1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc truyện ngắn lê văn thảo

95 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Sắc Truyện Ngắn Lê Văn Thảo
Tác giả Tôn Thị Phượng
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong những nhà văn gốc Nam Bộ đạt giải thưởng cao quý về văn học nghệ thuật nhưng so với nhiều tác giả khác, mảng truyện ngắn của Lê Văn Thảo vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu q

Trang 1

TÔN THỊ PHƯỢNG

ĐẶC SẮC TRUYỆN NGẮN

LÊ VĂN THẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2016

Trang 2

TÔN THỊ PHƯỢNG

ĐẶC SẮC TRUYỆN NGẮN

LÊ VĂN THẢO

Chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN - 2016

Trang 3

Để hoàn thành luận văn: “Đặc sắc truyện ngắn Lê Văn Thảo”, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa sau Đại học trường Đại học Vinh cùng đơn vị công tác, bạn bè đồng nghiệp, người thân

đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới

TS Lê Thị Hồ Quang, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn

Tuy đã cố gắng rất nhiều, nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến từ phía các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp

Trân trọng cảm ơn!

Nghệ An, tháng 7 năm 2016

Tác giả

Tôn Thị Phượng

Trang 4

Nhà văn Lê Văn Thảo

Trang 5

Nxb: Nhà xuất bản

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước,

số trang đứng sau Ví dụ: [57, 14] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục

Tài liệu tham khảo là 57, nhận định trích dẫn nằm ở trang 14 của tài liệu này

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 TRUYỆN NGẮN TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÊ VĂN THẢO 8

1.1 Lê Văn Thảo trong dòng văn học Nam Bộ 8

1.1.1 Khái lược về văn học Nam Bộ 8

1.1.2 Một số gương mặt nổi bật của văn học hiện đại Nam Bộ 9

1.1.3 Lê Văn Thảo - một gương mặt đáng chú ý của văn học hiện đại Nam Bộ 14

1.2 Hành trình sáng tạo và quan niệm về nghệ thuật của nhà văn 16

1.2.1 Hành trình sáng tạo 16

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật của nhà văn 18

1.3 Về vị trí của truyện ngắn trong văn nghiệp Lê Văn Thảo 20

1.3.1 Về một số thể loại trong sáng tác Lê Văn Thảo: tiểu thuyết, ký, truyện vừa 20

1.3.2 Về truyện ngắn của Lê Văn Thảo 25

Chương 2 CHỦ ĐỀ VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ VĂN THẢO 30

2.1 Những chủ đề nổi bật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo 30

2.1.1 Chủ đề đời sống và con người Nam Bộ 30

2.1.2 Chủ đề chiến tranh chống Mỹ 33

Trang 7

2.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo 43

2.3 So sánh cách khai thác chủ đề và xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo với một số tác giả miền Nam cùng thời 49

Chương 3 CỐT TRUYỆN, KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT VÀ NGÔN NGỮ TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ VĂN THẢO 53

3.1 Cốt truyện và tình huống truyện 53

3.1.1 Cốt truyện 53

3.1.2 Tình huống truyện 59

3.2 Không gian nghệ thuật 63

3.2.1 Không gian chiến trường 63

3.2.2 Không gian làng quê 65

3.2.3 Không gian sông nước Nam Bộ 67

3.2.4 Không gian đô thị 68

3.2.5 Sự khác biệt giữa các không gian mô tả và ý nghĩa của nó 73

3.3 Ngôn ngữ 74

3.3.1 Ngôn ngữ mang đậm bản sắc văn hóa Nam Bộ 74

3.3.2 Ngôn ngữ bình dân, mộc mạc 78

KẾT LUẬN 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Trong sự phát triển thống nhất và đa dạng của nền văn học dân tộc, văn học ở mỗi vùng miền trên đất nước ta đều đã có những đóng góp riêng vào nguồn chung một cách rất đáng kể Nằm trong dòng chảy ấy, văn học Nam Bộ cũng đã hiện diện và góp phần không nhỏ vào tiến trình hiện đại hóa văn học nước nhà Qua từng chặng đường lịch sử, những thế hệ nhà văn tiếp nối như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam đến Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Lê Văn Thảo, Nguyễn Ngọc Tư đã khẳng định vị trí của mình trên văn đàn dân tộc Tuy nhiên, do vị trí địa lý và hoàn cảnh lịch sử có nét đặc biệt, cho đến nay, nhiều vấn đề về văn học sử nói chung cũng như những gương mặt tác gia văn học Nam Bộ nói riêng vẫn chưa được mọi người quan tâm khai thác và nghiên cứu một cách thỏa đáng

1.2 Một trong những cây bút vừa kể ở trên, Lê Văn Thảo là “nhà văn

của xứ sở Nam Bộ” (theo cách nói của Tiến Dũng), đồng thời cũng là một

trong những nhà văn có nhiều đóng góp cho nền văn học Nam Bộ Ông bắt đầu viết văn từ năm 1965 và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn Với gần năm mươi năm miệt mài tìm tòi và sáng tạo, Lê Văn Thảo

đã có nhiều thành tựu xuất sắc Đóng góp của ông đã được ghi nhận bằng việc đạt được nhiều giải thưởng văn học có giá trị trong nước cũng như quốc tế, đặc biệt là giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2007) và giải thưởng

Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (2012) Tác phẩm ông viết đa dạng về thể loại: kí, truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết trong đó truyện ngắn chiếm một vị trí quan trọng Bằng tài năng nghệ thuật, tình yêu tha thiết nồng nàn đối với quê hương xứ sở và cả sự chiêm nghiệm sâu sắc về thân phận con

Trang 9

người, ông đã mang đến cho bạn đọc những trang văn thấm đượm tình người, tình đời Truyện ngắn của ông gắn liền với cuộc sống và con người Nam Bộ, rất tự nhiên, gần gũi, giàu giá trị nhân văn cao cả, thu hút độc giả ngay từ những trang đầu tiên

1.3 Là một trong những nhà văn gốc Nam Bộ đạt giải thưởng cao quý

về văn học nghệ thuật nhưng so với nhiều tác giả khác, mảng truyện ngắn của

Lê Văn Thảo vẫn chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về truyện ngắn của nhà văn Nam Bộ này một cách tập trung và có hệ thống Vì vậy chúng tôi quyết định chọn vấn đề

“Đặc sắc truyện ngắn Lê Văn Thảo” làm đề tài nghiên cứu của luận văn

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Lê Văn Thảo là nhà văn không chỉ xuất sắc trong lĩnh vực tiểu thuyết, ông còn là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong nền văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, cho đến nay, các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của ông vẫn còn ít, chủ yếu là một số bài viết in trên các báo, tạp chí, chưa thấy công trình nghiên cứu khoa học quy

mô nào đặt ra vấn đề tìm hiểu về đặc sắc truyện ngắn Lê Văn Thảo Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một số ý kiến tiêu biểu

Khi đánh giá về văn chương Lê Văn Thảo, Lê Thiếu Nhơn đã đưa ra

một nhận định rất khái quát như sau: “Đọc tác phẩm Lê Văn Thảo, không thể

trích ra một đoạn văn mẫu để tán tụng, để trầm trồ Nếu nhìn trên lớp vỏ chữ nghĩa, rất dễ nao núng kết luận ông không có văn Thế nhưng, bình tâm đánh giá lại, thì chất giọng thuần phác Nam bộ của Lê Văn Thảo vẫn tạo ra một thứ văn chương có sức lôi cuốn Văn của Lê Văn Thảo không nằm ở ngôn từ, không nằm ở lý lẽ, và cũng không nằm ở triết thuyết Văn của Lê Văn Thảo lặn vào tình tiết, lặn vào nhân vật, lặn vào câu chuyện để rồi khi hữu duyên gặp sự tương tác từ phía độc giả thì lập tức hiển lộ những giá trị thẩm mỹ có

Trang 10

sức lay động và ám ảnh Cho nên, Lê Văn Thảo chinh phục nhiều thế hệ bạn đọc bằng lối kể tự nhiên và nhẹ nhàng” [27] Tác giả bài viết đã chỉ ra đặc sắc

nổi bật trong sáng tác của Lê Văn Thảo là cách viết vừa mộc mạc, giản dị vừa

tự nhiên, sâu sắc Nói về điều này, nhà văn Anh Đức cũng có ý kiến tương tự:

“Ông viết thong dong, tự nhiên, hồn nhiên, không gò gẫm Nhiều khi đọc

truyện của Lê Văn Thảo, Phạm Trung Khâu, Dương Minh Tâm, Nguyễn Linh, dường như họ không quan tâm mấy tới kỹ thuật, kỹ xảo Đó là mặt mạnh, một mặt mạnh mà có khi chính họ không biết” [5]

Triệu Xuân trong bài viết Lê Văn Thảo với những tác phẩm giàu lòng

nhân ái nhận định: “Truyện ngắn của Lê Văn Thảo thường được ông thể hiện

qua lời kể ở ngôi thứ nhất Có gì kể nấy Chuyện sao kể vậy Ngôn ngữ thì đặc chất Nam bộ, không cầu kỳ, không khoe mẽ, không hề làm dáng văn chương chữ nghĩa” [61, 8]

