1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc sắc truyện ngắn ma văn kháng sau 1980

102 637 9
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Sắc Truyện Ngắn Ma Văn Kháng Sau 1980
Tác giả Vũ Thị Hồng Khánh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 711 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo sự bao quát chưa đầy đủ củachúng tôi, có thể kể đến những luận văn sau: - Luận văn Thạc sĩ của Phạm Mai Anh 1997, Đại học Sư phạm Hà Nội, với tiêu đề Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Trong cuộc đời mình, Ma Văn Kháng đã giành rất nhiều thờigian, tâm huyết cho công việc sáng tác tiểu thuyết Vì vậy, chẳng có gì làngạc nhiên khi nhắc đến ông, người ta thường nghĩ tới một cây bút tiểu

thuyết chuyên nghiệp với nhiều tác phẩm gây xôn xao dư luận như Đồng

bạc trắng hoa xoè, Vùng biên ải, Trăng non, Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú…

1.2 Nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì thật là một thiếu sót khi nói về sựnghiệp văn học của ông Vì bên cạnh là một cây bút tiểu thuyết, Ma VănKháng cũng tỏ rõ là một tài năng xuất sắc ở thể loại truyện ngắn.Ngay từtruyện ngắn đầu tiên mở đầu cho sự nghiệp văn chương của mình,ông đãnhận được giải thưởng của cuộc thi truyện ngắn 1967-1968 của Tuần báo

Văn nghệ Cùng với thời gian, tài năng viết truyện của ông ngày càng được

khẳng định Người đọc có thể nhận ra một phong cách truyện ngắn Ma VănKháng độc đáo, riêng biệt không lẫn với bất kỳ một cây bút truyện ngắnnào khác

1.3 Nhìn lại chặng đường ngót năm mươi năm lao động nghệ thuậtkhông mệt mỏi, Ma Văn Kháng đã có một gia tài văn học đáng nể Bêncạnh 13 tiểu thuyết, 1 tập hồi ký là hàng trăm truyện ngắn, trong đó đa sốtruyện được viết vào thời điểm từ 1980 trở về sau Vì vậy, việc tìm hiểutruyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980 giúp chúng tôi có điều kiện hiểu rõhơn đóng góp của Ma Văn Kháng đối với văn học Việt Nam đương đại nóichung,truyện ngắn Việt Nam đương đại nói riêng

Trang 3

của Ma Văn Kháng những năm 1980 đăng trên Tạp chí Văn học, số 2, năm

1990 đã chỉ ra những đổi mới rõ nét trong sáng tác của Ma Văn Kháng sau

1980 trên bình diện nghệ thuật Với cái nhìn tổng quát Nguyễn Thị Huệđánh giá: “ Cái nhìn hiện thực bao gồm cả cái tất yếu với đầy những ngẫunhiên, may rủi, bất trắc, khôn lường” Tác giả cho rằng: “Ma Văn Kháng đã

có những thể nghiệm mở ra khả năng khám phá con người ở nhiều chiều,nhiều bình diện xuất phát từ cái nhìn nhân đạo về con người” [28, 6]

PGS-TS Lã Nguyên trong bài viết Khi nhà văn đào bới bản thể ở

chiều sâu tâm hồn, in ở những trang đầu của cuốn Ma Văn Kháng truyện ngắn, tập 1, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2003, đã có những nhận xét

sâu sắc khái quát nội dung, nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng Dựavào sắc điệu cảm hứng thẩm mỹ, Lã Nguyên chia truyện ngắn Ma VănKháng thành ba nhóm: “Nhóm thứ nhất là những truyện ngắn thể hiện cáinhức nhối, xót xa, giận mà thương cho sự hoang dã mông muội của những

kẻ chưa được thành người và những người không được làm người Nhómthứ hai là những truyện ngắn cất lên tiếng nói cảm khái thâm trầm trước thế

sự hôm nay Nhóm thứ ba là những truyện ngắn thể hiện cảm hứng tràolộng trang nghiêm (Thuật ngữ của M.Bakhtin) trước vẻ đẹp của cuộc đờisinh hoá hồn nhiên” [49, 10-11] “Hầu hết những truyện ngắn thuộc nhómthứ nhất là những tác phẩm viết về đề tài miền núi” [49, 11] “Già nửa sốtruyện ngắn của Ma Văn Kháng thuộc nhóm thứ hai Đề tài chủ yếu củanhững truyện ngắn này là đời sống thành thị trong sự đổi thay mạnh mẽ củađất nước sau chiến thắng một nghìn chín trăm bảy nhăm” [49, 15] Nhómthứ ba là “nhóm truyện thể hiện cảm hứng trào lộng trang nghiêm trước vểđẹp của dòng đời sinh hoá hồn nhiên” [49, 21] Ngoài ra, tác giả bài viếtnày còn cho thấy những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Ma Văn Khángnhư: tính công khai bộc lộ chủ đề và sự cố ý tô đậm tính cách nhân vật,lồng giai thoại vào cốt truyện, đưa thành ngữ,tục ngữ vào ngôn ngữ nhânvật…

Trang 4

Tác giả Đỗ Phương Thảo với bài viết Vài suy nghĩ về một phương

diện nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng đăng trên Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 5, nhận xét về nghệ thuật truyện ngắn của Ma Văn

Kháng có cốt truyện đơn giản, không có nhiều tình huống nổi bật,then chốt,không có xung đột và mâu thuẫn lớn song mỗi tác phẩm đều cho ta thấy sựbất phá, đóng góp đầy sáng tạo của tác giả Đỗ Phương Thảo nhận thấy:

“Nhà văn thường sử dụng bốn thủ pháp nghệ thuật chính để tạo cốt truyện

là sử dụng nghệ thuật liệt kê tăng cấp; sử dụng không gian tâm trạng sửdụng biện pháp tương phản, đối lập; sử dụng các yếu tố dân gian truyềnthống” [105, 5]

Bên cạnh các bài viết, công trình của các nhà nghiên cứu văn học, cònphải kể đến một khối lượng khá lớn các luận văn, khoá luận tốt nghiệp củahọc viên cao học và sinh viên quan tâm tìm hiểu truyện ngắn của Ma VănKháng từ những góc nhìn khác nhau Theo sự bao quát (chưa đầy đủ) củachúng tôi, có thể kể đến những luận văn sau:

- Luận văn Thạc sĩ của Phạm Mai Anh (1997, Đại học Sư phạm Hà

Nội), với tiêu đề Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau

1980 đã phát hiện ra một số phương diện nổi bật về nghệ thuật truyện ngắn

Ma Văn Kháng như cốt truyện, các kiểu kết cấu,nhân vật,một số nét vềngôn ngữ, lời thuyết minh, luận bàn…

- Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện

ngắn Ma Văn Kháng của Ngô Trí Cương (2004, Đại học Vinh) tập trung

tìm hiểu khảo sát truyện ngắn Ma Văn Kháng ở phương diện ngôn ngữ hộithoại của nhân vật

- Luận văn Thạc sĩ Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn

Ma Văn Kháng của Nguyễn Thị Quý Lân (2008, Đại học Vinh) tìm hiểu

đặc điểm lời thoại của nhân vật nữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng.Nguyễn Thị Quý Lân chia nhân vật nữ trong truyện ngắn Ma Văn Khángthành bốn nhóm: “Thứ nhất, nhân vật là những người phụ nữ hiền lành,

