Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trờng Đại Học Vinh
Khoa ngữ văn
……
đặc sắc truyện ngắn nguyễn ngọc t
qua tập truyện cánh đồng bất tận
Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành lý luận văn học
Giáo viên hớng dẫn: ThS Lê Sử Sinh viên thực hiện: Trần Thị Dung Lớp : 47B2 - Ngữ văn
Trang 2chuyên ngành Lí luận văn học, của gia đình, ngời thân đặc biệt
là sự giúp đỡ tận tình của Thạc sĩ Lê Sử.
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo - Thạc sĩ Lê Sử đã trực tiếp giao đề tài, tận tình hớng dẫn, giúp đỡ để khóa luận hoàn thành!
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong chuyên ngành đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận! Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, ngời thân, bạn bè đã quan tâm,
động viên giúp đỡ để tôi vợt qua trở ngại vơn lên trong học tập
và hoàn thành khóa luận này!
Đồng thời, tôi cũng rất mong nhận đợc nhiều hơn nữa những ý kiến góp ý của các thầy cô và bạn bè để khóa luận hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 20 tháng 5 năm 2010 Sinh viên thực hiện
Trần Thị Dung Mục lục Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phơng pháp nghiên cứu 6
5 Đóng góp và cấu trúc của khóa luận 6
6 Cấu trúc khóa luận 6
Chơng 1: truyện ngắn nguyễn ngọc t trong bức tranh chung của nền văn học việt nam sau 1986 7
1.1 Diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1986 7
1.2 Nguyễn Ngọc T – một hiện tợng của văn học Việt Nam đơng đại 10
1.2.1 Vài nét về Nguyễn Ngọc T 10
Trang 31.2.2 Khái quát về sáng tác của Nguyễn Ngọc T 11
1.3 Cánh đồng bất tận, cột mốc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc T 13
Chơng 2: Đặc sắc về nội dung của tập truyện Cánh đồng bất tận 18
2.1 Quan tâm đến những con ngời nhỏ bé 18
2.2 Đi sâu khám phá bi kịch về số phận và vẻ đẹp tiềm tàng của những con ngời 25
2.2.1 Về bi kịch số phận của con ngời 25
2.2.2 Vẻ đẹp tiềm tàng của con ngời 34
2.2.2.1 Tình yêu quê hơng, làng xóm 34
2.2.2.2 Những tâm hồn nhân hậu, giàu nghĩa khí, giàu yêu thơng 35
2.2.2.3 Niềm tin vào một ngày mai tốt đẹp của ngời dân Nam Bộ 40
2.3 Không gian, cảnh sắc Nam Bộ trong truyện Nguyễn Ngọc T 45
Chơng 3: Đặc sắc nghệ thuật của tập truyện Cánh đồng bất tận 54
3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 54
3.2 Hình thức trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc T 71
3.2.1 Trần thuật theo ngôi thứ nhất xng tôi 71
3.2.2 Trần thuật theo ngôi thứ ba 74
3.3 Giọng điệu trần thuật 79
3.3.1 Giọng điệu dân dã mộc mạc 79
3.3.2 Giọng điệu xót xa, ngậm ngùi 82
3.3.3 Giọng đôn hậu, ấm áp chân tình 84
Kết luận 87
Tài liệu tham khảo 89
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Khoảng thời gian mười năm về trước có rất nhiều người cho rằng
văn học Nam Bộ không thể nào sánh kịp văn học hai miền Bắc và Trung Dòngvăn học ấy ít về số lượng, còn hạn chế về chất lượng Đánh giá như thế tưởngrằng nặng nề nhưng đó là sự thật Mãi đến những năm đầu thế kỉ XXI Nam Bộ
đã xuất hiện một loạt nhà văn trẻ đặc biệt là sau sự xuất hiện của Nguyễn Ngọc
Tư dòng văn học Nam Bộ đã đánh dấu một bước phát triển mới khiến độc giả cảnước ngạc nhiên Chị đã khẳng định mình ngay từ những tác phẩm đầu tay vàliên tục được nhận những giải thưởng cao quý Chị thực sự đã góp một tiếng nóiriêng của mình hòa vào nền văn xuôi nước nhà bằng một loạt những tác phẩmđộc đáo Trong số các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư thì có thể nói tập truyện
Cánh đồng bất tận đã đưa tên tuổi chị đến vinh quang trong lao động nghệ thuật.
Chị trở thành một trong những nhà văn nổi bật nhất thập kỉ đầu của thế kỉ XXI.Các nhà lí luận đã ghi nhận: từ sau hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp văn học ViệtNam chờ đợi rất lâu mới có lại một cây bút tài hoa và làm nên dư luận như
Nguyễn Ngọc Tư Với Cánh đồng bất tận chị đã được trao giải nhất về văn xuôi
của Hội nhà văn Việt Nam Vì vậy tìm hiểu về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư
dù ở bất cứ phương diện nào cũng là việc làm thiết thực không chỉ giúp ta hiểuthêm về tài năng nghệ thuật của một tác giả mà còn có thể hình dung phần nào
Trang 5diện mạo của văn xuôi Việt Nam đương đại Đây là lí do đầu tiên thúc đẩy tôilựa chọn đề tài này.
1.2 Đọc Cánh đồng bất tận ta bắt gặp nhiều mảnh đời cơ cực, lầm than
tảo tần sớm hôm mà vẫn không thoát được cảnh nghèo Tác phẩm của chị nhưgieo vào lòng ta niềm thương yêu đồng cảm với con người, nhen lên trong tim tatình yêu mãnh liệt với cuộc sống thanh bình và tươi đẹp này Nó làm tươi mới,gội rửa tâm hồn giúp ta thoát khỏi những lo toan ích kỉ của cuộc sống đời
thường, biết trân trọng mọi niềm vui nỗi buồn của cuộc sống này Đọc Cánh
đồng bất tận giáo sư Trần Hữu Dũng (Việt kiều Mỹ) gọi văn Nguyễn Ngọc Tư
là “đặc sản miền Nam” Mỗi truyện ngắn của chị được ví như một bữa ăn thịnhsoạn hợp khẩu vị làm cho ai cũng thấy vừa miệng, cách bày biện toàn “đặc sảnNam Bộ” với chất liệu tươi tắn mới mẻ Đó là một trong vô vàn những ý kiếnủng hộ văn của Nguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên vẫn có một số ý kiến trái chiều gâykhông ít sóng gió cho tác phẩm của chị và cho chính chị Vậy đâu thực sự làchân giá trị trong sáng tác của chị? Để trả lời cho câu hỏi này thì việc tìm hiểu
đặc sắc của tập truyện Cánh đồng bất tận trên cả phương diện nội dung và nghệ
thuật là việc làm cần thiết có giá trị khoa học và thực tiễn
2 Lịch sử vấn đề
Xuất hiện trong bầu không khí hết sức nhạy cảm, truyện ngắn NguyễnNgọc Tư đã gây được một cuộc tranh luận sôi nổi chưa từng thấy trên văn đànvăn học nước ta thời kì đổi mới Đã có rất nhiều công trình, bài viết, bài báo, bàiphê bình của các giáo sư, tiến sĩ, các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, cả củađộc giả khám phá truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trên nhiều góc độ Thống kêtrong thời gian từ năm 2003 đến nay đã có khoảng 150 bài viết về sáng tác củaNguyễn Ngọc Tư Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa thực sự có một công trìnhnghiên cứu nào hoàn chỉnh có quy mô lớn viết về tác phẩm của chị, đặc biệt làviệc đi sâu khám phá những nét đặc sắc trên cả giá trị nội dung và nghệ thuậtcủa tác phẩm Giới phê bình vẫn còn dè dặt khiêm tốn trong việc tiếp cận đánh
Trang 6giá các sáng tác của nhà văn Đó cũng là điều hiển nhiên bởi bất kì hiện tượngvăn học nào để khẳng định được vị thế của mình thì cũng phải trải qua sự kiểmnghiệm của thời gian Do vậy chúng tôi cũng chỉ mới thu thập được một số bàiviết, ý kiến đánh giá của một số tác giả trên các tạp chí, các bài đăng trên báo
điện tử
Ông Trần Hữu Dũng (Việt kiều Mĩ), một giáo sư yêu văn học nước nhà
và đặc biệt say mê văn chương của nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư đã lập trang
web Văn học và giáo dục trong đó có hẳn một tủ sách của Nguyễn Ngọc Tư.
Trong đó ông viết: “Nguyễn Ngọc Tư - Đặc sản miền Nam” là một bài viết vôcùng đặc sắc Ông cho rằng: “trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta, ởkhắp mọi phương trời, tìm được quê hương nơi tâm tưởng, những tình tự ngủquên trong lòng mình, những kỉ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ…”
Vũ Long cũng từng nói Nguyễn Ngọc Tư cho ta một góc nhìn mới: “Câu chuyệncủa chị cho ta một cái nhìn ở một góc độ khác về những con người bình dânnhất trong xã hội Cũng là lúc tôi ngỡ câu chuyện của thời xa xưa, chính xác hơn
là một chút ngỡ ngàng, bây giờ mà cũng có những cảnh đời như vậy”
Trên báo Văn nghệ số 39 ra ngày 24 tháng 9 năm 2005, tác giả Hoàng Thiên Nga có bài: “Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận”, Hoàng
Thiên Nga đã nêu lên những ý kiến cảm xúc khá chân thành của mình về truyệnngắn Trong đó tác giả đề cập đến: “Các nhân vật trong truyện đầy tính thiệnnhưng cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo, dốt nát, lam lũ và điều kiện sống ngộtngạt tù túng xô đẩy người này là nạn nhân của người kia”
Trong bài viết “Cánh đồng bất tận và những vấn đề liên quan” của tác giả Hà Quảng đăng trên trang EVăn của báo điện tử Vnexpress Net, tác giả đã nhận xét : “Các nhân vật trong Cánh đồng bất tận không phải nhân vật hiện lên
trần trụi, hiện sinh Con người hành xử theo bản năng nhiều hơn là ý thức xãhội Mà ai cũng có cái tốt cái xấu chứ không hoàn toàn xấu Ta gặp họ không ít
Trang 7lần trong cuộc đời và họ không đáng làm ta xa lánh chứ không nói là đáng lênán”.