Một đặc sắc dễ thấy nữa trong truyện ngắn Lê Văn Thảo mà rất ít tác giả nào khai thác đó là cái nhạt, cái lạ và cái thật Huỳnh Như Phương cho

rằng "Khi nào cái lạ, cái nhạt và cái thật kết hợp nhuần nhị trong một truyện

ngắn, thì Lê Văn Thảo đặc biệt thành công” [49, 262] Đó là một hướng viết

mới mà Lê Văn Thảo khai thác trong các tác phẩm viết sau chiến tranh

Từ những ý kiến trên ta thấy, Lê Văn Thảo viết truyện theo phong cách rất nhẹ nhàng, rất điềm tĩnh và cũng rất tự nhiên Ngoài việc khám phá những đề tài mới, lạ, Lê Văn Thảo đặc biệt chú trọng tính chân thật khi viết Chính vì vậy mà rất nhiều sáng tác của ông dường như không gò công vào

kỹ thuật viết mà “lặn vào tình tiết” Đúng như Trần Nhã Thụy nhận xét:

“Biết cách trộn lẫn giữa fiction (hư cấu) và non fiction (phi hư cấu), với

chất humour (hài hước) đặc thù Nam Bộ mà không dùng phương ngữ, Lê Văn Thảo là một trong số ít nhà văn Việt Nam viết truyện ngắn đạt đến trình

độ "như không"” [57]

Trang 11

Truyện ngắn Lê Văn Thảo mang hơi thở rất đặc biệt, mà theo Hoài Anh

đó là chất văn xuôi Nam Bộ: “Cái màu sắc của miền Tây Nam Bộ đó được

biểu hiện một cách xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của Lê Văn Thảo Có thể xem ông là người đã mang hương sắc phương Nam đến với mọi người, đem cái mênh mông của sông Cửu Long “hội ngộ” với dòng Đà Giang của vùng Tây Bắc, kéo những rừng đước bạt ngàn của phương Nam “hợp thế” với những rừng xà nu ở Tây Nguyên, cùng nhau gọi nắng gió của đất trời, hòa hương tràm của U Minh vào muôn rừng hương sắc của Cúc Phương Chúng ta tìm thấy ở trong đó hình ảnh những con người lam lũ, mộc mạc mà sâu nặng nghĩa tình Chúng ta cũng tìm thấy trong đó những tấm lòng trượng nghĩa, cái ào ạt, mạnh mẽ sống hết mình của con người phương Nam Và cả Nam Bộ cuộn mình đứng dậy trong lịch sử Nghĩa là ông là một trong những người “phát hiện” ra Nam Bộ, mang vẻ đẹp của Nam Bộ đến với thế giới”

[5] Trần Nhã Thụy nhận định: “Cả truyện ngắn cũng như tiểu thuyết, Lê Văn

Thảo viết bằng chất giọng đặc Nam bộ, không cầu kỳ, trau chuốt Câu văn gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Tình tiết truyện chân thật, mộc mạc

và phóng khoáng” [25]

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra nét riêng ở lời văn Lê Văn Thảo là có sự gần gũi với cách nghĩ, cách thể hiện của người Nam Bộ Triệu Xuân đã nhận

xét: “Đọc văn Lê Văn Thảo, tôi càng thêm tha thiết tin yêu đất và người xứ

này: người Nam Bộ có tình cảm trong sáng, chân chất, mộc mạc nhưng mãnh liệt, ý chí và nghị lực phi thường, bản tánh ngang tàng, khảng khái, chỉ tôn thờ sự thật và coi trọng nghĩa tình” [5]

Khi nhận xét về nhân vật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo, Lê Thiếu

Nhơn viết: “Nhân vật của Lê Văn Thảo hầu hết đều cơ hàn, đều thua thiệt,

nhưng họ kiên trì gìn giữ cái thiện Họ không ngừng đối đầu với cái ác, càng bị đọa đày họ càng đẹp đẽ, càng bị vô vọng họ càng vững chải, càng

Trang 12

bị cay nghiệt họ càng bao dung” [28] Cùng quan điểm với Lê Thiếu Nhơn,

Triệu Xuân nói rằng: “Lê Văn Thảo nghiêng về loại nhân vật ít người để ý,

những người chịu nhiều cay đắng, thiệt thòi nhưng không bao giờ oán than cái số kiếp mình phải gánh chịu Họ chấp nhận và vượt qua tất cả để sống, giản dị vậy thôi, để sống Sống như ai, như kiểu nào không quan trọng, mà

là để sống như cái cách mà họ có thể!” [61, 7] Các tác giả đã chỉ ra đối

tượng mà Lê Văn Thảo quan tâm thể hiện là những con người rất bình thường trong cuộc sống nhưng ở họ toát lên vẻ đẹp của nhân cách Có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà là có chủ đích, Lê Văn Thảo tìm đến với những số phận nhỏ bé, những con người bình thường trong cuộc sống Chính từ những con người ấy, ngòi bút của ông mới thật sự cất cánh Họ, những con người thật sự cần đến ngòi bút cảm thông, chia sẻ của các nhà văn Trong bài viết Lê Văn Thảo: Nhà văn của xứ sở Nam Bộ đăng trên

báo Văn nghệ, số 207, (21/6/2012), Lê Tiến Dũng đã khẳng định: “Những

người Nam Bộ hiện lên trong tác phẩm của ông làm đủ ngành nghề, từ người chân lấm tay bùn với ruộng đồng đến những người tiểu thương buôn bán nhỏ Nhưng ở các nhân vật đều có tấm lòng đáng trân trọng Họ đã sống và làm việc bằng tấm lòng trung thực và lương thiện đến mức đáng yêu” [5]

Bên cạnh những công trình nghiên cứu nói trên, còn có những luận văn

thạc sĩ nghiên cứu về truyện ngắn Lê Văn Thảo như là: Truyện ngắn và tiểu

thuyết Lê Văn Thảo của Nguyễn Thị Nga, Thế giới nghệ thuật văn xuôi Lê Văn Thảo của Nguyễn Thị Nhung, Những công trình này đi vào nghiên cứu

cả mảng tiểu thuyết lẫn truyện ngắn của Lê Văn Thảo nên chỉ mới đánh giá một cách khái quát về những đóng góp nghệ thuật văn xuôi của nhà văn Mới

đây, có hai luận văn thạc sĩ của Nguyễn Quốc Đại với đề tài Đặc điểm truyện

ngắn Lê Văn Thảo, Nguyễn Thị Tròn với đề tài Thế giới nhân vật trong

Trang 13

truyện ngắn Lê Văn Thảo sau 1975 đã đề cập đến những đặc trưng nghệ thuật

trên các phương diện nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ Đó là những ý kiến gợi mở

để tác giả luận văn có thể tiếp tục tìm hiểu vấn đề nghiên cứu một cách thấu đáo, sâu sắc hơn

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Đặc sắc truyện ngắn Lê Văn Thảo

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi xác định nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Đánh giá sự nghiệp văn học và đóng góp của ông cho văn chương Nam Bộ đến gần hơn với bạn đọc cả nước

- Tìm hiểu nội dung tư tưởng của truyện ngắn Lê Văn Thảo thông qua những nét chủ đạo trong cảm hứng sáng tác của nhà văn

- Phát hiện những tìm tòi, sáng tạo của nhà văn Lê Văn Thảo về phương diện nghệ thuật truyện ngắn

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên

cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp thống kê, phân loại

Trang 14

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đem đến một cái nhìn tương đối rõ nét và hệ thống về đặc sắc truyện ngắn Lê Văn Thảo

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn có nội dung chính gồm ba chương:

Chương 1: Truyện ngắn trong hành trình sáng tạo của Lê Văn Thảo Chương 2: Chủ đề và nhân vật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo

Chương 3: Cốt truyện, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ trong truyện

ngắn Lê Văn Thảo

Trang 15

Chương 1 TRUYỆN NGẮN TRONG HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA LÊ VĂN THẢO

1.1 Lê Văn Thảo trong dòng văn học Nam Bộ

1.1.1 Khái lược về văn học Nam Bộ

Văn học Nam Bộ đã được hình thành và trải qua nhiều chặng đường lịch sử, cho đến nay đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trở thành bộ phận quan trọng của văn học dân tộc

Bộ phận văn học dân gian Nam Bộ bao gồm các thể loại: Ca dao, dân

ca, hò, vè, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười , thể hiện đặc trưng lịch

sử xã hội của một vùng đất mới, mang bản chất, tính cách và bản sắc văn hoá của người dân Nam Bộ

Bộ phận văn học Hán Nôm Nam Bộ hình thành từ thời kỳ mở cõi đến cuối thế kỷ XIX với sự xuất hiện của các tác gia tiêu biểu như Mạc Thiên Tích với Tao đàn Chiêu Anh Các, Gia Định Tam gia thi gồm Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Bùi Hữu Nghĩa, Huỳnh Mẫn Đạt, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu

Bộ phận văn học quốc ngữ Nam Bộ bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, vùng văn học này đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trở thành bộ phận tiên phong của văn học dân tộc với hàng chục mấy tác gia, hàng trăm bộ tiểu thuyết ngay từ khi các miền khác ở đất nước chưa biết “tiểu thuyết” là gì Những tên tuổi lớn của văn học quốc ngữ Nam Bộ là: Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thị Manh Manh, Đông

Hồ, Mộng Tuyết, Huỳnh Văn Nghị, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Quang Sáng, Khôi Vũ, Nguyễn Ngọc Tư Những nhà văn ấy và hàng chục nhà văn khác nữa với hàng mấy trăm tác phẩm đã xây dựng nền móng đầu tiên, từ đó mới

Trang 16

phát triển ra miền Bắc, miền Trung, tạo thành tòa lâu đài của văn học thế kỷ

XX, khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc

1.1.2 Một số gương mặt nổi bật của văn học hiện đại Nam Bộ

Làm nên sự thành công của nền văn học Nam Bộ trước hết là nhờ vào phong trào, đội ngũ chung, nhưng công lao lớn nhất thuộc về sự đóng góp của những nhà văn có tài năng và tâm huyết, tiêu biểu như Lý Văn Sâm, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Anh Đức, Đoàn Giỏi

