọng hình thành các năng lực (hợp tác, tư duy, sáng tạo ), dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học Học để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai
+ Nội dung: Từ nhiều nguồn khác nhau: giáo viên, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thực tế được gắn với:
- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của người học
- Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường ở địa phương, những vấn đề sinh viên quan tâm
+ Phương pháp: giải quyết vấn đề, dạy học theo hướng tìm tòi, điều tra + Hình thức tổ chức: học trên lớp, học theo nhóm, theo cặp, cá nhân từng người đa dạng và linh hoạt trong từng trường hợp
* Những đặc trưng c a phương pháp dạy học tuơng tác (DHTT)
- PPDH tương tác có tác dụng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực
+ Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động của SV
Trong dạy học tương tác người học được đặt vào những tình huống thực tế, trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm vững kiến thức, kỹ năng mới, phương pháp tạo lập kiến thức, kỹ năng một cách tự lực không rập khuôn, nhờ đó có thể bộc lộ tiềm năng sáng tạo của mỗi cá nhân
Trang 27+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, sinh viên tự tìm tòi, nghiên cứu, chủ động hợp tác dưới sự tổ chức, điều khiển, cố vấn của người thầy để tìm ra kiến thức mới tránh việc tiếp thu tri thức một chiều Khi đó, tri thức chỉ là điều kiện và phương tiện cho việc rèn luyện phương pháp tự học
+ Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy – trò, giữa trò – trò tạo nên mối liên hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường khám phá và chiếm lĩnh nguồn tri thức mới Thông qua việc thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, bất đồng hay tán đồng ý kiến; qua đó người học được nâng lên một trình độ mới, tự rút ra những kinh nghiệm quý báu cho riêng mình Môi trường học tập này sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác lẫn nhau trong lao động xã hội
+ Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò
Việc đánh giá không phải nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn là điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Giáo viên phải hướng dẫn SV phát triển kỹ năng tự đánh giá, tự điều chỉnh cách học của mình GV là người tạo điều kiện thuận lợi để SV tự đánh giá lẫn nhau làm cho SV tự ý thức được, khẳng định được kết quả, mục tiêu hành động của mình
+ Độ sâu của nội dung kiến thức
Khái quát hoá nội dung từ cụ thể đến trừu tượng Cung cấp nguồn kiến thức
có chọn lọc, coi trọng độ sâu kiến thức không chỉ ở mức độ nhớ mà còn phải vận dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề có tính gợi mở
Tận dụng thực hiện các sơ đồ, hình ảnh làm bộc lộ cấu trúc của bài học giúp
SV dễ hiểu, dễ nhớ
+ Tính thực tiễn
- Lý thuyết kết hợp với thực hành, vận dụng kiến thức vào cuộc sống
- Đề cao vai trò của thực hành, khuyến khích SV nêu lên ý kiến riêng
Trang 28- Sử dụng phương tiện trực quan vào các tình huống thực hành cụ thể để hướng nhiệm vụ học tập cho SV
+ Tính tự lực
- Tổ chức cho SV hoạt động tìm tòi kiến thức, đóng góp ý kiến xây dựng bài
- Tạo điều kiện thuận lợi cho SV tự học, cập nhật kiến thức bằng nhiều hình thức khác nhau
- Kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm dưới sự hướng dẫn của
GV
*/ Các điểm cần lưu ý trong dạy học tương tác
Dạy học tương tác là quá trình dạy học mà trong đó các thành viên trong lớp học hoạt động tương tác lẫn nhau để hình thành nên kiến thức, làm tăng khả năng ghi nhớ, tích cực tham gia xây dựng bài ở người học nhiều hơn