Tạp chí Phật giáo số 11 ra ngày 28 tháng 12 năm 2005 có bài viết: “Nỗi
đau trong Cánh đồng bất tận” của tác giả Thảo Vy nói về màu sắc Phật giáo
trong tác phẩm “nỗi hận”, “sự sợ hãi”, “sự hổ thẹn”, “sự tối tăm” Qua đó thấyđược thông điệp mà tác giả gửi đầy chất nhân văn
Ngày 09 tháng 06 năm 2008 trên tạp chí sông Hương có bài “Lời đề từtrong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” của Phạm Phú Long Tác giả viết: “Những
số phận trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư là những con người sống giữa mọingười, không cô đơn nhưng lại cô độc, con người cá thể với những ý nghĩa cánhân không được đầy đủ”
Trong bài viết “Kết của Cánh đồng bất tận” tác giả Lí Quốc Nam viết:
“Còn cái cảm giác bình tĩnh, tỉnh táo của cô gái không làm một điều giả dối củacâu chuyện mà là cảm giác rất thật, cảm giác của một con người nhưng khôngđược dạy làm người, nhất là người phụ nữ”
Tác giả Đào Huy Hiệp có bài “Chất thơ trong Cánh đồng bất tận” đã chỉ
ra cho chúng ta thấy chất thơ thấm đẫm Cánh đồng bất tận ở phương diện: từ
ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt
Trong bài viết “Sông nước Hậu Giang” tác giả Kiệt Tấn cho rằng: “Văncủa Nguyễn Ngọc Tư gắn bó với đời sống, chơn chất, không sần sùi ngổ ngáonhư lối viết mới hiện nay Cách nói thành thật hiền hòa không xốc táp ngangngược Người đọc không thấy ở Tư cái “cố gắng làm văn chương” không thờithượng chau chuốt, không có những kiểu nói om sòm mà rỗng tuếch Bình dị,đơn giản, dễ hiểu, có sao nói vậy”
Ngoài ra còn một số bài viết, ý kiến đóng góp của nhiều tác giả và bạnđọc khác Các bài viết trên đều khẳng định tài năng văn chương của Nguyễn
Ngọc Tư, đặc biệt là truyện ngắn Cánh đồng bất tận Nhưng cũng có một số bài
viết không đồng tình với lối viết mới của chị như “Im lặng thở dài” của bác sĩ
Trang 8Đỗ Hồng Ngọc đăng trên báo Tuổi Trẻ (30/11/2005) hay bài “Nói nhỏ cho Tư
nghe” của doanh nhân Lê Duy đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ (16/4/2006) thì lại
tỏ ý xem nhẹ tài năng văn chương, thậm chí là trình độ học vấn của NguyễnNgọc Tư Hoặc như bài “Bênh vực truyện đạo văn - đạo đức văn hóa” của Lý
Nguyên Anh đăng trên báo Văn Nghệ Trẻ số 40 (01/10/2006) nhân việc dư luận xung quanh 2 truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư và Dòng
sông tật nguyền của Phạm Thanh Khương có sự giống nhau, đã hạ một câu:
“Nhân đây cũng nói thêm rằng, dù vì lí do nào đi chăng nữa, dù ai hết lời tándương đi chăng nữa, tôi cũng coi hai truyện ngắn đồng sàng dị mộng ấy lànhững tác phẩm hết sức tật nguyền!” Như vậy bên cạnh những ý kiến ủng hộnhiệt tình cho tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thì vẫn còn những ý kiến phản bác
rất gay gắt Đề tài về Nguyễn Ngọc Tư từ khi Cánh đồng bất tận xuất hiện đến
tận bây giờ vẫn còn nóng hổi Mọi người đều ra sức chứng minh cho ý kiến củamình Tuy nhiên tính đến thời điểm ngày hôm nay thì ta có thể khẳng định sovới những người không đồng tình với lối viết của chị thì những người yêu thíchcác tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư lại chiếm số lượng rất đông đảo và đã có rấtnhiều bài viết chỉ ra cái hay cái đẹp trong tác phẩm của chị Tuy nhiên trongnhững bài đó các tác giả mới chỉ đề cập một khía cạnh hoặc một vấn đề có tínhkhái quát về Nguyễn Ngọc Tư Việc tìm hiểu có tính hệ thống về những đặc sắctrong truyện ngắn của chị trên cả phương diện nội dung và hình thức chưa có tácgiả nào đi sâu đề cập tới
Vì vậy ở khóa luận này, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu những đặc sắc về
nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua tập truyện Cánh
đồng bất tận một cách toàn diện, có hệ thống trên cơ sở tiếp thu tài liệu nghiên
cứu trước đó để góp phần khẳng định những giá trị độc đáo trong tác phẩm củachị
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là “nội dung và nghệ thuật” trong
tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là 14 truyện ngắn trong tập truyện
Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư (NXB Trẻ, năm 2005).
Ngoài ra chúng tôi còn khảo sát thêm một số truyện ngắn khác như Ngọn
đèn không tắt (NXB Trẻ năm 2004), Gió lẻ (NXB Trẻ, năm 2008) và một số
tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu “đặc sắc truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư” qua tập truyện
Cánh đồng bất tận chúng tôi đi giải quyết những nhiệm vụ sau:
Trước tiên, tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong bức tranh chungcủa văn học đương đại và trong dòng chảy Nam Bộ để thấy được vị trí và vai tròcủa truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong sự phát triển của dòng văn học Nam Bộcũng như đối với diện mạo nền văn học Việt Nam
Sau đó chúng tôi đi tìm hiểu Cánh đồng bất tận trên cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật của tập truyện để có thể khẳng định sự đặc sắc, chân giá trị của các tác phẩmđó
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu: phương pháp phântích, tổng hợp, phương pháp khảo sát, thống kê, phương pháp cấu trúc, hệ thống,phương pháp so sánh
5 Đóng góp và cấu trúc của khóa luận
Khóa luận đưa ra một cái nhìn có tính chất toàn diện, có hệ thống vềnhững đặc sắc, giá trị của cả tập truyện Kết quả nghiên cứu của khóa luận cóthể dùng để làm tài liệu cho việc tìm hiểu tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư,những vấn đề có liên quan đến tác giả và trên cơ sở đó ta có thể tìm hiểu nhữnghiện tượng văn học khác
Trang 106 Cấu trúc khóa luận
Tương ứng với những nhiệm vụ đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và kếtluận, khóa luận chia thành 3 chương:
Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong bức tranh chung của
nền văn học Việt Nam đương đại Việt Nam sau 1986
Chương 2: Đặc sắc về nội dung của tập truyện Cánh đồng bất tận.
Chương 3: Đặc sắc về nghệ thuật của tập truyện Cánh đồng bất tận.
Sau cùng là phần tài liệu tham khảo
Chương 1
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ TRONG BỨC TRANH CHUNG CỦA NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1986
1.1 Diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1986
Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) và nghị quyết 05 (1987)
về “đổi mới và nâng cao trình độ quản lí văn học nghệ thuật và văn hoá, pháthuy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên mộtbước mới” đã khiến các nhà văn không còn phải ôm cả “thưc tài” và “tấmlòng” trong người mà có điều kiện thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo của mình.Chính vì vậy có thể nói sau năm 1986 diện mạo của nền văn học Việt Namtrở nên đa dạng phong phú trên nhiều phương diện
Sau 1986 nói như nhà văn Nguyên Ngọc: “Họ thực sự trở lại công việcviết văn với ý nghĩa đích thực nhất” Tự do trong sáng tác (dù chỉ ở mứctương đối) là một động lực quan trọng để các nhà văn có thể hướng ngòi bútđến những vùng đất khác nhau, lại vừa có thể nói tiếng nói chung của cộngđồng, dân tộc, thời đại đồng thời họ có thể cất lên tiếng nói chung của chínhmình Bên cạnh đội ngũ nhà văn thành danh từ thời kháng chiến chống Pháp,
Trang 11chống Mĩ, một thế hệ nhà văn mới (sau chiến tranh) cũng xuất hiện Với ýthức tìm tòi sáng tạo, họ không những thể hiện được bản sắc riêng của thế hệmình mà họ còn có những đóng góp nhất định vào diện mạo văn học nướcnhà.
Vào nửa cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 khuynh hướngnhận thức lại hiện thực với cảm hứng sự thật, cảm hứng phê phán mạnh mẽtrên tinh thần nhân bản đã phát triển rất mạnh Đời sống văn học trở nênphong phú đa dạng Ta bắt gặp trong đó nhiều gương mặt tiêu biểu tạo nên sựđổi mới văn học như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu, NguyễnMạnh Tuấn, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Bằng sự nhạy cảm củamình một số nhà văn đã kịp thời nắm bắt và đưa vào văn học những vắn đềmới của cuộc sống những “cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánhsáng, màu đỏ và màu đen, đầy rẫy những biến động bất ngờ…” Đặc biệt với
Đứng trước biển, Cù lao tràm Nguyễn Mạnh Tuấn đã góp phần ‘‘kéo văn
học đang thánh thót ở bè cao xuống cái trần tục đời thường…Và nhờ đó bắtmột cái vòi có lực lượng mạnh của hiện thực ngổn ngang mới ùa tràn vào vănhọc, đem lại sinh khí mới mạnh mẽ cho văn học’’(lời Nguyễn Ngọc) Cũngnhư Nguyễn Mạnh Tuấn các nhà văn khác như Nguyễn Minh Châu, Ma VănKháng, Nguyễn Khải đều tìm ra cho mình hướng tiêp cận mới “gan lọc’’ và
“chưng cất’’ chất liệu hiện thực để cho ra một loạt tác phẩm như Bức tranh,
Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa, Thời xa vắng, Thời gian của người, Mùa lá rụng trong vườn Hiện thực cuộc
sống vốn ngổn ngang trăm bề lại trở thành “mảnh đất” màu mỡ để người nghệ
sỹ “thâm canh gieo trồng” Các nhà văn hôm nay đã đi sâu khám phá hiệnthực một cách khách quan và trung thực “Hiện thực không chỉ là hiện thựccách mạng, các biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà đó còn là hiện thựccủa đời sống hàng ngày với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan, đa sự, phứctạp, chằng chịt, đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống
Trang 12Hiện thực đó còn là cá nhân của mỗi người với những vấn đề riêng tư, sốphận, nhân cách với khát vọng mọi mặt cả hạnh phúc và bi kịch”[9; 132,
133] Thật vậy, hiện thực cuộc sống trong tính toàn vẹn của nó đã tạo ra
không gian nhiều chiều cho văn học thoả sức chiếm lĩnh, khai phá Các thế hệnhà văn mới như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Hoà Vang, Phạm ThịHoà, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo, Dạ Ngân… mà gần đây là Nguyễn Ngọc Tư
đã góp phần đáng kể tạo nên thành tựu đa sắc của văn học thời kì đổi mớicũng bằng chính việc phản ánh đời sống trên bình diện thời sự đời tư
Như vậy, nhiệt tình đối với xã hội, khát vọng dân chủ và tinh thần nhìnthẳng vào sự thật đã là những động lực tinh thần cho văn học thời kì đổi mớiphát triển mạnh mẽ và sôi nổi Sự đổi mới ý thức nghệ thuật nằm ở chiều sâucủa đời sống văn học, nó vừa là động lực cho những tìm tòi mới trong sángtác, vừa thúc đẩy mạnh mẽ những sự đổi mới mới trong sáng tác, vừa thúcđẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm thể nghiệm trong cách tiếp cận đề tài, cáchthức sử dụng các phương thức nghệ thuật để phát huy một cách độc đáo cátính sáng tạo cũng như văn phong của mỗi nhà văn
1.1.2 Năm 1986 là thời điểm ghi dấu mốc của thời kì đổi mới mở cửa
văn học Việt Nam Từ đó đến nay văn học được chia thành 2 chặng nhỏ: từ
1986 đến đầu những năm 1990 là chặng đường văn học sôi nổi, mạnh mẽ gắnliền với chặng đầu của công cuộc đổi mới đất nước Từ những năm 1990 đếnnay văn học trở lại với những quy luật bình thường và hướng sự quan tâmnhiều đến những cách tân về nghệ thuật
Có người nhận định tiến trình đổi mới văn học nước ta đã bị chững lại từgiữa những năm 90 Thực tế, gần 10 năm của chặng đầu trong công cuộc đổimới xã hội nước ta, nền văn học ở trong trạng thái chuyển động dữ dội củamột cuộc “trở dạ”, những khoảng thời gian như vậy có ý hết sức quan trọngnhưng thường không kéo dài Nếu trong chiến tranh, xã hội và văn học đềuphải tồn tại trong điều kiện bất thường thì trong thời kì biến chuyển lớn lao
Trang 13của đời sống xã hội như chặng đầu công cuộc đổi mới cũng tạo ra một môitrường tinh thần và những điều kiện ít nhiều có phần tạo ra sự thúc đẩy chovăn học phát triển
Từ giữa những năm 90 của thế kỉ vừa qua, trong xu thế đi tới sự ổn địnhcủa xã hội, văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính bìnhthường và tất nhiên cũng không xa với những định hướng đã hình thành từnhững năm 80 Nếu như trước đây động lực thúc đẩy văn học đổi mới từ nhucầu đối với xã hội và khát vọng dân chủ là nội dung cốt lõi của văn học trongnhững chặng đường đầu đổi mới thì khoảng 10 năm trở lại đây văn học quantâm nhiều hơn đến đổi mới chính nó Đây chính là lúc văn học trở về với đờisống thường nhật, vĩnh hằng đồng thời có ý thức và nhu cầu tự đổi mới Tuytrong thời gian này ít có tác phẩm gây được những “cú sốc” trong dư luậnhoặc trở thành những hiện tượng thu hút đông đảo quần chúng nhưng hầu như
ở thể loại nào cũng có sự tìm tòi, tự đổi mới Song, nhìn một cách khách quanthì đời sống văn học nước nhà trong thời điểm đó thực sự đang trong có phầntrầm lắng Điều này phải được nhìn nhận giải thích từ nhiều nguyên nhân,không trừ nguyên nhân do sự hạn chế của chính người cầm bút
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì rõ ràng văn học Việt Nam đươngđại với xu hướng dân chủ và sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã đưa tới sự pháttriển phong phú sôi nổi đa dạng của văn học Sự đa dạng và phong phú đượcthể hiện trên nhiều phương diện của văn học như: đa dạng về đề tài, phongphú về thể loại; có nhiều hướng sáng tạo trong cách sử dụng các thủ phápnghệ thuật, đa dạng về phong cách và khuynh hướng thẩm mĩ Sự phong phú
và đa dạng cũng đi liền với tính phức tạp và không ổn định Nhiều khuynhhướng chỉ rộ lên trong khoảng thời gian ngắn ngủi rồi tắt lịm, thị hiếu củacông chúng không thuần nhất và luôn biến động, các thể loại cũng thăng trầm
và bất thường Sự phức tạp và không ổn định này là đặc điểm tất yếu của mộtgian đoạn của văn học mang tính giao thời nhưng cũng còn do một nguyên
Trang 14nhân rất cơ bản nữa đó là do cơ chế thị trường Điều đó vừa có tác dụng thúcđẩy sự phát triển văn học, vừa có tác động tiêu cực khó tránh khỏi đối với cảsáng tác lẫn xuất bản, phê bình và công chúng.