1.1.2.1 Lý Văn Sâm

Lý Văn Sâm là nhà văn miền Nam tiêu biểu của nửa cuối thế kỷ XX, ông đã có những đóng góp xứng đáng cho nền văn học dân tộc Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã viết về nhiều đề tài khác nhau: mảng viết về đường rừng, mảng về cuộc sống đô thị, mảng về cuộc sống kháng chiến Hầu như ở đề tài nào ông cũng đều có những sáng tạo, những thành công đáng kể gây tiếng vang trong văn học đương thời

Trong mảng viết về cuộc sống đô thị, Lý Văn Sâm thường viết về những chuyện thường nhật cuả những nhân vật tiểu tư sản thành thị, về cảnh

cơ cực của những người dân nghèo thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội trong

những truyện ngắn như Lạc loài, Mưa Sài Gòn, Rửa hờn, Ngoài mưa lạnh,

Thèm một ngọn đèn, Ngàn sau sông Dịch Đặc biệt, trong mảng truyện này,

chúng ta thấy hiện lên nổi bật nhất là cuộc sống khốn đốn từ vật chất đến tinh thần của những người trí thức thành thị nghèo Họ khổ không phải chỉ vì kiếm sống vất vả, mà còn vì những cuộc bắt bớ, bố ráp, giam cầm xảy ra liên miên Nhiều truyện diễn tả những băn khoăn, trăn trở, xót xa của con người Những truyện ngắn như vậy, đã tạo một âm hưởng tố cáo, phê phán hiện thực xã hội đương thời, vạch trần tội ác cuả cuộc chiến do quân xâm lược gây ra

Trong giai đoạn 1947-1954, Lý Văn Sâm còn sáng tác nhiều về đề tài cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc Trong những câu chuyện này, Lý

Trang 17

Văn Sâm đã phản ánh khí thế của những ngày khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám ở miền Nam, những ngày Nam Bộ kháng chiến đầy khói lửa, hy sinh mà cũng thật hào hùng Cái đặc biệt là đề tài những truyện này hầu như đều hướng về những chuyện rất thời sự của cuộc sống kháng chiến lúc bấy giờ, nhưng vẫn được viết rất nghệ thuật

Lý Văn Sâm còn nổi tiếng về nhiều tác phẩm truyện đường rừng Đây

là mảng mà Lý Văn Sâm có nhiều truyện hay và thành công hơn cả Vì những câu chuyện đường rừng của ông không đơn giản chỉ đem lại cho người đọc những hương vị của cảnh núi rừng hay những phong tục lạ, những chuyện lạ miền ngược như các tác giả khác đã làm mà lúc nào trong truyện của ông cũng có hơi thở của thời cuộc, của những ý chí tranh đấu Trong những truyện đường rừng được viết trước 1945, ông thường xây dựng các kiểu nhân vật

như Kòn Trô trong truyện Kòn Trô, Châu Phiên trong truyện Rồng bay trên

núi Gia Nhang Mỗi người một hoàn cảnh, một số phận khác nhau đều là

những người hùng cô đơn, dũng cảm nhưng cũng đầy thất vọng về cuộc đời, trốn chốn phồn hoa đô thị mà tìm đến nơi rừng xanh núi đỏ, hy vọng có thể lập một cõi riêng có tự do như họ quan niệm Những nhân vật này đáp ứng khát vọng về tự do, nhân nghĩa, về sự công bằng trong xã hội của người dân trước Cách mạng tháng Tám

1.1.2.2 Sơn Nam

Từ thập niên 1950, Sơn Nam được giới văn học cả nước biết đến như một tài năng của văn chương Nam bộ Ông không những là một nhà văn, mà còn được đánh giá cao như một nhà Nam bộ học, một nhà văn hoá Sơn Nam

là một nhà văn đăc biệt, với một trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: biên khảo, bút kí, hồi kí, truyện dài, truyện vừa, đặc biệt là truyện ngắn Sơn Nam

đã để lại cho văn học Việt Nam những sáng tạo độc đáo và đã khẳng định được phong cách riêng của mình trên văn đàn

Trang 18

Tác phẩm đầu tay của Nhà văn Sơn Nam là một tập thơ mang tựa đề

Lúa reo, do Hội Văn hoá kháng chiến Kiên Giang xuất bản năm 1948 Năm

1951-1952, hai truyện ngắn Bên rừng Cù Lao Dung và Tây đầu đỏ, ông đã

giành giải nhất trong cuộc thi do Uỷ ban Kháng chiến - Hành chính Nam bộ

tổ chức Tuy nhiên, ông lại nổi danh trên văn đàn là tập truyện ngắn Hương

rừng Cà Mau, xuất bản năm 1962 Ngoài truyện dã sử, truyện ngắn, nhà văn

Sơn Nam còn thành công cả ở những công trình biên khảo có hệ thống như

Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Văn minh miệt vườn Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa

Sơn Nam đặc biệt thành công ở thể loại truyện ngắn, các tập truyện

ngắn như: Hương rừng Cà Mau, Biển cỏ miền Tây…đã ghi dấu phong cách

nghệ thuật của ông Với những thành công trong truyện ngắn Sơn Nam đã để lại trong lòng bạn đọc yêu văn chương những tình cảm sâu sắc về một nhà văn Nam Bộ với tính cách đặc biệt Nam Bộ Và ông, dù ra đi nhưng những gì còn ở lại ở ông là những áng văn chương để đời, một tấm lòng cũng làm nên vinh dự, làm nên tên tuổi Sơn Nam không thể phai nhạt trong dòng chảy của nền văn học Việt Nam hiện đại

1.1.2.3 Bình Nguyên Lộc

Bình Nguyên Lộc tên thật là Tô Văn Tuấn, sinh ra ở Tân Uyên, Bình Dương, trong một gia đình đã có mười đời sống ở Tân Uyên Trong các công

trình nghiên cứu như Nguồn gốc Mã Lai Á của dân tộc Việt Nam (1971), Lột

trần Việt ngữ (1971) cũng như những tập bút ký đầu tay Hương gió Đồng Nai, Phù sa ông đều tập trung lần tìm lại “từ thuở mang gươm đi mở cõi / nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ) Nếu nhìn một

cách khái quát, cảm hứng chủ đạo làm nên thế giới văn chương của ông xuất phát từ những vấn đề cốt tử của truyền thống văn hoá Việt: nguồn gốc, ngôn ngữ, di dân, cõi âm - bốn yếu tố đặc sánh tâm hồn Bình Nguyên Lộc

Trang 19

Đặc sắc văn xuôi Bình Nguyên Lộc là ở truyện ngắn và tuỳ bút, cả những cái đã in thành sách và những cái chỉ mới in trên các báo, con số có thể lên đến vài nghìn tác phẩm, nhưng trong đó chỉ có khoảng hơn năm mươi tác

phẩm thật hay, nằm rải rác trong các tập như Nhốt gió (1950), Ký thác (1960),

Những bước lang thang trên hè phố của gã Bình Nguyên Lộc (1966), Tình đất

(1966), Thầm lặng (1967), Cuống rún chưa lìa (1969)

Khác với các tác giả sinh ra từ đất Bắc, nhưng toàn bộ hành trang cuộc đời và văn nghiệp đều gắn liền với phương Nam như Lê Văn Trương, Nguyễn Hiến Lê, nhưng đồng thời cũng khác với các nhà văn sinh ra ở Nam Bộ nhưng hoàn toàn viết theo lối Bắc như Đông Hồ và cũng không giữ nguyên đậm đặc chất liệu Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, văn chương Bình Nguyên Lộc thể hiện

sự giao lưu văn hoá, đứng ở miền giao thoa văn hoá Bắc - Nam từ trong tâm thức, cách nhìn và nhất là giọng điệu văn chương Nói nhà văn là nhà nghệ thuật ngôn từ đối với Bình Nguyên Lộc còn chưa đủ, mà phải nói ông là nhà

ảo thuật về ngôn từ, khi ông luôn có lối so sánh với những hình dung từ chính xác, đắc địa, hiện đại và tài hoa Sức nặng trang văn của ông không chỉ ở vốn tri thức về văn hoá, mà còn ở sự kết hợp hài hoà giữa giọng kể và giọng tả, vừa thể hiện sự bộc trực của miệt quê nơi ông sáng tác, vừa phóng túng, mượt

mà của một ngôn ngữ chuẩn mực phổ thông

1.1.2.4 Anh Đức

Anh Đức, tên thật là Bùi Đức Ái, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935 tại xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Bùi Đức Ái rời gia đình, vào chiến khu của lực lượng kháng chiến ở miền Nam Việt Nam hoạt động từ khi còn trẻ Ông tham gia viết văn từ lúc mới là “một cậu bé” mười bảy, mười tám tuổi Ông đoạt giải thưởng văn học năm vừa tròn mười chín tuổi Năm

1953, ông được điều về làm ở báo Cứu quốc Nam Bộ Người đầu tiên được coi là đã phát hiện ra năng khiếu văn học của Bùi Đức Ái là nhà văn Đoàn

Trang 20

Giỏi Sau đó, Bùi Đức Ái tập kết ra miền Bắc Trong thời gian ở miền Bắc, ông viết với bút danh Bùi Đức Ái Năm 1962, Bùi Đức Ái trở lại chiến trường miền Nam Việt Nam ngay trong đợt đầu tiên của văn nghệ sĩ Trở lại miền Nam Việt Nam, ông bắt đầu lấy bút danh mới là Anh Đức Trải qua thời gian rèn luyện nghề văn tại miền Bắc Việt Nam, khi tiếp cận với thực tế cuộc chiến