Dạy học tương tác là một cách học tập có tác dụng tích cực hoá hoạt động nhận thức của người học Người học được đặt vào tình huống có vấn đề trong đó có mâu thuẫn nhận thức giữa cái đã biết và cái phải tìm, tức là trong trạng thái có nhu cầu bức thiết muốn giải quyết bằng được mâu thuẫn đó Qua việc giải quyết vấn đề, người học lĩnh hội kiến thức một cách tự giác và tích cực, trong đó có niềm vui của nhận thức sáng tạo
Dạy học tương tác làm tăng khả năng hứng thú, đảm bảo sự cá thể hoá, tập trung vào người học giúp người học phát triển khả năng tìm hiểu, phân tích, phán đoán và giải quyết vấn đề, năng lực trình bày và diễn đạt ý tưởng, phát huy tối đa khả năng suy nghĩ huy động tất cả các giác quan để tham gia quá trình học tập do vậy, tiết học sẽ không bị nhàm chán Qua hoạt động khám phá trong học tập người học có nhiều cơ hội để biến những kiến thức thu nhận thành kiến thức của riêng mình qua những dấu ấn được khắc sâu vào trong não; tạo điều kiện để người học thực tập các tài liệu đã được học trước đó Kiểu dạy học này thường xuyên có sự trao đổi phản hồi giữa thầy và trò về sự lĩnh hội kiến thức giúp giáo viên nắm rõ hơn mức độ tiếp thu, hiểu biết của người học
Trang 29Phương pháp này có thể áp dụng rộng rãi cho nhiều môn học, nhiều dạng bài học ở những mức độ khác nhau
Dạy học tương tác làm cho người học trở nên tích cực hơn trong nhận thức,
tự chiếm lĩnh nguồn tri thức Tuy nhiên, phương pháp này đôi khi cũng đưa lớp học
ra khỏi mục tiêu ban đầu do có nhiều ý tưởng khác nhau Nếu không có sự quản lý,
tổ chức lớp học tốt và một kế hoạch chặt chẽ của người thầy, sự khéo léo hướng người học đến mục tiêu cần đạt được thì lớp học sẽ rơi vào tình trạng bị rời rạc không thống nhất Ngoài ra, phương pháp này đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị thật tốt bài giảng, mất nhiều công sức và thời gian để đạt được kết quả cao nhất
1.4 M tăs ăph ngăphápăd yăhọcăt ngătácă
1.4.1 Ph ngăphápănêuăv năđ
Phương pháp dạy học nêu vấn đề là cách thức tổ chức của giáo viên nhằm tạo ra một chuỗi tình huống có vấn đề và điều khiển hoạt động của sinh viên nhằm độc lập giải quyết các vấn đề học tập Xuất phát từ tình huống có vấn đề làm nảy sinh mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết; giữa một bên chủ thể có nhu cầu giải quyết tình huống, với một bên là những tri thức Để giải quyết được vấn đề buộc chủ thể phải khám phá để tạo ra cho mình có kiến thức về vấn đề và hiểu cách giải quyết tình huống đó
Quá trình dạy học theo phương pháp nêu vấn đề bao gồm nhiều hình thức tổ chức đa dạng Quá trình học tập có thể diễn ra với những cách tổ chức đa dạng lôi cuốn sinh viên tham gia cùng tập thể, động não, tranh luận dưới sự dẫn dắt, gợi mở của giáo viên: Làm việc theo nhóm nhỏ; thực hiện những kỹ thuật hỗ trợ tranh luận; công não; sắm vai/trò chơi đóng vai; mô phỏng; báo cáo và trình bày…
- Phương pháp đóng vai: Đóng vai là phương pháp tổ chức cho SV thực
hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Sinh viên sẽ đóng những vai trò nhất định trong những tình huống cụ thể Việc đóng vai làm cho tình huống rõ ràng hơn và SV học được cách xử lý về chuyên môn, về thái độ hiểu đựơc đối tượng hơn khi hoạt động trong tình huống thật thông qua các vai họ đóng Mỗi SV đóng một vai trong tình huống, họ được tự do nói và hành động theo diễn
Trang 30biến của tình huống, GV quan sát và can thiệp khi cần thiết, tuỳ vào mục tiêu bài học
- Phương pháp trò chơi: Là phương pháp GV tổ chức và hướng dẫn SV tham
gia những trò chơi tưởng như đơn giản như: xếp hình, vẽ hình, động tác tay chân nhưng đòi hỏi người chơi phải suy nghĩ rất nhiều Khi chơi xong một trò chơi nào