Trang 5

phúc hậu, giầu đức hy sinh Thứ hai, nhân vật là những người phụ nữ đasầu, đa cảm, có đời sống nội tâm với bao nỗi niềm cần giải toả Thứ ba,nhân vật là những người phụ nữ có nhan sắc, nhưng với nhiều lý do khácnhau mà họ trở thành những người đàn bà không đoan chính Thứ tư, nhânvật là những người phụ nữ hay kiếm chuyện, thọc mạch; những phụ nữ ghêgớm hay ganh ghét, ích kỷ đố kỵ; những phụ nữ chanh chua, nói năng bỗ bã,chua chát” [73, 32] Theo Nguyễn Thị Quý Lân: “Nhân vật nữ trong truyệnngắn Ma Văn Kháng luôn thông qua ngôn ngữ, qua đối thoại để giãi bày tâm

tư tình cảm, để bộc lộ tư tưởng để thể hiện cách nhìn nhận cũng như cáchgiải quyết vấn đề (…) Chính vì vậy qua hệ thống ngôn ngữ hội thoại của thếgiới nhân vật này,chúng ta có thể thấy rõ mối quan hệ phức tạp của ngườiphụ nữ cũng như phần nào hình dung được sự đa dạng,nhiều chiều của hiệntượng cuộc sống” [73, 32] Từ đó Nguyễn Thị Quý Lân đi vào tìm hiểu đặcđiểm hành động ngôn ngữ qua lời thoại nhân vật nữ và ngữ nghĩa lời thoạinhân vật nữ trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

- Luận văn thạc sĩ Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn

Kháng của Nguyễn Thị Thanh Nga (2007, Đại học Vinh), nhận xét: “Để có

được một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, gần gũi với đời thường, thểhiện những nỗi niềm và khát vọng của con người trong cuộc đời là do tácgiả có một quan niệm mới mẻ về con người.Nhân vật của ông được nhìn ởnhiều góc độ, trong nhiều mối quan hệ (…) Nhà văn đã đặt nhân vật vàotrong những tình huống, trạng thái ngẫu nhiên không lường trước được củacuộc sống muôn màu, muôn vẻ để nhân vật tự bộc lộ tính cách, đạo đức củamình Dù thể hiện những điều tốt đẹp thanh cao hay những cái thấp hèn,xấu xa, Ma Văn Kháng vẫn hướng nhân vật của mình tới những giá trị nhânbản…” [86, 120] “Để khắc hoạ thế giới nhân vật của mình Ma Văn Khángcũng sáng tạo ra những thủ pháp nghệ thuật độc đáo, phong phú Nét đặcsắc, dễ nhận thấy đầu tiên là nghệ thuật xây dựng nhân vật Không chú tâm

đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm mà ông khắc hoạ chân dung, hành

Trang 6

động, ngôn ngữ, quan tâm xem xét mối quan hệ giữa tính cách và hoàncảnh của nhân vật… Ma Văn Kháng cũng đã tìm cho mình một hướng đimới, đặc sắc và độc đáo: khai thác thế giới tâm linh của nhân vật Đây làđiều chưa được các nhà văn quan tâm nhiều (…) Ông cũng đã tạo ra mộtthứ ngôn ngữ khó lẫn vào ai khác, đặc biệt là ngôn ngữ đối thoại, tranhluận, triết lý…” [86, 121].

Tóm lại, những bài viết, nghiên cứu cùng những ý kiến đánh giá của cáctác giả là những gợi ý hết sức thiết thực và quan trọng có ý nghĩa định hướngcho việc thưởng thức, tìm hiểu các sáng tác của ông ở thể loại truyện ngắn

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI TƯ LIỆU KHẢO SÁT

Lấy Đặc sắc truyện ngắn của Ma Văn Kháng sau 1980 làm đối tượng

nghiên cứu,luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát:

3.1 Các tập truyện ngắn của Ma Văn Kháng

Trăng soi sân nhỏ, Nxb Văn học, 1995.

Móng vuốt thời gian, Nxb Hội Nhà văn, 2003.

Truyện ngắn Ma Văn Kháng, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

Trang 7

4.1 Tìm hiểu một cách tổng quát truyện ngắn trong sự nghiệp văn họccủa Ma Văn Kháng.

4.2 Tìm hiểu đặc sắc truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980 trên một

số yếu tố thuộc phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tương ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra,chúng tôi sử dụng cácphương pháp chủ yếu sau: phương pháp khảo sát, thống kê, phương phápphân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu…

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển

khai qua ba chương:

Chương 1 Truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980 trong hành trình củatruyện ngắn Việt Nam đương đại

Chương 2 Đặc sắc truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980 thể hiện quamột số yếu tố thuộc bình diện nội dung

Chương 3 Đặc sắc truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1980 ở cácphương diện giọng điệu, ngôn từ, cốt truyện

Trang 8

Chương 1TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG SAU 1980 TRONG

HÀNH TRÌNH CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

1.1 Một số vấn đề lý luận về truyện ngắn

Thuật ngữ truyện ngắn là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi và phổbiến trong văn học Nhưng đi vào tìm hiểu nguồn gốc và khái niệm truyệnngắn thì có thể thấy đây là một vấn đề còn gây nhiều bàn cãi,chưa thốngnhất, điều này có thể thấy ở ngay quan điểm của các nhà văn và các nhànghiên cứu

Ở Phương Tây, kịch, thơ, truyện dài xuất hiện rất lâu rồi mới tớitruyện ngắn Ban đầu truyện ngắn tồn tại dưới hình thức truyền miệng Mãitới thế kỷ XIX khi xuất hiện một tầng lớp độc giả cùng nhu cầu in ấn vàphổ biến, thể loại bằng văn tự mới ra đời Đến thế kỷ XIX, truyện ngắn đãnhanh chóng đạt được những đỉnh cao trên con đường phát triển của mìnhvới rất nhiều các tác giả và tác phẩm nổi tiếng như: A.Puskin (1799-1837);Tsekhov (1860-1904)

Ở phương Đông, cụ thể là ở Trung Quốc và Nhật Bản, truyện ngắnđược xếp vào hệ thống thể loại tiểu thuyết và được gọi với cái tên là “đoảnthiên tiểu thuyết” để phân biệt với “trường thiên tiểu thuyết” hay tiểuthuyết chương hồi dài tập

Ở Việt Nam, thời trung đại, truyện ngắn được biết đến với các tácphẩm viết bằng chữ Nôm và Hán Các tác phẩm viết bằng chữ Hán có thể

kể ra như Lĩnh Nam chích quái xuất hiện vào khoảng cuối thời Trần, tương truyền của Trần Thế Pháp, Việt điện u linh tập (1329) của Lý Tế Xuyên ở

thế kỷ 14… Những truyện ngắn viết bằng chữ Hán thời kỳ này chủ yếu là

sự thu nhận của các truyện cổ dân gian nó chưa cho thấy tính thời đại, phầnsáng tác cá nhân và phần văn chương cũng chưa được coi trọng Truyệnngắn viết bằng chữ Nôm thì câu văn khó hiểu,kết cấu luộm thuộm, tồn tại

Trang 9

chủ yếu trong hình thức truyện kể, có những truyện nặng về tính chất

truyền kỳ như Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm,… Sang đến những

năm 30 của thế kỉ XX, truyện ngắn ngày càng phát triển mạnh mẽ với rấtnhiều những tác giả và tác phẩm nổi tiếng Truyện ngắn thời kỳ này đượcviết bằng chữ quốc ngữ Có thể kể đến nhiều truyện ngắn của các nhà văn

Tự lực văn đoàn và các nhà văn thuộc dòng văn học hiện thực với các têntuổi lớn như Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan…