Như vậy từ những năm 1986 văn học Việt Nam đã có một sự chuyểnbiến mạnh mẽ Đất nước đổi mới về mọi mặt, văn học cũng đã đổi mới để đónnhận những ngọn gió mới đang không ngừng thổi vào mọi ngóc ngách củacuộc sống Trong xu thế hội nhập sự giao lưu giữa đời sống văn hoá và vănhọc thế giới ngày càng được mở rộng, cùng với nhu cầu nội tại của đời sôngvăn hoá tinh thần trong nước, văn học đã ngày càng gia tăng tính hiện đại
1.2 Nguyễn Ngọc Tư - một hiện tượng của văn học Việt Nam đương đại
1.2.1 Vài nét về Nguyễn Ngọc Tư
Cùng với các thế hệ đàn anh như Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị VàngAnh, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo… Nguyễn Ngọc Tư, một nhàvăn Nam Bộ với tuổi đời còn rất trẻ cũng đang góp phần tích cực vào côngcuộc đổi mới, làm phong phú và đa dạng hóa diện mạo nền văn học đươngđại
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976 tại Đầm Dơi, Cà Mau Mảnh đấtnơi địa cầu Tổ quốc còn nhiều khó khăn gian khổ Chiến tranh đã lùi xanhưng vẫn hằn lại nơi đây những vết tích còn tươi rói, buộc những người sốngtrên mảnh đất này phải cố gắng vắt kiệt sức mình mới mong cải tạo, phát triểnquê hương Vất vả là thế nhưng họ vẫn có lối sống vô cùng tình cảm, họ luônquan tâm chia sẻ yêu thương giúp đỡ nhau một cách chân thành nồng hậu.Chính môi trường đó đã nuôi dưỡng tâm hồn văn chương Nguyễn Ngọc Tư.Trang văn của chị lúc nào cũng ăm ắp yêu thương là vì lẽ đó Dù cuộc sống
có cơ cực đến mấy thì chị vẫn có thể làm cho người đọc xúc động, nghẹnngào bởi chính sự ấm áp chân tình của tình cảm giữa người với người Nhữngcảnh, những người, nhưng cuộc đời cứ thế ùa vào văn chị một cách tự nhiên
Trang 15nhuần nhị mà ngồn ngộn đầy chất sống Nguyên Ngọc trong bài viết Còn
nhiều người cầm bút có tư cách đã đánh giá về Nguyễn Ngọc Tư rất cao bởi
cái lẽ viết đơn giản đến mức “như không’’ của chị: “Cô ấy như một cái cây tựnhiên mọc lên giữa rừng tràm hay giữa rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạthường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, chân chất mà tinh tế,đặc biệt Nam Bộ một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả nhưcác tác giả Nam Bộ đi trước’’ [12]
Văn nghiệp của chị được bắt đầu khi ba của chị đem 3 truyện ngắn vềtình bạn đồng quê gửi đăng báo Hiện giờ chị là một viên chức nhà nước, sinhhoạt tại Hội văn học nghệ thuật Cà Mau, đồng thời là một đại biểu hội đồngnhân dân tỉnh Cà Mau
Năm 2006, chị đã đươc kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam Đến nay, chịvẫn miệt mài trên con đường lao động nghệ thuật của mình
1.2.2 Khái quát về sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Cho đến thời điểm hiện tại thì nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã cho ra mắtđộc giả 11 cuốn sách :
1 Ngọn đèn không tắt (tập truyện, Nxb Trẻ 2000)
2 Ông ngoại (tập truyện thiếu nhi, Nxb Trẻ 2001)
3 Biển người mênh mông (tập truyện, Nxb Kim Đồng 2003 )
4 Giao thừa (tập truyện, Nxb trẻ 2003)
5 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (tập truyện, Nxb văn hoá Sài
Gòn 2005)
6 Cánh đồng bất tận, những truyện hay và mới nhất (tập truyện,
Nxb trẻ 2006)
7 Sống chậm thời @ (in chung với Lê Thiếu Nhơn, Nxb trẻ 2006)
8 Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (Nxb Trẻ 2005)
9 Ngày mai của những ngày mai (Tạp văn, Nxb Phụ nữ, 2007)
Trang 1610 Nước chảy mây trôi (tập truyện và kí, Nxb Văn nghệ Tp Hồ
Chí Minh, 2004)
11 Gió lẻ & 9 câu chuyện khác (tập truyện, Nxb trẻ 2008)
Nguyễn Ngọc Tư trẻ về cả tuổi đời và tuổi nghề nhưng đã có số lượngtác phẩm rất đáng kể Và với những tác phẩm này Nguyễn Ngọc Tư đã chinhphục số lượng độc giả rất lớn, được các nhà chuyên môn đánh giá cao, ănkhách với các nhà xuất bản, lọt vào tầm ngắm của các nhà đạo diễn điện ảnh,tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư thực sự đã tạo được dấu ấn sâu sắc trong dưluận văn học cả nước Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn tài năng, chị đã trởthành một hiện tượng độc đáo Sự tài năng của chị trước hết thể hiện ở cáihay, sức hấp dẫn trong văn của chị, sau là được thể hiện phần nào ở các giảithưởng mà chị nhận được như giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học tuổi
20 lần II với tác phẩm Ngọn đèn không tắt Cũng như tác phẩm này, chị tiếp
tục nhận giải B của Hội nhà văn Việt Nam (2001) Đến năm 2003 chị đượcbình chọn là nhà văn trẻ xuất sắc tiêu biểu của năm 2002 Năm 2006, với
truyện ngắn Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư được nhận giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam Mới đây tập truyện Cánh đồng bất tận và truyện ngắn
Cuối mùa nhan sắc do Hội nhà văn đề cử đã được dịch sang tiếng Anh và
nhận giải thưởng văn học quốc tế ASEAN tại Thái Lan vào tháng 10 năm2008
Các truyện như Cánh đồng bất tận, Cải ơi, Biển đời mênh mông, Dòng
nhớ năm 2009 đã được chuyển thể sang các loại hình sân khấu và đã gây
được tiếng vang rất lớn
1.3 Cánh đồng bất tận, cột mốc trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Năm 2005, 2006 được xem là những năm có sự “nổi sóng” trong dòng
chảy văn học Việt Nam khi Nguyễn Ngọc Tư trình làng truyện ngắn Cánh
đồng bất tận và sau đó là cả tập truyện Cánh đồng bất tận Vừa ra mắt bạn
đọc, lập tức nó đã trở thành đề tài nóng bỏng của nhiều cuộc bút chiến, của rất
Trang 17nhiều cuộc tranh luận với các ý kiến khác nhau mà khen nhiều hơn chê Song
xét một cách toàn diện Cánh đồng bất tận ra đời có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Đối với nền văn xuôi đương đại, nói như Nguyên Ngọc: nó đã mang đến chonền văn học nước nhà một “hơi gió mát” Còn đối với quá trình sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tận thực sự là tác phẩm vượt tầm, là cột
mốc trong chuỗi sáng tác của chị
Năm 1996, truyện ngắn Đổi thay được đăng báo, có thể nói đây chính
là tác phẩm đặt nền niềm tin ban đầu của Nguyễn Ngọc Tư theo đuổi nghiệpviết Từ đó đến nay gần 15 năm cầm bút, gia tài viết của chị đã lên đến hơn
200 truyện ngắn, tản văn, bút kí, 11 đầu sách Đây quả là con số rất đáng nểphục, đặc biệt từ năm 2000 đến nay chị liên tục đạt được các giải thưởng văn
nghệ Trước hết với truyện ngắn Ngọn đèn không tắt chị đã đoạt giải nhất
Cuộc vận động sáng tác tuổi 20 Với giọng văn nhẹ nhàng tự nhiên đậm chấtNam Bộ, Nguyễn Ngọc Tư kể về câu chuyện cô bé Tươi đại diện cho thế hệtrẻ thay ông nội đi kể tiếp trang sử hào hùng ở xứ Hòn Bên cạnh trang sử hàohùng thấm đẫm máu và nước mắt của các bác, các chú là ngọn đèn mãi khôngtắt trong trái tim tuổi trẻ Ngọn đèn ấy được thắp sáng bằng niềm tin, bằng ýchí, bằng niềm tự hào của tuổi trẻ Tuổi trẻ hôm nay được nuôi dưỡng bằngniềm tin nhìn vào quá khứ, sống ở hiện tại và hướng đến tương lai với tấmlòng trân trọng, ghi nhớ công ơn những người đã ngã xuống vì mảnh đất thânyêu Ngọn đèn mãi không tắt như để khẳng định sự tiếp nối, kế thừa truyềnthống ấy để xây dựng mảnh đất yêu thương của mình giàu tươi đẹp hơn
Vẫn với giọng điệu đậm chất phương ngữ Nam Bộ, Nguyễn Ngọc Tưkhông ngừng khẳng định mình Truyện chị viết ra nhanh chóng giành được sự
ái mộ của độc giả được các nhà nghiên cứu văn học, các bạn bè đồng nghiệp
đánh giá cao Bên cạnh Ngọn đèn không tắt, nhiều chuyện khác cũng đạt được
các giải thưởng văn học khá cao Khi độc giả đã bắt đầu quen thuộc với chấtgiọng đặc sệt Nam Bộ, với những câu chuyện dân dã, hồn hậu, những nỗi
Trang 18buồn nhẹ nhẹ ở các tập truyện Ngọn đèn không tắt, Giao thừa, Nước chảy
mây trôi…Bất ngờ Cánh đồng bất tận xuất hiện làm họ vô cùng “ngạc nhiên,
sửng sốt” Cánh đồng bất tận thực sự đã đem đến cho người đọc cảm giác
ngỡ ngàng bằng một câu chuyện man dại và khốc liệt Ở đây dã không cònnữa hình ảnh một vùng quê trù phú với những người nông dân phóng khoánggiàu nghĩa hiệp như trước đây vốn đã xuất hiện rất nhiều trong các tác phẩmcủa chị Thay vào đó là một thế giới tàn khốc, khắc nghiệt, ở đó có người phụ
nữ nghèo đến mức một mảnh vải đẹp là cả một giấc mơ và đã phải đánh đổi
nó bằng cả thân xác mình, ở đó có hai đứa trẻ nghèo suốt đời theo cha rongruổi trên những cánh đồng, chúng lạc lõng cô đơn đến mức quên cả cách giaotiếp với con người Ở đó có người chồng vì thù hận vợ phản bội đến mức tìmcách trả thù trên thân xác những người đàn bà khác đến mức phá hỏng cuộcđời của những đứa con ruột thịt Trên nền những tình tiết truyện như vậyNguyễn Ngọc Tư đã đưa người đọc đến những khái quát, những triết lí sâusắc về nhân tình thế thái Cho dù con người có rơi vào bi kịch khổ đau nhưng
