Cũng là những nhận định được ghi lại từ những truyện ngắn của Đoàn Lê, nhưng bài viết Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa của tác giả Đông Dương theo http://Vietbao.com đã chỉ ra nh
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
nguyễn thị lộc
đặc sắc truyện ngắn đoàn lê
luận văn thạc sĩ ngữ văn
Vinh - 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Truyện ngắn là thể loại có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trong văn học Việt Nam, nó đã có cả một quá trình hình thành từ thế kỷ XVI
(với sự xuất hiện của Truyền kỳ mạn lục - Nguyễn Dữ), phát triển lên đến đỉnh
cao trong những năm 1930 - 1945 với tên tuổi của Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân… Từ sau 1975 đến nay, cùng với sự đổi mới toàn diện của văn học dân tộc, thể loại truyện ngắn có những bước phát triển mới, hết sức mạnh mẽ Truyện ngắn của các tác giả nữ sau 1975 xuất hiện trên văn đàn với khối lượng lớn, các nữ văn sĩ, từ đó đã xác lập được cho mình một vị thế quan trọng, thể hiện rất rõ cái riêng của mình
1.2 Những truyện ngắn mang dấu ấn đặc trưng riêng của người phụ nữ đất Cảng Đoàn Lê là một trong những mắt xích không thể thiếu trong nền truyện ngắn Việt Nam đương đại Tên tuổi nhà văn Đoàn Lê dù không ồn ào, gây “sốc” như một số tác giả trẻ nhưng đọc những tác phẩm của bà chúng ta
dễ ấn tượng với con người, cuộc sống với cảm hứng và cách viết của bà Sự thông minh, sắc sảo thể hiện trong giọng văn hài hước, hóm hỉnh cùng với sự xuất hiện các yếu tố giả tưởng để lại trong người đọc những ấn tượng không thể quên Chính bởi thế, sáng tác của bà đã có sự hưởng ứng vượt ra ngoài
phạm vi quốc gia: cuốn Trinh tiết xóm Chùa đã được dịch ra tiếng Anh và in
ở Mỹ Bà là chủ nhân của những giải thưởng lớn: tiểu thuyết Cuốn gia phả để
lại được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải A (1990), tập truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa được giải Nhì Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật toàn quốc
(2005)
1.3 Văn học sau 1975 đã được đưa vào dạy học trong chương trình phổ thông (tác phẩm của nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Minh
Trang 4Khuê…) Là một giáo viên phổ thông, việc đi sâu tìm hiểu truyện ngắn Đoàn
Lê trong dòng chảy văn học đương đại sau 1975 phần nào giúp chúng ta hiểu sâu rộng hơn về hiện trạng văn học và xu thế phát triển của nó, đồng thời tìm
ra một cách tiếp cận phù hợp với văn học thời kỳ này, đặc biệt là bộ phận truyện ngắn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
“Không biết gọi Đoàn Lê là nhà gì cho đúng” (Hồ Anh Thái), bà được
mọi người biết đến là một người “đa mang” với tư cách là một nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn, diễn viên, thiết kế mĩ thuật, và hoạ sĩ Ở lĩnh vực nào người phụ nữ đa tài này cũng gặt hái được nhiều thành công Chính bởi thế,
có không ít những bài viết về bà, và dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đã đề cập tới tài năng nhiều mặt của Đoàn Lê
Trong quá trình tìm hiểu sơ bộ về nữ văn sĩ này, đến nay, chúng tôi thu thập được một số bài viết ngắn dưới hình thức là các bài báo ngắn giới thiệu
về Đoàn Lê và tác phẩm của bà Chúng tôi tạm chia thành hai nhóm bài: nhóm bài có tính chất giới thiệu khái quát về Đoàn Lê; và nhóm bài giới thiệu, nhận xét về một số tác phẩm thuộc lĩnh vực văn chương của bà Dưới đây, chúng tôi xin lược thuật lại hai nhóm bài viết từ những ý kiến có tính chất tiêu biểu khi nói về Đoàn Lê
Nhóm bài thứ nhất giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể để nhận diện bức chân dung và tất cả sự nghiệp của Đoàn Lê qua bài viết của Nguyễn Hồng
Lĩnh với nhan đề Nhà văn Đoàn Lê: Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan trên trang http://Vietbao.com.vn Nó đã chỉ ra cho chúng ta thấy cuộc đời và
tài năng nhiều mặt của Đoàn Lê: “dựng được bức chân dung thơ từ nguyên mẫu một nhà văn, nhà biên kịch, đạo diễn điện ảnh” [30] Cũng từ bài viết này, sự nghiệp của bà được nói tới một cách cụ thể Từ thơ đến các “ham muốn nghệ thuật khác”, trợ lý thiết kế mĩ thuật cho hãng phim truyện Việt
Trang 5Nam, diễn viên, biên kịch - “một người của điện ảnh”, “một hoạ sĩ tung hoành cây cọ trên giá vẽ”, một nhà văn của những tác phẩm có chỗ đứng trong làng
văn: Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần, Trinh tiết xóm Chùa, Nghĩa địa
xóm Chùa…, và gần đây là Tiền định, …và sex Tác giả đi đến khẳng định:
“nghiệp viết văn của chị Đoàn Lê là có duyên nhất và gặt hái được nhiều mùa vui nhất” [30]
Bài viết Nữ sĩ Đoàn Lê - trời vẫn không nín gió trên http://Vietnam.net
đã lược thuật đầy đủ cuộc đời Đoàn Lê từ lúc bà chọn thi vào lớp diễn viên điện ảnh khoá đầu cho đến nay lúc đã về hưu trở lại mảnh đất mình đã sinh ra Tác giả tỏ ra tinh tế khi nói rằng: “…với những người thuộc giới văn nghệ sĩ như chị, lại đủ các yếu tố của tài tử giai nhân (…) thì rõ ràng đời sống nội tâm của chị hẳn nhiên sẽ phong phú và ăm ắp những sáng tạo dư đủ để chị cảm thấy cuộc sống luôn luôn tươi mới và khác lạ” [9]
Cũng trên các trang web, một loạt các bài viết ghi lại những hoạt động chính và điểm lại nhưng nét đặc sắc, thành công trên “lãnh địa hội hoạ” của nữ
sĩ: Bất ngờ năm nhà văn vẽ, Nhà văn cấm cọ: lấn sân mà không lép vế, Khi
nhà văn kể chuyện cuộc sống bằng tranh Tôi còn vẽ nude nữa, Góc nhỏ Đoàn
Lê và những mảng máu tự sự (http://Vietbao.com), Đoàn Lê ẩn dật cô đơn bên giá vẽ (catbien.vnweblogs.com), Đoàn Lê dành nhiều tâm huyết cho nghề viết
và hội hoạ (theo Netnam), Nữ sĩ Đoàn Lê - Tôi mải đi tìm những đường cong đẹp (http://nguoicaotuoi.org.vn) Ở những bài viết này, các tác giả chỉ đề cập
tới Đoàn Lê với tư cách là một nhà văn cầm cọ vẽ Lãnh địa hội hoạ với những bức vẽ được đánh giá là những bức hoạ “giàu chất nữ tính, dịu dàng và tinh tế”, nhà văn đã “kể chuyện cuộc sống bằng hình ảnh và màu sắc, đằng sau là một
nụ cười tinh nghịch, hóm hỉnh” [11] Cái tôi nhà văn - hoạ sĩ với những quan niệm, cách nhìn cuộc sống có mối quan hệ với nhau, do đó những bài viết nay cũng là nguồn tư liệu quý giá để chúng tôi thực hiện đề tài này
Trang 6Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng, chính bản thân Đoàn Lê đã thừa nhận “nghề văn là nghề chính”, hơn nữa, đề tài này chủ yếu trực tiếp nói tới
bộ phận truyện ngắn của bà; bởi vậy chúng tôi đặc biệt lưu ý đến các bài viết thuộc nhóm 2 - nhóm bài viết trực tiếp nhận xét về sự nghiệp văn chương, về truyện ngắn của Đoàn Lê
Trong bài viết Đọc truyện bật khóc bật cười (Bonnie) trên tờ Word
literature do Ngân Xuyên dịch là những lời nhận xét cho những tác phẩm
trong tập truyện ngắn Nghĩa địa xóm Chùa Người viết thực sự ấn tượng với
những nhân vật là những bóng ma ở nghĩa địa với giọng văn độc đáo trong tác
phẩm cùng tên tập truyện, cảm động với câu chuyện của Người đẹp xóm
Chùa, thích thú với cảch Lên Ruồi có tính chất Kafka của một diễn viên nhào
lộn Ta nhận ra cái gọi là “chất” Đoàn Lê là ở đó Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận sự xuất hiện của những câu chuyện có tính phổ biến xảy
ra ở bất kỳ đâu, những truyện “phản ánh sự suy sụp của các giá trị truyền thống trước sự tham lam, hám lợi, quan liêu, đua đòi, sự áp bức giai cấp và tình dục, sự tham nhũng và vi phạm nhân quyền” [64] Từ đó, người viết khẳng định rằng tác phẩm của Đoàn Lê “văn phong tinh tế, linh hoạt, nó không chỉ là lựa chọn tốt cho văn học so sánh và văn học châu Á, mà còn cho các lớp học viết văn, rất cần cho mọi thư viện công cộng và trường đại học” Bài viết cũng đã nhìn thấy tận cùng tính chất phúng dụ, châm biếm, huyễn tưởng của những truyện ngắn “như những viên đá quý” này [64]
Nhất Việt trong bài Một cái nhìn văn hoá Việt Nam sau đổi mới khi giới thiệu tập truyện Đoàn Lê mang tên The Cemetery of Chua villag (Nghĩa địa