Đi vào tìm hiểu truyện ngắn là gì? Chúng ta sẽ nhận được rất nhiều

câu trả lời khác nhau Đại từ điển tiếng Việt xác định: Truyện ngắn là loại

“truyện bằng văn xuôi, có dung lượng nhỏ, miêu tả những khía cạnh nhất

định trong cuộc đời của nhân vật” [113, 1734] Từ điển thuật ngữ văn học

định nghĩa: “Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại nàybao gồm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sửthi,nhưng cái độc đáo của nó là ngắn (nhưng đây không phải là đặc điểmchủ yếu để phân biệt nó với tác phẩm tự sự khác) Truyện ngắn được viết raliền một mạch đọc một hơi không nghỉ

Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệttruyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiềutác phẩm rất ngắn, nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại.Truyện ngắn thời trung đại rất ngắn nhưng gần với truyện vừa Các hìnhthức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích truyện cười, giai thoại…lại càng không phải và truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tưduy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng,mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đốimuộn trong lịch sử văn học Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đờisống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thườnghướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trongquan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trongtruyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật

Trang 10

của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnhnhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắc họanhững tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàncảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện thân cho một quan hệ xãhội, ý thức xã hội, hoặc trạng thái tồn tại của con người.

Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian,khônggian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc

về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiềutầng,nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phảnhoặc liên tưởng.Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá.Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc,

có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩmnhững chiều sâu chưa nói hết

Truyện ngắn là thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày,súc tích,dễđọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí,do đó có tác dụng, ảnhhưởng kịp thời trong đời sống Nhiều nhà văn lớn trên thế giới và nước ta

đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật chủ yếu bằng nhữngtruyện ngắn xuất sắc của mình [22, 314 - 315]

Trong cuốn Lý luận văn học, nhóm tác giả lại giải thích “Truyện ngắn

là hình thức ngắn của tự sự Khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyệnngắn có vẻ gần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, giaithoại, truyện cười, hoặc gần với những bài kí ngắn.Nhưng thực ra khôngphải Nó gần với tiểu thuyết hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộcsống đương thời Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời

tư, thế sự, hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó lại là ngắn Truyện ngắn cóthể kể về cả một cuộc đời hay một đoạn đời, một sự kiện hay một “chốclát” trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chính của truyện ngắn không phải

ở hệ thống sự kiện, mà ở cái nhìn tự sự đối với cuộc đời Truyện ngắn trungđại cũng là truyện ngắn nhưng gần với truyện vừa Truyện ngắn hiện đại

Trang 11

khác hẳn Đó là một kiểu tư duy khá mới, vì vậy nói chung, truyện ngắnđích thực xuất hiện muộn trong lịch sử văn học Ở nhiều nước trên thế giới,truyện ngắn gắn liền với báo chí: khuôn khổ báo chí không cho phép dài.Truyện ngắn nói chung không phải vì “truyện” của nó “ngắn”, mà vì cáchnắm bắt cuộc sống của thể loại tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắchoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinhhay đời sống tâm hồn con người.Chính vì trong truyện ngắn thường rất ítnhân vật, ít sự kiện phức tạp Chỗ khác biệt quan trọng giữa tiểu thuyết vàtruyện ngắn là, nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới,thì nhân vật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thể giới Truyện ngắn thườngkhông nhằm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình có cá tính đầyđặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắnthường là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặctrạng thái tồn tại của con người Mặt khác,do đó truyện ngắn lại có thể mởrộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa đạng của cuộc sống, chẳng hạnnhư chức nghiệp, xuất thân, gia hệ, bạn bè… những kiểu loại mà trong tiểuthuyết thường hiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ Nghiên cứu cáctruyện ngắn xuất sắc của L.Tôntôi, M.Gorki, Sêkhốp, K.Pautôpxki hoặccác truyện ngắn của Đôđê, Mêrimê, Môpátxăng, Conđôen, O Henri, Etga

Pô, Giăc Lơnđơn, truyện ngắn của Lỗ Tấn, hoặc các truyện ngắn củaNguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài trướcCách mạng tháng Tám, hay như truyện ngắn của Nguyễn Khải, NguyễnKiên, Đỗ Chu, Vũ Thị Thường, Nguyễn Thành Long, Bùi Hiển… đều thấycác đặc điểm đó Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật, hấp dẫn,

nhưng chức năng của nó nói chung là để nhận ra một điều gì Cái chính

của truyện ngắn là gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người.Kết cấu của truyện ngắn thường là một sự tương phản, liên tưởng Bút pháptrần thuật thường là chấm phá Yếu tố có ý nghĩa quan trọng bậc nhất củatruyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý, tạo cho

Trang 12

tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Ngoài ra, giọng điệu, cái nhìn cũnghết sức quan trọng,làm nên cái hay của truyện ngắn Truyện ngắn là mộtthể loại dân chủ gần gũi với đời sống hàng ngày lại súc tích, dễ đọc, gắnliền với hoạt động báo chí, có tác dụng, ảnh hưởng kịp thời trong đời sống[81, 397 - 398] Như vậy mỗi định nghĩa đều cố gắng chỉ ra những đặcđiểm nổi bật của truyện ngắn

1.2 Truyện ngắn Việt Nam sau 1980

1.2.1 Cơ sở lịch sử - xã hội và thẩm mỹ của truyện ngắn Việt Nam sau 1980

Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta toàn thắng vào ngày 4-1975 đưa đất nước tới ngày vui thống nhất Nhưng ngày vui khó trọn vẹnkhi phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, thậm chí yếu kém về kinh

30-tế do sự tác động của những nhân tố khách quan và chủ quan Đời sống củangười lao động gặp nhiều khó khăn Lòng người bất an Niềm tin với Đảng

có lúc bị lung lay Những yếu tố đó đều tác động đến văn học Nhà văn

Nguyễn Minh Châu tác giả của bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai

đoạn văn nghệ minh họa cho rằng “thời kỳ này diễn ra một cuộc đối chứng

giữa nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và phi hoàn thiện, giữaánh sáng và khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong mỗi tâm hồn mỗi conngười” Đó chính là mảnh đất màu mỡ để văn học khám phá

Tháng 12-1986, Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam đề rachương trình đổi mới toàn diện Yêu cầu đổi mới trở thành nếp nghĩ, nếpsống của mọi người, mọi ngành Đường lối đổi mới “Nhìn thẳng vào sựthật, nói rõ sự thật” do Đại hội Đảng lần VI vạch ra đáp ứng mọi đòi hỏicủa thời đại Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương

Đảng Cộng sản Việt Nam Về đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản

lý văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới ra đời đúng lúc.