họ đã không buông xuôi, không chịu đằm sâu trong hố bế tắc, đằng sau mỗi bikịch là những niềm hi vọng khôn nguôi về một sự đổi thay của số phận Dẫu
số phận con người có bị tủi cực đến đâu thì cái khát vọng hướng thiện vẫnkhông bị tuyệt diệt, “nó chỉ khuất lặn đâu đấy nơi đáy sâu tâm hồn mà cáixấu, cái ác đã đày đoạ đến hoang lạnh” Đặc biệt, Nguyễn Ngọc Tư cũng runglên hồi chuông báo động về vấn đề hạnh phúc gia đình Gia đình tan vỡ, đâychính là tác nhân lớn nhất gây tổn hại đến đời sống tình cảm, tâm sinh lí củatrẻ em Những mầm non của đất nước cần phải được sống trên nền một môitrường tốt nhất Ngoài ra, qua các tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tư cònmột lần nữa nhấn mạnh thiên chức của người cầm bút, thiên chức cao cả củanghệ thuật là thanh lọc tâm hồn con người và đưa con người hướng đến bến
bờ tốt đẹp Với Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã chuyển tải được trọn
vẹn cái thiên chức ấy Từ chính tất cả điều này đã giúp chúng ta có thể lí giải
Trang 19phần nào về thành công vang dội của Cánh đồng bất tận, phần nào lí giải
được tại sao Nguyễn Ngọc Tư lại được nhận giải thưởng cao quý của hội nhàvăn Và cũng không thấy thật khó hiểu khi vì sao so với các bậc đàn anh cũngtừng nhận giả thưởng của Hội nhà văn như Tố Hữu (1996), Ma Văn Kháng(1998), Hữu Thỉnh (1999), Nguyễn Khải (2000), Nguyễn Đức Mậu (2001),Nguyễn Kiên (2002), Bằng Việt (2003), Đỗ Chu (2004), Inrasara(2005), LêVăn Thảo (2006), Trần Văn Tuấn (2007) thì con đường tới đỉnh vinh quangcủa Nguyễn Ngọc Tư lại bằng phẳng và chóng vánh hơn
Tuy nhiên Cánh đồng bất tận không chỉ đưa chị đến với vinh quang mà
có lúc “sóng gió” cũng bất ngờ đến với tác giả Nhưng vượt lên trên tất cả,
với những giá trị chân mĩ của mình, Cánh đồng bất tận vẫn dành được sự ái
mộ của độc giả, Nguyễn Ngọc Tư vẫn đang đứng vững ở nấc thang rất cao
trên văn đàn Thực sự Cánh đồng bất tận vừa ra đời nó đã ngay lập tức trở
thành một hiện tượng văn học độc đáo, vừa ra đời nó đã cất tiếng chuông reovang báo hiệu bước phát triển mới của văn học Nam Bộ
Quả thật, trong những năm gần đây dòng văn học Nam Bộ cũng đã có
sự khởi sắc và bắt đầu thu được những thành tựu đáng kể Đội ngũ sáng tác đã
và đang được bổ sung Ngoài các nhà văn lão luyện như Sơn Nam, HoàngVăn Bồn, Nguyễn Quang Sáng đến Bình Nguyên Lộc, Ngô Khắc Tài, DạNgân thì gần đây có Trần Nguyên Ý Anh, Nguyễn Thị Diệp Mai, PhanThanh Lệ Hằng, Đỗ Tuyết Mai, Nguyễn Ngọc Thuần Sự góp mặt đông đảocủa đội ngũ những nhà văn trẻ đã tạo nên một diện mạo mới sôi nổi và quyếtliệt trên dòng chảy vốn bình lặng của dòng văn học Nam Bộ Thế nhưng vẫnchưa có tác giả nào có thể tạo ra sự đột biến mà phải đợi đến khi Nguyễn
Ngọc Tư với Cánh đồng bất tận xuất hiện thì văn học Nam Bộ mới thực sự tạo dấu ấn riêng Thậm chí có ý kiến cho rằng “Vũ Trọng Phụng với Số Đỏ; Nguyễn Huy Thiệp với truyện ngắn Phẩm tiết, Vàng lửa, Con gái thủy thần; Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh và Nguyễn Ngọc Tư với Cánh đồng bất
Trang 20tận đã đưa văn học Việt Nam ra biển lớn hội nhập trong không gian văn học
thế giới” Cho dù đã có một số ý kiến nhận xét rằng: ý kiến trên có phần hơitáo bạo nhưng xét một cách toàn diện từ giá trị nghệ thuật đến giá trị nộidung, từ sự hấp dẫn đón nhận của bạn đọc đều đã chứng minh được rằng ýkiến đó không phải có ít cơ sở
Đến đây ta có thể khẳng định đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư không chỉđối với dòng văn học Nam Bộ nói riêng mà còn có thể thấy được vị trí củaNguyễn Ngọc Tư trong nền văn học đương đại nói chung Như vậy NguyễnNgọc Tư bằng bản lĩnh của mình chị đã sớm khẳng định được vị trí, vượt quađược các gương mặt văn học lão làng và trở thành gương mặt sáng giá và
triển vọng nhất trong đội ngũ các nhà văn đương đại Sau khi Cánh đồng bất
tận đã cất lên một tiếng vang lớn chị vẫn không ngừng khẳng định mình với
các tác phẩm Ngày mai của những ngày mai (2007), Gió lẻ (2008), Khói trời
lồng lộng (2009) Qua các tác phẩm này ta đã thấy một hướng đi mới của
chị, chị đã luôn dự cảm một sự hư vô cho một kiếp người, giữa sự tròn trịahay khuyết thiếu của tình người Đây cũng là những tác phẩm rất có giá trị.Tuy nhiên sau một tiếng vang người ta thường đòi hỏi một tiếng vang khácvang dội hơn Song ở các tác phẩm sau của chị đến thời điểm này vẫn chưa cótác phẩm nào vượt tầm được “đặc sản miền Nam”, chưa có tác phẩm nào
quàng được vòng nguyệt quế vinh quang danh dự như Cánh đồng bất tận đã từng quàng lên cho chị Như vậy Cánh đồng bất tận đã thực sự là một cột
mốc trong quá trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư
Có thể nói Nguyễn Ngọc Tư là một nhà văn có tài năng thiên bẩm Cùng
với Cánh đồng bất tận ngay khi chị vừa gõ nhẹ tay vào cánh cửa văn học thì
cánh cửa đó lập tức mở rộng chào đón chị Có chị, dòng văn học Nam Bộđược biết đến nhiều hơn trong cả nước Có chị, nền văn học Việt Nam thêmmột lần khẳng định được cái độc đáo, cái xuất sắc, cái tinh túy của bản sắc
Trang 21truyền thống dân tộc bởi chính tình đời, tình người cứ luôn lấp lánh sáng rựctrong từng trang văn của chị.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ khi đất nước được đắm mình trong bầu không khí đổi mới (1986),văn học Việt Nam đã mang trên mình một diện mạo mới với những thành tựuhết sức đặc sắc Như được đón nhận một luồng sinh khí mới các nhà văn nônức đi tìm kiếm những cách thể nghiệm mới với những đề tài cũng rất mới.Đặc biệt với các nhà văn trẻ, những tâm hồn đang căng tràn nhựa sống vànhiệt huyết sáng tạo, họ đã vô cùng háo hức thể hiện tinh thần đổi mới ấytrong các sáng tác của mình Trong số các nhà văn trẻ ấy Nguyễn Ngọc Tưhiện lên như một hiện tượng văn học độc đáo Tác phẩm của chị, đặc biệt là
Cánh đồng bất tận đã gây nhiều tranh cãi trong giới nghiên cứu phê bình với
rất nhiều ý kiến khen chê khác nhau (khen nhiều hơn chê) Tuy nhiên chínhnhững đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tập truyện, chính bằng
chân giá trị đích thực của mình thì Cánh đồng bất tận đã thực sự trở thành cột
mốc vinh quang trong quá trình sáng tác của một nhà văn tài năng, là một sảnphẩm độc đáo của nền văn học nước nhà
Trang 22Chương 2
ĐẶC SẮC VỀ NỘI DUNG CỦA TẬP TRUYỆN
CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN
2.1 Quan tâm đến những con người nhỏ bé
Trong văn học thời kì đổi mới con người được nhìn nhận theo chiều
kích mới, họ được nhìn nhận ở nhiều vị thế và được đặt trong tính đa chiềucủa mọi mối quan hệ: con người với lịch sử, xã hội, tự nhiên; con người vớigia tộc, với những người xung quanh và với chính bản thân mình Đồng thờicon người cũng được khám phá ở nhiều bình diện nhiều tầng bậc như ý thức,
vô thức; đời sống tình cảm và đời sống tự nhiên bản năng, những khát vọngcao cả và dục vọng tầm thường; con người cụ thể cá biệt và con người trongtính nhân loại phổ quát Khi đặt con người vào trong nhiều tầng bậc, nhiềumối quan hệ như vậy thì tất yếu con người sẽ càng rơi vào nhiều mâu thuẫnxung đột, có thể là xung đột với xã hội, có thể xung đột với gia đình và có khi
là xung đột với chính mình Một khi không giải quyết được mâu thuẫn, khôngđiều hòa được các mối quan hệ thì con người đó lập tức phải đứng ra ngoài lềcủa xã hội, lúc đó họ đã trở thành những con người nhỏ bé cô đơn, lạc lõnggiữa cuộc đời
Mọi tác động, đổi thay của xã hội đều có thể ảnh hưởng đến đời sốngcon người, ảnh hưởng đến từng người cụ thể Bởi vậy trong một hoàn cảnhnào đó bất kì ai đều có thể trở thành con người nhỏ bé mà không phân biệtgiai cấp tầng lớp, địa vị xã hội Có khi đó là những con người sống triềnmiên trong đau khổ, tai họa dồn dập đến với họ làm cho họ rơi vào bế tắc giữacuộc sống đời thường Có khi đó là những con người bơ vơ, nghèo khổ cơcực, lẻ loi đứng bên lề xã hội Hay cũng có những mơ ước khao khát của con
Trang 23người dù rất nhỏ bé về tình yêu, về cuộc sống nhưng lại bị những tai biếncuộc đời làm thui chột đi, rõ ràng lúc ấy họ cũng đã trở thành những conngười nhỏ bé Ngoài ra nhiều khi chính sự tự ti, vị kỉ vô tình của con ngườilàm cho họ trở nên nhỏ bé hơn trong cộng đồng, xã hội…