xóm Chùa) được dịch ra tiếng Anh do nhà xuất bản Curbstore Press (Mỹ) ấn
hành đã ghi lại hai lời bình luận, đánh giá của các tạp chí nuớc ngoài về truyện ngắn Đoàn Lê: “Thảng hoặc Đoàn Lê có xu hướng ẩn dụ kiểu Kafka như trong
Lên ruồi; ở chỗ khác những truyện ngắn đạt tới giọng điệu riêng tư thấm thía
Trang 7như Giường đôi xóm Chùa Đây là những truyện đặc sắc” [63] (Tạp chí Kirkus
Reviews) Và “Đoàn Lê được ghi nhận ở phong cách đa dạng và sức sáng tạo
tươi mới Với giới học giả Mỹ, những truyện ngắn này cho một cái nhìn vào bên trong văn hoá Việt Nam sau đổi mới Với người đọc nói chung, đây là những tác phẩm bao quát và đầy nhân văn, (…) đó là những tác phẩm về quyền con người, khảo sát tất cả những bí ấn tinh tế của lòng người” [63] Cũng là những nhận định được ghi lại từ những truyện ngắn của Đoàn Lê, nhưng bài
viết Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa của tác giả Đông Dương (theo
http://Vietbao.com) đã chỉ ra những ấn tượng cụ thể hơn: “độc đáo hơn, các
nhân vật trong truyện (…) như là nguyên bản của người thật việc thật, đều xuất phát từ không gian sống, sự quan sát thực tế của nhà văn Đó là chuyện hiện thực cho đến chuyện huyền ảo rất thu hút Tuy là truyện xóm Chùa nhưng Đoàn Lê tìm tòi sử dụng rất nhiều kĩ thuật viết và chính thế mạnh này lôi cuốn người đọc” [9] Đồng thời tác giả có nêu ra cảm xúc nhưng cũng là lời đánh giá cao của nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú khi nói về nghệ thuật huyền ảo của Đoàn Lê: “Hay Đoàn Lê có mầm bệnh trong người? Chỉ có người âm mới dám viết những chuyện khủng khiếp như vậy” [9]
Đặc biệt, trong nhóm bài viết này, chúng tôi để ý nhiều đến những bài viết của nhà văn Hồ Anh Thái - một nhà văn dường như có cả một quá trình dài dõi theo những sáng tác của Đoàn Lê Ông có số lượng bài viết về Đoàn
Lê nhiều hơn cả Trong Người đàn bà đa đoan (http://tuoitre.com) ông đã
khẳng định: “Rốt cục, văn xuôi mới là sở trường của người đàn bà phố Cảng Khi là nhà văn, văn xuôi mới đúng là chị, đúng nhất… Một giọng văn được nhớ, nền nhã, dung dị bao giờ cũng kèm theo chất hài hước ngấm ngầm” [52]
Khi đi sâu vào nhận xét kỹ hơn vào một số tác phẩm, Đoàn Lê - chị tôi (Hồ Anh Thái) nhận thấy rằng ở Giường đôi xóm Chùa có sự “xót xa thấm thía, sự
hợp tan của một tổ ấm thường ở bên ngoài ý chí của con người, có khi nó là
Trang 8bất khả tri”; ở Người đẹp xóm Chùa, ông lại phát hiện ra rằng “hiện tại chỉ
trong thoáng chốc được đẩy về thành quá khứ, khoảnh khắc hiện tồn bất chợt nhuộm màu trải nghiệm của cái đẹp đi qua thời gian trong mối tương tác với
thời gian”, còn ở Mẹ và con và thánh thần, chị giãi bày không né tránh”, “chị
tự mổ xẻ theo kiểu không gây mê” Hồ Anh Thái đã rất chú ý đến nghệ thuật
sử dụng việc sử dụng yếu tố kỳ ảo của nữ văn sĩ này Ông cho rằng yếu tố kỳ
ảo của Đoàn Lê trong những truyện kỳ ảo nhất được sử dụng, “cái thực vẫn lẫn với cái ảo chỉ làm lạ hoá, chỉ thay đổi một góc nhìn hiện thực chứ không phải là yếu tố xoay chuyển và quyết định hiện thực nghệ thuật” Khi giới
thiệu về truyện ngắn Chờ nhật thực, ông có nói: “Từ hiện tượng nhật thực…,
nhà văn đã xâu chuỗi một câu chuyện tình qua nhiều kiếp, ở hai phương trời khác nhau (…) yếu tố huyền ảo được sử dụng nhằm tôn lên những nét hiện thực và lịch sử” [51] Sự xuất hiện của yếu tố huyền ảo trở thành một đặc sắc nghệ thuật trong lối viết của Đoàn Lê không chỉ trong truyện ngắn mà còn
trong tiểu thuyết Khi giới thiệu cuốn tiểu thuyết Tiền định, Anh Thái viết:
“Một câu chuyện thật được gia giảm bằng những chi tiết, những tình huống
hư cấu thú vị… Những chi tiết tâm linh khiến người ta ngờ ngợ, rồi yếu tố huyền ảo đưa vào khiến người ta bất ngờ” Và chính yếu tố huyền ảo này
“làm cho không khí hiện thực trở nên đa diện và hấp dẫn hơn” [53] Không xuất hiện trực tiếp trong các bài viết của mình, nhưng những ý kiến nhận xét xác đáng của Hồ Anh Thái về truyện ngắn Đoàn Lê cũng được ghi lại trong các bài viết của những tác giả khác, tất cả đều là những nhận xét có giá trị:
“Ngồi ở xóm núi, nhà văn viết truyện làng chài lại thoáng cái làng Lủ ở Hà Nội vẫn trở về trong ký ức, rồi trí tưởng tượng đưa đi xa hơn, đến cả những thế giới khác lạ trong những thiên truyện mang màu sắc kỳ ảo Giọng văn nền
nã thỉnh thoảng lại loé lên chút hài hước hóm hỉnh, có khi mạnh bạo không né tránh, khi chạm đến những đề tài cập thời Cũng có khi trầm lắng, xót xa
Trang 9Đoàn Lê khéo lấy được sự chia sẻ của người đọc rồi dần dần sự đồng cảm dẫn người ta hoà nhập vào thế giới tưởng tưọng của nhà văn từ lúc nào không biết” [4]; hay “lối viết của Đoàn Lê như một người đi giữa trung đạo, giữa một bên là văn chương truyền thống và một bên là văn chương cách tân Có thể vì vậy mà tác phẩm của Đoàn Lê khó rơi vào một sự lỗi mốt, cũng không thời thượng mà khá dễ thưởng thức với độc giả các lứa tuổi…” [19] Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hiền - một người bạn của nhà văn, cũng có tới hai
bài viết về bà Ở Đoàn Lê - những cung bậc cuộc đời đã đưa ra những nhận
định không thể phủ nhận: “…Có lẽ nếm trải cuộc đời với đầy đủ những cung bậc buồn vui, những hạnh phúc và bất hạnh đã qua của người đàn bà đa đoan này đã làm nên những trang viết mang màu sắc Đoàn Lê” [14] Và thực sự là như thế, “không phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm gan ruột của chi, chị đã
có chỗ đứng thật đẹp trong trái tim người đọc” [14] Ở bài viết khác, Đoàn
Lê - xóm núi Đồ Sơn, tác giả viết: “Những truyện ngắn Giường đôi xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa… chính là khả năng quan sát và thể hiện thực tế
đời sống rất nhạy cảm của Đoàn Lê Cách viết dung dị, những nhận xét hóm hỉnh và sâu sắc về nhân tình thế thái, về ấm lạnh cuộc đời của chị tựa như một nụ cười khoan dung và độ lượng đã tìm được sự đồng cảm của nhiều tầng lớp độc giả trong và ngoài nước” [15]
Chưa dừng lại ở đó, khi tập truyện ngắn… và Sex ra đời cũng có những bài viết giới thiệu, trong đó có Và sex… biến cái chân lý thành nghệ thuật, tác giả bài viết có nhận xét rằng: “Yếu tố sex được xử lý một cách có nghệ thuật
có thể đem lại mĩ cảm thực sự cho người đọc” [62] Ở bài Nhà văn Đoàn Lê
tiếp tục ra sách Sex có trích dẫn ý kiến của nhà thơ Dương Tường như sau:
“Đọc Đoàn Lê, cái đọng lại là một dư vị ngấm nghía đến làm ta mất ngủ Sự chân thật của nhà văn là phép màu biến cái riêng trở thành cái chân lý phổ quát để người đọc có thể soi mình vào đó” [4]
Trang 10Trên đây là một số những bài viết về nhà văn Đoàn Lê Về cơ bản, các bài viết, các ý kiến nêu trên đều đánh giá cao Đoàn Lê Tuy vậy, đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn chỉnh về thế giới nghệ thuật truyện ngắn của nữ tác giả này Các bài viết còn lẻ tẻ nhưng là những gợi ý quý báu cho việc nghiên cứu và triển khai luận văn của chúng tôi.
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là: Đặc sắc truyện ngắn Đoàn Lê
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để tìm hiểu những đặc sắc trong truyện ngắn Đoàn Lê, luận văn đề ra nhiệm vụ:
- Tìm hiểu khái quát về Đoàn Lê và truyện ngắn Đoàn Lê trong bối cảnh của truyện ngắn đương đại
- Tìm hiểu bức tranh hiện thực đời sống trong truyện ngắn Đoàn Lê
- Tìm hiểu một số phương diện nghệ thuật: nghệ thuật xây dựng tình huống truyện, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật, nghệ thuật sử dụng các chi tiết hài hước… trong truyện ngắn của Đoàn Lê
4 Phạm vi văn bản khảo sát
Luận văn tập trung vào việc khảo sát bốn tập truyện ngắn của bà, đó là:
Nghĩa địa xóm Chùa, Người khách đêm giao thừa, Trinh tiết xóm Chùa, …và Sex Bên cạnh đó, luận văn còn tham khảo, đối chiếu cả những tác phẩm tiểu
thuyết của tác giả này, như: Cuốn gia phả để lại, Tiền định.