Đây chính là vận hội mới cho nền văn học đang khát khao đổi mới Một

Trang 13

dấu mốc quan trọng trong quá trình đổi mới, đó là cuộc gặp gỡ của Tổng Bíthư Đảng Cộng sản Việt Nam là Nguyễn Văn Linh với gần một trăm vănnghệ sĩ trí thức đại diện cho các ngành điện ảnh, sân khấu, kiến trúc, nghệthuật tạo hình vào ngày 6 và 7 tháng 10 năm 1987 tại Hà Nội Tại cuộc gặp

gỡ này, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh phát biểu và chỉ rõ những đặc điểm

và hiện trạng văn hoá nghệ thuật của nước ta Giới trí thức Việt Nam tiếpnhận bài nói này như một lời kêu gọi cộng tác tích cực nhằm xây dựng lạiđời sống tinh thần của đất nước Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, dám nhìnnhận vào sự thật, chỉ ra ba điểm nhức nhối gắn với trạng thái đã định hìnhtrong văn hoá nghệ thuật của đất nước Nhìn từ nhiều năm qua, Đảng chưathật sự coi trọng vai trò của văn hoá nghệ thuật, dẫn đến vai trò của các nhàvăn, nhà hoạt động văn hoá chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo Vănhoá, văn học nghệ thuật đều phải chịu sự áp đặt, không có tính dân chủ Cơchế quản lý và tổ chức chưa mang lại sự công bằng trong mọi chủ trươngđối với các nhà hoạt động văn hoá và văn học nghệ thuật Đấy là nhữngnguyên nhân gây nên nhiều khó khăn, vướng mắc trong đời sống của cácnhà hoạt động văn học nghệ thuật Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh kêu gọicác nghệ sĩ hãy thay đổi cách viết cho phù hợp với tình hình đất nước khicuộc sống không còn như trước Cuộc gặp gỡ của Tổng Bí thư Nguyễn VănLinh và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị tiếp sức cho các nhà văn Văn học

có điều kiện để chuyển mình Văn học vừa bảo tồn những tinh hoa truyềnthống, nhưng đồng thời chuyển mình trăn trở thể nghiệm nhằm đáp ứngnhu cầu xã hội để khẳng định mình trong xu thế hội nhập với văn học thếgiới Mặt khác, hiện thực cuộc sống đổi thay tất sẽ kéo theo nhu cầu thẩm

mỹ và nhu cầu thưởng thức văn chương của công chúng cũng có nhiều thayđổi Sự đổi mới thực sự bắt đầu từ sau Đại hội VI của Đảng Mặc dù cánhcửa đã rộng mở, nhưng không đồng nghĩa mọi sự tốt đẹp đều dễ dàng Conđường trước mắt không phải là tấm thảm đỏ trải sẵn mà đó là con đườngđầy quanh co, lắm gai góc… đang chờ ở phía trước Có lẽ khó khăn nhất

Trang 14

hiện nay là dám gạt bỏ thói khoe khoang để đổi mới và nâng cao trình độlãnh đạo trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mở rộng khả năng sáng tạo,đẩy văn học nghệ thuật lên một tầng cao mới Đã có sự cộng hưởng xã hộirộng lớn, có sự tác động mạnh mẽ đến quá trình đổi mới trong nước Hoạtđộng văn học trở nên sôi động, đặc biệt truyện ngắn thể hiện vai trò củamình một cách rõ nét nhất.

Trước hết, trên bình diện ý thức và quan niệm nghệ thuật, từ nhữngnăm 90 của thế kỷ trước văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng đã cónhững biến đổi quan trọng theo hướng dân chủ hoá Ở giai đoạn trước, do

sự chi phối của chiến tranh, văn học được nhìn nhận như là vũ khí tưtưởng, tự nguyện gánh vác nhiệm vụ tuyên truyền, thiên về chiến thắng, vềcái anh hùng vĩ đại của dân tộc Ngày nay những tác phẩm viết theo lối tưduy cũ không còn hấp dẫn độc giả Trước đây cách viết sử thi từng làkhuynh hướng cơ bản, đến nay nó không còn đáp ứng được nhu cầu phảnánh hiện thực đa dạng, đa chiều của cuộc sống sau chiến tranh Yêu cầu đổimới nền văn học một cách toàn diện càng trở nên bức thiết, từ quan niệmnghệ thuật, quan niệm hiện thực về con người, các thủ pháp nghệ thuật.Giờ đây, nhiệm vụ khám phá thực tại được coi trọng, ý thức sâu hơn về sựthật Có lẽ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cái nhìn về văn họccũng thoáng và cởi mở hơn Không những thế, văn học còn đóng vai trònhư một thứ hàng hoá đặc biệt Viết văn được xem như một trò chơi tinhthần, không vụ lợi nhằm để thưởng thức và giải trí lành mạnh nhất Vì thế,quan niệm về kiểu nhà văn đã có sự thay đổi Nếu như trước đây, chúng taquá đề cao các chức năng nhận thức, giáo dục, và cho rằng “mỗi nhà văn làmột chiến sĩ trên mặt trận văn hoá” có nhiệm vụ diễn đạt tiếng nói chungcủa dân tộc Bây giờ, người ta coi văn học như một phát ngôn của ngườinghệ sĩ, là tiếng nói của cá nhân, là sự can dự của người trí thức vào thờiđại mình làm phong phú và giàu có hơn đời sống tinh thần của xã hội Đểkhông bị công chúng đối xử với những trang viết đầy tâm huyết của mình

Trang 15

bằng một thái độ thờ ơ, lạnh nhạt, các nhà văn buộc phải thay đổi cách viết.

Đó là lí do tại sao nền văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt từ 1986 đến nayxuất hiện nhiều cây bút độc đáo như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái,Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo,Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc tư, về thế hệ các tác giả thuộc thế hệ8X, 9X…

1.2.2 Những đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1980

Không khí dân chủ trong đời sống xã hội đã tạo điều kiện cho văn họcphát triển mạnh mẽ và toàn diện Các thể loại văn học như thơ, truyệnngắn, ký, phóng sự, kịch, tiểu thuyết phát triển khá đồng đều Riêng thểloại truyện ngắn đã có những bước đột phá quan trọng và đạt được nhiềuthành tựu đáng kể, góp phần làm nên diện mạo phong phú, độc đáo cho vănhọc nước nhà

Dù không phải là thể loại duy nhất, nhưng truyện ngắn là thể loại tậptrung nhiều nhất yếu tố của một nền văn học đang đổi mới, phát triển nhanh

về số lượng, mạnh mẽ về chất lượng Tất cả những bề bộn, đa chiều củacuộc sống đều được đưa vào truyện ngắn một cách cụ thể, sinh động Dođặc trưng của một thể loại nhỏ nên truyện ngắn cơ động, uyển chuyển cóthể luồn lách vào mọi ngõ nghách tâm hồn con người, cũng có thể đi vàotận cùng ngõ hẻm của xã hội, lại luôn bám sát hiện thực đa chiều của cuộcsống, xoáy sâu vào tâm linh con người Theo ý kiến của một số nhà nghiêncứu văn học, từ năm 1975 đến nay, văn học Việt Nam đa trải qua ba chặng:

1975 - 1985; 1986 - 1993; 1994 đến nay, trong đó chặng hai từ năm 1986đến những năm đầu 1990 đây là chặng đất nước ta chuyển mình từ cơ chếbao cấp sang cơ chế thị trường với tất cả những biến động của đời sống hếtsức phong phú và phức tạp Truyện ngắn là thể loại phổ biến, thích hợp vớimọi công chúng và bạn đọc Quan niệm hiện thực của các nhà văn đang mở

ra những tầm nhìn mới Đó là sự chuyển hướng tiếp cận và góc nhìn về conngười Con người được nhìn nhận dưới góc độ thế sự đời tư và khám phá

Trang 16

nó trong quan hệ với cõi đời, với mọi người và chính nó Nhà văn quan tâmnhiều hơn đến số phận riêng tư, nhân cách, với những đấu tranh giằng xé,lựa chọn và khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc lẫn khổ đau, được và mất, vui

và buồn của con người Nguyễn Minh Châu là một trong những nhà văn

tiên phong trên lĩnh vực truyện ngắn với những tác phẩm như Bức tranh (1982), Cỏ lau (1987), Mùa trái cóc ở niềm Nam (1987) Với ngòi bút giàu

lòng yêu thương con người, Nguyễn Minh Châu luôn ý thức “đi tìm hạtngọc ẩn dấu bên trong bề sâu tâm hồn con người”