đó, SV có thể rút ra nhiều kết luận bổ ích có liên quan đến bài học
1.4.2 Ph ngăphápăd yăhọcăb ngătìnhăhu ng
Phương pháp dạy học bằng tình huống là giáo viên cung cấp cho sinh viên tình huống dạy học, SV tìm hiểu, phân tích và hoạt động trong tình huống đó Kết quả là sinh viên thu nhận được các tri thức khoa học, thái độ và các kỹ năng hành động (trí óc và thực tiễn) sau khi giải quyết tình huống đã cho
- Phát triển khả năng thích ứng trong các tình huống khác nhau
- Tăng cường hiểu biết và sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm thông qua việc hợp tác giải quyết tình huống
Trang 311.4.3 Ph ng phápăth oălu n
- Thảo luận nhóm: GV nêu câu hỏi, sau đó chia lớp thành nhóm nhỏ (2-4
người) để thảo luận khoảng 5 phút Từng nhóm sẽ phát biểu ý kiến trước lớp, có thể thảo luận, tranh cãi với những nhóm khác Cách này tạo điều kiện cho tất cả sinh viên suy nghĩ và đóng góp xây dựng bài
- Thảo luận tổ: Tuỳ theo chủ đề và điều kiện thời gian GV nêu câu hỏi và
vấn đề cho các tổ (từ 6 -10 người) thảo luận trong 15 đến 30 phút Các tổ có thể thảo luận cùng một vấn đề hoặc các vấn đề khác nhau của bài học Ý kiến chung của nhóm được ghi lên bảng để các tổ khác tham khảo và thảo luận
- Phương pháp dạy nhóm nhỏ
Là phương pháp trong đó nhóm lớn (lớp học) được chia thành những nhóm nhỏ để tất cả các thành viên trong lớp đều được làm việc và thảo luận về một chủ đề
cụ thể và đưa ra ý kiến chung của nhóm mình về vấn đề đó
Mục đích của làm việc và thảo luận theo nhóm nhỏ là làm tăng tối đa cơ hội
để các thành viên được làm việc và thể hiện khả năng của mình; sự đoàn kết giữa các thành viên trong nhóm; mọi cá nhân đều phải hoạt động suy nghĩ, trách nhiệm giải quyết vấn đề thuộc về mọi thành viên trong nhóm Từ đây hình thành kỹ năng hợp tác nhóm và kỹ năng xử lý tình huống tích cực trong nhóm
Không nên hiểu học tập theo nhóm là việc tổ chức người học thành từng nhóm và giao cho mỗi nhóm một hoạt động nào đó để thực hiện Để hoạt động học tập mang tính hợp tác, cần phải bảo đảm rằng các thành viên trong nhóm, phụ thuộc vào nhau và hỗ trợ hợp tác lẫn nhau, có trách nhiệm giải quyết vấn đề, mỗi người tuy có năng lực khác nhau nhưng có cùng mục đích sẽ hỗ trợ cho nhau và đảm bảo hoàn thành công việc được giao
* u điểm:
- Tạo sự tranh luận sôi nổi trong học tập Các thành viên trong nhóm có cơ hội bộc lộ hiểu biết, học hỏi lẫn nhau, rèn luyện khả năng diễn đạt tư tưởng suy nghĩ của mình; khắc phục được tính nhút nhát, ngại phát biểu trong lớp Tăng khả năng giao tiếp giữa các thành viên trong nhóm
Trang 32- Phát huy tính tích cực, tự giác, tự lực của sinh viên, tăng khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Tạo cơ hội làm quen, trao đổi, hợp tác với nhau; góp phần làm tăng bầu không khí hiểu biết, tin cậy, thân thiện và đoàn kết giữa các học viên Phát triển năng lực lãnh đạo, tổ chức, năng lực hợp tác giữa các sinh viên
- Thúc đẩy hoạt động học tập, kích thích thi đua giữa các thành viên trong nhóm và giữa các nhóm, tăng cường khả năng tự học của sinh viên
- Giáo viên đánh giá được năng lực, khả năng và nhu cầu của từng cá nhân
- Tạo cơ hội cho giáo viên có thông tin phản hồi từ phía người học Đây là một trong những ưu điểm nổi bật của thảo luận nhóm so với thảo luận trên lớp Số lượng ý kiến và sự thấu đáo của thảo luận nhóm chắc chắn nhiều hơn so với thảo luận trên lớp Giáo viên còn có thể thu được tri thức và kinh nghiệm chuyên môn từ phía người học qua các phát biểu có suy nghĩ và sáng tạo Thảo luận theo nhóm tốt
sẽ tăng cường tính tích cực chủ động của người học giúp người học tập trung vào bài học, phát triển kỹ năng tư duy và óc phê phán, và các kỹ năng giao tiếp xã hội khác