Ngoài ra, để làm nổi bật đặc sắc truyện ngắn của Đoàn Lê, luận văn còn so sánh truyện ngắn của bà với một số truyện ngắn của các tác giả nữ khác
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để phục vụ cho những nhiệm vụ nêu trên, luận văn này có kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Phương pháp phân tích - tổng hợp
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp thống kê - phân loại
6 Đóng góp của luận văn
Đây là công trình tập trung tìm hiểu, nghiên cứu một cách toàn diện những đặc sắc trong truyện ngắn Đoàn Lê trên một số biểu hiện nội dung và nghệ thuật, từ đó, nó giúp chúng ta nhận diện được diện mạo riêng của nữ văn
sĩ này cũng như những thành tựu bà đã đạt được ở bộ phận truyện ngắn
Đồng thời, kết quả của đề tài này chúng tôi hy vọng phần nào minh chứng được sự phong phú, đa dạng của bức tranh truyện ngắn đương đại từ cái nhìn của một “mắt xích” truyện ngắn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết Luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được triển khai trong ba chương:
Chương 1 Truyện ngắn Đoàn Lê trong bối cảnh truyện ngắn Việt Nam sau 1975
Chương 2 Bức tranh hiện thực đời sống trong truyện ngắn Đoàn Lê Chương 3 Những đặc sắc nghệ thuật nổi bật trong truyện ngắn Đoàn Lê
Trang 12Chương 1 TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ TRONG BỐI CẢNH TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975
1.1.1 Khái niệm và ưu thế truyện ngắn
Truyện ngắn là một bộ phận góp phần làm nên diện mạo của văn học Trong một nền văn học lớn và phát triển, truyện ngắn có một vị trí xứng đáng
Nó trở thành một “hiện tượng của toàn thế giới” [37, 8]
Trên trường quốc tế, truyện ngắn gắn với tên tuổi của Sêkhôp, Môpatxăng, O Henri, Hêminguây, Lỗ Tấn… Ở Việt Nam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Khải… cũng là những tài năng gặt hái nhiều thành tựu trong lĩnh vực thể tài truyện ngắn Bàn về truyện ngắn, các nhà phê bình nghiên cứu và cả những người viết truyện ngắn đã đưa khái niệm truyện ngắn khác nhau dưới những góc độ khác nhau Pautốpxki xem truyện ngắn như là một trường hợp (tình huống), Nguyễn Công Hoan nhìn truyện ngắn từ góc độ chi tiết, còn Nguyên Ngọc đặt truyện ngắn qua cái nhìn so sánh, đối chiếu với tiểu thuyết Có thể thấy, “bàn về truyện ngắn là cả một câu chuyện dài” (Nguyễn Kiên)
Thuật ngữ “truyện ngắn” còn gọi là “nouvelle” (Pháp), “short story”
(Anh), “đoản thiên tiểu thuyết” (Trung Quốc) Công trình 150 thuật ngữ văn
học do Lại Nguyên Ân biên soạn có viết: “Truyện ngắn là thể tài tự sự cỡ
nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với việc người tiếp nhận (độc giả) đọc
nó liền một mạch không nghỉ” [3, 345] Đặc điểm về dung lượng của truyện ngắn đã được chú ý nhiều Tuy nhiên, đó cũng là nét chung của nhiều truyện
kể dân gian như truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cuời…
Trang 13Nhóm tác giả cuốn Lý luận văn học do Phương Lựu chủ biên đã cho rằng: “truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn” mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại… Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sống đương thời Nội dung của thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thi… Truyện ngắn có thể kể
về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay môt “chốc lát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phảỉ ở hệ thống
sự kiện mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời” [33, 397] Các tác giả cũng chỉ
ra rằng: “Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết và truyện ngắn là: nếu nhân vật trong tiểu thuyết thế là một thế giới, thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới, thường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội,
ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người” [33, 397] Trong truyện ngắn, cốt truyện thường diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế; kết cấu thường đơn giản, không chia thành nhiều tuyến phức tạp; nhân vật ít, ít các sự kiện chồng chéo Truyện ngắn là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, nắm bắt cuộc sống theo cách riêng mang tính chất thể loại
Từ điển văn học (bộ mới) đã xác định: “Truyện ngắn là “hình thức tự
sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa và truyện dài, vốn là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong tình toàn vẹn của nó Truyện ngắn nhằm khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một đặc tính trong quan hệ con người hay thể hiện đời sống con người” [16, 1847]
Truyện ngắn có nhiều ưu thế Với những đặc điểm thể tài riêng biệt, với
“một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại” [32, 31] truyện ngắn chỉ thực sự phát triển ở các nền văn học hiện đại, gắn với sự xuất hiện và phát triển của báo chí Truyện ngắn thực sự là hình thức thể loại phù hợp của thời đại Biêlinxki đã từng nói: “Nếu có những tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức
Trang 14của thời đại” Quả thực là thế, truyện ngắn thực sự trở thành hình thức của thời đại hiện đại Ở mọi quốc gia, sự hiện diện của “thể tài tự sự cỡ nhỏ” này
đã chứng tỏ được sự hình thành của nền văn học Truyện ngắn thu hút sự quan tâm không những của người sáng tác, người đọc, mà còn cả những người nghiên cứu
Truyện ngắn là thể tài theo kịp với những biến đổi của đời sống Cuộc sống vốn đa dạng, phong phú, nay trong quá trình tiếp biến, phát triển nó càng trở nên phức tạp hơn Cuộc sống mới với những con người mới bộc lộ nhiều diện mạo, nhiều sắc màu lẫn lộn, xuất hiện nhiều giá trị, có những giá trị đáng ghi nhận nhưng cũng không ít giá trị khiến người ta phải xem xét, trăn trở Từ
đó, các nhà văn cũng tìm thấy cho sáng tác của mình những “điểm rơi”, những vấn đề cập nhật Trước thực trạng ấy, trong các thể loại văn học, người
ta nhận thấy “truyện ngắn của ta phản ánh cuộc sống với những con người mới một cách khá chân thật và sinh động” (Nguyễn Đình Thi) [37, 10] “Ở đây (tức truyện ngắn) có thể nói một cách ngắn gọn, trực tiếp…” [ 37, 8]
Văn học chân chính phải xuất phát từ con người, cuộc sống, không giống như tiểu thuyết, tiểu thuyết cần có một khoảng cách về thời gian, nhất
là những sự kiện đã xảy ra dù xa hay gần ở trong quá khứ “Truyện ngắn luôn luôn viết trên cơ sở những tài liệu của ngày hôm nay, luôn luôn đòi hỏi phải chính xác đến từng chi tiết” (Tô Hoài) [37, 133] Bất cứ một truyện ngắn nào cũng mang hơi thở của đời sống và đưa lại những ý nghĩa xã hội lớn lao, nó nhạy bén trước những thay đổi của cuộc sống, “vâng, cuộc sống thật hào hiệp, chính cuộc sống đã tặng tôi những thiên truyện của tôi” (Iu Naghibin) [37, 141] Truyện ngắn thích hợp để nhà văn nhanh chóng tiếp cận đời sống đầy biến động và nêu ý kiến trước những vấn đề mới đang đặt ra cho xã hội
Tính chất ngắn về dung lượng cũng như về nội dung biểu đạt, dù chỉ một vài khung cảnh, một cái “chốc lát”, một trạng thái tâm lý hay một tính
Trang 15cách nhân vật nhưng qua tác phẩm truyện ngắn chúng ta dễ năm bắt được ít nhiều về toàn bộ cuộc đời nhân vật, bản chất cuộc sống, thậm chí có khả năng
dự báo tương lai Khẳng định ưu thế của truyện ngắn trong việc phản ánh đời sống, nhà văn Đức T Man phát biểu: “Cái nhỏ bé, ngắn gọn đó cũng có sức chứa nội tại lớn lao, cũng có thể bao quát được toàn bộ đời sống, có thể đạt tới kích thước anh hùng ca và có được tác dụng nghệ thuật chẳng khác gì mọi sáng tác đồ sộ” [37, 81]
Truyện ngắn phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người trong thời đại mới Tính chất ngắn, cái gọi là “tự sự cỡ nhỏ” như đã nêu trên phù hợp cho việc chuyển tải những vấn đề có tính thời sự nóng hổi lấy ra từ cuộc sống hàng ngày Mỗi một sản phẩm hầu như được ra mắt công chúng ban đầu qua vài ba cột báo chí trước khi hợp thành tuyển tập Báo chí - một kênh phương tiện thông tin hữu dụng không thể vắng mặt của cuộc sống hiện đại, nó ra đời
là mảnh đất nuôi sống truyện ngắn Truyện ngắn với dung lượng của mình chiếm chỗ chỉ vài ba cột báo từ đó chứng tỏ khả năng và ưu thế của mình Từ trước tới nay có nhiều cuộc thi viết truyện ngắn do các báo tổ chức, và qua đó độc giả có dịp tiếp cận với những tác phẩm truyện ngắn mới “Có những lúc hàng trăm cuốn tiểu thuyết dày do những nhà văn nổi tiếng viết bỗng hiện ra như một cái gì khiến người ta ngại đọc Bấy giờ sẽ rất may mắn nếu như ta chọn được một đoạn nào đó thật hay, một đoạn thường tách ra trong các hợp tuyển, thực tế, nó là một truyện ngắn gọn nhẹ, hấp dẫn” (U.Xaroyan) [37, 99]
Con người mới với những guồng quay hối hả của công việc, của cuộc sống mới, con người thời @, thời buổi kinh tế thị trường đâu dễ có những phút giây thư giãn kha khá để đọc những cuốn tiểu thuyết dày hàng trăm trang Yêu thích nghệ thuật ngôn từ, họ tìm đến truyện ngắn để thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của mình trong quỹ thời gian ít ỏi bởi người ta ngại đọc những truyện có dung lượng lớn hơn Đó là những ưu thế không thể phủ nhận được của thể tài truyện ngắn
Trang 161.1.2 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau 1975
Với thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975, đất nước thực sự thống nhất, Nam - Bắc một nhà Khát vọng cháy bỏng của cả dân tộc về một nền tự do, độc lập phải trải qua ngót nửa thế kỷ chiến đấu kiên cường đã trở thành hiện thực, một thời kỳ mới của đất nước được mở ra với những đặc điểm và quy luật vận động khác trước
Chiến tranh qua đi, đất nước hào hứng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, song song với niềm vui chiến thắng, cả dân tộc phải đối mặt với hàng loạt khó khăn chồng chất Đó là thời kỳ chúng ta lâm vào khủng hoảng sâu sắc về kinh tế, xã hội, cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất
cập đòi hỏi phải có sự đổi mới Việc thực hiện những kế hoạch này đạt được
những kết quả nhất định tuy nhiên vẫn tồn tại nhiều hạn chế Đời sống của đại
bộ phận nhân dân còn gặp nhiều khó khăn: nhiều lao động chưa có việc làm, nhiều nhu cầu chính đáng, tối thiểu của nhân dân về vật chất và văn hoá chưa được đảm bảo Mặt khác, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, công bằng xã hội bị vi phạm, những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ chưa bị trừng trị nghiêm khắc, kịp thời Thực trạng kinh tế xã hội đó
đã làm lay động mọi suy nghĩ, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dân Đúng như nhận xét của nhà văn Nguyễn Khải: chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự do và độc lập
Trước tình hình đó, tháng 12 năm 1986, Đại hội lần thứ VI diễn ra, Đảng đã xác định đường lối đổi mới đất nước một cách toàn diện giúp đất nước vượt qua thời kỳ khủng hoảng Đại hội đã chỉ rõ đổi mới là “nhu cầu bức thiết”, là “vấn đề có ý nghĩa sống còn” của toàn dân tộc Từ đây, với công
Trang 17cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hoá cũng có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn học nhiều nước trên thế giới Tiếp sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị đã thực sự thổi một luồng gió mới vào đời sống văn nghệ nước nhà, mở ra một thời kỳ đổi mới của của văn học Việt Nam trong tinh thần đổi mới cách nhìn về hiện thực, đổi mới cách nhìn về con người, đổi mới cách nhìn về nghệ thuật Tất cả những điều đó phù hợp với nguyện vọng của nhà văn và người đọc cũng như quy luật phát triển khách quan của văn học.