Theo những khái quát sơ lược như trên thì ta thấy đề tài con người nhỏ bé
là đề tài khá quen thuộc Nó đã xuất hiện khá phổ biến trong các sáng tác củarất nhiều các nhà văn lớn trên thế giới mà đặc biệt là trong các tác phẩm củanền văn học Nga như Sêkhốp, Puskin, Gôgôn… Con người nhỏ bé trong cáctác phẩm của họ đều là những con người thấp cổ bé họng, đều là những ngườidân Nga nghèo túng, cơ cực… Quay về khảo sát các tác phẩm văn học nướcnhà thì đề tài con người nhỏ bé cũng không còn quá mới lạ Những con người
có cuộc đời bất hạnh khổ đau đã xuất hiện trong suốt chiều dài của lịch sử vănhọc nước ta Ngay từ hình ảnh cô Tấm, những em bé mồ côi trong những câuchuyện cổ tích đến những truyện kể thời trung đại với hình ảnh những ngườiphụ nữ cô đơn, héo hắt chờ chồng, người cung nữ lẻ bóng âu sầu khóc thươngcho số phận mình đến cuộc đời sóng gió trong 15 năm lưu lạc của người congái đẹp Vương Thúy Kiều Tất cả họ đều là những điển hình tiêu biểu củahình ảnh con người nhỏ bé Đến thời kì những năm 1930-1945, ở tiểu thuyết
Tự lực văn đoàn các nhân vật tắm mình trong không khí văn hóa mới nhưng
có rất nhiều lúc họ cảm thấy bị rã rời trước cuộc đời, bất lực, thấy mình chỉ là
kẻ chạy theo xu thời và họ bị đẩy ra ngoài rìa xã hội lúc nào chính họ cũngkhông hay Đến văn học hiện thực phê phán trong các sáng tác của Nam Cao,Nguyễn Công Hoan nhân vật con người nhỏ bé cũng thường xuyên xuất hiện.Các nhân vật của họ luôn rơi vào bế tắc, lạc lõng, bất lực vì không thể nàothay đổi được hoàn cảnh cuộc sống Đến giai đọan 1945-1975, góp phần vàonhiệm vụ: tất cả vì tiền tuyến, lúc này con người cộng đồng, con người sử thi
đã xuất hiện thay thế cho vị trí con người cá nhân Nhưng khi hòa bình lập lại,
bị chi phối bởi quy luật thời bình, văn học trở về với cuộc sống thường nhật
Trang 24Nhân vật con người nhỏ bé lại xuất hiện với mật độ dày đặc trong các sángtác của Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Thị Thu Huệ…Hầu hết những nhân vật đó đều là những nạn nhân của cuộc sống xô bồ thờihiện đại, họ bất hạnh trên chính con đường tìm kiếm hạnh phúc của mình Tiếp nối dòng chảy ấy, đề tài con người nhỏ bé tiếp tục được các nhà văn
đi sâu, thể nghiệm nhưng trong những năm gần đây đáng chú ý nhất phải kể
đến nhân những con người nhỏ bé trong tập truyện Cánh đồng bất tận của
Nguyễn Ngọc Tư Đó đa phần là những người nông dân Nam Bộ vất vả cơcực, những người nghệ sĩ nghèo lang thang mưu sinh Sống giữa vùng nôngthôn miền Nam Việt Nam với vô vàn những khó khăn gian khổ, những vếttích chiến tranh chưa kịp lành kín miệng, bằng bản chất của người con xứmiệt vườn, họ đã luôn vươn lên trong cuộc sống dù phải trải qua đau khổ đếntột cùng
Trước Nguyễn Ngọc Tư đã có rất nhiều tác giả Nam Bộ viết thành công
về đề tài này như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Dạ Ngân… hay gần đây làNguyễn Thị Diệp Mai, Nguyễn Ngọc Thuần… nhưng để có cái nhìn toàndiện, thấu đáo nhất về những con người nơi địa đầu Tổ quốc thì cách hay nhất
là đến với Cánh đồng bất tận Bằng cách tiếp cận mới mẻ của chị, số phận
cuộc đời của những con người đời thường nơi đây hiện ra rõ nét đến khôngngờ
Thật vậy, với cách nhìn cuộc đời hết sức tinh tế, cách viết truyện mộcmạc Nguyễn Ngọc Tư đã làm cho cả cuộc sống của người dân Nam Bộ ùavào từng trang viết của mình không ồn ào, sôi động mà hết sức dung dị, đờithường và có lúc tưởng như không thể đời thường hơn được nữa Mười bốntruyện ngắn trong tập truyện đều chủ yếu nói đến những con người nhỏ bé,nghèo khổ Những mảnh đời nông dân lam lũ, tảo tần, sớm hôm, họ như đãvắt kiệt sức lao động của mình mà nghèo vẫn hoàn nghèo Những người nghệ
sĩ say mê nghề nghiệp cả đời cống hiến nhưng số phận lại hẩm hiu bất hạnh
Trang 25Cái nhỏ bé của những người nông dân nơi đây càng được tô đậm hơn khi
họ còn là những người nông dân làm nghề chăn vịt, đó là nghề cùng khổ củangười nông dân Dân gian ta thường có câu: “Muốn giàu nuôi cá, muốn khánuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt” Nuôi cá giàu thế nào, nuôi heo khá ra sao thì
ta chưa biết nhưng rõ ràng không ai muốn cái nghèo cứ đeo bám mãi Nhưngbiết làm gì khác khi địa hình của vùng cộng với cái thân phận nghèo truyềnkiếp của những kẻ cùng đinh, bất đắc dĩ họ chỉ có cách duy nhất là nuôi vịtchạy đồng để túc tắc sống qua ngày Đó là cuộc sống trôi dạt của ông Hai
trong Cái nhìn khắc khoải “hôm nay ở Rạch Mũi, ngày mai ở Nhà Phấn
Ngọn, xa nữa lại đến Cái Bát không chừng Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lênnhững cánh đồng vừa mới gặt xong, ngó chừng sang những cánh đồng lúavừa mới chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng Đờicủa ông là một cuộc đời lang bạt Một cuộc sống trên đồng khơi” [18; 50]
Ba cha con trong Cánh đồng bất tận cũng vậy, cũng cái nghề nuôi vịt
chạy đồng này, họ cũng đã thấm quá đủ cái khổ, cái cơ cực, cái nghèo khócủa cái nghề bấp bênh, lúc nào cũng phải trôi dạt trên khắp những cánh đồngđầy nắng, gió…để chỉ cần khi lúa vừa bắt đầu ánh vàng thì tất cả họ đã “đánhhơi” thấy, từ những người gặt thuê đến những người nuôi vịt chạy đồng, trongcon mắt của Nương họ như “kên kên ngửi thấy mùi xác thối mà lũ lượt kéođến” [18; 208] Đặc biệt, với ba cha con khi gắn với nghề này tức là họ đãchấp nhận cuộc sống vĩnh viễn không nhà không cửa, họ chấp nhận nghề nàycũng là do muốn trốn tránh thực tại, muốn cách li với cuộc sống con người,
họ sống và đã chấp nhận cuộc sống mà ở đó “người ta đem hết những bảnnăng hoang dã của mình ra để giành lại miếng ăn” Tưởng như không còn gì
có thể gây khó khăn cho những con người đã chai sạn bởi gió, bởi nắng, bởichính bản năng hoang dã của họ nhưng vẵn có những tai hoạ ập đến mà họkhông thể lường trước được.Tất cả những người chăn vịt đều phải sửng sốt,
Trang 26điêu đứng bởi đại dịch mà người ta gọi là H5N1 Họ quặn lòng đau đớn, rớtnước mắt khi đàn vịt của họ bị dồn tống vào bao, chôn xuống hố tiêu huỷ Tất nhiên với đại dịch chung số phận đàn vịt của ba cha con Chín Vũcũng không nằm ngoài cảnh ngộ đó Nương và Điền “khóc hứt”, hai đứa trẻđau đớn “cảm nhận được cái hơi thở hướt ngắn dần của con vịt sau cùng”.
“Sống thì khó chứ chết sao mà dễ” [18; 198], Nương đã nhận ra điều ấy khinhìn thấy xác của một người chăn vịt do uống thuốc sâu để chết Nương thầm
“tiếc rẻ, ủa, cái người nằm sóng soài kia sao không phải là chúng tôi?”[18;198] Phải chăng với những người chăn vịt lúc này đó là lối thoát duynhất Một câu hỏi bất chợt, bâng quơ nhưng đã trở thành nỗi ám ảnh cho biếtbao trái tim người đọc Người ta giật mình, không thể ngờ nổi đến bây giờ màvẫn còn những mảnh đời như vậy Cứ như thế này thì bao giờ người nông dân
ta mới có thể thoát ra khỏi cuộc sống bấp bênh, mù xám và ứ đọng này…?
Quả thực đến với Cánh đồng bất tận Nguyễn Ngọc Tư đã khiến người
đọc thấu suốt hơn về thực trạng khổ đau của những con người nhỏ bé trong xãhội Cứ tưởng những người chăn vịt đã là những kẻ cùng đinh trong số những
kẻ cùng đinh Nhưng thật ra cái nghiệp bán hàng bông trên sông nước cũng là
sự lựa chọn bất đắc dĩ của gia đình ông Chín trong truyện Nhớ sông: “Gia
đình ông Chín sống hẳn trên ghe Cảnh gia đình ông cũng buồn lắm Nhànghèo, ra riêng, gia đình chỉ có hai công đất Năm Giang 3 tuổi Giang lên sởi.Ông Chín bán đất cứu con Số tiền còn dư lại, ông mua chiếc ghe nhỏ đi bánhàng bông Cả nhà dắt díu nhau lênh đênh sông nước” [18; 114]
Nếu như cái cuộc sống mục đồng không điểm hẹn dừng chân của chị emNương khiến Điền khi nhìn thấy ông già ngồi chơi với cháu đã tần ngần ướcmuốn “phải chi ông nầy là ông nội mình” để Nương chợt nhận ra rằng “mìnhnghèo rơi, nghèo rớt, nghèo đến nỗi không có… ông nội để thương” thì cuộcsống quẩn quanh trên chiếc ghe nhỏ lênh đênh sông nước làm Giang vô cùngthèm khát được tự do chạy tung tăng như các bạn cùng trang lứa trên bờ “Có
Trang 27lúc vừa ghé lại bờ chưa kịp buộc dây ghe vô gốc mắm do quẩn chân lâu ngàyGiang chạy lên bờ chạy cuống, chạy cuồng như vui như điên trên đất MáGiang rớt nước mắt: “Con nó thiệt thòi…” Ông Chín an ủi: “Vì miếng ăn màmình ơi” [18; 114] “Vì miếng ăn”, đây là nguyên nhân chính khiến cuộc sốngcủa con gái họ thiệt thòi, thiếu thốn Và phải chăng đây cũng chính là nguyênnhân sâu xa gây nên cái chết quá đột ngột của má Giang Má Giang chết đi,gia cảnh “gà trống nuôi con” khó khăn chồng chất khó khăn là điều không thểtránh khỏi