* Nhược điểm:
- Dễ bị đi lệch hướng với chủ đề ban đầu
- Tốn nhiều thời gian Chỉ thích hợp với các mục tiêu và nội dung dạy học mang tính phát triển và sáng tạo cá nhân, tập thể
- Kết quả học tập phụ thuộc vào tinh thần làm việc của nhóm, một số thành viên còn chủ quan, ý thức chưa cao dễ dẫn đến tình trạng độc diễn của cá nhân; nếu chỉ có một vài người tham gia vào hoạt động nhóm còn lại những người khác ngồi nghe để mặc người khác dẫn dắt và quyết định
- Không thích hợp với những buổi thảo luận dài, nhiều nội dung vì dễ dẫn đến trạng thái mệt mỏi, trì trệ
- Phương pháp làm việc theo nhóm: Là phương pháp giao cho người học có
trách nhiệm cùng hoàn tất nội dung học tập Phương pháp này giúp SV rèn luyện khả năng giao tiếp, hợp tác, khả năng quản lý và lãnh đạo nhóm Gồm các loại:
Trang 33 Nhóm nhỏ thông thường: Giáo viên chia lớp học thành các nhóm nhỏ từ
3-5 người để thảo luận một vấn đề cụ thể và nhanh chóng đưa ra kết luận tập thể cho vấn đề đó Nội dung thảo luận thường là các vấn đề ngắn, thời gian từ 5-10 phút
Nhóm rì rầm: Giáo viên chia lớp học thành những nhóm cực nhỏ từ 2-3
người (trong cùng bàn) để trao đổi và thống nhất trả lời một câu hỏi, giải quyết một vấn đề, nêu một ý tưởng, một thái độ Để nhóm thảo luận có hiệu quả giáo viên cần cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ liệu, gợi ý, nêu rõ yêu cầu đối với câu trả lời
để các thành viên trong nhóm tập trung giải quyết Thảo luận theo nhóm rì rầm hạn chế được hiện tượng “người ngoài cuộc” hay sinh viên lo ra không chú ý vào bài học; làm tăng hiệu quả thảo luận nhóm
Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm Sau khi
thảo luận theo cặp (nhóm rì rầm từ 2-3 người) kết hợp thành nhóm 4-6 người để hoàn thiện một vấn đề chung Nếu cần thiết có thể kết hợp thành nhóm lớn hơn từ 6-8 người
Trang 34Nhóm mở là các thành viên có thể tham gia một hoặc vài giai đoạn phù hợp với khả năng và sở thích của mình Hình tthức này mang lại cho người học nhiều khả năng lựa chọn vấn đề và chủ động về thời gian, sức lực
Kết quả sau khi làm việc của nhóm sẽ được trình bày và đánh giá trước toàn lớp Có các cách chia nhóm sau:
+ Nhóm ngẫu nhiên
+ Nhóm với những đặc điểm chung
+ Nhóm cố định trong một thời gian dài
+ Nhóm có SV khá hỗ trợ SV yếu
+ Nhóm với các bài tập khác nhau
+ Nhóm SV nam và nữ
+ Phân chia theo năng lực học tập khác nhau
+ Phân chia theo các dạng học tập
* Những tính chất cơ bản c a học tập theo nhóm
Phụ thuộc vào nhau một cách tích cực:
Trong học tập theo nhóm, người học phải tham gia vào các hoạt động nhóm Công việc của nhóm sẽ không được hoàn thành nếu không có sự đóng góp của từng
cá nhân Người học phải nhận thức rằng nổ lực của mỗi cá nhân là cần thiết cho sự thành công của cả nhóm và của chính họ.Vì thế, họ phải hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành công việc
Thể hiện trách nhiệm cá nhân:
Các thành viên trong nhóm phụ thuộc vào nhau nhưng mỗi người đều được phân công thực hiện một vai trò nhất định Hoạt động học tập phải được tổ chức sau cho mỗi người đều phải có đóng góp nhất định vào hoạt động chung của nhóm Sau khi tham gia vào buổi học, người học có thể tự mình thực hiện thành công một hoạt động tương tự
Trang 35 Sự tương tác, hỗ trợ giữa các cá nhân trong nhóm:
Mỗi cá nhân là một mắc xích trong dây chuyền hoạt động của nhóm Họ không thể làm việc độc lập một mình mà phải có sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, cùng bàn bạc trao đổi thông tin, những quan điểm cá nhân Người học phải biết vận dụng
kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá để hoàn thành công việc được giao, sự tương tác này sẽ có tác động tốt đến sinh viên như:
- Tăng cường động cơ học tập, tăng sự hứng thú trong học tập
- Kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư duy đáp án để giải quyết vấn đề
- Tăng cường khả năng biểu đạt ý tưởng, khích lệ mọi thành viên tham gia đóng góp ý kiến cho vấn đề cần giải quyết
- Tạo mối quan hệ khắng khích, gắn bó giữa các thành viên trong nhóm
Kỹ năng giao tiếp và kỹ năng hoạt động nhóm:
Học tập theo nhóm sẽ tạo ra tình huống giao tiếp, trong đó người học phải biết thể hiện quan điểm của mình, lắng nghe ý kiến của người khác, giải quyết những bất đồng quan điểm theo hướng xây dựng và thương lượng để đi đến quyết định thống nhất Chính sự tham gia vào các hoạt động này mà kỹ năng giao tiếp của người học được cải thiện đáng kể Việc thảo luận trong nhóm là bắt buộc đối với tất
cả các cá nhân, nó không những giúp người học phát triển được khả năng giao tiếp
và các kỹ năng xã hội mà còn phát triển được quá trình nhận thức (đọc hiểu, phân tích, đánh giá,…)
Kỹ năng đánh giá:
Bất kỳ cuộc thảo luận nào cũng phải có kết luận Sau mỗi buổi học, các thành viên của nhóm phải đánh giá các hoạt động mà họ đã thực hiện, hoạt động nào đạt hiệu quả cần duy trì; hoạt động nào chưa phù hợp cần chỉnh sửa thay đổi Quá trình này giúp duy trì quan hệ giữa các thành viên trong nhóm được bền chặt, củng cố và hoàn thiện các hoạt động đạt hiệu quả cao, điều chỉnh những hoạt động chưa phù hợp; tiếp tục hoàn thiện và phát triển ý tưởng của mình
Trang 36* Yêu cầu thực hiện phương pháp dạy học theo nhóm
- Các nhóm tham gia tranh luận, tìm lời giải cho vấn đề
- Giáo viên dành cho sinh viên thời gian để chuẩn bị tài liệu, xây dựng đề cương
- Người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn thảo luận
- Chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ tuỳ thuộc vào nội dung và tính chất vấn
đề cần thảo luận, đảm bảo các điều kiện cần thiết cho buổi thảo luận (tài liệu, giấy, bút, các loại phương tiện học tập khác)
- Bầu ra một nhóm trưởng để điều khiển và duy trì hoạt động của nhóm
- Mỗi thành viên trong nhóm đều phải làm việc tích cực không được ỷ lại vào một vài người có hiểu biết và năng động hơn; các thành viên trong nhóm giúp
đỡ nhau tìm hiểu vấn đề với tinh thần đoàn kết thi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp
- Khi trình bày kết quả làm việc nhóm trước lớp, nhóm cử đại diện hoặc nhóm trưởng phân công thành viên lên trình bày
- Đảm bảo yếu tố cạnh tranh và thi đua giữa các nhóm; động viên khích lệ đối với những thành công và tiến bộ của học viên và các nhóm
- Đảm bảo yếu tố thông tin phản hồi từ các nhóm
* Phương thức tiến hành:
Thảo luận trong nhóm
Thảo luận trong nhóm
Làm việc độc lập
Làm việc độc lập
1
3
4
2
Trang 37 Làm việc chung cả lớp:
- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
- Hướng dẫn cách làm việc trong nhóm Giáo viên cần xác định mục đích, nhiệm
vụ cần thực hiện và thời gian hoàn thành thảo luận nhóm Còn học viên thì hiểu được ý nghĩa, mục đích, nhiệm vụ sắp làm; nắm vững các bước thực hiện và thời gian hoàn thành
Làm việc theo nhóm:
- Phân công trong nhóm
- Cá nhân làm việc độc lập, trao đổi, và thảo luận trong nhóm để rút ra kết luận cuối cùng chung
- Cử đại diện phân công trình bày kết quả làm việc của nhóm
Tổng kết trước lớp:
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả - Thảo luận chung
- Giáo viên nhận xét, bổ sung tổng kết kết quả các nhóm đạt được và đưa ra đáp
án đúng, hoàn thiện kiến thức cho học viên; đặt vấn đề tiếp theo cho bài học
1.4.4 Ph ngăphápăv năđápă(đƠmătho i)