Một loạt những thay đổi của lịch sử - xã hội kéo theo sự thay đổi của ý thức xã hội - thẩm mĩ Cuộc sống dần trở lại với quy luật của nó, con người trở về với đời thường, đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp Điều đó đã thúc đẩy
sự thức tỉnh của ý thức cá nhân, của cái tôi cá nhân, cá thể Quan niệm về con người thay đổi hẳn Văn học nhìn nhận con người một cách toàn vẹn và sâu sắc hơn Con người là điểm xuất phát, là đối tượng, đồng thời là đích hướng đến của mọi tác phẩm văn học Trong văn học thời kỳ mới, con người được nhìn nhận ở nhiều vị thế, trong nhiều mối quan hệ khác nhau: “con người với
xã hội, con người với lịch sử, con người của gia đình, gia tộc, con người với phong tục, với thiên nhiên, với những người khác và với chính mình” [32, 16] Không những vậy, văn học còn khám phá, soi chiếu con người một cách
cụ thể trong tính toàn vẹn của nó: ý thức lẫn vô thức, tự nhiên lẫn bản năng, cao cả lẫn thấp hèn, cá biệt lẫn phổ quát Bởi thế, hình ảnh con người hiện lên chân thực hơn, đầy đủ hơn với tất cả những gì vốn có
Văn học sau 1975, bên cạnh đó còn có sự thay đổi trong cái nhìn về hiện thực, về văn học Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật”, hiện thực thời
kỳ này có sự khác biệt so với hiện thực trong văn học cách mạng ba mươi năm trước đó Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, mà là hiện thực của đời sống hàng ngày với những mối quan hệ phức tạp, chằng chịt, gồm
Trang 18những mảng sáng, tối và những mảng khuất lấp; đồng thời còn là đời sống cá nhân, riêng tư của mỗi con người với những số phận khác nhau, có cả hạnh phúc và bi - hài kịch… Hiện thực đó là không gian vô tận cho văn học chiếm lĩnh và khai phá Cũng từ đây, văn học có sự thay đối về chức năng, về mối quan hệ của nó với đời sống, về mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc, về sự tiếp nhận văn học.
Không những vậy, bản thân nhà văn - người nghệ sĩ cũng có những thay đối nhất định Đối với họ, mỗi tác phẩm là một cách để họ thể hiện những quan niệm riêng của mình về cuộc sống, về con người Tác phẩm là phát ngôn của mỗi cá nhân Tư tưởng riêng, cái nhìn riêng, cách thể hiện riêng mang phong cách cá nhân từng người được thừa nhận và có điều kiện phát huy Mối quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc cũng thay đổi theo hướng dân chủ hoá
Nhìn chung, từ sau 1975, đồng hành với sự thay đổi của lịch sử - xã hội, văn học cũng có những sự thay đổi đáng kể Bởi thế, nó nhanh chóng tiếp cận những vấn đề trong xã hội cùng với chiều sâu trong tâm hồn con người, mang lại cho mình một diện mạo mới, khác trước
1.1.3 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - đặc điểm, diện mạo và diễn trình vận động
Sự kiện đại thắng mùa xuân 1975 là một dấu mốc mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời cũng đưa tới một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam Văn học Việt Nam nói chung và bộ phận truyện ngắn sau 1975 nói riêng đã có sự vận động không đứt đoạn từ chuyển tiếp đến đổi mới, phát triển Tuy nhiên cũng phải nhận thấy rằng nền văn học sau 1975 chuyển biến chậm hơn so với sự chuyển biến tương ứng của xã hội Nhưng điều đó cũng dễ hiểu bởi lẽ theo lí luận của Mác thì ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội
Trang 19Truyện ngắn trong thập niên đầu sau 1975 mang tính chuyển tiếp từ nền văn học cách mạng trong chiến tranh sang nền văn học của thời kỳ hậu chiến Về cơ bản, các truyện ngắn vẫn tiếp tục phát triển theo những quy luật, những cảm hứng, cũng như những đề tài, phương thức thể hiện vốn như trước trong văn học cách mạng mặc dù đã có sự tìm tòi mới Việc đi theo lối mòn của văn học thời kỳ trước đó, chưa kịp chuyển biến với thực tiễn xã hội, không đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của người đọc, lại gặp lúc tình hình xã hội của đất nước khó khăn rơi vào khủng hoảng nên bộ phận truyện ngắn cùng chung số phận với cả nền văn học bị chững lại, nhiều cây bút rơi vào bế tắc, không tìm thấy phương hướng sáng tác Đây là khoảng thời gian mà nhà văn Nguyên Ngọc đánh giá là “khoảng chân không trong văn học” Song cũng chính ở thời điểm này, bản thân đời sống văn học đang diễn ra sự vận động ở chiều sâu, đồng thời một số nhà văn đã trăn trở, tìm tòi đổi mới Đi tiên phong trong công cuộc đổi mới là nhà văn Nguyễn Minh Châu với những truyện ngắn hướng về các vấn đề thế sự - đạo đức trong đời sống hàng ngày của con người Bên cạnh đó cũng phải kể đến những sáng tác của Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương… góp phần tạo nên
sự chuyển động theo con đường đổi mới của truyện ngắn Từ năm 1986 trở đi, cùng với sự tác động của Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) xác định đường lối đổi mới, tiếp theo đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị, thời kỳ đổi mới của văn học thực sự được mở ra với tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Nếu như trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người đều dồn lại trong một mối quan hệ duy nhất: sống - chết, tất cả những quan hệ đời thường, riêng tư bị đẩy lại phía sau, thậm chí bị triệt tiêu để hướng đến mục tiêu duy nhất: chiến đấu để chiến thắng, thì trong cuộc sống hoà bình hiện thực phức tạp hơn Con người trở về với cuộc sống đời thường, đối mặt với những lo toan cá nhân, những mất mát trong chiến tranh, những khó khăn của
Trang 20cuộc sống kinh tế, các mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể, giữa quyền lợi riêng và quyền lợi chung không hoàn toàn thống nhất như trước đây Bởi thế, văn học - tấm gương phản chiếu thực tại - cần phải có sự thay đổi, nhận thức lại sự thật, thay đổi quan niệm về hiện thực và con người Một loạt truyện ngắn xuất hiện chứng tỏ cho sự thay đổi đó Truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu cho thấy rõ sự tác động của chiến tranh đến số phận và tính cách của
con người (Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Phiên chợ Giát…); truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp lại phơi bày sự khủng hoảng của xã hội qua việc phản ánh
sự thay đổi của các giá trị và lối sống (Tướng về hưu, Không có vua) v.v Các
truyện ngắn đều hướng lăng kính tiếp cận đời sống trên bình diện thế sự - đời
tư, mọi khía cạnh của đời sống cá nhân và những quan hệ thế sự của cuộc sống phức tạp đời thường đều được phán ánh Đồng thời, sự đổi mới tư duy nghệ thuật cũng thúc đẩy mạnh mẽ những tìm kiếm, thể nghiệm về cách tiếp cận thực tại, về các thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, phát huy cá tính và phong cách cá nhân của nhà văn
Gần mười năm của chặng đầu công cuộc đổi mới, nền văn học “ở trong trạng thái chuyển động dữ dội của một cuộc trở dạ” [32, 12] Cùng với những biến chuyển lớn lao của đời sống xã hội, một môi trường khác trước cho văn học được tạo ra - xu thế đi tới sự ổn định, văn học cơ bản trở về với những quy luật mang tính bình thường, truyện ngắn thực sự bước sang địa hạt của những vấn đề trong đời sống thường nhật Nếu trong chiến tranh mọi việc đều được nhận thức một chiều, ngay cả việc đánh giá con người cũng thông qua
những chuẩn mực toàn dân thì giờ đây trong hoà bình, những chuẩn mực mới
được thiết lập Nguyễn Khải đã viết: tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ Trong ngổn ngang hiện thực đó, nổi lên những vấn đề được
Trang 21nhiều cây bút quan tâm như: đạo đức xã hội, tiêu cực trong quản lý sản xuất, một số vấn đề trong quá khứ được nhận thức lại Mặt khác, ở những cây bút
nữ, nhu cầu hạnh phúc riêng tư của con người cũng được diễn tả, bộc lộ một cách không giấu giếm Bên cạnh đó, một số truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Vũ Tú Nam, Ma Văn Kháng vấn đề đạo đức từ góc độ gia đình cũng được tiếp cận Ở đó thường diễn ra hành trình tự ý thức, tự phán xét lương tâm của cá nhân xoay quanh trục thời gian hai chiều: quá khứ và hiện tại Nổi lên hơn cả là khuynh hướng nhận thức lại một số vấn đề của thời kỳ chiến tranh Nhận thức lại không đồng nghĩa với việc xét lại hay bổ báng, phê phán
quá khứ mà là gạt bỏ những sai lầm khỏi cái chủ quan để đi đến chân lý Thời
xa vắng của Lê Lựu, Những tháng ngày đã qua của Xuân Thiều, Sống với thời gian hai chiều của Vũ Tú Nam, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành
của Nguyễn Minh Châu là những tác phẩm viết theo hướng này Các tác phẩm đó đã đặt ra vấn đề nhận thức lại quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa con người và hoàn cảnh nhưng quan trọng hơn là con người tự nhận thức lại
chính mình Trên lối đi mới này, các nhà văn đã đem lại cho bạn đọc những
kiến giải thú vị, có khả năng thanh lọc tâm hồn con người Đó là sự đổi mới trong nhận thức về hiện thực theo hướng nhìn sâu hơn hiện thực ấy, hiện thực với sự xói mòn trong đạo đức con người,với những mặt trái của đời sống kinh
tế thi trường, khát vọng dân chủ và nhân đạo, hướng sự quan tâm vào con người cá nhân, thậm chí tận sâu tâm linh của con người
1.2 Nhìn chung về sáng tác của các nhà văn nữ Việt Nam sau 1975
Văn học sau 1975, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Góp phần cho những thành công đó, trước hết phải kể đến đội ngũ tác giả nữ: Trần Thuỳ Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Thị Ấm, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Trần Thị Trường, Y Ban, Dạ Ngân, Phạm Thị Hoài, Đoàn Lê… Đó thực sự là sự bùng nổ của số lượng các nhà văn nữ Việt Nam,
Trang 22họ đã mang đến một làn gió mới, một diện mạo mới, một phong cách mới cho văn học nước nhà “Đã qua rồi cái thời mà Bà Huyện Thanh Quan, Đoàn Thị Điểm hay Hồ Xuân Hương phải cố gắng lắm mới chen chân vào được với mười thế kỷ đàn ông thống trị văn đàn” [44], các thế hệ cầm bút nữ đã có một
sự tiếp nối không đứt đoạn, làm thành một bộ phận riêng không thể trộn lẫn:
bộ phận truyện ngắn của các tác giả nữ
Văn học trong những năm kháng chiến chống Mỹ gắn với tên tuổi của các cây bút nam dày dặn kinh nghiệm trong sáng tác, được coi là “lớp cận vệ già” như: Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải,
Tô Hoài, Anh Đức, Nguyên Ngọc… Bên cạnh đó cũng cần kể đến các nhà văn nữ - những nhà văn “vừa viết văn vừa đánh giặc”
Khác biệt với các nước Phương Tây, các tác phẩm viết về chiến tranh hầu như không có sự tham gia của nữ nhà văn; còn ở Việt Nam, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, huống gì viết văn về chiến tranh Văn phẩm của họ là tiếng nói của một thời tuổi trẻ gánh vác trên vai những trọng trách nặng nề đối với đất nước Chúng ta phải kể đến nhà văn Dương Thị Xuân Quý, Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê, Ý Nhi… Các nhà văn nữ viết về chiến tranh qua cái nhìn khúc xạ của mình, khiến cho chiến tranh dù hiện ra đúng khuôn mặt của nó nhưng vẫn thể hiện được những nét riêng Đó là một hiện thực luôn có sự đan quyện giữa chiến tranh và tình yêu, sống và chết, bi thương và lạc quan, khát vọng và thử thách… đầy nữ tính, đầy chất nhân bản
Tiếp nối những thành công đã gặt hái được của truyện ngắn trong giai đoạn kháng chiến, sau năm 1975 thể tài này vẫn tiếp tục phát triển Chiến tranh đã qua nhưng chưa bao giờ trở thành qua khứ đối với các nhà văn Đề tài chiến tranh vẫn tồn tại nhưng bước sang một quỹ đạo mới với sự kế thừa
và cách tân đáng kể Những truyện ngắn tươi trẻ, dồi dào chất sống và có
Trang 23nhiều tìm tòi mới về nghệ thuật Viết về những vấn đề của con người trong cuộc sống thường nhật sau chiến tranh, các cây bút nữ có ý thức đưa nhân vật vào những mối quan hệ đa chiều, muốn gắn bó số phận của những con người
cụ thể với số phận của đất nước nhân dân trong cái nhìn giác độ tình yêu và
sự đồng cảm Lớp nhà văn mang tính chất “trung gian” như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Ấm, Phạm Thị Ngọc Liên, Võ Thị Hảo, Trần Thanh Hà, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà… là những cây bút xuất hiện thời hậu chiến, để lại những dấu ấn khá đậm
Họ chính là những người sẽ góp phần làm nên diện mạo mới cho truyện ngắn
ở giai đoạn sau Các nhà văn nữ được tự do thể hiện cái tôi cá nhân của chính mình với một giọng điệu, ngôn ngữ, bút pháp riêng Có thể khẳng định rằng:
“Văn học đang mang gương mặt nữ - ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế mà đằm thắm” [55] Có thể khẳng định chính các cây bút nữ đã góp công lớn thổi sức sống vào nền văn Việt Nam hiện đại một sắc diện mới
Sự phát triển tích cực của nền văn học là sự tiếp nối không đứt đoạn của các thế hệ những người sáng tác Quy luật phát triển tất yếu “tre già măng mọc” của đời sống không ngoại trừ trong bộ phận đội ngũ sáng tác truyện ngắn Vấn đề nhà văn trẻ, văn học trẻ là vấn đề kế thừa và phát triển của lịch
sử văn học, không riêng thời đại nào Tiếp nối thế hệ các nhà văn nữ trong kháng chiến và thế hệ nhà văn có tính chất “trung gian”, một thế hệ mới các nhà văn nữ đã xuất hiện trong triến trình đổi mới văn học của chúng ta, đặc biệt là sau 1980 Sự góp mặt của khá nhiều cây bút trẻ đã bắt đầu quen thuộc với bạn đọc như Phạm Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư, Trang Hạ, Nguyễn Quỳnh Trang, Đỗ Hoàng Diệu, Lynh Barcadi, Phạm Ngọc Lương, Niê Thanh Mai, DiLi… Có thể nói, các cây bút này đang nỗ lực đi tìm kiếm những con đường mới Những nỗ lực ấy đáng được trân trọng Chúng ta không phủ nhận tính trẻ trung và năng động ở họ, họ chăm chú kiếm tìm cái khác lạ ở đề tài
Trang 24Họ đã mang đến tiếng nói mới mẻ có sức vang dội trên văn đàn, đã hình thành
nên hệ thống ngôn ngữ riêng của giới trẻ Các nhà văn trẻ để lại những cảm nhận mới và khác lạ trong nhận thức của người đọc Nhiều bạn trẻ trong văn học đã có con đường đi riêng của họ với những tìm tòi, sáng tạo nhằm khẳng định mình qua tác phẩm Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị viết văn trẻ lần thứ VIII, nhà thơ Hữu Thỉnh đã dùng cụm từ “thế hệ nhà văn mười ngón”
để chỉ đội ngũ những người viết văn trẻ hôm nay Trong lịch sử văn học Việt Nam đã có một thế hệ “nhà văn bút sắt” kế nghiệp những “nhà văn bút lông”,
và đến thời điểm này, nền văn học Việt Nam lại đang chuẩn bị cho một cuộc chuyển giao mới, từ thế hệ “nhà văn bút sắt” sang thế hệ “nhà văn mười ngón” của máy tính và bàn phím Nữ nhà văn trẻ hôm nay đang đứng trước những cơ hội và thách thức Cuộc sống hiện đại làm giảm sự quan sát, trải nghiệm của người viết, ngược lại, tác phẩm của họ được nhiều nhà sách chào đón nồng nhiệt, sẵn sàng quảng cáo và tiếp thị Tất cả đều đang hứa hẹn nhiều
“đỉnh cao” truyện ngắn
Sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ từ sau 1975 với sự góp mặt của những cây bút có thực tài đã làm thành một trào lưu văn học giàu chất nữ tính Những dấu hiệu của “đặc điểm giới” trong các tác phẩm của họ thể hiện khá rõ, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học hiện đại
Vấn đề giới tính là một vấn đề phức tạp Nó gắn liền với ý thức hệ, chính trị, tôn giáo, được thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ và văn học “Đặc điểm giới “đã ngấm sâu vào văn học Không phải ngẫu nhiên trong làng văn lại có
sự phân định rạch ròi giữa các nhà văn Từ “nữ” luôn xuất hiện đằng sau thuật ngữ “nhà văn” để chỉ các tác giả cầm bút không phải là nam Người ta không cho rằng đội ngũ nhà văn đương nhiên phải là nam, còn trường hợp nữ giới viết văn là ngoại lệ nên mới phải thêm từ “nữ” để khu biệt Thực ra, cần phải nhận thấy rằng, cái khu biệt không phải ở đó, mà là ở chỗ tính chất, đặc điểm
Trang 25những trang viết của các nữ văn sĩ bên cạnh những nét chung còn mang những đặc điểm riêng của giới nữ Đó chính là “đặc diểm giới” trong tác phẩm của các nhà văn nữ Có không ít người cho rằng các nữ nhà văn với những đặc điểm dịu dàng, thùy mị, chỉ viết về những chuyện nhỏ nhặt, không
có tầm tư tưởng lớn Thế nhưng không hẳn là vậy, ngòi bút của họ vẫn đi sâu vào các đề tài, bám sát và phản ánh nhịp sống hiện đại một cách sắc sảo Đề tài quen thuộc của các nhà văn nữ là tình yêu, gia đình, các mối quan hệ cùng những tình cảm phức tạp hiện lên giản dị và chân thành, không giấu giếm mà chính họ là người trong cuộc Những mối quan hệ vợ - chồng, mẹ - con được biểu hiện như là những lời tâm sự qua sự trải nghiệm của những người phụ
nữ Vẻ đẹp tình mẫu tử đã đi nhiều vào trong sáng tác văn chương Khi tác giả nam viết, họ cũng chỉ dừng lại ở cái nhìn bên ngoài với sự tôn kính, ngợi ca chứ họ chưa hiểu được sâu sắc nỗi lòng, tâm tư của người mẹ bằng chính các nhà văn nữ tự viết về chính giới mình Viết về giới mình với cái nhìn đôn hậu, các nhà văn nữ đã ý thức rất rõ vẻ đẹp cao quý đó Điều đó cũng từng bước xác lập sự khác biệt giữa “đặc tính nữ” và “đặc tính nam” Ý thức về mẫu tính đồng thời nhà văn nữ cũng đã ý thức rõ về phái mình, khẳng định vị thế cao đẹp của mình trong gia đình và xã hội Khi viết về tình yêu, họ khám phá toàn diện về mọi mặt, mọi cung bậc: từ những dư vị ngọt ngào đến những dư vị đắng chát, từ đớn đau đến xót xa, từ những nhẹ dạ, cả tin đến những mạnh
mẽ, chủ động, già dặn và từng trải v.v… tất cả đều là những bộc bạch chân thực nhất, sâu lắng nhất Vẻ nữ tính ở các nhà văn nữ đã giúp trang viết của
họ chuyển tải những nỗi niềm có vẻ nhỏ nhặt nhưng kì thực mang đậm những
tư tưởng nhân văn
Trong mỗi trang viết, dường như các nhà văn nữ ít nhiều dự phần vào
đó Nhà văn gửi gắm qua hình tượng các nhân vật nữ Họ có thái độ chủ động, quyết liệt đấu tranh để giành, giữ tình yêu, dám sống thật với chính mình và
Trang 26dám đi đến tận cùng bản thể, dám làm tất cả những gì mình khao khát Khi người nữ viết về những cảnh ngộ, nỗi niềm nhân vật của mình thì đó là những trang văn chân thực nhất Phải sống sâu sắc với cuộc đời thì mới có những trang viết đằm thắm và giàu lòng trắc ẩn đến như thế Dám sống thật với chính cảm xúc, khát khao của mình - đó không phải là điều dễ thấy trong hình ảnh những người phụ nữ trước đây khi mà gánh nặng “tam tòng” còn đè nặng lên vai
Các văn nữ với sự nhạy cảm riêng đã có những cách biểu đạt riêng Họ phản ánh mặt trái cuộc chiến bằng những câu chuyện giản dị mà giàu lòng trắc ẩn gắn với nhiều bi kịch, nhiều nỗi đau và mất mát liên quan trực tiếp đến những người phụ nữ Đó cũng là một cách thể hiện một thái độ thẳng thắn qua tiếng nói của chính giới mình Có thể thấy rõ điều đó trong những truyện ngắn với hướng tiếp cận đa chiều, đa diện của các nữ nhà văn như Lê Minh Khuê, Dương Thu Hương, Trần Thùy Mai, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo… Bằng sự nhạy cảm của giới tính, họ đã chọn những mảnh đời của phái mình làm tấm gương phản chiếu chiến tranh từ nhu cầu giới tính Đó là những nỗi đau của thân phận đàn bà, luôn khao khát cháy bỏng hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ, nỗi đau khổ của những cuộc đời thanh tân chưa biết thể nào là tình yêu, suốt đời vẫn là con gái Tất cả là những trang viết đấy chất nhân bản
Chúng tôi đưa ra ở đây ý kiến của nhà văn trẻ Hồng Hạnh để kết lời cho vấn đề “đặc điểm giới” trong văn học: “Tôi có quan tâm đến giới tính trong sáng tạo văn chương Lý do: 1/ Văn chương phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, cảm xúc của người sáng tác và chắc chắn giới tính có ảnh hưởng đến tác phẩm văn chương Nữ giới sẽ có lối nghĩ/ lối cảm/ tư duy khác với nam giới và họ sẽ thể hiện sự khác biệt đó trong sáng tác của mình 2/ Văn chương với nữ giới còn là một phương tiện để họ chống lại những bất công giới tính mà họ gặp phải trong thực tại xã hội Tôi luôn cố gắng để tạo ra
Trang 27những nhân vật nữ khát khao và đấu tranh với những con người trong xã hội/ cộng đồng còn hạn chế nhận thức bình đẳng giới ở xung quanh mình, để có được quyền sống đích thực, có được nữ quyền” [20].