Bên cạnh Nguyễn Minh Châu là một Nguyễn Khải vẫn thống nhất vàbiến hoá trong ngòi bút triết luận tỉnh táo Với cách kể chuyện tự nhiên,dân dã nhưng sâu sắc, Nguyễn Khải đã đóng góp không nhỏ vào chặngđường đổi mới văn học Cùng với Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải làmột Nguyễn Huy Thiệp khai thác nhiều mảng đề tài với ngòi bút sắc lạnhđến tàn nhẫn Bứt khỏi lối viết truyền thống, Nguyễn Huy Thiệp tìm đến

một cách viết khác Truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp Tướng về

hưu được đăng ngày 20-7-1987 đã tác động mạnh đến người đọc Nhà văn

xây dựng câu chuyện một tướng quân đội về hưu rất khó hoà nhập vàocuộc sống thời bình Với ông, cuộc sống thường nhật sau quân ngũ còn khókhăn và nặng nề hơn những trận chiến mà ông đã từng trải qua

Mặt khác dấu hiệu của quá trình đổi mới trong văn học là sự mở rộngtầm thẩm mỹ của nó Điều này thể hiện rõ trong sáng tác của nữ nhà văn trẻ

Phạm Thị Hoài Tập truyện ngắn Mê lộ (1989) với nhiều truyện không đầu

không cuối mang dấu ấn của triết học, và kỹ thuật phương Tây đậm nét.Tiếp đến nhà văn Hoà Vang đã cho ra đời những truyện ngắn có sự đan xengiữa thực và hư Tác giả xây dựng được một hệ thống nhân vật ảo gây ấntượng về những vấn đề thuộc tâm hồn, tâm linh con người đời thường

Truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời của Hoà Vang cho thấy một cách

viết khá lạ, có sự pha trộn giữa thế sự và huyền thoại đôi khi có cả cổ tíchlẫn hiện đại Không thể không nhắc tới truyện ngắn của các tác giả nữ như

Trang 17

Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Y Ban Truyệnngắn của các tác giả này xoay quanh cuộc sống thường nhật hằng ngàynhưng ẩn chứa những tư tưởng sâu sắc.

Cùng với sự đổi mới những quan niệm về con người trong truyện ngắn

là sự đổi mới nghệ thuật trần thuật với sự phối hợp nhiều giọng điệu, sựphối hợp và dịch chuyển tạo hiệu ứng thẩm mỹ cao Vai trò chủ thể kểchuyện không chiếm ưu thế như trước đây Nhà văn ít kể, ít tả, ít nói về nộitâm nhân vật Lời người kể truyện ngắn, có lúc tưởng như bị triệt tiêu.Nhiều truyện chỉ là mảnh ghép của những lời thoại Người kể chuyện đóngvai dẫn dắt mạch truyện, nối mạch cho các nhân vật đối thoại với nhau.Mặt khác, nhiều truyện được hình thành bằng cách cắt dán Cốt truyệnkhông theo trình tự thời gian mà bị đảo lộn theo dụng ý tác giả

Từ cuối những năm 90 đến nay, trong xu thế đời sống xã hội ổn định,văn học về cơ bản cũng trở lại với những quy luật mang tính đời thường,nhưng không tách rời định hướng tư duy nghệ thuật những năm đầu đổimới Truyện ngắn giai đoạn này phản ánh con người mang tính toàn vẹncủa nó Đây là dịp con người được thể hiện với nhiều dáng vẻ, phong phú,phức tạp, sôi động như chính bản chất, cấu trúc nhân cách của nó Nhântính, nhân loại được biểu hiện cụ thể hơn qua sáng tác của các nhà văn ĐỗHoàng Diệu, Nguyễn Ngọc tư, Y Ban, Sương Minh Nguyệt, Phạm ThanhKhương, Huệ Minh…

Nhiều cây bút trẻ có sự bứt phá mạnh trong cách thể hiện từ đề tài đếnbút pháp, tạo cho mình một phong cách riêng Năm 2004 với truyện ngắn

Bóng đè, nữ tác giả còn rất trẻ Đỗ Hoàng Diệu đã tạo nên một cuộc tranh

luận sôi nổi trên văn đàn văn học Việt Nam đương đại Truyện ngắn Bóng

đè xây dựng một ẩn dụ trong một trong một câu chuyện nhiều tính dục Lối

viết táo bạo, nhưng chính sự táo bạo này lại trở nên thích hợp với việc thểhiện chủ đề tác phẩm Trong câu chuyện, Đỗ Hoàng Diệu mượn người phụ

nữ và chuyện tình dục như một bộ mã để gửi đi một thông điệp của mình

Trang 18

cho cuộc sống Những người phụ trong truyện của tác giả còn rất trẻ, họ lànhững người khát khao sống, khát khao được yêu… nhưng vấn đề nhà vănđặt ra lớn hơn rất nhiều vấn đề phụ nữ và tình dục kia Đó là vấn đề quyềnsống đúng nghĩa một con người Năm 2005 nhà văn Nguyễn Ngọc Tư thực

sự ấn tượng trên văn đàn với truyện ngắn Cánh đồng bất tận

So với truyện ngắn trước đó, truyện ngắn giai đoạn này thật sự có mộtbước tiến mới Các nhà văn đã có những tìm tòi nghệ thuật sâu sắc Truyệnngắn dù là một thể loại nhỏ nhưng nó có sức chứa lớn

1.3 Ma Văn Kháng - một tác giả truyện ngắn xuất sắc

1.3.1 Ma Văn Kháng - vài nét tiểu sử

Ma Văn Kháng, tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh năm 1936 tại HàNội Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được đi học ở Khu học xáTrung Quốc Sau khi về nước, ông tình nguyện lên làm việc ở Lào Cai.Năm 1960, ông vào Đại học Sư phạm Hà Nội Tốt nghiệp, ông lại trở vềLào Cai dạy học Ông từng là giáo viên cấp II, Hiệu trưởng trường Trunghọc phổ thông Về sau ông được điều về làm thư ký cho Bí thư tỉnh uỷ, rồilàm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Bút danh MaVăn Kháng đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của ông với miền đất ông đãtừng hoạt động trên 20 năm, nơi ông coi như quê hương thứ hai của mình.Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến nay, ông về công tác tại HàNội, từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Lao động.Từtháng 3/1995, ông là uỷ viên Ban Chấp hành, uỷ viên Đảng Đoàn Hội Nhà

văn khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội.