Phương pháp vấn đáp là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi, khích lệ và gợi mở để sinh viên dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra
phương pháp này sinh viên không tiếp thu bài một cách thụ động, mà ở một mức độ tích cực sáng tạo nhất định tìm ra kiến thức mới Khi trả lời câu hỏi, sinh viên phải nhớ lại kiến thức đã có, sử dụng các thao tác logic: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…để gia công tài liệu, tìm lời giải đáp đúng nhất
Có các loại vấn đáp sau:
Vấn đáp tái hiện: GV đặt câu hỏi yêu cầu SV nhớ lại kiến thức đã biết và
trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận.Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học
Trang 38 Vấn đáp giải thích - minh họa: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài
nào đó, GV lần lượt nêu lên những câu hỏi kèm theo ví dụ minh hoạ để SV dễ hiểu,
dễ nhớ Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe nhìn
Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại rixtic): GV dùng một hệ thống câu hỏi được
sắp xếp hợp lý để hướng SV từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng đang tìm hiểu, kích thích sự ham muốn hiểu biết Giáo viên tổ chức trao đổi ý kiến-
kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò, nhằm giải quyết một vấn đề xác định Trong vấn đáp tìm tòi, GV đóng vai trò là người tổ chức sự tìm tòi, còn
SV là người tự phát hiện kiến thức mới Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, sinh viên có được niềm vui của sự khám phá và trưởng thành thêm một bước về tư duy
*/ Đặcăđi măc aăph ngăphápăv năđáp
Phương tiện giao tiếp là lời nói, có sự hỏi đáp giữa giáo viên và sinh viên, đặt câu hỏi - trả lời Có tính khích lệ là vai trò chủ đạo của giáo viên, giúp cho SV hoạt động có tính tự giác, tự lực, tích cực tham gia vào quá trình đàm thoại
*/ M căđíchăs ăph măc aăph ngăphápăv năđáp
Tái hiện kiến thức và củng cố kiến thức
Phát triển kiến thức mới
Liên thông với kiến thức, kinh nghiệm của sinh viên
Phát triển năng lực diễn đạt
*/ Nh ngăyêuăc uăc ăb nătrong vi căsửăd ngăph ngăphápăv năđáp
Kỹ thuật soạn thảo v̀ đặt câu hỏi
Đặc điểm c a câu hỏi tốt:
- Câu hỏi phải kích thích sự suy nghĩ, đòi hỏi sinh viên phải gia công trí nhớ
và vận dụng tri thức, tránh câu hỏi có/không? Đúng/sai? Nếu có giải thích lý do?
- Câu hỏi phải vắn tắt, rõ ràng, dễ hiểu và đầy đủ, mỗi lần nên hỏi một câu, nên dùng ngôn ngữ đơn giản, vừa sức với trình độ sinh viên, tránh những câu hỏi hai nghĩa lờ mờ, hỏi kỹ lại khi có nhiều câu trả lời
Trang 39- Câu hỏi phải có mục đích, liên quan trực tiếp tới tài liệu cơ bản trong bài và đuợc đặt đúng vị trí, đúng lúc trong bài để nhấn mạnh điểm chốt
- Câu hỏi kích thích sự quan sát (đặc điểm, biện pháp)
- Câu hỏi vận dụng phương pháp logic, hướng dẫn khả năng khái quát hóa, hệ thống hóa các mối quan hệ nhân quả
- Đối với câu hỏi tái hiện, giáo viên đòi hỏi sinh viên phải tích cực đưa ra nội dung tài liệu đã được lĩnh hội trước đây, vạch ra ý nghĩa cơ bản của tri thức đã học, vận dụng những tri thức đã học đó để giải quyết vấn đề mới Câu hỏi phải nêu được bản chất của những sự vật, hiện tượng hình thành và phát triển tư duy logic
- Khối lượng của những khái niệm trong câu hỏi của giáo viên không được vượt quá khả năng tìm ra câu trả lời của sinh viên (câu hỏi vừa sức và để sinh viên
có thời gian suy nghĩ trả lời)
Soạn câu hỏi
Tùy vào mức độ nhận thức của SV mà người giáo viên có thể soạn thảo những câu hỏi phù hợp để áp dụng trong quá trình giảng dạy để tiết dạy học trở lên sinh động hơn, người giáo viên có thể sử dụng các loại câu hỏi thông dụng sau:
- Loại xác định: Ai? Tại sao? Thế nào? đâu? Bao giờ? Cách nào? Làm gì?