1.3 Đoàn Lê - một cây bút nữ độc đáo của văn học Việt Nam sau 1975
1.3.1 Một người phụ nữ đa tài, đa đoan
Nhà văn Đoàn Lê tên đầy đủ là Đoàn Thị Lê, sinh năm 1943 tại thành phố Hải Phòng Bà còn có bút danh là Hạ Thảo
Đoàn Lê được biết đến từ Làng Vũ Đại ngày ấy đến tập truyện Nghĩa
địa xóm Chùa và gần đây nhất là tiểu thuyết Tiền định, tập truyện ngắn …và Sex cùng những bức tranh giàu chất nữ tính Một người phụ nữ đa tài nhưng
cũng lắm đa đoan
Sinh ra trong một gia đình làm nghề thuốc Đông y, có nhiều chị em gái, Đoàn Lê có cái quyết đoán của đàn ông Lúc chưa tròn 17 tuổi, mặc dù bị gia đình ngăn cấm nhưng Đoàn Lê đã trốn nhà lên Hà Nội học lớp diễn viên điện ảnh khoá đầu tiên (1959 - 1962), trở thành một trong số những diễn viên đầu tiên của nền điện ảnh cách mạng Việt Nam cùng lớp với Trà Giang, Lâm Tới…
Rời quê hương, xa gia đình, Đoàn Lê bắt đầu bước vào những năm tháng truân chuyên của cuộc đời mình Cuộc đời của bà dường như ứng với những câu thơ của cô em gái Đoàn Thị Tảo - “những câu thơ như ám vào cuộc đời chị Lê” [51]:
Ngày chị sinh Trời cho làm thơ Vấn vương sợi tơ trời Tình riêng bỏ chợ Tình người đa đoan
Trang 28Một cô gái xinh xắn, thanh mảnh, hội đủ “cầm - kỳ - thi - hoạ” để bạn
bè đánh giá là “cô Kiều của khoá” nổi tiếng với những bài thơ tình đăng báo được bạn bè chuyền tay Sau khi tốt nghiệp trường điện ảnh, lại bị cuốn vào các đoàn làm phim Thời gian đó cùng với tình yêu, sự quyết đoán, bà lấy chồng sớm nhưng cũng ly hôn sớm Sự nghiệp diễn viên ngắn ngủi bị đứt đoạn bất ngờ, bà bị chuyển sang bộ phận thiết kế của xưởng phim Đó là những năm tháng gian khổ bà phải chịu cảnh đấu tranh bom đạn cùng những thành kiến, cuộc sống chịu nhiều áp lực, cả nhọc nhằn chán nản, đã có lúc bà xin chuyển sang làm phóng viên, học võ thuật nhưng “nghiệp điện ảnh không buông chị ra” [51] Sau đó bà quay sang viết kịch bản phim và làm đạo diễn
Những phiền muộn vẫn chưa buông tha bà Lần kết hôn thứ hai vẫn không đem lại cho bà niềm vui, hạnh phúc Năm 2008 là năm có nhiều mất mát với bà: bà mất đi người con trai đang ở độ tuổi thanh niên, cũng là lúc bà phải hoàn tất thủ tục ly hôn với người chồng thứ hai khi tuổi đã xế bóng
Hiện tại, cuộc sống của người đàn bà năng động quả quyết ấy bất ngờ
đã lắng lại, không còn bận rộn với những chuyến đi làm phim dài ngày, bà chuyển về Đồ Sơn sinh sống khi tuổi đã ngoại lục tuần Giờ đây, bà làm chủ quỹ thời gian, dồn tất cả vào viết văn và hội hoạ với sức sáng tạo tươi mới
Nhìn lại cuộc đời của Đoàn Lê, người em gái đã viết: “Hoàng hôn giật mình/
Quỹ đời tiêu gần hết/ Chút thời gian còn loay hoay tổng kết/ Thừa: mồ hôi nước mắt/ Thiếu: hạnh phúc nụ cười” (Chặng cuối - Đoàn Thị Tảo).
1.3.2 Một sự nghiệp sáng tác đa dạng, phong phú
Nhà văn Trần Anh Thái nói “không biết gọi Đoàn Lê là nhà gì cho
đúng” [52] Điều đó quả thực không sai, bởi lẽ bà là một người phụ nữ đa tài,
“với sức sáng tạo có lẽ là khủng khiếp” [28], tham gia sáng tác trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật, ở lĩnh vực nào Đoàn Lê cũng tạo ra được nét đặc sắc riêng của mình, có đóng góp ít nhiều cho nghệ thuật, đồng thời thu gặt không ít
Trang 29thành công Một diễn viên, nhà thiết kế phim trường, nhà biên kịch, đạo diễn, một nhà thơ, nhà văn, một hoạ sĩ, gọi thế nào cũng đúng Cuộc đời đa đoan cùng với lòng đam mê, sự quyết tâm và tài năng, người phụ nữ ấy đã thử sức,
“nhúng tay vào đủ thứ” [19]
1.3.2.1 Lĩnh vực điện ảnh
Bà được đánh giá là “con người của điện ảnh” Chính bà cũng đã tâm sự: “khi còn trẻ, điện ảnh là niềm khao khát của tôi” [38] Theo học lớp diễn viên điện ảnh khoá đầu tiên Năm 1961 tốt nghiệp ra trường Đoàn Lê trở thành một diễn viên bị cuốn theo các đoàn làm phim Nghiệp diễn viên ngắn ngủi đến với bà chỉ với những vai phụ, những vai thấp thoáng chạy cờ; duy
nhất chỉ có một vai chính: cô giáo Hồng Vân trong bộ phim Quyển vở sang
trang của đạo diễn Nguyễn Ngọc Chung - một cô giáo dịu dàng bằng tình
cảm đã nâng đỡ một em học sinh cá biệt Sau đó, bà chuyển sang làm thiết kế phim trường, tạo dựng phong cảnh cho phim Một phụ nữ đứng trên giàn giáo cao với cái máy phun màu nặng, vẽ những phong cảnh thay cho những phong cảnh thật, cảnh những khu nhà thành phố, cảnh bầu trời bên ngoài cửa sổ, cảnh cánh đồng bát ngát “Nghiệp điện ảnh cứ bám riết, không chịu buông tha”, bà chuyển sang viết kịch bản phim Đoàn Lê - Nhà biên kịch được biết
đến từ bộ phim Bình minh xôn xao, Con vá, Người về, Vua Minh Mạng… Và kịch bản phim Làng Vũ Đại ngày ấy là kịch bản đầu tiên và thành công nhất
Nhà biên kịch Đoàn Lê đã để lại dấu ấn riêng của mình trong các bộ phim, đã thổi vào trang viết của nhà văn không khí điện ảnh vừa lung linh vừa chân
thực [30] Bộ phim Con vá đã đoạt giải Bông sen Bạc tại liên hoan phim toàn
quốc Song song với việc viết kịch bản phim, Đoàn Lê còn tham gia làm đạo diễn phim và cũng gặt hái được nhiều giải thưởng trong các kỳ liên hoan
phim (chẳng hạn phim Chim bìm bịp) Cho đến lúc đã nghỉ hưu, bà vẫn còn
làm công việc của một biên kịch, một đạo diễn
Trang 30có ở bà Bà đã thi đỗ vào trường Mỹ thuật tạo hình, dù không có điều kiện được theo học nhưng niềm đam mê hội hoạ vẫn luôn thường trực Đối với các nhà văn nói chung và Đoàn Lê nói riêng “hội hoạ là một hình thức khác ngoài văn chương để bộc lộ bản thân mình” [38] Cầm cọ vẽ nói chuyện cuộc sống bằng hình ảnh và màu sắc tranh của Đoàn Lê là những cảnh làng, ao cá, cây
sim (Góc quên, Nông nhàn, Xóm núi,…) là những thiếu nữ với vẻ đẹp thánh thiện trong sáng (Em là người đàn bà xinh đẹp xa lạ, Hoa bèo) Với gia tài
của mình, hoạ sĩ Đoàn Lê đã tham gia nhiều cuộc triển lãm tranh Bà mở cuộc triển lãm cá nhân với mấy chục bức tranh sơn dầu (1995), góp mặt 12 tác phẩm sơn dầu trong tổng số 89 tác phẩm trong cuộc triển lãm phòng tranh của các nhà văn Đoàn Lê, Trần Nhượng, Hoàng Minh Tường, Đỗ Minh
Tuấn, Nguyễn Quang Thiều (2005), bức Hoa bèo có người mua tới ngàn đô -
la Mỹ
Xem tranh của bà, người ta nhận thấy rằng: “đời sống tâm hồn của chị vẫn còn xanh tươi lắm, xáo động lắm” [39] Thiếu nữ trong tranh của bà trong trẻo, khoả thân mà không hề dung tục Những nét vẽ dịu dàng, đầy nữ tính đã khẳng định tài năng hội hoạ của Đoàn Lê, và có thể khẳng định rằng
bà “lấn sân mà không hề lép vế” Chính Đoàn Lê đã tâm sự: “… không có gì
Trang 31hạnh phúc hơn khi ta cầm cọ vẽ đứng trước thiên nhiên Chỉ có hội hoạ mới giúp con người cởi bỏ hết mọi ràng buộc (…) Khi tôi bất lực trước chữ nghĩa
đó là lúc tôi tìm đến cọ vẽ Vẽ giải phóng tất cả những ẩn ức tình cảm trong tâm hồn mình, là sáng tạo tự do nhất” [15]
1.3.2.3 Lĩnh vực văn chương
Sự xuất hiện của Đoàn Lê trong lĩnh vực văn chương đã đem đến cho nền văn học đương đại những đóng góp không nhỏ Tài năng văn chương đến với bà từ rất sớm, bà đã có tác phẩm đăng báo từ năm mười sáu tuổi Trước đây, dù theo học chuyên nghành điện ảnh để thực hiện được ước mơ trở thành một “ngôi sao màn bạc”, nhưng ít nhiều cô sinh viên Đoàn Lê ấy vẫn sáng tác những bài thơ được đăng báo và được bạn bè chuyền tay nhau, nổi tiếng là bài
thơ Bói hoa:
Ngày xưa em thơ ngây Ngồi bói hoa hồng nở Đoán tình yêu sau này Vẹn toàn hay dang dở
Nụ hoa như e ấp Giấu kín điều em mong
Ý hẳn tình chưa đẹp Hoa chưa tươi cánh hồng?