ở chiến trường miền Nam, Anh Đức viết một loạt hồi ký, được chú ý nhất là loạt ký sự Bức thư Cà Mau Dưới hình thức trao đổi văn học qua thư với nhà văn Nguyễn Tuân, Anh Đức phản ánh thực tế sống và chiến đấu của lực lượng kháng chiến tại Cà Mau và nhiều vùng khác của miền Nam Việt Nam Cũng trong thời gian này, ông đến Kiên Giang và viết tác phẩm có lẽ là nổi tiếng nhất của ông, tiểu thuyết Hòn Đất Hòn Đất đã mang về cho Anh Đức Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu

Sau năm 1975, Anh Đức về sống ở Thành phố Hồ Chí Minh Ông viết

một số truyện ngắn như Người khách đến thăm vườn nhà tôi, Cái bàn bỏ

Giải thưởng văn học Cửu Long (1952), Giải nhất truyện ngắn của tạp chí Văn nghệ (1958), Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (truyện, 1965), Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm (2000)

Sống 79 tuổi đời, với hơn 50 năm cầm bút, Anh Đức đã đi trọn đời mình Một đời cầm bút, một đời viết văn Nhiều tác phẩm của ông đã để lại

Trang 21

những nhân vật ở giữa cuộc đời này Nhiều nhân vật của ông có bóng dáng thực như chị Tư Hậu là chị Tư Huỳnh ở Nha Trang vừa mới mất; hay chị Sứ

có hình bóng thật là chị Phan Thị Ràng - anh hùng lực lượng vũ trang ở Hòn Đất, Kiên Giang Bao nhiêu chuyện ông kể đều gắn với cách mạng, gắn với hai cuộc kháng chiến của dân tộc ta Cho nên là nhà văn cũng là nhà đồng hành với cách mạng

1.1.3 Lê Văn Thảo - một gương mặt đáng chú ý của văn học hiện đại Nam Bộ

1.1.3.1 Tiểu sử

Nhà văn Lê Văn Thảo tên khai sinh Dương Ngọc Huy, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1939 tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An Ông lớn lên ở quê ngoại An Giang, sau đó lên Sài Gòn học khoa toán Trường Đại học Khoa học

tự nhiên Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, cha là chí sĩ yêu nước Dương Văn Diêu, Lê Văn Thảo sớm thoát ly gia đình lên chiến khu tham gia cách mạng, làm công tác văn hóa văn nghệ (năm 1962) Ông viết rất hay về hình ảnh những người chiến sĩ cách mạng hiên ngang trên chiến trường Năm 1968, ông tham gia chiến dịch Mậu Thân ở Sài Gòn

Lê Văn Thảo bắt đầu viết văn từ năm 1965 với đề tài nông thôn ở các vùng quê Long An, Đồng Tháp Mười và chiến tranh du kích ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ Ngòi bút của ông đi sâu vào việc phản ánh cuộc sống cũng như khí phách của những người dân Nam Bộ cần mẫn, lam lũ trong lao động, hiên ngang trong chiến đấu

Sau giải phóng, Lê Văn Thảo về công tác tại báo Văn nghệ Thành phố

Hồ Chí Minh Ông từng giữ cương vị Phó tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 -2010, Phó Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam khóa VII (2005 - 2010)

Hiện tại, ông đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 22

1.1.3.2 Tác phẩm và giải thưởng của Lê Văn Thảo

Các tác phẩm đã xuất bản của Lê Văn Thảo:

Ngoài mặt trận (truyện và ký, NXB Văn học giải phóng, 1969);

Từ thế cao (ký sự, NXB Giải phóng, 1970);

Đêm tháp mười (tập truyện ngắn, NXB Giải phóng, 1972);

Bên lở bên bồi (Tiểu thuyết, NXB Tp Hồ Chí Minh, 1978);

Chuyện xã tôi (truyện vừa, NXB Kim Đồng, 1980);

Cửa sổ màu xanh (tập truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, 1981);

Câu chuyện 20 năm (tập truyện ngắn, NXB Mũi Cà Mau, 1985);

Buổi chiều và sáng hôm sau (tập truyện ngắn, NXB Văn nghệ Tp Hồ

Một ngày và một đời (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1999);

Con mèo (Tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1999);

Cơn giông (tiểu thuyết, NXB Trẻ, 2000),

Truyện ngắn chọn lọc (NXB Hội Nhà văn, 2003);

Sóng nước Vàm Nao (tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, 2007)

Tuyển tập Lê Văn thảo (NXB Văn học, 2007);

Lên núi thả mây, (Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học & Nhã Nam, 2011) Những năm tháng nhọc nhằn (tiểu thuyết, NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2012)

Những giải thưởng nhà văn Lê Văn Thảo đạt được:

Giải A về tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng năm 1998 với

tiểu thuyết Một ngày và một đời (1997)

Trang 23

Giải B về tiểu thuyết do Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng năm 2003 với

tiểu thuyết Cơn giông (2002)

Giải thưởng Đông Nam Á năm 2006 với tiểu thuyết Cơn giông (2002)

Giải thường Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007 với chùm tác

phẩm: Tiểu thuyết Một ngày và một đời (1997) và tiểu thuyết Cơn giông (2002)

Năm 2012, ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ

thuật cho tiểu thuyết Con đường xuyên rừng (1995) và Tuyển tập truyện ngắn

Lê Văn Thảo

1.2 Hành trình sáng tạo và quan niệm về nghệ thuật của nhà văn

An, Đồng Tháp Mười và được tập hợp in trong tác phẩm đầu tay Ngoài mặt

trận (1969), Từ thế cao (1970), Đêm tháp mười (1972) Ở giai đoạn này, hầu

hết các sáng tác của Lê Văn Thảo đều thuộc đề tài chiến tranh và cuộc sống của những người lao động gắn với chiến đấu Chính nhà văn cũng thừa nhận

“Trong những năm kháng chiến chống Mĩ, tôi có dịp cùng sống và chiến đấu

với các chiến sĩ quân giải phóng, do vậy đề tài chiến tranh với những người chiến sĩ bình thường, tình đồng đội của họ đối với nhau vẫn là đề tài tôi yêu thích” [30, 621] Là nhà văn từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, Lê Văn

Thảo rất thấu hiểu những năm tháng đầy khói lửa ấy Với cái nhìn sắc sảo của mình, hiện thực chiến tranh hiện lên trong trang viết của ông rất chân thật và cũng lắm hào hùng Điều đặc biệt ở ngòi bút Lê Văn Thảo là ông đã biết kết

Trang 24

hợp rất nhuần nhuyễn giữa việc khắc họa cái hào hùng của người chiến sĩ cách mạng, cái tình cảm chân thành của tình đồng chí, tình quân dân với việc khai thác đời sống lịch sử và tâm lý của con người ở đồng bằng Nam Bộ

Có thể nói, những sáng tác của Lê Văn Thảo trước năm 1975 là những sáng tác có giá trị ghi lại những năm tháng hào hùng của dân tộc Bằng chất giọng hào sảng ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của dân tộc, Lê Văn Thảo đã làm nên một phong cách của riêng ông mang dấu ấn của một nhà văn thuần Nam Bộ

1.2.2.2 Sau 1975

Sau 1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất và bước vào thời kỳ xây dựng xã hội mới, đời sống mới với nhiều biến động phức tạp Khi xã hội Việt Nam lật sang trang mới, Lê Văn Thảo cũng như nhiều nhà văn khác đã

tự đổi mới mình để làm tròn thiên chức của người cầm bút Trước hiện thực bộn bề, phức tạp của thời hậu chiến cảm hứng sáng tạo của nhà văn cũng phải thay đổi Sáng tác của ông lúc này đi vào thể hiện những hồi ức chiến tranh và

số phận con người trong cuộc sống Cùng với sự thay đổi về cảm hứng sáng tạo thì cách thể hiện con người cũng khác trước Các tác phẩm của Lê Văn Thảo sau 1975 đã đào sâu vào những bí ẩn bên trong tâm hồn cá nhân, ở đó con người đã được soi chiếu từ nhiều góc độ, không chỉ là niềm hạnh phúc, là niềm vui mà còn là những đau khổ, những bi kịch của con người trong cuộc sống hiện tại Đó là bi kịch của con người cá nhân trong bối cảnh phức tạp của nền kinh tế thị trường

Sau 1975, Lê Văn Thảo đã viết một số tập truyện ngắn và truyện vừa

như Chuyện xã tôi (1980), Cửa sổ màu xanh (1981), Câu chuyện 20 năm (1985), Buổi chiều và sáng hôm sau (1986), Chuyện nhỏ tình yêu (1992), Ông

cá hô (1995), Con mèo (1999), Lên núi thả mây (2011) Về tiểu thuyết, ông

viết Bên lở bên bồi (1978), Ngôi nhà có hàng rào song sắt (1988), Con đường

xuyên rừng (1995), Một ngày và một đời (1999), Cơn giông (2000), Sóng nước Vàm Nao (2007), Những năm tháng nhọc nhằn (2012)

Trang 25

Trong đó tiểu thuyết Một ngày và một đời đã được trao giải A - Hội nhà văn Việt Nam năm 1979 Tiểu thuyết Cơn giông được trao giải B - Hội

nhà văn Việt Nam năm 2003 và Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 2006