- Loại lựa chọn và giải thích
- Loại gợi mở: Liệt kê, mô tả, chứng minh, giải thích, so sánh, phân tích, tổng hợp
- Loại đánh giá: nhận xét, phê bình, ý kiến riêng, thí dụ
- Loại gợi mở ham muốn sự hiểu biết bài mới
- Loại lôi cốn sự chú ý của sinh viên không tập trung hoặc thờ ơ: “Em hãy tóm tắt các điều vừa nói xong”
- Loại gợi mở bài giảng mới, câu hỏi mạch lạc, có hệ thống, theo trình tự đã hoạch định cẩn thận trước, đi từ điều đã biết, từ dễ đến khó, từ nguyên nhân đến kết quả hoặc theo phương pháp quy nạp hay suy diễn
- Kích thích sinh viên suy nghĩ tự lập theo mẫu trong sách hoặc của giáo viên
- Câu hỏi phải có đáp án kèm theo để đánh giá câu trả lời của sinh viên
Trang 40 Kỹ thuật đặt câu hỏi v̀ gọi sinh viên trả lời
- Giáo viên đặt câu hỏi cho toàn lớp nghe và suy nghĩ (nói chậm, đủ lớn để mọi người cùng nghe, không lặp lại nhiều lần), chỉ định cho sinh viên trả lời Khi
SV nào đó trả lời xong, cần yêu cầu các SV khác nhận xét bổ sung câu trả lời nhằm kích thích chú ý và kích thích hoạt động chung của cả lớp Giáo viên cũng tạo điều kiện cho SV trong lớp đính chính, bổ sung Sau đó giáo viên nhấn mạnh câu trả lời đúng của sinh viên
- Vấn đề gọi sinh viên, nên tránh gọi một số SV nhiều lần và bỏ quên một số khác Câu hỏi phải vừa sức trình độ người học, để duy trì nhịp độ cần thiết của phương pháp đàm thoại và bảo đảm tính cá biệt trong dạy học Giáo viên chuẩn bị những câu hỏi khó và câu hỏi dễ, nên dành câu hỏi khó cho SV giỏi Tuy nhiên, vấn
đề này còn tùy thuộc vào tình huống của lớp, đôi lúc SV khá cũng theo dõi sự phát biểu của câu hỏi dễ và SV kém hiểu đuợc câu hỏi khó nhờ sự dẫn dắt từng bước của giáo viên
Thái độ c a giáo viên
Khuyến khích sinh viên trả lời bằng câu hỏi phụ, nét mặt vui tươi, lắng nghe,
tế nhị, không chế giễu câu trả lời sai, không khí thoải mái không có sự chống đối, tránh đối thoại tay đôi giữa giáo viên và sinh viên hoặc nhóm riêng Giáo viên nên lắng nghe thắc mắc của SV, phức tạp nên để cuối bài giảng hoặc diễn trình, giáo viên sẽ giải thích
Thăm dò là một kỹ xảo thấy được suy nghĩ của sinh viên để tìm ra ý tưởng đặt câu hỏi phù hợp
Đánh giá câu trả lời c a sinh viên
Để sinh viên biết câu trả lời đúng hay sai nhiều ít bằng cách hiểu một cách khác câu trả lời của sinh viên hoặc gợi mở thêm nhưng không nên thành thói quen luôn nhắc lại câu trả lời của sinh viên Khi SV trả lời giáo viên lưu ý:
- Câu trả lời phải rõ ràng để mọi người có thể nghe thấy rõ
- Những nhận thức sai lầm hoặc những tin tức không chính xác, cần được sửa chữa, bổ sung ngay