Cũng trên những dòng sông Nam Bộ ấy còn biết bao số phận hẩm hiu, bất
hạnh Nhân vật má trong Dòng nhớ đã phải mất bao công sức để đi tìm người
đàn bà bất hạnh có tên Hai Giang Trong trí nhớ của nhân vật má đó là môtngười đàn bà có ghe bán hàng bông, “da ngăm ngăm, không đẹp không xấu.Mới đầu đi với chồng, sau chồng bỏ lên bờ vì cơ cực quá trời, hồi trẻ có đứacon gái đầu lòng chừng bảy tháng tuổi thì rớt xuống sông chết” Với cuộc đờicủa người đàn bà thì còn nỗi đau nào hơn nỗi đau mất chồng, còn sự mất mátnào nghiệt ngã hơn nỗi buồn mất con Liệu trên đời còn bất hạnh nào hơn bấthạnh ấy! Tưởng chừng với nỗi bất hạnh như vậy, đó là người đàn bà có mộtkhông hai Thế nhưng sự thực làm người ta đau xót hơn nhiều Người đọc vôcùng bất ngờ và xót xa khi biết rằng: “người sống trên chợ này hễ mười ngườithì có năm người y chang hoàn cảnh như vậy, dân Ba Bảy Chín mà” Lời kháiquát “dân Ba Bảy Chín mà” nghe có vẻ nhẹ nhàng nhưng chất chứa trong đó làsức nặng sự khổ đau của cả một kiếp người Tất cả mọi người đều biết dấn thânvào cái nghiệp ấy là bấp bênh, là mất mát đau thương nhưng rồi họ vẫn phảichấp nhận bởi có lẽ với họ thì đó là lối thoát duy nhất
Đề cập đến số phận những con người bất hạnh, khổ cực ấy, Nguyễn Ngọc
Tư như đã thấu hiểu chia sẻ và bày tỏ sự cảm thông sâu sắc đối với kiếp cùng
khổ ấy Sự tưởng tượng về một tương lai tươi sáng của Nương trong Cánh
đồng bất tận, cái ước muốn cháu chắt của mình rồi sẽ chẳng phải lênh đênh của
Trang 28ông Chín trong Nhớ sông, sự miệt mài tìm kiếm người đàn bà bất hạnh của má trong Dòng nhớ… như đã một phần nào khái quát được mong muốn lớn nhất
của tác giả Đó là sự gửi gắm niềm hi vọng về một xã hội giàu đẹp hơn đểnhững con người thân yêu trên quê hương chị được trút vợi những nhọc nhằn,khổ đau, bất hạnh
Tiếp tục hành trình thấu hiểu những kiếp người nhỏ bé, càng tìm hiểu,quan sát Nguyễn Ngọc Tư càng giúp người đọc thấy rõ được thực trạng xã hội,đằng sau cái gọi là náo nhiệt của “biển người mênh mông” thì còn bao kiếpngười đang lẻ bóng dật dờ từng ngày, cơ nhỡ lang thang trên khắp các hẻmcùng ngõ tận Đó hoàn toàn không phải là những kẻ “đầu trộm đuôi cướp” mà
đó là những con người sẵn sàng dấn thân vào kiếp sống phiêu bạt vì lẽ sống lớncủa cuộc đời họ
Trên hành trình tìm kiếm lẽ sống cho cuộc đời mình, ông Năm Nhỏ, ôngSáu đã mất cả đời rong ruổi trên khắp các nẻo đường ngõ xóm, làm đủ nghề đểkiếm sống và sống chỉ với mục đích duy nhất, có thể là cha tìm con, chồng tìmvợ…
Đối với ông Năm Nhỏ lẽ sống duy nhất của ông là tìm thấy con Cải, đứacon riêng của vợ ông, đứa con mà ông hết mực yêu thương Còn đối với ôngSáu, ông cố tìm thấy vợ để được nói với vợ một lời xin lỗi Trên hành trình tìmkiếm của ông Năm Nhỏ thì tất cả những nơi ông đã từng đi qua, những nơi ôngtừng đặt chân tới thì đều đã từng vang vọng cái giọng nhắn tìm con thổn thức:
“Cải ơi, ba là Năm Nhỏ nè con, về đi con, đôi trâu có sá gì… Về nhà đi con, tội
má con vò võ có một mình” [18; 16], giọng nhắn này mỗi lần cất lên đều nghengắc ngoải như tiếng chim kêu tao tác giữa lưng trời, mênh mang toả khắpchốn Đi đến đâu ông cũng như vắt kiệt tình yêu thương con để tình yêu đóvọng lên cùng tiếng gọi con tha thiết Mỗi lần tiếng nhắn tìm con của ông vanglên người đọc như không còn chỉ thấy nỗi đau cồn cào, sự nhớ thương sâu sắc
mà còn thấy được nỗi cô đơn đang càng lúc càng xoáy sâu trong lòng ông Nỗi
Trang 29cô đơn ấy nó còn có sức mạnh lan toả ghê ghớm, nó như mũi kim nhọn đâmthẳng vào nỗi đau không cha không mẹ, vào thân phận bị bỏ rơi lạc lõng củaDiễm Thương, làm cho cô phải tủi hận nghẹn ngào cho số phận không nơinương tựa của mình, làm cho Thàn rơm rớm nước mắt nghĩ tới người cha giànơi quê hương mà vì miếng cơm manh áo mà Thàn phải dứt áo ra đi
Còn đối với ông Sáu Đèo trong Biển người mênh mông thì : “Qua đã tìm
gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi bận lội gần rã cặp giò rồi mà chưathấy” [18; 109] Ông Sáu đã mòn gót trên tất thảy mọi con đường, ngõ nàocũng đi hẻm nào cũng tới mà mỏi mắt còng lưng ông vẫn chưa tìm ra người vợ
mà ông thương yêu do không chịu được cảnh khổ cực cảnh chồng say xỉn mà
bỏ đi Một lần mắc lỗi, cả đời trả giá, và ông đã trả giá bằng cả cuộc đời Daydứt, hối hận, ông bơ vơ lạc lõng trên mọi nẻo đường mong một ngày tìm được
vợ để nói lời xin lỗi dù cho sức cùng lực kiệt
Ngoài ra để khắc họa sự nhỏ bé của những con người nơi đây, NguyễnNgọc Tư đã đặc biệt chú ý đưa vào tác phẩm của mình những nhân vật lànhững người già, những con người đã sắp đến lúc sức cùng lực kiệt, nhữngngười phụ nữ chân yếu tay mềm, những đứa trẻ ngây thơ cô đơn tội nghiệp
Trong 14 truyện ngắn của tập truyện Cánh đồng bất tận chỉ điểm qua ta đã thấy
ở đó xuất hiện ít nhất là 13 nhân vật là người già, 20 nhân vật phụ nữ, 2 nhânvật trẻ con điển hình Nguyễn Ngọc Tư cũng có chú ý khắc họa những ngườiđàn ông rắn rỏi, khỏe mạnh nhưng đa phần họ lại là những người đang mangnhững vết thương lòng đau đớn
Qua Cánh đồng bất tận, ta thấy rõ ràng Nguyễn Ngọc Tư không tô hồng,
không bôi đen hiện thực Qua những trang viết của mình chị đã thể hiện chânthực số phận vẻ đẹp của những con người nhỏ bé Vì thế có thể nói đề tài nàykhông mới, nó vẫn tiếp tục khai phá mảng đề tài truyền thống Nhưng rõ ràngnếu không có Nguyễn Ngọc Tư thì nhiều số phận, nhiều cuộc đời đặc trưng củanhững những người dân Nam Bộ, những con người nhỏ bé, thầm lặng với niềm
Trang 30tin mãnh liệt vào cuộc sống chúng ta sẽ không thể được biết đến TruyệnNguyễn Ngọc Tư mở ra một cánh cửa để chúng ta hiểu thêm về cuộc sống củanhững con người Nam Bộ Và phải khẳng định rằng đây là một đóng gópkhông nhỏ.
2.2 Đi sâu khám phá bi kịch về số phận và vẻ đẹp tiềm tàng của những con người
2.2.1 Về bi kịch số phận của con người
Gắn bó máu thịt với cuộc sống nơi địa đầu Tổ quốc, Nguyễn Ngọc Tưyêu từng mảnh đất, từng cánh đồng, từng dòng sông, chị yêu cả những conngười quanh năm lam lũ, tảo tần vất vả Viết về những người nông dân,những người nghệ sĩ, chị lấy trái tim mình làm điểm tựa để từ đó soi thấu tráitim mọi người Chị đi sâu tìm hiểu những bi kịch của họ nhưng chị đã khôngchỉ dừng lại ở bi kịch của người nông dân như nghèo, đói, tha hoá bị bóc lộttrà đạp đến thậm tệ như ta vẫn thường gặp trong các truyện của trào lưu vănhọc hiện thực phê phán (1930-1945) Bi kịch của người nông dân, số phậncủa những con người nhỏ bé trong truyện của chị còn phức tạp, lắm lối, lắm
đa đoan, éo le đến mức không ngờ
Có thể nói thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư rặt đều
là những con người bất hạnh, ai cũng mang trong mình những nỗi suy tư trăntrở, những “khối u” của cuộc đời
Truyện ngắn Cải ơi là truyện mở đầu cho cả tập truyện nhưng ngay từ
truyện này Nguyễn Ngọc Tư đã đi sâu, xoáy sâu vào bi kịch của ông NămNhỏ, người nông dân hiền lành chất phát, yêu con hết mực nhưng lại bị mangtiếng oan là “thằng cha giết con” Bi kịch mà ông Năm đang phải âm thầmchịu đựng thật quá ghê ghớm nhưng lại chẳng một người sẻ chia Đến người
vợ thân yêu nhất của mình, người có thể nói là gần gũi và hiểu ông nhất naycũng quay lưng lại với ông Thật “đã quá chừng đau, khi ông nhìn sâu trongánh mắt của vợ mình không còn lấp lánh thương yêu, chỉ tối tăm ngờ vực,
Trang 31hoài nghi” [18; 9] Không thể chịu đựng thêm nữa cái nỗi đau ấy ông bỏ xứ ra
đi quyết tâm tìm bằng được con Cải Nhưng mười hai năm trời đã qua, ông đãtìm đủ mọi cách mà mãi một tin của con cũng không có Ông mong ước cómột ngày được lên ti vi gọi con một tiếng, nói với con một câu: “Về nghe con,Cải ơi…” mà không thể nào có được cơ hội Cuối cùng bất đắc dĩ ông sẵnsàng trở thành “tên trộm đãng trí” đêm hôm lội bộ gần năm cây số trong mưasụt sùi vô xóm dắt đôi trâu đi, sáng hôm sau lại dắt đúng nơi hôm qua mìnhvừa ăn trộm để bán Bị người ta phát hiện, giải lên xã một mực ông nhắcngười ta kêu đài truyền hình rằng “quay tui để người dân cảnh giác” [18; 15].Nhưng dù đã phải hành động như thế nhưng ước muốn của ông cũng khôngthể trở thành hiện thực, “truyền hình có đưa tin nhưng chỉ thấy ông già chépmiệng một cách tuyệt vọng” [18; 16] Lại vẫn với chiếc xe kẹo kéo rong ruổitrên các nẻo đường, tiếng gọi con nghe tao tác giữa lưng trời, liệu đến bao giờ
bi kịch của người cha, người chồng đó mới có thể chấm dứt?