1.3.2 Truyện ngắn trong sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng

Ma Văn Kháng là một nhà văn tài năng Ông viết cả tiểu thuyết,

truyện ngắn Nănm 2009, Ma Văn Kháng công bố hồi kỳ Năm tháng nhọc

nhằn, năm tháng nhớ thương Khó có thể định danh một cách rạch ròi rằng

ông là nhà tiểu thuyết hay ông là cây bút truyện ngắn Ông sở hữu một giatài văn học đáng nể trọng

Trang 19

1.3.2.1 Nếu tính từ cuốn tiểu thuyết đầu tay, cuốn Gió rừng (1977) đến năm 2009 Ma Văn Kháng đã công bố 13 cuốn tiểu thuyết: Đồng bạc

trắng hoa xoè (1980), Mưa mùa hạ (1982), Vùng Biên ải (1983), Trăng non (1984), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992), Ngược dòng nước lũ (1999), Trăng non (2001), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (2001), Một mình một ngựa (2009)… Một khối lượng tác phẩm không hề nhỏ trong đời

của một nhà văn Bốn trong tổng số 13 cuốn tiểu thuyết nói trên đã được

trao giải thưởng Tiểu thuyết Mưa mùa hạ được tặng Giải thưởng Văn học

công nhân lần thứ hai (1985), giải B của Hội Nhà văn Việt Nam (1986) cho

tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn Tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Pan Tẩn

được trao giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số ViệtNam (2003), Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội (2009) cho tiểu thuyết

Một mình một ngựa Bốn cuốn tiểu thuyết Gió rừng, Đồng bạc trắng hoa xoè, Vùng Biên ải, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn khai thác mảng đề tài miền núi

phía Bắc của Tổ quốc, cụ thể là vùng Lào Cai, nơi được coi là quê hươngthứ hai mà Ma Văn Kháng từng có 20 năm gắn bó đầy tình nghĩa Nói vềxuất xứ những tác phẩm này, trong một bài trả lời phỏng vấn, Ma VănKháng bộc lộ: “Chính những vùng đất tôi đã sống và đi qua, những conngười hiền hậu, trong trẻo, hồn nhiên, giàu tình cảm đã thôi thúc tôi viết

nên Đồng bạc trắng hoa xoè, Vùng Biên ải…” Gió rừng (1977) là tiểu

thuyết đầu tiên đề cập đến cuộc sống các dân tộc miền núi Tây Bắc trongnhững năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta

Lấy cảm hứng từ chuyến đi của mấy cán bộ Việt Minh tới các vùngBắc Hà, Si Ma Cai, Pha Long, Mường Khương, Bản Lầu để thuyết phụcthổ ty ở đó cùng hợp lực, góp sức với nhân dân các dân tộc và Vệ Quốcđoàn tham ra công cuộc tiêu diệt bọn Việt Nam Quốc dân đảng giải phóng

tỉnh nhà cuối năm 1946, Ma Văn Kháng đã viết nên cuốn tiểu thuyết Đồng

bạc trắng hoa xoè

Trang 20

Năm 1983, tiểu thuyết Vùng Biên ải có thể coi là tập tiếp theo của tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè, ra đời “Ở đây các nhân vật đã xuất hiện

ở cuốn trước tiếp tục có mặt và đi hết con đường của mình,nhưng là ởmột thời điểm khác: đế quốc đã bị đánh đuổi, nhưng tàn dư của nó là bọnthổ phỉ vẫn còn, các dân tộc cần phải có bước nhẩy vọt nữa trong tưtưởng và hành động, để có được một cuộc sống thật sự yên bình hạnh

phúc” [68, 207-208] Bản thảo cuốn tiểu thuyết này lúc đầu có tên là Thổ

phỉ nhưng sau được đổi lại thành Vùng biên ải Năm 1984, với sự công bố

tiểu thuyết Trăng non, Ma Văn Kháng tiếp tục đề tài miền núi qua việc

khai thác các mối mâu thuẫn ràng buộc gia tộc, bộ tộc trong tiến trình xâydựng chế độ mới, chế độ xã hội chủ nghĩa Năm 2001, Ma Văn Kháng cho

ra mắt độc giả tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Păn Tẩn Ma Văn Kháng đưa vào

cuốn tiểu thuyết của ông hình ảnh lớp trẻ miền xuôi xung phong lên xâydựng kinh tế, văn hoá miền núi

Đánh giá mảng tiểu thuyết về đề tài dân tộc miền núi của Ma VănKháng, nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định không chút ngần ngại rằng: “MaVăn Kháng đứng vào hàng ngũ hiếm hoi các nhà văn dân tộc Kinh viết vềdân tộc miền núi nước ta”

Cùng với và đan xen với những tiểu thuyết viết về đề tài dân tộc miềnnúi là những tác phẩm khai thác đề tài sự chuyển đổi của đời sống đất nước

sau 1975, mà Mưa mùa hạ (1982) là tác phẩm mở đầu Mấy năm sau, một loạt tiểu thuyết cũng trên đề tài này lần lượt xuất hiện như Mùa lá rụng

trong vườn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Chó Bi, đời lưu lạc (1992)… trong đó Mùa lá rụng trong vườn cùng với Thời xa vắng của Lê Lựu và một số tác phẩm của một số tác

giả khác được giới nghiên cứu, phê bình văn học đánh giá là có ý nghĩa

“tiền trạm”, có ý nghĩa khai phá, mở đường trong tiến trình đổi mới văn

học Việt Nam Tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn cùng với Đám cưới

Trang 21

không có giấy giá thú được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh với tên gọi Mùa lá rụng

1.3.2.2 Là tác giả của mười ba cuốn tiểu thuyết, trong số đó nhiềucuốn có tiếng vang, Ma Văn Kháng còn là tác giả của một gia tài truyện

ngắn đồ sộ với khoảng hai trăm tác phẩm, tính từ truyện ngắn Phố cụt

(1961), truyện ngắn đánh dấu sự khởi đầu của một sự nghiệp đáng nể saungót nửa thế kỷ cầm bút Hai trăm truyện ngắn được tập hợp lại trong nhiềutập, trong đó nhiều truyện và tập truyện được bạn đọc yêu thích, được giớinghiên cứu, phê bình văn học đánh giá cao, cho thấy Ma Văn Kháng là mộtnhà văn có duyên với truyện ngắn, một cây bút truyện ngắn nhiều tài năng

và tài năng ấy đang còn sung sức Truyện ngắn Xa phủ được trao giải Nhì

(không có giải Nhất) ở cuộc thi truyện ngắn Báo Văn nghệ (1967-1968)

Tập truyện ngắn Móng vuốt thời gian cùng tiểu thuyết Gặp gỡ ở La Pan

Tẩn được giải thưởng của Hội Văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số

năm 2001 và 2003 như đã nói Tặng thưởng của Hội đồng Văn xuôi Hội

Nhà văn Việt Nam, 1995, cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ Sự thành

công ở thể loại truyện ngắn đã đưa Ma Văn Kháng có mặt trong những têntuổi viết truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại bên cạnhnhững tên tuổi trước và cùng thời với ông như Nam Cao, Nguyễn Khải,Nguyễn Minh Châu… Với thể loại truyện ngắn, Ma Văn Kháng đã khẳngđịnh được vị trí chắc chắn của ông trong “tư cách một nhà văn có ý thức vềchỗ đứng trong vương quốc văn chương, nghệ thuật” (Lã Nguyên) [92]

Trước tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ (1994), Ma Văn Kháng đã có các tập: Ngày đẹp trời (1986) , Vệ sĩ của quan châu, Trái chín mùa thu (1992) tiếp đó là một loạt các tập truyện ngắn khác; Ngoại thành (1994), Truyện

ngắn Ma Văn Kháng (1996), Vòng quay cổ điển (1997), Đầm sen (1998), Một chiều giông tổ (1998), Một mối tình si (2000), Cỏ dại (2003), Móng vuốt thời gian (2003), Cuộc đấu của gà chọi (2005), Trốn nợ (2008).

Trước đó, năm 2003, bốn tập Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tập 1, 2, 3, 4)

Trang 22

được Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản Ma Văn Kháng bộc bạchsuy nghĩ của ông về truyện ngắn qua những dòng tâm sự: “Tôi vào làng vănbằng truyện ngắn và mặc dầu đã có tới cả chục đầu sách tiểu thuyết, nhưngcảm thấy có được sự nể trọng tí chút của đồng nghiệp cũng chỉ là nhờ vàomấy cái truyện in báo, mỗi cái chưa đầy chục nghìn chữ vậy” [51, 358-359].