Thành quả trên quả là sự đền đáp xứng đáng cho sự khổ luyện của một nhà văn tài năng và tâm huyết như Lê Văn Thảo

1.2.2 Quan niệm về nghệ thuật của nhà văn

1.2.2.1 Về bản chất của văn chương

Lê Văn Thảo là nhà văn có thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, cần mẫn, luôn coi trọng sứ mệnh thiêng liêng của văn chương và vai trò của người cầm bút Ông thực sự là một người có trách nhiệm với đứa con tinh thần của mình Tính chân thật, giản dị là yếu tố đầu tiên trong quan niệm văn chương của Lê Văn Thảo Bên cạnh đó, sự tỉnh táo trong cách nghĩ, cách viết cũng là điều nhà văn lưu tâm

Quan niệm của Lê Văn Thảo về văn học là một thực tế đã được chiêm nghiệm qua cuộc đời cầm bút với những tìm tòi, khai thác và những kiến thức mà ông tiếp nhận được từ những lời nhận xét cũng như thực tiễn sáng

tác của nhiều nhà văn đi trước Ông đã từng nói: “Tôi không có giáo huấn gì

trong sáng tác văn học, không chỉ dạy ai trong các trang viết, tôi ít tranh cãi nhưng cũng không chiều chuộng Văn học đối với tôi là nỗi niềm, thân phận, lương tâm, những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy tư từ những năm tháng sống lặn lội” [61, 7] Đối với Lê Văn Thảo, văn chương là cả cuộc

đời Tình yêu thương giữa con người với con người là yếu tố nền tảng trong quan niệm sáng tác của ông Cảm hứng chủ đạo trong các tác phẩm là sự quan tâm đối với cái thiện, cái đẹp Nó chi phối nhà văn trong toàn bộ quá trình sáng tạo nghệ thuật, từ nội dung đến hình thức, từ nhân vật đến giọng điệu, cảm xúc

Trang 26

1.2.2.2 Về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống

Thông qua thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của mình, mỗi nhà văn đều gửi gắm một quan niệm nghệ thuật về hiện thực đời sống, và tâm điểm của bức tranh hiện thực ấy là số phận của con người trước bão dông lịch sử, trước thử thách và bi kịch đời thường Quan niệm nghệ thuật ấy ẩn sâu trong các hình tượng nghệ thuật, trong cốt truyện và kết cấu, trong ngôn ngữ và giọng điệu, trong các xung đột nghệ thuật…

Văn học hiện đại lấy con người hiện đại làm tâm điểm phản ánh Vì lẽ

đó, con người cũng được nhìn nhận đa chiều hơn trong văn học Đối với Lê Văn Thảo, ông đặt nhân vật của mình trong các mối quan hệ đa dạng, nhiều chiều để từ đó nhân vật tự bộc lộ tính cách của mình

1.2.2.3 Về trách nhiệm của nghệ sĩ với cuộc đời và sự sáng tạo

Gắn bó với nghề gần 50 năm, Lê Văn Thảo đã đem đến cho văn học Việt Nam một số lượng truyện ngắn có giá trị không nhỏ Nhất là giai đoạn sau 1975, đặc biệt trong thập niên 90, ngòi bút Lê Văn Thảo đã thực sự đổi khác bằng việc đi sâu vào kỹ thuật viết Không còn giọng hô hào như trước, giọng văn của ông cũng trở nên điềm tĩnh như chính cái tuổi trung niên của ông vậy Mặc dù không gây quá nhiều ồn ào trên văn đàn, song Lê Văn Thảo thật sự là một nhà văn đáng trân trọng Bằng tâm huyết với nghề và những năm tháng không ngừng học hỏi, sửa chữa cách viết, Lê Văn Thảo đã gò công dựng lên thành lũy văn chương của riêng mình với những đặc trưng không lẫn vào ai được

Xác định được chỗ đứng nhưng quan trọng là ngòi bút của người nghệ

sĩ cũng phải chân thực Muốn vậy, họ phải là người luôn có đam mê và tài năng Một người nghệ sĩ chân chính phải biết kết hợp đam mê và tài năng để tạo nên những tác phẩm có giá trị Bởi vì nghệ thuật không phải là cố đẻ ra

những con chữ Lê Văn Thảo tâm sự về nghề của mình như sau: “Điều quan

Trang 27

trọng nhất của nhà văn theo tôi là tính chân thực Một chút phô trương, giả dối, làm dáng trong văn chương là hỏng Nhà văn có tài là người biết bỏ cái

gì chứ không phải viết cái gì” [18, 7] Đó là bí quyết giúp nhà văn thành công

trên con đường sáng tạo nghệ thuật

Lê Văn Thảo viết bởi sự thôi thúc của nội tâm Cái tâm của nhà văn trải lên trang giấy đầy tình người khiến cho độc giả càng đọc càng như được đồng cảm, được chia sẻ Những tình cảm ấy, những nỗi niềm ấy của nhà văn thật đáng quý, đáng trân trọng

1.3 Về vị trí của truyện ngắn trong văn nghiệp Lê Văn Thảo

1.3.1 Về một số thể loại trong sáng tác Lê Văn Thảo: tiểu thuyết, ký, truyện vừa

Lê Văn Thảo là nhà văn hiện đại Việt Nam, phương thức sáng tác chủ yếu của ông là bằng văn xuôi, với các thể loại chính là tiểu thuyết, ký, truyện vừa, truyện ngắn…

Về lĩnh vực tiểu thuyết, cho đến nay ông đã là tác giả của 7 cuốn tiểu thuyết đã xuất bản và chúng đã khẳng định chỗ đứng của ông trong làng tiểu

thuyết Việt Nam hiện đại Đó là Bên lở bên bồi (1978), Ngôi nhà có hàng rào

song sắt (1988), Con đường xuyên rừng (1995), Một ngày và một đời (1999), Cơn giông (2000), Sóng nước Vàm Nao (2007), Những năm tháng nhọc nhằn

(2012) Trong đó Một ngày và một đời đã được trao giải A của Hội nhà văn Việt Nam năm 1997; Cơn giông được trao giải B của Hội nhà văn Việt Nam

và giải thưởng văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 2006

Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo tập trung vào tính cách, tâm trạng, hồn cốt của người dân Nam Bộ Thế giới nhân vật tiểu thuyết của ông là những người bình thường, những thân phận hẩm hiu, cô độc và bất hạnh, những người ở dưới đáy xã hội Lê Văn Thảo không lao vào những đề tài “mang tầm thời đại”, những vấn đề chính trị, kinh tế, quốc kế dân sinh Ông thích những điều gần gũi, bình dân Ông viết về những điều mà ông thương yêu, trân quý

Trang 28

Với tiểu thuyết Con đường xuyên rừng, Lê Văn Thảo tiếp tục tìm hiểu

về những cảnh đời của những người lính ở những dáng vẻ khác nhau Bạn đọc từng xót xa trước quãng đời đau khổ của Châu - cô gái xinh đẹp nhưng do chiến tranh cướp mất người thân nên hóa điên dại thì nay lại đau xót cảm thương trước số phận của chiến sĩ tên Vinh

Vinh - nhân vật chính trong tác phẩm, chiến sĩ của đơn vị bộ đội xung kích, vừa ra khỏi bệnh viện đang trên đường trở về đơn vị, gặp trận càn của địch nên bị lạc đường Anh nhập vào đoàn người thuộc nhiều đơn vị khác nhau, và được họ bầu làm chỉ huy, tìm đường về căn cứ cũ Đoàn người đi cùng Vinh gồm: ông Tư Nghệ, cán bộ tuyên huấn ở Trung ương cục (Tư Nghệ bị mắc vào trận càn trong thời gian được tổ chức cho gặp vợ ở thành vào thăm); Ba Quang - bác sĩ; ông Chín Nếp - vừa tham gia trại sáng tác trên Miên về; Thu Hà - diễn viên được tuyển chọn đi học múa ba lê và một tốp chiến sĩ điện đài năm người, trong đó có một người bị thương nặng phải cáng

Vinh là con trai duy nhất còn lại của một gia đình Anh có hai anh trai

đi bộ đội đã hi sinh Cha già bị thương tật nằm liệt giường sau những lần bị đám lính ngụy đánh đập, tra khảo Gia đình anh ở một vùng quê nghèo bên bờ sông Vàm Cỏ quanh năm nước ngập Cảnh nhà anh nghèo khổ, chỉ trông chờ vào sự tảo tần của bà mẹ già gầy yếu, đắp đổi qua ngày Vinh bỏ nhà đi theo

du kích lúc 15 tuổi Sau đó, anh đi bộ đội, mặc lời cầu xin tha thiết của ba anh, rằng anh nên ở nhà lấy vợ sinh con giữ gìn mảnh đất ông bà để lại bao đời nay