Nhưng tình như hương nhẹ đến lúc nào không hay Hoa tình yêu chợt nở Hương tình yêu say say Gió ơi, dùm nói nhỏ Tới vạn nụ hoa hồng
Trang 32Nở đi! Hoa có biết Tình yêu đến rồi không?
Thời kỳ đầu, những sáng tác của bà được in ở báo Văn nghệ: Trương
Viên, Đôi mắt hoa nhài, Cây xoan non mảnh dẻ… Vừa làm thơ, vừa theo học
nghiệp điện ảnh, nhưng “nghiệp viết văn của chị Đoàn Lê xem như là có duyên nhất và gặt hái được nhiều mùa vui nhất” [30] Nhưng đối với bà, thơ không phải là sở trường: “Thơ đến bất ngờ Như hoa ấy, khi nào nở thì mình hái” (Đoàn Lê) [60] Thi thoảng, tuỳ theo tâm trạng, một số bài thơ ra đời
nhưng không nhiều Chẳng hạn như Tấm ảnh thờ…
Người ta ít gọi nếu như không muốn nói là không biết đến một Đoàn
Lê - nhà thơ “Văn xuôi mới là sở trường của người đàn bà phố Cảng” [52]
Và thực tế, Đoàn Lê đã có những thành tựu lớn ở bộ phận văn xuôi Bà viết cả truyện ngắn lẫn tiểu thuyết và đều để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, chúng thực sự là những đóng góp quan trọng cho nền văn học nước nhà từ sau đổi mới trong đó sự trải nghiệm của cuộc đời lắm đa đoan dường như trở thành vốn sống, tư liệu quý giá làm nên những tác phẩm đậm sắc thái của chính bà: “Đến với thế giới văn chương của chị, chúng ta sẽ thấy
ở đó là những băn khoăn, trăn trở đối với cõi đời, cõi người”, “văn xuôi Đoàn
Lê là sự day dứt, ám ảnh, sự linh cảm sâu sắc về những vấn đề của đời hiện
thực” [53] Về tiểu thuyết, tên tuổi của đoàn Lê gắn với các tác phẩm: Cuốn
gia phả để lại, Lão già tâm thần,… và gần đây là Tiền định Cuốn gia phả để lại (1990) đã đoạt giải A của Hội nhà văn Việt Nam, nó đã giúp Đoàn Lê
“phát hiện lại mình”, và đã “chứng tỏ một tay nghề viết tiểu thuyết chững chạc” [51], với tài năng “tổ chức ngăn nắp các đường dây nhân vật, cùng với thứ ngôn ngữ dịu dàng, nền nã mà hóm hỉnh” [51] Cuốn tiểu thuyết này cũng chính là dấu mốc đánh giá thời điểm tác giả của nó được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam với tư cách một nhà văn
Trang 33Gần đây, sự xuất hiện của cuốn tiểu thuyết Tiền định (2010) mang màu
sắc tự truyện, ở đó, nhà văn đã “tự mổ xẻ một cách thành thực nhất, không ngại ở những vết dao sắc cứa vào những sai lầm riêng tư” [52] Tác phẩm được lọt vào chung khảo giải Bách Việt, được đông đảo bạn đọc đón nhận Từ đây, người đọc biết rõ hơn về Đoàn Lê, về người phụ nữ đa tài đa đoan này
Về truyện ngắn, các tác phẩm của bà đi sâu vào những câu chuyện về tình yêu, gia đình, về hiện thực cuộc sống với những con người bình thường
trong xã hội Có thể kể đến các tập truyện ngắn: Thành hoàng làng xổ số,
Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Người khách đêm giao thừa, …và Sex Đó đều là những cuốn sách có giá trị của văn học Việt Nam đương đại Ở
đó, người ta nhận thấy rằng: “Lối viết của Đoàn Lê như một người đi ở giữa trung đạo, giữa một bên là văn chương theo kiểu truyền thống và một bên là văn chương cách tân Vì vậy tác phẩm của Đoàn Lê khó rơi vào sự lỗi ưmốt, cũng không thời thượng mà khá dễ thưởng thức với độc giả các lứa tuổi” [30] Nhiều tác phẩm đem đến cho người đọc sự nhận thức về hiện thực Việt Nam sau đổi mới Ý kiến sau có thể xem là những lời đánh giá nhận xét toàn diện nhất cho những truyện ngắn của Đoàn Lê: “Những truyện ngắn này cho một cái nhìn vào bên trong văn hoá Việt Nam sau đổi mới Với người đọc nói chung, đây là những tác phẩm bao quát và đầy nhân văn về những đề tài như lòng tham, hôn nhân, ly dị, tuổi già, đó là những tác phẩm về quyền con người, khảo sát tất cả những bí ẩn tinh tế của trái tim con người” [9]
1.3.1 Vị trí của truyện ngắn trong sáng tác của Đoàn Lê
Không thể phủ nhận rằng văn xuôi là sở trường của Đoàn Lê, trong đó truyện ngắn có vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn chương của bà Các tập truyện ngắn vẫn tiếp tục với cách viết rất Đoàn Lê - nhẹ nhàng, hài hước, kỳ
ảo, càng khẳng định thêm tài năng của bà, để rồi từ đó, người đọc dễ dàng nhận ra bà qua những trang viết Những truyện ngắn của Đoàn Lê mỗi khi
Trang 34xuất hiện đều thu hút mọi người, bởi trong đó những câu chuyện của cuộc sống, những xung đột, chuyện tình yêu, hôn nhân, làm giàu - tất cả đều là hiện thực cuộc đời, nóng hổi tính thời sự Một loạt truyện ngắn gắn với cái tên
“xóm Chùa” - nơi sinh ra và lớn lên của tác giả: Trinh tiết xóm Chùa, Nghĩa
địa xóm Chùa, Đất xóm Chùa, Người đẹp xóm Chùa… làm cho địa danh xóm
Chùa trở nên có tiếng, mang tính huyền thoại, đóng đinh vào trí nhớ người đọc Hiện thực cuộc sống trong trang viết Đoàn Lê hiện lên bằng những cách rất riêng: có khi trực tiếp qua những câu chuyện được kể với giọng điệu có
pha màu hài hước (Trinh tiết xóm Chùa, Đất xóm Chùa…), có khi gián tiếp qua yếu tố huyền ảo (Nghĩa địa xóm Chùa, Lên Ruồi…) Cuộc sống với
những xung đột, mâu thuẫn, hiện thực như đất làng bị giải toả, cơn sốt lấy chồng ngoại, lập làng du lịch kiếm tiền cho đến những chuyện huyền ảo như người âm trở về, kiếm tiền từ cõi âm… Với lối viết vừa hài hước, dí dỏm vừa
kỳ ảo, hiện thực trong văn Đoàn Lê trở nên đầy ấn tượng nhưng không kém sức nặng, khiến những ai đã đọc không thể nào quên
Người ta còn ấn tượng với truyện ngắn Đoàn Lê bởi thế giới nhân vật trong đó Các nhân vật trong đó “như là nguyên bản của người thật, việc thật, đều xuất phát từ không gian sống, từ sự quan sát thực tế của nhà văn” Con người cùng nhiều mối quan hệ “không chỉ ám ảnh mà còn là ấn tượng suốt cả một phần đời Cái xóm Chùa ấy còn nhiều nhân vật lạ lùng, còn nhiều chuyện hay để viết lắm” [38] Còn có những con người bước ra từ hiện thực trăn trở
với sự thay đổi của cuộc sống (Giường đôi xòm chùa, Dấu hỏi gửi thượng đế,
Giáng sinh buồn bã…), có người cất tiếng nói từ cõi âm (Nghĩa địa xóm Chùa), có cả các vị chư tiên từ thiên đình nhìn xuống (Trận hồng thuỷ thứ hai), không ngoại trừ những đồ vật, con vật do con người biến hình nên (Cổ tích Manơcanh, Lên Ruồi) Đặc biệt, sự xuất hiện trở đi trở lại nhiều lần trong
nhiều truyện ngắn là sự xuất hiện của chính tác giả Dù ẩn kín đằng sau nhân
Trang 35vật này nhân vật nọ, ta cũng không khó nhận ra Đoàn Lê, nguyên do là bởi truyện ngắn của bà có tính tự truyện.