“Mỗi chuyện chưa đầy chục ngàn chữ” nhưng mỗi chuyện là một “hình hài,diện mạo rất riêng” Truyện ngắn Ma Văn Kháng đặc sắc, lôi cuốn, hấp dẫnngười đọc không chỉ ở nội dung mà cả hình thức thể hiện nội dung ấy.Nghĩa là không chỉ hấp dẫn ở đề tài, cảm hứng mà còn ở giọng điệu, ngôn

từ, bút pháp… Cũng như ở thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn của Ma VănKháng thường hướng vào mấy mảng đề tài mà ông thường quan tâm làcuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc và cuộc sống đô thịđang trong sự chuyển đổi mạnh mẽ sau ngày đất nước thống nhất Đây là

sở trường nhưng sở trường ấy cũng cho thấy sự nhất quán trong sáng táccủa nhà văn ở nhiều thể loại khác nhau Ma Văn Kháng khởi nghiệp truyệnngắn từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, nhưng thành công hơn cả vẫn làmảng truyện ngắn sau 1980, trên cả hai mặt lượng và chất Cố nhiên, nếu

có chia truyện ngắn của Ma Văn Kháng làm hai chặng trước và sau 1980thì cũng chỉ là một sự chia tách tương đối Nói “tương đối” bởi lẽ truyệnngắn Ma Văn Kháng sau 1980 vẫn là một sự theo đuổi, một sự tiếp nối nhấtquán vào các mảng hiện thực đời sống mà truyện ngắn của ông trước 1980vốn đã quan tâm Cho rằng mảng truyện ngắn sau 1980 tỏ ra đặc sắc hơnmảng truyện được Ma Văn Kháng viết từ 1980 trở về trước là có cơ sở

Theo khảo sát của luận văn qua 4 tập Truyện ngắn Ma Văn Kháng do Nxb

Công an nhân dân ấn hành năm 2003 gồm 108 truyện (tập 1: 24; tập 2: 28;tập 3: 26; tập 4: 30) thì chỉ 4 (4/108) truyện ngắn viết trước 1980 Tập

Trăng soi sân nhỏ, Nxb Văn học, 1995, có 9 truyện thì cả 9 truyện đều viết

sau 1980 Tập Móng vuốt thời gian, Nxb Hội Nhà văn, 2003, có 19 truyện

Trang 23

thì 14/19 truyện được viết sau 1980 Tập Trốn nợ, Nxb Phụ nữ, 2008,

18/18 truyện đều viết sau 1980

Đây cũng chính là lý do giải thích tại sao chúng tôi chọn truyện ngắn

Ma Văn Kháng sau 1980 làm đối tượng tìm hiểu Hai chương tiếp sau củaluận văn sẽ cố gắng trình bày cụ thể đặc sắc truyện ngắn Ma Văn Khángsau 1980

Tiểu kết chương 1

Trong đời sống văn học Việt Nam nói chung cũng như trong sựnghiệp văn học của Ma Văn Kháng nói riêng truyện ngắn luôn đóng mộtvai trò quan trọng Điều này được khẳng định bằng chính thực tiễn sáng tác

và những thành tựu văn học đã đạt được trong thời gian qua

Trang 24

Chương 2ĐẶC SẮC TRUYỆN NGẮN MA VĂN KHÁNG SAU 1980 THỂ HIỆN QUA MỘT SỐ YẾU TỐ THUỘC BÌNH DIỆN NỘI DUNG

2.1 Khám phá cảnh sắc, con người miền núi phía Bắc của Tổ quốc

2.1.1 Cảnh sắc, con người các dân tộc miền núi - đối tượng thẩm

mĩ của văn học và nhà văn Việt Nam hiện đại

Cảnh sắc, con người các dân tộc miền núi trước kia cũng như hiện nayluôn là một đối tượng thẩm mỹ hấp dẫn và kỳ thú, có sức cuốn hút, mời gọicác văn nhân, thi sĩ Trong văn học Việt Nam hiện đại, Thế Lữ (1907-1989), có lẽ là người thi sĩ đầu tiên đã chạm bút tới đề tài này Năm 1934,nhà thơ, nhà văn này đã công bố cuốn truyện đường rừng khá nổi tiếng

Vàng và máu, mà theo đánh giá của nhà phê bình văn học Trương Tửu thì

đấy là tác phẩm “lý thú” và “cảm động” Cảnh và người các dân tộc miềnnúi hiện lên trong tác phẩm của Thế Lữ rất đặc sắc

Cùng thời với Thế Lữ, Lan Khai (1906 - 1945), người được mệnhdanh là “nhà nghệ sĩ của rừng rú”, đã viết một loạt tác phẩm về đề tài miền

núi phía Bắc của Tổ quốc Cuốn Tiếng gọi của rừng thẳm ra đời sau cuốn

Vàng và máu của Thế Lữ 5 năm, năm 1939, kể lại mối tình lãng mạn giữa

một thiếu nữ người Mán, tên là Peng Lang với một chàng trai người Kinhtên là Hoài Anh Mối tình đằm thắm giữa cô gái và chàng trai kia nảy nởgiữa cảnh thiên nhiên hoang dã nhưng thơ mộng Bao bọc, che chở và làmchứng cho đôi tình nhân là sương giăng đầu núi Theo tiếng gọi của tráitim, cô ái Peng Lang theo chàng trai Hoài Anh về thành phố, quê chàng.Tuy nhiên, cuộc sống đô hội xem ra không phù hợp với nàng Xa lạ và lạclõng nơi không gian đô hội lộng lẫy nhưng tù túng và chật chội, nàng từ bỏtình yêu, từ bỏ người yêu trở lại nơi rừng thẳm để được sống là mình Tiểu

thuyết Suối đàn ra đời sau đó hai năm, năm 1941, kể lại mối tình giữa

Trang 25

Khải, chàng trai người Kinh, với Ẻn, cô gái miền núi Nhưng rồi vì nhiều lý

do ràng buộc, không vượt qua nổi, Khải bỏ Ẻn về xuôi, còn Ẻn tự vẫn

Tập Truyện đường rừng (1940) gồm 9 truyện ngắn (Người lạ, Ma

thuồng luồng, Con thuồng luồng nhà họ Ma, Con bò dưới thuỷ tề, Đôi vịt con, Mũi tên dẹp loạn, Người hoá hổ, Tiền mất lực, Gò thần) diễn tả cái

đẹp huyền bí và đáng sợ của rừng thẳm, núi cao Tuy nhiên khi tìm hiểu về

Truyện đường rừng của Lan Khai, có nhà nghiên cứu văn học đã cho rằng

với tác giả này “rừng rú không còn xa lạ nữa” bởi “không ai yêu rừng thathiết như ông” Nhà văn đã thổi vào rừng rú “một linh hồn, thu nó vào mộtnét vẽ” Đọc văn của Lan Khai ta cảm thấy rõ rệt “một sự sống âm thầm,quật cường của rừng thiêng”, ta “còn được xem cả một cuộc sinh hoạt vĩđại, lộng lẫy, ghê tởm thao diễn trước mặt ta, trong cái bóng mập mờ xanhcủa rừng thẳm” (Trương Tửu)

Nhắc tới đề tài miền núi, trước hết là đề tài miền núi phía Bắc khôngthể không nhắc tới tên tuổi của nhà văn Tô Hoài và những tác phẩm của