Cả tập truyện của Nguyễn Ngọc Tư là một tấn bi kịch lớn mà mỗi truyệnngắn là một bi kịch nhỏ trong tấn bi kịch lớn ấy Bên cạnh bi kịch cuộc đờicủa ông Năm Nhỏ, Nguyễn Ngọc Tư còn trải cho ta thấy nhiều nỗi bi kịchcuộc đời khác mà nổi bật là những bi kịch tình yêu
Nói đến tình yêu người ta thường nghĩ đến niềm vui, niềm hạnh phúcnhưng những câu chuyện tình trong truyện Nguyễn Ngọc Tư lại đều là nhữngmối tình thầm, tình câm, những mối tình éo le, ngang trái Đó là bi kịch tình
yêu của anh Hết, chị Hoài, Hảo trong Hiu hiu gió bấc, là sự tuyệt vọng lặng thầm của Nga trong Thương quá rau răm, là chuyện tình éo le giữa Huệ, Thi, Thuấn trong truyện Huệ lấy chồng, là chuyện hai anh em cùng yêu một người trong Nhà cổ Trong truyện Mối tình năm cũ, là nỗi nhớ thương tha thiết của
dì Thấm đối với người chồng Nguyễn Thọ đã hi sinh và nỗi đau đớn xót xacủa ông Mười khi chứng kiến nỗi đau âm thầm đang từng ngày dày vò xé tâm
can vợ mình, là mối tình đơn phương của ông Chín với bà Hồng trong Cuối
Trang 32mùa nhan sắc… Những mối tình đó đã trở thành niềm đau, bi kịch của mỗi
con người, từ các bạn trẻ đến những người trung niên và đặc biệt hơn trongtruyện Nguyễn Ngọc Tư thì cả người già cũng bị đeo đẵng bởi bi kịch tình ái
Trong Hiu hiu gió bấc, vì e ngại cho gia cảnh nghèo của cha con anh Hết
mà mẹ của người anh yêu đã quyết định tìm cách chia cắt tình cảm của ngườicon gái mình Bởi bà không muốn con gái mình phải lội chân vào cái vũngnghèo xơ nghèo xác ấy Chính bà đã nói: “Thằng Hết được, hiền, giỏi giangchịu khó lại hiếu thảo Nhưng nó nghèo quá, thân sơ thất sở không một cụcđất chọi chim, biết có lo cho bây sung sướng được không’’ [18; 31] Mẹ anhHết mất sớm, anh lớn lên được chính nhờ lòng tốt của những người trong xómlàng cho anh bú thép Cái nghèo là nguyên nhân buộc anh phải nợ món nợcuộc đời Cái nghèo cũng chính là nguyên nhân buộc anh phải trả món nợ ânnghĩa đó “Những giọt nước mắt chảy tràn trên khuôn mặt già nua của ngườiđàn bà đã từng cho anh bú thép” [18; 31] khiến anh không thể nào chịu được.Suy cho cùng cái nghèo chính là nguyên nhân buộc anh phải rơi vào bikịch tình yêu Anh yêu tha thiết, say đắm nhưng cuối cùng anh phải dằn lòngmình lại, giấu nước mắt chảy tràn vào trong, “cũng chẳng thèm ngước mắtnhìn chị” lần cuối trước khi đi lấy chồng Anh giả bộ mê cờ mà phụ tình chịHoài để rồi khi bóng chị vừa xa tụi con nít trộ lên “anh Hết sao mà khóc vậy”.Chị Hoài đi lấy người mình không yêu rõ ràng đây cũng là một bi kịch đối vớicuộc đời chị Có hôm gặp anh Hết, chị phải lấy nón che đi một bên má bầmtím Anh Hết giằng lấy nón mà xót xa: “Hoài ơi, em hạnh phúc tôi mừng.Hoài cứ như vầy, chắc tôi bỏ xứ” [18; 33]
Tình yêu và bi kịch của anh Hết, chị Hoài thế nào Hảo là người biết rõnhất, cảm anh Hết là con người nghĩa trọng tình thâm Hảo ôm giấc mộngthành đôi với anh Hết nhưng chị Hoài đi lấy chồng “tần ngần đã bốn mùa gióbấc”, đã sau bao nhiêu lọ dầu Nhị Thiên Đường của Hảo mà vết thương lòng
Trang 33của anh Hết vẫn chưa lành lại được Lại thêm một con người sa chân vào bikịch tình yêu!
Trong Duyên phận so le, mười bảy tuổi vì yêu Xuyến đã nông nổi bỏ cha
bỏ mẹ theo người yêu Mười tám tuổi cô cay đắng đường cùng, ôm con bỏtrước cửa nhà người ta khi “thằng nọ phũ phàng bỏ cù bơ cù bất giữachợ”[18;135] Chính sự nông nổi đã mở màn cho hàng loạt bi kịch cứ lần lượtkéo đến với cuộc đời cô
Còn với ông Chín trong Cuối mùa nhan sắc khi đang là một cậu công tử
Bạc Liêu ngay từ cái nhìn đầu tiên với cô Đào Hồng đã như bị nghiêng ngảbởi tiếng sét ái tình Ông cũng bỏ cả gia đình nhà cửa, chạy theo gánh hátchấp nhận một cuộc sống khổ cực để được gần người trong mộng của mình.Nhưng tình đơn phương của ông mãi cũng chỉ là tình đơn phương mà thôi.Đào Hồng yêu người đàn ông khác, rồi có con với người đó Xã hội sinh biến,
họ lạc nhau nhưng mấy chục năm trời ông vẫn cố công tìm kiếm Ông yêu màkhông được yêu, rơi vào bi kịch ông chấp nhận bi kịch đó nhưng dường nhưđối với ông đó cũng chỉ là trò đùa ác của thần tình yêu, bắn mũi tên tình áivào ông mà lại không để nó xuyên qua trái tim người đàn bà mà ông suốt đờitôn thờ
Không thể đáp lại tình yêu của ông Chín đó cũng là một bi kịch với ĐàoHồng Từ lúc sống đến khi chết, đời bà là một chuỗi dài những bi kịch dằng
xé Bà yêu Thường Khanh có con với ông ta nhưng bà lại phải một mình ômđứa con đó đối mặt với thành kiến xã hội (may mà có ông Chín giúp đỡ đứng
ra nhận lỗi về mình) Vì nghèo, không có điều kiện chăm sóc cho con bà đauđớn gửi nó cho người ta nuôi nhưng rồi chính đứa con ấy chẳng thèm nhìnmặt bà Cả đời bà chung thuỷ, đợi chờ tìm kiếm Thường Khanh nhưng khigặp lại vì đã “cuối mùa nhan sắc” ông đã dứt tình mà bỏ rơi bà Cú sốc quálớn, thất vọng tràn trề, bà suy sụp tinh thần rồi bà vĩnh viễn không vực dậyđược nữa Bà ra đi, có thể với bà bi kịch tình yêu, bi kịch cuộc đời cũng đã
Trang 34chấm dứt nhưng với ông Chín thì vết thương này biết bao giờ mới lành lạiđược!
Như vậy, bi kịch của những con người nhỏ bé mà Nguyễn Ngọc Tưthường xuyên đề cập đến là bi kịch tình yêu Tình yêu thực ra nó cũng chỉ làmột trạng thái tình cảm nhưng nó lại muôn hình muôn vẻ và quả thực nó cósức tác động thật ghê gớm Nó đã gây đau khổ cho mọi tầng lớp người từ trẻđến già, nó như một tấm lưới vô hình bủa vây tất cả mọi người Phải chăng đisâu khám phá những bi kịch này Nguyễn Ngọc Tư như đang giúp cho ngườiđọc hiểu rõ hơn quan niệm “cuộc đời là bể khổ” trong đạo Phật là thế nào Bikịch ẩn khuất ở bất cứ nơi nào, nó có thể xuất hiện ngay ở nơi người ta gọi làthiên đường hạnh phúc (tình yêu)
Tiếp tục đi sâu vào khám phá những ẩn ức của con người, Nguyễn Ngọc
Tư đã đặc biệt đi sâu khám phá bi kịch của những con người nhỏ bé trong
truyện Cánh đồng bất tận Cái nghèo là nguyên nhân dẫn đến nhiều bi kịch và
trong đó là bi kịch tình yêu Nó là nguyên nhân “chia loan rẽ thuý của nhiềuđôi uyên ương” Xót xa hơn nữa, những gia đình tan vỡ cũng xuất phát từ cáinghèo
Nhân vật người vợ Út Vũ (mẹ của hai đứa trẻ) tuy là kẻ phản bội nhưngcông bằng mà nói thì chính người đàn bà này đã rơi vào bi kịch đau xót nhất.Thật vậy vì nghèo quá mà tấm vải đủ màu sắc đã trở thành niềm ước ao củangười vợ trẻ, những ghe vải là thiên đường lộng lẫy mà bao người mơ ước tới.Nắn túi áo thấy nó xẹp lép, nhìn lại bồ lúa thì nó cũng vơi quá hai phần Hiệnthực nghèo khó đành hoà tan cùng chút nước miếng, người đàn bà nuốt “ực”trong nỗi thèm khát Thường đối với những gì ngoài tầm tay với của mình thìngười ta sẽ càng khao khát đạt được nhiều hơn, người mẹ ấy cũng vậy, chịkhông đủ ý chí sức mạnh để tránh khỏi cám dỗ ấy Cuối cùng chị đã khôngvượt qua được chính mình, chấp nhận đánh đổi thân xác để có thể có được
Trang 35những thứ mà người chồng nghèo khổ không mang lại được Không vượt quađược chính mình, đây cũng chính là một bi kịch với chị
Có người đã thắc mắc tại sao hành động bỏ con ra đi chị lại có thể dứtkhoát “cái rụp” vậy? Phải chăng chị không thương con? Thực ra, thương connhiều lắm chị mới không thể ở lại làm mẹ của hai đứa trẻ khi đã lỡ để chúngnhìn thấy những hình ảnh trái với luân lí đạo đức mà mẹ chúng đã làm Chị ra
đi có lẽ vì chị nghĩ rằng mình đã không còn đủ tư cách làm mẹ chúng nữa.Dứt bỏ những đứa con thân yêu, đó chính là bi kịch lớn nhất của cuộc đời làmmẹ
Người mẹ đó cũng làm sao có thể ngờ được sự ra đi của mình là sự khởiđầu cho một chuỗi dài những bi kịch tiếp theo mà chồng mình và con mìnhphải chịu đựng “Vợ bỏ nhà theo trai” nỗi nhục ấy đè nặng lên tâm trí Út Vũ.Còn mặt mũi nào nhìn mặt mọi người, ông đã thẳng tay đốt căn nhà mà phảikhó khăn lắm ông mới dựng lên được Ngọn lửa hừng hực cháy đã liếm sạchtất cả những dấu vết của người đàn bà đã từng là vợ ông, cũng là ngọn lửa xoásạch những tháng ngày yên ấm của gia đình Nương Ngọn lửa ấy nó cũngnhư đã làm mồi cho ngọn lửa thù hận đang âm ỉ sẵn trong lòng ông Và ngọnlửa thù hận cũng chính là cái mầm bi kịch đang lớn lên từng ngày trong ông.Chính ngọn lửa này đã từng khắc từng giây thiêu trụi những gì gọi là lương tricon người trong ông để mọi người đàn bà khi nhìn vào bộ mặt thật của ông họkhông còn tìm thấy bộ mặt của một con người nữa Ba cha con cùng đàn vịtbắt đầu hành trình mù xám lang thang trên khắp cánh đồng khơi và đây cũngchính là lúc ông bắt đầu trả thù cuộc đời Ông căm ghét tất cả mọi người đàn
bà, ông ra sức quyến rũ, trả thù, rửa hận ngay trên thân xác họ, rồi “quất ngựatruy phong” rũ bỏ họ một cách phũ phàng nhất Đau đớn hơn nữa, bi kịch thùhận đã làm cho ông biến thành người cha vô nhân tính Đóng kín trong lãnhcảm, ông quay mặt với các con, không thèm đếm xỉa đến tuổi thơ của chúng,biến chúng thành những chồi măng thui chột Trả thù những người đàn bà
Trang 36chưa đủ, có những lúc ông còn trút giận lên cả những đứa con ruột thịt củamình mà đánh đập chúng một cách dã man Rõ ràng bi kịch đã chất chồng lên
bi kịch
Còn với hai chị em, hai chị em bị bỏ bê, như thuyền không lái, rịt lấynhau trong một thứ trực giác hoang dại: tự mày mò chống lại những yếu kémtinh thần, tự dạy dỗ nhau, tự bảo vệ nhau, tự trấn tĩnh những dồn nén, đòi hỏicủa cơ thể “Hai chị em như những đứa trẻ bị bỏ hoang trên bãi chiến trườngnguyên thuỷ, chúng chới vơi giữa hố bom già” [7] Người đọc không khỏi xót
xa khi nghe nhân vật “tôi” kể về kỉ niệm hai chị em đi qua xóm Cỏ Úa thằng
em thèm được có ông nội để mà thương, “tôi” ôm nỗi nhớ được trở lại trườnghọc Rồi kỉ niệm lần đầu tiên xuất hiện dấu hiệu trở thành thiếu nữ của mình.Hai chị em vô cùng hoảng loạn khi máu chảy giữa hai đùi không tạnh được.Tìm đủ mọi cách, thằng Điền nhai đọt chuối lấy bã rịt vào nhưng không thểnào cầm máu Sợ hãi, đêm về Nương đã “mơ thấy ngôi mộ của mình nhưchiếc giường nằm giữa bốn bề sông nước” [18; 199] Chưa hết, có những lúcthằng em hỏi chị: “người ta thương mẹ ra làm sao?” Thất học Nương không
có khả năng giải đáp thắc mắc đó cho Điền Cũng như việc Nương không biếtgiải thích làm sao cho Điền hiểu “dục tình và xác thịt không xấu xa, khôngđáng bị khinh bỉ, không phải là nguyên nhân đẩy chị em tôi đến với cuộc sốngnằy với những đổ vỡ nầy” [18; 193] Cũng vì sống trong cảnh thất học mà nỗiđau đớn những ẩn ức về sinh lí không được giải toả cuối cùng Điền đã bỏ nhà
ra đi, chạy theo cô gái điếm
“Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, Điền đã ra đi, bỏ lại Nương mộtmình Chính lúc này người cha mới bắt đầu quan tâm đến đứa con gái tộinghiệp đã từng bị ông dày vò bởi tội giống má Nhưng cũng chính là lúcNương phải trả hộ cha “món nợ” mà cha đã nợ cuộc đời này Nương bị đámthanh niên cưỡng bức “ba người họ ập tới phía sau, quây lấy tôi, quần áo vẫnđẫm bùn, sưng sỉa…Và món hàng bị ghì ngửa trên mặt ruộng bì bõm nước…”
Trang 37[18; 210] Đời người con gái còn gì đau đớn hơn bi kịch này? Cô con gái bịhãm hiếp ngay trước mắt cha mình, đây chẳng phải là “quả báo” đối với ÚtVũ?