Sau nhiều năm lăn lộn, qua hết chiến trường này đến chiến trường khác, tiếp cận giữa sự sống và cái chết, Vinh bỗng nhớ da diết về gia đình, nhất là người cha già không biết thế nào Anh ao ước được trở về thăm cha

mẹ, căn nhà nghèo nàn của gia đình mình Lòng ngổn ngang trăm mối, anh đi

mà lòng nhớ về tuổi thơ, cha mẹ, làng quê mình Không có giao liên dẫn

Trang 29

đường, đường dây liên lạc bị cắt, đoàn người do Vinh chỉ huy đi trong rừng, không phương hướng, đoàn người khó thoát khỏi trận càn lớn của địch đang dàn ra khắp nơi Mặc dù lòng không yên, không tự tin vào chính mình nhưng khi đã nhận nhiệm vụ, Vinh đã chứng tỏ cho mọi người trong đoàn thấy khả năng và trách nhiệm của một người chỉ huy Trên đường đi, anh đã thu xếp cho vợ chồng ông Tư Nghệ ở lại một khu dân - nơi cư trú của những cư dân

bỏ nhà bám rừng, sống bên cạnh những chiến sĩ cách mạng Anh đã đưa được

tổ điện đài về nơi đóng quân của họ và cuối cùng anh đã quyết định ở lại chiến đấu để yểm trợ cho bác sĩ Ba Quang, ông Chín Nếp và Thu Hà thoát khỏi vòng vây của kẻ địch Một mình, chiến đấu một cách mưu trí, dũng cảm,

và anh bị thương nặng Trong cơn mê, anh mơ mình đang được về nhà, giữ lấy căn nhà mà cha mẹ trao lại cho con cháu đời sau… Nhưng anh đã vĩnh

biệt đồng đội, người thân ra đi mãi mãi Với Con đường xuyên rừng, âm vang

chiến tranh thể hiện sâu sắc trong những vấn đề thuộc về tâm thức Nỗi đau của Vinh là nỗi đau chung cho tất cả những con người sống trong chiến tranh Anh luôn mơ về một mái ấm gia đình, không bom rơi đạn lạc, không cảnh đánh đập tra khảo

Tiểu thuyết Một ngày và một đời, tác giả vẫn làm người đọc cuốn hút

không phải chỉ vì trận chiến ác liệt, sự đổ máu khủng khiếp ở đây Có gì đó bàng bạc song ám ảnh vô cùng Đội biệt động thành trong dịp tết Mậu Thân tấn công vào tòa nhà cao tầng vốn là cư xá của sĩ quan không quân Mỹ Cả đội biệt động đi vào để rồi không ai còn sống sót trở ra Hai mươi năm sau, trớ trêu thay, người chỉ huy đội biệt động tấn công vào tòa nhà lại chính là người đại diện đứng ra liên doanh với nước ngoài xây dựng một khách sạn quy mô ngay trên tòa nhà từng vùi thây đồng đội mình Giữa khi công việc đào móng đang diễn ra tốt đẹp thì bất ngờ những người thợ phát hiện những

bộ xương cốt Công trình phải dừng lại bởi phản ứng của một phóng viên, vốn

Trang 30

là con của người nữ biệt động năm xưa, bằng loạt phóng sự nhiều kì, lần theo dấu vết của đội biệt động với mong muốn tìm hiểu cặn kẽ về mẹ và nhiều đồng đội của bà Câu chuyện về đội biệt động lần lượt hiện về, đầy đủ, chi tiết

và sinh động qua cách kể của từng nhân vật Qua đó, người đọc nhận ra những số phận cụ thể Mỗi số phận là một gương soi của lịch sử Khi cuộc đời của nữ biệt động được tái hiện với những phẩm chất tốt đẹp, với tấm gương

hy sinh anh dũng quên mình vì độc lập tự do của Tổ quốc, thì cũng là lúc, bên cạnh đó xuất hiện một hình nhân thảm hại đang tồn tại trong cuộc đời một cách vô tri, xoay quanh đồng tiền, một lần nữa lại cố quên đi đồng đội cũ, như trước kia đã từng quay lưng, hèn nhát bỏ mặc đồng đội trong cơn nguy hiểm Cuối cùng, những day dứt ấy đã khiến Ba Hoàng qua đời trong cơn đột quị

Tiểu thuyết Cơn giông (in lần đầu năm 2001) rất xứng đáng với những

giải thưởng mà ông đã nhận Đây là chuyện đời một đứa trẻ mồ côi tên là Bằng Bằng bơ vơ sau khi cả gia đình bị chết trong một cơn giông Bằng được một lão già cờ bạc nhận nuôi Trải qua những năm tháng tuổi thơ vô cùng cơ cực, Bằng phải làm hết việc này tới việc khác Sau giải phóng, Bằng lấy vợ là con gái của một tay nhà giàu cũng mê cờ bạc như bố nuôi của anh Cô này trước khi về với Bằng thì bụng đã mang bầu Thời cuộc đẩy đưa, Bằng được làm giám đốc Sự giàu có và chút quyền lực làm tha hóa anh Bằng ham ăn chơi, nhậu nhẹt đàn đúm Bố vợ và bố nuôi anh thâm hụt ngân khố khiến Bằng vào tù Ra tù, vợ bỏ, anh đóng ghe về quê cất nhà ở sông Ông Trang, bắt đầu cuộc sống sông nước Anh gặp Thủy là một cô gái làm công cho bà mập Thủy thương mến anh Cô lén lấy tiền của anh để mua đất mở trại nuôi tôm (đất đứng tên anh) Thủy bị anh đánh một trận thập tử nhất sinh Anh lại vào

tù Trong tù, anh gặp Long Cụt, một tay giang hồ chuyên đâm thuê chém mướn Nhưng hắn lại là con người có tấm lòng Hắn có đứa con gái nuôi bị

mù từ nhỏ Nguyện vọng duy nhất của Long Cụt là chữa cho con gái sáng

Trang 31

mắt Hắn bị lão ròm đâm chết trong một trận cờ bạc, để lại đứa con gái mù cho Bằng Có người cựu binh Mỹ nhận tài trợ tiền mổ mắt cho đứa con gái Bằng và Thủy chăm sóc nó và coi đứa con nuôi của Long Cụt như con đẻ, cùng với đứa con của người vợ trước Thủy đưa đứa con gái lên thành phố mổ mắt Bằng ở nhà coi trại tôm, đợi Thủy và hai đứa con trở về Anh có cảm nhận mình đang thật sự là một người cha, người chồng có một gia đình hạnh phúc Những nhân vật trong tiểu thuyết của Lê Văn Thảo khiến người đọc cứ phải nghĩ ngợi thật nhiều

Cuốn tiểu thuyết gần đây của ông có tên gọi Những năm tháng nhọc

nhằn viết về giai đoạn 1958-1959, được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ ấn

hành nhân dịp ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012 Tiểu

thuyết Những năm tháng nhọc nhằn, Lê Văn Thảo cho người đọc cảm nhận

được tấm lòng và cũng là tính cách của người dân Nam Bộ: nhân hậu và giàu nghĩa khí Ông cậu chải nón nỉ và Tân được nghe ông già kể về cuộc đời của những người nghèo xứ Củ Chi với bao nhiêu cảnh ngộ Mỗi cảnh ngộ ông đều

có những cách giải quyết, giúp đỡ rất khác nhau Ông luôn mở rộng vòng tay che chở, cưu mang cho những số phận bất hạnh, bởi vì không máu mủ ruột thịt cũng là thân phận con người Một cách nghĩ đơn giản đấy nhưng chứa đựng cả chân lí cuộc sống của người dân Nam bộ

Từ Bên lở bên bồi đến Những năm tháng nhọc nhằn là một chặng

đường dài đủ để chân dung nhà văn Lê Văn Thảo được phác họa đầy đủ trong làng văn Việt Nam

Về lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa, ông đã viết được trên dưới 10

tập truyện ngắn và 1 truyện vừa Chuyện xã tôi (1980)

Bên cạnh sự thành công về tiểu thuyết và truyện ngắn, Lê Văn Thảo

còn viết ký sự Năm 1969 tập truyện và ký Ngoài mặt trận được Nhà xuất bản Văn học giải phóng phát hành Năm 1970, ký sự Từ thế cao được Nhà xuất

bản Giải phóng ấn hành

Trang 32

Nhà văn Lê Văn Thảo quả là con người đa tài, ông luôn miệt mài trên

lộ trình văn học của mình để cống hiến cho độc giả những tác phẩm văn học thực sự có giá trị

1.3.2 Về truyện ngắn của Lê Văn Thảo

Nhà văn Lê Văn Thảo sáng tác không nhiều nhưng đa dạng, từ truyện ngắn, ký đến tiểu thuyết… Nhưng nói đến ông, người ta nhắc nhiều đến truyện ngắn của ông, Lê Văn Thảo có thể được xem là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc nhất Gắn bó với nghề gần 50 năm, Lê Văn Thảo đã đem đến cho văn học Việt Nam một số lượng truyện ngắn có giá trị không nhỏ Có thể nói, những sáng tác truyện ngắn của Lê Văn Thảo luôn gắn liền với cuộc sống lao động và chiến đấu của nhân dân ta, nhất là người dân Nam

Bộ Ông đã tỉ mỉ ghi lại trong những trang văn của mình tinh thần chiến đấu không ngại gian khổ cũng như số phận của những con người từ trong chiến tranh đến cuộc sống thời bình Đó là kết quả của quá trình quan sát suốt những năm tháng sống và chiến đấu của ông Cũng như bao nhà văn đi ra từ trong chiến tranh, nghề văn của Lê Văn Thảo cũng trải qua những bước chuyển mình khá rõ rệt

Viết về hồi ức chiến tranh là mảng đề tài lớn của văn học sau ngày giải phóng Lê Văn Thảo chọn cho mình một góc nhìn riêng đầy suy tư, chiêm nghiệm Ông viết về những hồi ức ấy bằng sự trân trọng, bằng hoài niệm của con người hôm nay về một thời hào hùng của dân tộc Mỗi tác phẩm là một câu chuyện, một số phận về những người từng tham gia cuộc chiến và tình cảm đằm thắm của tình đồng chí, tình quân dân Lê Văn Thảo từng tâm sự:

“Tôi vẫn rất nặng lòng với đề tài chiến tranh vì còn nhiều lắm những gì để

viết Cuộc chiến tranh chống Pháp - Mĩ của nhân dân ta là một cuộc chiến tranh thần kỳ, để giữ độc lập, tự do, thống nhất, hòa bình đã phải hi sinh biết bao xương máu mồ hôi của nhiều thế hệ” [18, 9] Dấu ấn về chiến tranh với

Trang 33

bao hy sinh, gian khổ không dễ gì xóa nhòa đối với những người từng tham gia cuộc chiến

Truyện ngắn Lá thư dưới hầm bí mật được sáng tác năm 1979 mở đầu cho tập truyện Cửa sổ màu xanh là một câu chuyện cảm động về tình cảm của

những người trong kháng chiến Đó là ký ức đẹp về một người chiến sĩ đã hy sinh với tình đồng chí, tình yêu trong sáng, cao thượng Tình riêng được hòa chung vào nhiệm vụ cách mạng Ký ức về chiến tranh là những ký ức không

dễ gì quên Tình đồng chí, đồng đội là một thứ tình cảm đáng quý mà những người từng tham gia cuộc chiến luôn trân trọng Đó là tình cảm của Hai

Nhiều, Chín Sơn trong Họp mặt trung đoàn; Tư Thanh, Sáu Quang trong

Chiếc xe đạp; là lòng biết ơn đối với những người che chở trong chiến tranh

như Người Sài Gòn, Làng lở, Bà nội tôi, hay đó là những ký ức về cuộc

chiến ít nhiều còn xót lại trong tâm trí những người chiến sĩ năm xưa như

truyện Bức thư giữa rừng, Cây cầu, Kể chuyện nghe chơi, Câu chuyên hai

mươi năm, Họp mặt trung đoàn, Căn nhà, Bốn cô gái trong đêm giao thừa, Hai người cha, Người đàn bà khóc…

Nhớ về những ngày đã qua, Lê Văn Thảo vẫn cảm nhận được nỗi đau

mà chiến tranh để lại vẫn còn đang âm ỉ Những truyện ngắn như: Bốn cô gái

trong đêm giao thừa, Người đàn bà khóc, Cô gái đi vào cửa sau, Người Sài Gòn, Người đi tìm mộ chính mình, Người thầy qua bao năm tháng, phản ánh

những ảnh hưởng mà chiến tranh còn để lại cho con người Cuộc chiến đã đi qua xong vết thương mà nó để lại vẫn luôn âm ỉ, thường trực trong tâm trí của những người ở lại

Tháng 3 -1991, truyện ngắn Làng lở ra đời đánh dấu sự thay đổi ý thức

sáng tạo của Lê Văn Thảo Hình ảnh người lính già trở lại tìm ngôi nhà đã che giấu mình lúc khói lửa nhưng không gặp cảnh cũ người xưa, mà chỉ thấy dân làng bị đất lở mất hết chốn dung thân phải lục tục kéo nhau về miệt thứ Họ từ

Trang 34

giã xứ ầm ào nước chảy để tới chỗ đồng khô cỏ cháy với tinh thần lạc quan

“Số trời đã định, không ở được chỗ này thì đi chỗ khác Đâu cũng đất nước

mình, chẳng ai để mình chết đói đâu” [97,117] Cuộc di cư trong Làng lở

cũng chính là cuộc di cư trong văn chương Lê Văn Thảo Ông tự minh định không tiếp tục lên gân lên cốt để viết mãi về cái kỳ vĩ gánh vác, về cái oanh liệt đau đớn mà quay sang viết về những mảnh đời nho nhỏ, viết về những

kiếp mệnh long đong Từ sau Làng lở, tác phẩm Lê Văn Thảo không nhằm

thúc giục hành động hay nhằm chỉnh huấn tư duy nữa Văn chương đối với Lê Văn Thảo gần gũi hơn mà cũng sâu thẳm hơn, chỉ là những tiếng gọi lương tri

âm thầm và bền bỉ

Đã xác định được con đường riêng cho bản thân, Lê Văn Thảo không màng đến tính thời thượng hay tính xu hướng Ông huy động mọi cảm quan của mình để thao thức dõi theo những số phận lặng lẽ Lần lượt các tác phẩm

Ông cá hô, Lên núi thả mây ra đời minh chứng cho bản lĩnh viết truyện

ngắn của một nhà văn có tầm cỡ ở phương Nam Truyện ngắn Lê Văn Thảo đánh thức lòng tin yêu cuộc sống của con người khi ông phát hiện và xây dựng hình ảnh những con người lầm lũi và thanh cao Nhân vật của Lê Văn Thảo hầu hết đều cơ hàn, đều thua thiệt, nhưng họ kiên trì gìn giữ cái thiện

Họ không ngừng đối đầu với cái ác, càng bị đọa đày họ càng đẹp đẽ, càng bị

vô vọng họ càng vững chải, càng bị cay nghiệt họ càng bao dung Truyện

ngắn Tìm chồng cho má, đứa con gái nhận ra người mẹ xinh xắn ngày nào vì

chịu tang chồng nên quen bận quần áo màu đen mà trông mỗi ngày mỗi già

nua héo hắt Trong truyện ngắn Đứa con trở về là hình ảnh người cha còm cõi

bôn ba cả đời, băng rừng lội suối lần theo dấu vết đứa con hư hỏng, đến tận phút giây cuối cùng của cuộc đời vẫn không ngừng băn khoăn không biết khi bán được vườn ớt có chút tiền thì mình còn đủ sức đi thăm đứa con đang gá

nghĩa với bà góa đầu xóm không Truyện Con mèo, dựng lại nỗi day dứt của

Trang 35

người cha sau khi ném hai chú mèo con vào bóng tối, để rồi khi đứa con trai gạn hỏi bất chợt lại thấy ân hận do thái độ ruồng rẫy sinh linh xung quanh

mình Truyện ngắn Ông già biển là số phận của một con người chịu nhiều nỗi

đắng cay trong cuộc sống, Lời kể chậm rãi một cách tỉnh táo, Lê Văn Thảo truyền cho độc giả những xao xuyến khôn nguôi về lẽ phải, về tình thương, về nhân phẩm

Bên cạnh hai mảng đề tài viết về kỷ niệm chiến tranh và số phận con người trong cuộc sống, Lê Văn Thảo còn muốn khuấy động cuộc sống bằng mảng đề tài về cái lạ, cái nhạt trong cuộc sống Đó là nội dung của những

truyện ngắn như: Diễn viên đóng thế, Thằng Cung, Người viết thư thuê, Anh cà

khêu ghé qua làng, Lên núi thả mây, Kể chuyện nghe chơi, Chuyến bay kinh hoàng, Các nhân vật được miêu tả một cách nhẹ nhàng, thong dong nhưng

bên trong cái bình dị, nhạt nhẽo ấy là một cái nhìn đau đáu về hiện thực

Đề tài mà Lê Văn Thảo thể hiện trong hầu hết tác phẩm của mình không phải là những đề tài lớn lao, trừu tượng, những vấn đề mang tầm vóc

xã hội… mà thường là những đề tài rất đời thường, những câu chuyện rất gần gũi, bình dị Truyện ngắn Lê Văn Thảo viết trong nhiều thời kỳ với hai đề tài

chính: đề tài chiến tranh như Đứa con, Đồng chí, Kỷ niệm của người chiến sĩ,

Họp mặt trung đoàn, Hai người lính, Đi thăm chồng… hay những truyện viết

về con người và quê hương Nam Bộ như Làng lở, Hai người cha, Ông già

biển, Ông cá hô, Thằng Cung, Người Sài Gòn, Tám Chân Voi - người bắt rắn… Bên cạnh đó, ông còn khai thác thêm về đề tài cái lạ, cái nhạt trong

cuộc sống, tiêu biểu có các truyện Diễn viên đóng thế, Thằng Cung, Người

viết thư thuê, Anh cà khêu ghé qua làng, Lên núi thả mây, Kể chuyện nghe chơi, Chuyến bay kinh hoàng

Nhìn chung, truyện ngắn Lê Văn Thảo khá đa dạng và phong phú Bằng giọng văn chậm rãi pha chút nhẹ nhàng dung dị, Lê Văn Thảo mang

Trang 36

đến cho người đọc những cái nhìn nhiều chiều hơn về cuộc sống Sự phức tạp, bồn bề của cuộc sống đa thanh được nhà văn ghi lại một cách tỉ mỉ qua những câu chuyện đời, những ký ức đã qua nhưng mang đậm tinh thần nhân văn cao cả

Có thể nói, truyện ngắn là thể loại rất quen thuộc trong văn học cũng như đối với bạn đọc, nhất là trong cuộc sống bộn bề ngày nay Nó là thể loại chiếm ưu thế trong việc phản ánh cuộc sống nhiều chiều bởi nó chỉ ghi lại những sự kiện, những khoảnh khắc tâm đắc trong cuộc sống Bằng việc lựa chọn thể loại tự sự này, Lê Văn Thảo đã vẻ nên một bức tranh xã hội đa chiều bằng nhiều mảnh ghép rất khác nhau Những dấu ấn của hiện thực từ trong chiến tranh sang thời bình đều được ông ghi nhận lại bằng những câu chuyện thật cảm động

Trang 37

Chương 2 CHỦ ĐỀ VÀ NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN LÊ VĂN THẢO