Nhìn một cách khái quát, truyện ngắn là một bộ phận tiêu biểu, đặc sắc cho phong cách Đoàn Lê Từ truyện ngắn người ta biết đến Đoàn Lê và hiểu
rõ hơn về chính con người của bà
Tiểu kết
Cùng với những đổi mới của bối cảnh xã hội - thẩm mĩ, hoà chung với dòng chảy của truyện ngắn các nhà văn nữ sau 1975, nữ sĩ Đoàn Lê đem đến một tiếng nói mới mẻ và rất riêng Đoàn Lê - người phụ nữ đa tài, đa đoan là chủ nhân của một sự nghiệp sáng tác đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật Trong đó, truyện ngắn chiếm một số lượng lớn và có giá trị nhiều mặt trong việc khắc hoạ bức tranh hiện thực cuộc sống và khẳng định được cá tính sáng tạo của chính nhà văn
Trang 36Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ
2.1 Ý thức của nhà văn trong việc nhận thức hiện thực đời sống
2.1.1 Ý thức mở rộng hệ đề tài, chủ đề mô tả
Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, văn học có khả năng phản ánh cuộc sống một cách đa dạng và phong phú Đối tượng của văn học là một chân trời vô tận bao gồm toàn bộ thế giới tự nhiên, đời sống xã hội và cuộc sống của con người Phạm vi hiện thực cụ thể phản ánh trong tác phẩm đó được gọi là đề tài Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất định, nó được xem như một nhân tố tương ứng với đối tượng phản ánh riêng của tác phẩm
Văn xuôi 1945 - 1975, thể tài lịch sử - dân tộc chiếm vị trí chủ đạo, quyết định toàn bộ diện mạo thể tài, hệ thống thể loại của văn xuôi Và do đó,
văn xuôi ở thời kỳ này có tham vọng trở thành bức tranh hoành tráng về lịch
sử dân tộc Bởi thế, thể tài đời tư - thế sự giữ một vị trí thứ yếu, không phát triển với tư cách là một thể tài độc lập
Giai đoạn sau 1975 có sự thay đổi thể tài Đó là một bước phát triển đáng chú ý của văn xuôi Thể tài đời tư và thể tài đạo đức - thế sự phát triển mạnh mẽ, và dần dần trở thành thể tài chính yếu của văn xuôi sau 75 Chiến tranh đã kết thúc, cuộc sống hòa bình bắt đầu với bao vấn đề mới mẻ, bức xúc Từ việc chỉ ra đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, đến
sự khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo, và yêu cầu có những thể
nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật biểu hiện một hướng đi
mới mở ra sự phát triển cho truyện ngắn đương đại Và Đoàn Lê cùng truyện ngắn của bà không nằm ngoài quỹ đạo đó
Trang 37Đoàn Lê cũng có ý thức nới rộng hệ đề tài, mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực Từ một hiện thực chủ yếu được giới hạn trong đời sống chính trị xã hội, truyện ngắn của bà đã tìm đến một hiện thực rộng lớn hơn của đời sống nhân sinh thế sự: hiện thực của đời sống hằng ngày với các quan hệ vốn dĩ đa chiều, đa sắc, phức tạp chằng chịt, “đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống” [32] Hiện thực xã hội khách quan là một đề tài mới mẻ, mảnh đất màu mỡ mà nhà văn hướng đến Đời sống trong cơ chế thị trường, với những nhân tố làm nảy sinh tiêu cực, bà đã phát hiện và không ngần ngại đưa vào trang viết những hiện tượng tiêu cực của xã hội: chuyện nhà cửa đất đai, chuyện làm giàu, mong ước đổi đời thời mở cửa, chuyện hôn nhân gia đình… thể hiện tính dự báo trong thời đổi mới: con người luôn cảnh giác, tránh xa cái phi đạo đức, phi nhân cách; lên án, phê phán những hiện tượng
xấu xa, bỉ ổi, những việc làm sai trái trong cơ chế thị trường (Đất xóm Chùa,
Xóm Chùa thời ung thư, A tuorism xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Trận hồng thuỷ thứ hai…).
Phát triển thể tài thế sự đời tư, truyện ngắn Đoàn Lê đã đi sâu vào ngõ ngách tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thế Con người cá nhân, đời thường được miêu tả sâu sắc Nhiều truyện ngắn đã tập trung miêu tả những con người bất hạnh với những bi kịch cuộc đời họ, đặc
biệt là người phụ nữ (Không hẹn mà gặp, Oan hồn ngõ đá dốc, Dĩ vãng thơm
nồng, Gã cò thơ, Hạt vừng, Dấu hỏi gửi thượng đế…).Mảng đề tài thế sự trái lại, trong nhiều truyện ngắn của bà lại đầy nếm trải, suy tư, chiêm nghiệm, với
hàng loạt những câu chuyện từ chính cuộc sống (Mẹ và con và thánh thần,
Giường đôi xóm Chùa, Giao cảm cuối cùng…)
Nhìn chung, ở phạm vi hiện thực khách quan, Đoàn Lê với khả năng quan sát tinh nhạy, nắm bắt sâu sắc những biến chuyển của xã hội, cùng với tài năng của mình đã chuyển tải một cách khá toàn diện và sâu sắc bức tranh
Trang 38hiện thực đời sống Để rồi, nhờ đó, người đọc nhận thức phần nào về cuộc sống, về con người và về chính mình.
Tuy nhiên, điều đáng nói, trong truyện ngắn của mình, ngoài phạm vi hiện thực khách quan, Đoàn Lê còn đi sâu vào một mảng đề tài mới Đó là thế giới tâm linh với sự tham gia của yếu tố tưởng tượng, kỳ ảo Sự xuất hiện thế giới cõi âm, giấc mơ, sự biến hình trong nhiều truyện ngắn thực sự gây hứng thú cho người đọc Đời sống tâm linh khó nắm bắt, lý giải nhưng nữ sĩ cũng từng bước giải mã và không ngần ngại gửi gắm vào đó những trăn trở, uẩn khúc trong đời sống con người Cảnh nghĩa địa với những hồn ma, giấc mơ siêu thực, sự biến hình kỳ lạ vừa đưa đến cho chúng ta những cảm giác mới
lạ, vừa giúp ta nhận thức được một góc khác của hiện thực cuộc sống Đó là
trường hợp của Lên Ruồi, Nghĩa địa xóm Chùa, Cô Khịt, Người khách đêm
giao thừa…
Như vậy, hiện thực cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó, cả khách quan lẫn chủ quan - tâm linh được chuyển tải khá toàn diện trong thế giới truyện ngắn Đoàn Lê Nó có vai trò quan trọng trong việc giúp người đọc nhận chân được hiện thực một cách đầy đủ nhất
2.1.2 Đi sâu khai thác mảng đề tài thế sự
Văn học luôn luôn song hành cùng bước đi của lịch sử Ứng với mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc đều có những đề tài trung tâm Do yêu cầu văn học phải nhận thức và phản ánh kịp thời những chuyển biến lớn lao của đời sống nên có thể hiểu đề tài trung tâm là mảng hiện thực tập hợp những sự kiện những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xã hội Đề tài trung tâm thể hiện những nét bản chất nhất của thời kỳ lịch sử đó
Trước 1975, khi đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh thì đề tài về cuộc chiến đấu anh dũng của dân tộc, đề tài người lính được coi là những đề tài
Trang 39quan trọng nhất Văn học không đứng ngoài hiện thực chiến tranh mà còn tham gia cổ vũ, động viên, truyền lửa cho cuộc kháng chiến của dân tộc ta để
đi tới thắng lợi
Sau 1975, khi hoà bình lập lại, khi quy luật của chiến tranh không còn tác động một cách sâu sắc tới việc lựa chọn phạm vi hiện thực của nhà văn thì
hệ thống đề tài trong văn học đã được mở rộng Mảng đề tài thế sự này thực
sự lên ngôi khi đất nước trở lại hoà bình, khi con người trở về đối diện với những lo âu của cuộc sống thường nhật Nó ngày càng chiếm một vị trí quan trọng với truyện ngắn nói riêng và văn xuôi nói chung
Đối với nhà văn Đoàn Lê và truyện ngắn của bà, mảng đề tài thế sự được đặc biệt chú ý, khai thác sâu Các vấn đề thế sự đã phần nào đáp ứng được nhu cầu phân tích, lý giải suy tư về con người, xã hội của một thời kỳ mới Bám sát, gắn bó hiện thực và đối tượng phản ánh, truyện ngắn của Đoàn
Lê đã thể hiện một cách nhạy bén, chân thực những vấn đề của thời cuộc có tính tiêu biểu Ở mỗi một truyện ngắn, bà đều đề cập đến một vấn đề, tất cả đều là những mảng màu khác nhau của đời sống hiện thực này
Ta bắt gặp trong nhiều truyện ngắn câu chuyện về một địa danh Xóm
Chùa cùng với sự đổi thay của nó trong sự phát triển chung của thời đại Giá
cả đất đai trước các dự án nâng cấp, mở rộng bỗng dưng tăng vọt đến mức chóng mặt, làm cho cuộc sống của những người dân xóm Chùa cũng “rộn” hẳn lên, sôi động cùng “cơn sốt” đất đai Nhiều người trong làng cũng nhờ thế kiếm được món tiền kha khá từ việc bán đất đai Tuy thế, cũng có không ít những bi kịch cá nhân khác nhau xoay quanh chuyện đất đai Đơn cử là cái chết của ông Hớn khi phát hiện ra số tiền có được từ việc bán đất đã bị lấy cắp già một nửa Và dư luận cho rằng ông chết sớm để xuống âm phủ tranh
đất (Đất Xóm Chùa) Trường hợp khác, trong truyện Xóm Chùa thời ung thư
cũng là một thực tế phải bàn “Thằng cháu” - chủ tịch huyện dám dời cả hài
Trang 40cốt của chính người cha của mình bí mật đem lên chôn ở trên thung lũng một ngọn núi - nơi gọi là “rốn rồng” mong được phất lên trong việc tiến thân và làm giàu Mọi thứ đều đạt được đúng nguyện vọng khi anh ta cho triển khai xây dựng một nhà máy xi măng ngay trên chính mảnh đất quê hương Thế nhưng, cái gì đến sẽ đến, sự xuất hiện của nhà máy công nghiệp gây ra nạn ô nhiễm môi trường, người dân ở đấy sống chung với không khí ô nhiễm, nguồn nước ô nhiễm Hậu quả là người dân xóm Chùa phần đa đều mắc căn bệnh ung thư Bản thân ông chủ tịch cũng hoá thành một kẻ tâm thần khi biết rằng xương cốt của cha mình đã bị cái nhà máy đó khai thác làm nguyên liệu
sản xuất (Xóm Chùa thời ung thư).
Câu chuyện cuộc sống thời đại mở của hội nhập, phát triển chưa thể dừng lại ở đó nếu như không kể ra hàng loạt những hiện tượng có tính chất
“hệ quả” khác Những cách thức làm ăn, kiếm tiền cũng trở nên đa dạng hơn khi nhu cầu của xã hội được nâng lên Một thanh niên với chút vốn có được nhờ những ngày đi xuất khẩu lao động đã mạnh dạn biến cái làng vô danh của mình trở thành khu du lịch sinh thái Bộ mặt và nhịp sống của làng thay đổi hẳn khi xuất hiện những ông khách Tây, khách tỉnh và cả những “em” ca-ve mắt xanh mỏ đỏ Cái giá phải trả cho chính người mở đường là cái chết của người cha Nhưng đến cùng cũng có thể thấy rằng, cả trong đám tang cha
mình, nhân vật Cường cũng biến thành một dịp để kiếm được ít tiền (A tourist
xóm Chùa) Các tệ nạn xã hội xuất hiện dường như là tất yếu của sự phát triển
của chính cuộc sống này Nạn chặt cây, nạn phá rừng, phá núi trong việc cải tạo để xây dựng cơ sở hạ tầng; nạn bài bạc, rượu chè, ca-ve, mốt lấy chồng ngoại… trở thành tâm điểm được nói đến trong nhiều truyện ngắn của Đoàn
Lê như: Trận hồng thuỷ thứ hai, Vô đề, Sex, Trinh tiết xóm Chùa.
Đi vào cuộc sống đời thường, nhà văn còn khai thác các vấn đề về nhu cầu hạnh phúc của con người, đặc biệt là người phụ nữ Nhiều truyện ngắn