Bị vợ phản bội, đó đã là bi kịch lớn nhất của một người chồng Rửa nhụctrên thân xác đàn bà, đó là bi kịch lớn nhất của “thằng đàn ông” Nhìn thấycon gái mình bị làm nhục ngay trước mắt mình mà không thể làm gì được đóchẳng phải là bi kịch lớn nhất của một người cha? Rõ ràng trong cái gia đình
đã tan rã này cả chồng, vợ lẫn con cái đang phải từng ngày “tồn tại” trong nỗiđau, nỗi đau này dằng xé nỗi đau kia, bi kịch này dồn đẩy bi kịch kia Cuộcsống của họ như một bức thảm kịch mà có mơ người ta cũng không dámtưởng tượng tới Quả thực, những khám phá hiện thực có chiều sâu này, trướcNguyễn Ngọc Tư chưa được đề cập một cách sắc nét như vậy
Quan tâm đến tất thảy mọi người đã cho Nguyễn Ngọc Tư một tầm quansát thấu đáo Bằng ngòi bút sắc sảo mà tràn đầy tình yêu thương của mình,Nguyễn Ngọc Tư còn đi sâu khám phá thân phận, bi kịch éo le đau đớn của côgái điếm, nhân vật “chị” trong truyện Chính hoàn cảnh đã đẩy chị vào cảnhbán sắc nuôi thân mưu sinh theo thời vụ Bị xã hội thành thị loại thải cũngnhư một số người chị đã dạt về chốn quê nghèo đói Vẫn ý thức được việcmình làm là ăn trên mồ hôi nước mắt của người ta nên lâu lâu bị người tađánh chị vẫn chấp nhận Chị chấp nhận chẳng qua là vì chị không còn biếtlàm gì để có thể tồn tại, xã hội loại thải, người đời quay lưng, phỉ nhổ Truyện
mở đầu bằng một cảnh đánh ghen dã man, tàn khốc, “họ đổ keo dán sắt vàocửa mình chị” Đôi bàn tay “bỏng đỏ nhừ, tươm máu” của Điền sau khi thử đổkeo dán sắt vào đó đã giúp người đọc liên tưởng được hoàn cảnh của ngườiđàn bà nằm bất động trên ghe Nhưng một nỗi đau khác, nỗi đau về tinh thầncòn lớn hơn gấp bội Nỗi đau về thân xác dần dần lành theo năm tháng nhưngnỗi đau, bi kịch tinh thần thì mãi còn tươm máu Như bao người đàn bà khácchị cũng chỉ là nạn nhân của người cha, là “món đồ” giải quyết sinh lí từ nỗi
Trang 38đau hằn học Được ba cha con cứu thoát một lúc nào đó chị cũng đã tưởngtượng mình giống như một thành viên trong gia đình nhỏ này nhưng hi vọngrồi nhục nhã ê chề “Cha đưa cho chị ít tiền ngay trong bữa cơm, rồi cha phủiđít đủng đỉnh đứng lên, sự khinh miệt và đắc thắng no nê trong mắt” Chị nhéttiền vào ngực áo cười: “Trời ơi! Ba mấy cưng sộp quá chừng” Bên trong cáicười ấy là biết bao xót xa tủi nhục đắng cay
Trải lên từng trang viết của Nguyễn Ngọc Tư là những nỗi đau, những
bi kịch của kiếp người nhỏ bé nghĩa là Nguyễn Ngọc Tư đã đứng về phía họ,nghiêng mình xuống cùng họ mà chia sẻ cảm thông với những bi kịch bấthạnh của cuộc đời này
Như một lời tâm sự, một lời sẻ chia về thế thái nhân tình, Nguyễn Ngọc
Tư đã bê cả cái đống bùng nhùng với đủ “hỉ, nộ, ái, ố” của cuộc sống lên
trang viết của mình Qua các trang viết sắc nét về thực tại khổ đau của con
người của chị người đọc như được tận mắt chứng kiến tất cả những mảnh đời
cơ nhỡ, buồn đau, tất cả những bất hạnh của con người Cuộc đời con người
còn thật nhiều bất hạnh khổ đau! Đọc Cánh đồng bất tận, chúng ta như thấy
được trách nhiệm của mỗi người trong việc phải thay đổi cuộc sống tối tăm,thất học, nghèo đói này Cái đọng lại trong lòng người đọc không chỉ là sựcảm thông sâu sắc cho nỗi đau khổ, bi kịch của những con người nhỏ bé nơiđây mà còn là rút ra cho bản thân trách nhiệm trong cuộc sống, một bài họcquý, một triết lí sống trong cuộc đời này: Con người cần xoá bỏ thù hận, bởithù hận luôn là nguyên nhân gieo rắc khổ đau cho con người Phải xây dựngđược cuộc sống tốt đẹp hơn
2.2.2 Vẻ đẹp tiềm tàng của con người
2.2.2.1 Tình yêu quê hương, làng xóm
Trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư con người dù làm bất kì
công việc gì, ở chính quê hương mình hay đang lưu lạc ở xứ người thì họcũng luôn sáng lên bởi vẻ đẹp của tình yêu quê hương đất nước trong lòng họ
Trang 39luôn chất chứa một tình yêu quê tha thiết mà hết sức mộc mạc, thứ tình yêurất dễ làm rung động trái tim người đọc.
Đó là tình yêu quê, gắn bó với quê của ông Tư Mốt trong truyện Thương
quá rau răm hay tình cảm sâu nặng với những nơi vợ chồng đã từng sinh
sống của ông già Sáu Đèo trong Biển người mênh mông Ông Tư Mốt trong Thương quá rau răm là người đã gắn bó thân thiết cả đời với mảnh đất
cù lao Mút Cà Tha Vốn đây là cù lao hiu hắt, vắng vẻ rất xa đất liền Điểm dễgây chú ý nhất đối với tất cả những người một lần đã đặt chân đến cù lao làcâu khẩu hiệu “Cương quyết chỉ chết vì già” do ông Tư Mốt viết lên tườngtrạm xá Ông vô cùng đau lòng khi phải chứng kiến cảnh những người thânyêu ruột thịt của mình chết vì bệnh tật và thiếu thốn Ông luôn muốn lấy tìnhcảm, tấm lòng yêu thương để giữ chân các nhân viên y tế ở lại với vùng đấtquê hương Nhưng người nào đến rồi cũng sẽ sớm ra đi để lại trong lòng ôngnỗi buồn, sự tiếc nuối dù cho sự cảm thông trong lòng ông đã cố tạo vẻ mặtbình thường không vương buồn Và ngay cả với Văn cũng vậy, dù triết
lý : “Không có gì sâu nặng bằng tình cảm giữa người với người” được chacon ông áp dụng một cách triệt để nhưng cha con ông vẫn không giữ chânđược Văn cho mảnh đất Mút Cà Tha Văn đến rồi đi để lại sự tiếc nuối, xótxa sự hụt hẫng xoáy toang hoác cả cõi lòng ông, làm đau nhói trái tim congái ông Dường như càng yêu quê hương bao nhiêu, nỗi đau và sự day dứtkhông làm tròn bổn phận của mình với quê hương càng lớn bấy nhiêu
Rồi cả tình yêu đối với nơi mình đã từng sinh sống của Giang trong
truyện Nhớ sông Tuổi thơ của Giang đã gắn chặt trên chiếc ghe nhỏ nơi có
ba, có má, có em Thủy, gắn chặt với dòng sông, con nước Sau khi đi lấychồng, Giang phải sống xa ghe, xa sông thì nỗi nhớ sông của Giang lúc nàocũng ăm ắp, dạt dào như nước trong lòng sông vậy Nỗi nhớ ghe cứ từng đêmchòng chành trong cô đến nỗi để xả nỗi nhớ : “Để hở ra giờ nào, Giang lấyxuồng chèo đi giờ ấy, Giang chèo đã đời rồi buông chèo lụi vô đám lá, lấy tay
Trang 40vịn, ngồi ở đó Rồi chèo về” [18 ; 117] Con ghe, dòng sông như đã trở thànhmột phần linh hồn, máu thịt của Giang, mà dù có phải xa cách nó, cô vẫn sẽmãi không thể nào quên - cái nơi cô đã lớn lên, cái nơi mà người má thân yêucủa cô đã gửi gắm thân xác, hình hài và từ đó ra đi vĩnh viễn.
Yêu quê, nhớ quê, nhớ nơi ta đã từng gắn bó Đó là thứ tình cảm thiêngliêng Đối với những người biền biệt xa quê nỗi nhớ quê, tình yêu quê trongtâm tưởng còn trở nên thiêng liêng gấp bội Ông Sáu Đèo trong hành trìnhròng rã gần bốn mươi năm trời tìm vợ không lúc nào ông nguôi nỗi nhớ nơi
vợ chồng ông đã từng sinh sống để rồi khi nghe con bìm bịp kêu suốt đêm,những tiếng kêu ngắn ngủi, buồn thiu, ông lại bảo với Phi: “Nó nhớ sông đó.Lúc nào qua thấy nhớ sông nó đều kêu như vậy” [18; 108] Đó là tiếng kêucủa bìm bịp hay chính là tiếng lòng của ông Sáu đối với quê nhà!
2.2.2.2 Những tâm hồn nhân hậu, giàu nghĩa khí, giàu yêu thương
Những con người yêu xóm làng, yêu quê hương tha thiết tất nhiên họcũng sẽ là những con người giàu tình cảm với đồng loại Cuộc sống củanhững con người Nam Bộ tuy nghèo thật, bất hạnh thật nhưng họ vẫn ngờisáng bởi vẻ đẹp của cái tình, cái nghĩa của tấm lòng chân thật, mộc mạc Đóchính là những vẻ đẹp cao cả của lòng nhân ái, của đức hi sinh, của tình yêuthủy chung, của niềm tin vào đời sống
Trước hết đó là vẻ đẹp của sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong mọihoàn cảnh Những mảnh đời nhỏ bé cơ nhỡ, những số phận bất hạnh, lưu lạc,
họ gặp nhau xem nhau như ruột thịt, đó là những con người giàu tình cảm
trong truyện Cải ơi, Cái nhìn khắc khoải, Biển người mênh mông, Cánh đồng
bất tận…
Trong truyện Cải ơi các nhân vật đến từ những miền quê khác nhau, do
hoàn cảnh đưa đẩy họ cùng gặp nhau ở gánh hát Sau khi gánh hát tan rã, họtrụ lại ở ngã ba Sương và coi nhau như những người ruột rà thân thích Ônggià Năm Nhỏ đã mất mười mấy năm trời đi tìm đứa con riêng cho vợ Gặp