2.1 Những chủ đề nổi bật trong truyện ngắn Lê Văn Thảo

2.1.1 Chủ đề đời sống và con người Nam Bộ

Tác phẩm nghệ thuật là đứa con tinh thần của người nghệ sĩ và mỗi nhà thơ, nhà văn khi sáng tạo ra tác phẩm đều xuất phát từ một nguồn cảm xúc nhất định Đó là những trăn trở, dằn vặt, những rung động mãnh liệt của tác giả trước cuộc sống Có lẽ, đối với Lê Văn Thảo, tình yêu đối với quê hương Nam Bộ, những trăn trở về số phận và đời sống tình cảm của con người Nam

Bộ là nguồn cảm hứng để xây dựng lên chủ đề chính trong sáng tác của ông

Đời sống và con người Nam Bộ đã là đề tài chung của rất nhiều văn nghệ sĩ, chúng ta đã biết đến Sơn Nam - nhà Nam Bộ học, Trang Thế Hy -

người được Nguyên Ngọc mệnh danh là “người hiền của văn học Nam Bộ”,

rồi Nguyễn Quang Sáng, Bình Nguyên Lộc và bây giờ có Lê Văn Thảo -

“nhà văn của xứ sở Nam Bộ” (theo cách nói của Lê Tiến Dũng), “người nói

thơ bằng văn xuôi Nam Bộ” (theo cách nói của Hoài Anh)

Tình đất, tình người Nam Bộ đi vào trang văn của ông một cách tự nhiên mà cũng rất sống động Có thể nói, bất kỳ một sáng tác nào của ông cũng đều nói về vùng đất Nam Bộ Qua những trang viết của ông, vùng đất Nam Bộ lam lũ, gian lao được dựng lại Lê Văn Thảo đem đến cho văn học những hình dung về một vùng đất kỳ vĩ, chất chứa biết bao câu chuyện hấp dẫn đối với người đọc Ông đã khéo léo khai thác mảng đề tài lịch sử mở đất của người dân Nam Bộ Chúng ta không khỏi ngỡ ngàng trước câu chuyện

của người nông dân móc cây tràm lụ trong Đêm tháp mười: “Cha tôi thì đi

lặn móc cây tràm lụ về cắt nhà Cha xom trúng cây tràm lụ này, nó sâu tới

Trang 38

mấy thướt nước, mấy thướt đất Cha lặn đến nửa buổi lỗ tai rỉ máu, mình mẩy lạnh tím, đói muốn xỉu đi Một lần cha lỡ lặn sâu quá, đến chừng trồi lên được thì xỉu đi Trước khi xỉu cha còn kịp nằm lại ngay ngắn, cha muốn

có chết thì cũng phải chết cho thẳng thớm, đàng hoàng” Hay hình ảnh của

những con người đã đổ bao mồ hôi trên mảnh đất thân yêu này: “ Ruộng

ấp An Hòa này nhầm chỗ đất trũng, phải be bờ đắp đập suốt năm, rồi phải cuốc trở, cuốc sấp năm lần bảy lượt cho chết cỏ mới gieo mới cấy được”

Lần theo từng câu chuyện, Lê Văn Thảo đưa người đọc trở về với những ngày đầu mở đất và ông cũng không quên ghi lại tâm lý của những con người cần mẫn này

Lần theo truyện ngắn Mở đất là hành trình tìm về lịch sử khai phá đất

của dân tộc ta Hình ảnh người đàn ông vạm vỡ hì hục khuân từng cục đất đen nhánh là hình ảnh ông cha ta trong những ngày đầu mở cõi xuống vùng đất hoang sơ này Tấm bản đồ khai hoang dần được mở rộng như chính sự sống đang dần sinh sôi nơi vùng đất mới Có thể nói trong từng tác phẩm của Lê Văn Thảo, dấu ấn về vùng đất phương Nam đều hiện lên rất rõ Cái âm thanh

đất lở ầm ầm trong Đứa con trở về, Làng lở không khỏi làm cho ta giật mình, kinh hãi Theo bước chân của người cha trong Đứa con trở về, hình ảnh làng

xóm, con người Nam Bộ hiện lên như nhắc nhở ta về một vùng đất còn nhiều

lắm những điều để nói Đôi chân anh cà khêu trong Anh cà khêu ghé qua làng

đi qua bao làng, bao xóm, hình ảnh những người dân chân chất hiện lên thật chân thật Sự khuấy động của anh cà khêu như một luồng gió mới thổi vào cái

âm u, buồn tẻ của những ngôi làng vốn trầm tư như chính kiếp người xa xứ mang nỗi niềm đồng vọng

Viết về Nam Bộ, Lê Văn Thảo không chỉ mang dáng đất, dáng người vào trong văn học mà ông còn mang cả ngôn ngữ thuần phác Nam Bộ vào trong những câu chuyện về người, về đất Nói về điều này, Triệu Xuân đã

Trang 39

nhận xét: “Ngôn ngữ thì đặc chất Nam bộ, không cầu kỳ, không khoe mẽ,

không hề làm dáng văn chương chữ nghĩa” [61, 8] Từ ngôn ngữ trần thuật

đến ngôn ngữ của nhân vật trong hầu hết các truyện ngắn của Lê Văn Thảo đều toát lên tính chân thật, mộc mạc Bằng ngôn ngữ mộc mạc, giản dị đó, Lê Văn Thảo đã rất thành công trong việc khắc họa tính cách con người Nam Bộ

bộc trực, thẳng thắn như trong truyện Hai người cha, Ông cá hô Bằng chất

giọng thuần phác Nam Bộ, Lê Văn Thảo đã mang đến cho truyện ngắn nói riêng, cho văn học nói chung một giọng điệu mới, vừa giản dị chân thành, vừa biểu cảm sâu sắc Viết tự nhiên như không cũng là một phong cách mà theo

Anh Đức, đó là thế mạnh của nhà văn Lê Văn Thảo: “Ông viết thong dong, tự

nhiên, hồn nhiên, không gò gẫm Nhiều khi đọc truyện của Lê Văn Thảo, Phạm Trung Khâu, Dương Minh Tâm, Nguyễn Linh, dường như họ không quan tâm mấy tới kỹ thuật, kỹ xảo Đó là mặt mạnh, một mặt mạnh mà có khi chính họ không biết” [5]

Lê Văn Thảo viết bằng chất giọng đặc Nam bộ, không cầu kỳ, trau chuốt Câu văn gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân Tình tiết truyện chân thật, mộc mạc và phóng khoáng Thế giới nhân vật trong văn của ông là thế giới đời thường của những con người lao động nghèo khổ, cơ cực nhưng chân chất, hiền lành và nghị lực Hình ảnh cuộc sống hiện lên trong những trang văn tuy mộc mạc mà giàu cảm xúc Qua mỗi tác phẩm, nhà văn đã dành trọn tình cảm trân trọng yêu thương người dân Nam Bộ Ông coi họ như một phần máu thịt của mình Số đông nhân vật thường là những con người bé nhỏ,

bị hắt hủi, gặp nhiều bất hạnh ở đời Đề tài nhà văn hay khai thác bao giờ cũng là cái tâm, cái thiện ẩn náu phía trong mỗi con người không may mắn Đặc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân yêu nước, tác giả đã dựng nên chân dung những người vừa bình thường, giản dị nhưng có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mĩ cứu nước

Trang 40

2.1.2 Chủ đề chiến tranh chống Mỹ

Điều đầu tiên khi đến với truyện ngắn Lê Văn Thảo, người đọc không thể không nhận thấy niềm ưu ái mà ông dành cho đề tài chiến tranh cách

mạng Chính nhà văn cũng tâm sự “Tôi rất nặng lòng với đề tài chiến tranh

vì còn nhiều lắm những gì để viết” [18, 9] Những trang viết về chiến tranh

của ông ghi dấu hiện thực đời sống kháng chiến chống Mỹ của đồng bào Nam Bộ với những trang văn đầy hào khí đến những thâm trầm trong hồi ức

về chiến tranh

Đọc truyện ngắn của Lê Văn Thảo trước 1975, điều làm ta ngạc nhiên

là bom đạn của chiến tranh dù có tàn khốc đến đâu cũng không thể dập tắt được niềm tin tưởng vào chiến thắng cùng tinh thần lạc quan của những con người trong chiến đấu Chúng ta bắt gặp ở họ là chủ nghĩa anh hùng cách mạng và nghĩa tình thấm thiết giữa những người đồng chí, đồng đội bền vai

sát cánh trong làn bom mũi đạn Trận chiến đấu trong rừng mù u (1966), Đôi

bạn (1967), Đường tiến quân (1968), Đêm tháp mười (1969), Chuyện bên bờ sông Vàm cỏ (1970), Đồng chí (1970), Chuyện một cô thanh niên xung phong

(1971), Người tù số 92 (1971), Lúa (1971), Đi thăm chồng (1971), Hai người

lính (1972), Đứa con (1972), Kỷ niệm của người chiến sĩ (1973), là những

truyện ngắn tiêu biểu của Lê Văn Thảo thể hiện sinh động điều đó Tác giả đã cùng sống, cùng chiến đấu với những người lính, những cô thanh niên xung phong, những người chiến sĩ du kích kiên gan bền chí

Hiện thực khắc nghiệt của chiến tranh hiện lên qua những câu chuyện

kể, những mảnh đời nhỏ nhoi dưới bom đạn Chiến tranh làm cho cha con

chia cắt thành hai trận tuyến (trong truyện Đứa con), chiến tranh làm cho tuổi thơ gian khổ (trong truyện Đêm tháp mười), chiến tranh làm cho xóm làng tan nát, cha xa con, vợ xa chồng (trong truyện Chuyện bên bờ sông vàm cỏ,

Người tù số 92, Đi thăm chồng, Kỷ niệm của người chiến sĩ),

Ngày đăng: 27/08/2021, 09:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w