ông đã hằn sâu và lâu trong bộ nhớ của người đọc Đó là Núi Cứu quốc (tập truyện ngắn, 1948), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu

thuyết, 1967)… Những tác phẩm nói trên là kết quả của những chuyếnthâm nhập thực tế của nhà văn đến với bộ đội, cán bộ và bà con các dân tộcanh em Mường, Dao, Thái ở Thuận Châu, Phù Yên, Than Uyên, QuỳnhNhai, Tuần Giáo, Điện Biên “Hình ảnh Tây Bắc đau thương và dũng cảmlúc nào cũng thành nét, thành người, thành việc trong tâm trí” ông, “đấtnước và người miền Tây đã để thương, để nhớ” cho ông nhiều quá khiếnông “không bao giờ quên” như ông đã từng nói và viết

Sẽ là một thiếu sót, nếu khi nói tới mảng văn học về đề tài miền núi

mà quên nhắc đến nhà văn Nguyên Ngọc - Nguyễn Trung Thành với các

tác phẩm nổi tiếng như Đất nước đứng lên (giải Nhất, Giải thưởng Văn nghệ 1954 - 1955), Rừng xà nu (Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu, 1965,

dành cho các tác phẩm và tác giả thuộc bộ phận Văn nghệ Giải phóng miền

Trang 26

Nam Việt Nam) Những tác phẩm nói trên dựng lại chân dung con ngườiTây Nguyên kiên cường bất khuất trong hai cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp, đế quốc Mỹ và thể hiện thiên nhiên Tây Nguyên hùng vĩ vớinhững cánh “rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời” Nguyên Ngọc còn làtác giả của nhiều, rất nhiều bút ký, tạp văn bộc lộ những suy nghĩ, kiếngiải, đề xuất của ông về hướng phát triển kinh tế, văn hoá Tây Nguyêntrước mắt cũng như lâu dài trong bối cảnh hội nhập, bối cảnh toàn cầu hoá.Bên cạnh và cùng với Nguyên Ngọc còn nhiều nhà văn, nhà thơ khác nữa

mà ở đây, luận văn chưa kể ra hết Những nhà văn và tác phẩm được nhắcnói trên mới chỉ là những nhà văn người Kinh, còn thiếu vắng rất nhiều têntuổi của các nhà văn miền núi viết về miền núi Dẫu chưa đầy đủ nhưng cóthể khẳng định được rằng đất và người, thiên nhiên và phong tục, tập quáncủa đồng bào các dân tộc miền núi Việt Nam nói chung, đồng bào các dântộc miền núi phía Bắc nói riêng đã, đang và sẽ là đối tượng thể hiện đầysức hấp dẫn của văn học và nhà văn Việt Nam Và cũng không phải chỉriêng của văn học mà còn là của nhiều loại hình nghệ thuật khác như âmnhạc, múa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh… khi các dân tộc miền núi anh

em dù Nam hay Bắc là một bộ phận không thể thiếu cấu thành và làm nênđại gia đình các dân tộc Việt Nam

2.1.2 Cảnh sắc, con người miền núi phía Bắc trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng sau 1980

Ma Văn Kháng tiếp tục khẳng định đề tài miền núi, mặc dù ông làngười đến sau các nhà văn kia, trong bối cảnh sáng tạo mới, và tiếp tục tạo

ra dấu ấn riêng bằng những tác phẩm đặc sắc Khi nói đến những tác phẩmviết về đề tài này, Ma Văn Kháng cho rằng: “Những tác phẩm lấy đề tài từcuộc sống của đồng bào các dân tộc miền núi, một cấu thành quan trọngtrong toàn bộ sáng tác của tôi Thì cũng phần nào giống như Tô Hoài,Nguyên Ngọc, Mạc Phi, Trung Trung Đỉnh, Phượng Vũ… các nhà vănngười Kinh khác, tôi đã sống nhiều năm ở vùng đất này, đã hiểu biết đã yêu

Trang 27

thương nó và khao khát được trả ơn bằng việc miêu tả lại Đây phải chăngcũng là một nét độc đáo, một sự phối ngẫu đẹp đẽ trong văn học nước ta?Bởi vì theo tôi trước hết và cũng là sau cùng,từ trong ý thức và tư tưởngthẩm mỹ, tôi không thấy có sự khu biệt, phân cách; đất nước là một chỉnhthể, tất cả các dân tộc đều chung một dòng chảy lịch sử; và sự đặc sắc củacái riêng chỉ làm phong phú thêm cái chung mà thôi! [68, 211 - 212].

Nói như vậy có nghĩa là “Khi Ma Văn Kháng đến với văn đàn thì

cuộc sống miền núi phía Bắc Tổ quốc đã được miêu tả qua một cái nhìn ổnđịnh trong những tác phẩm xuất sắc tạo nên thành tựu của văn xuôikháng chiến chống Pháp Canh tác trên một mảnh đất đã có người càyxới, Ma Văn Kháng không dừng lại ở cái nhìn quen thuộc gói gọntrong quan điểm giai cấp” [49, 11] Mà ông luôn có ý thức tìm tòi, thểhiện những điều mới mẻ “Ma Văn Kháng không viết về miền núi phíaBắc nói chung Mọi sự chú ý của nhà văn đều hướng về vùng biên ải”

với một loạt các truyện ngắn như:Vệ sĩ của quan châu; Giàng tả kẻ lang

thang; Ông lão gác vườn và chó Phúm; Người thợ bạc ở phố cũ; Móng vuốt thời gian; Hoa gạo đỏ; Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường; Ngựa bất kham; Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang; Thím Hoóng; San Cha Chải…

Qua các tác phẩm của Ma Văn Kháng chúng ta nhận ra một vùng biên

ải xưa và nay với hai mảng mầu khác nhau Đó là một vùng: “Biên ải lúcnào cũng có hình sắc của thời mới khai thiên Đất hoang hoá chỉ cho phéptồn tại dưới ánh mặt trời những thế lực hùng mạnh, những thủ lĩnh gian ác,những tù trưởng thông thạo chiến chinh và kéo theo nó bọn theo đóm ăntàn, những bản năng bán khai kinh thiên động địa” với “những cuộc chinh

chiến, sát phạt tàn hại giữa các bầy đoàn, phe cánh” (Vệ sĩ của quan châu)

[48, 13] Bên cạnh đó là một vùng biên ải với khung cảnh thiên nhiên hùng

vĩ và không kém phần lãng mạn, vẻ đẹp hoang sơ của tự nhiên cùng với vẻđẹp của con người, hẳn sẽ làm chúng ta không khỏi ngỡ ngàng

Trang 28

Trước hết đi vào tìm hiểu một vùng biên ải của quá khứ còn hoang sơbởi những cánh rừng âm u, vẫn còn cảnh thú dữ ăn thịt người và bọn ruồivàng hút máu… Tồn tại trong môi trường đó là thế lực những kẻ thống trị,bọn tay sai của chúng và những người dân nô lệ Bộ máy thống trị quan lạinơi đây là Quan châu, thổ ty Vàng A Ký “Về đường hưởng lạc, quan châu

dễ chẳng kém đức Hoàng đế của nước An Nam ta Ngài có bốn vợ chínhthức, ngoài ra là thê thiếp, và đám gái xoè mơn mởn, nõn nường Caolương mỹ vị thì ngài toàn tuyển chọn từ đất Trung Hoa sang Còn của cảicủa ngài thì bất cứ một địa chủ, tư sản nào cũng phát thèm: ngài cai quản cảmột vùng rộng lớn bằng một tỉnh Hà Nam cũ với nguyên tắc rừng là củaquan, suối cũng là của quan Bây giờ thì toà nhà này của ngài là cái tổngkho quy tụ vàng bạc, châu báu, của cải ngài đã chiếm đoạt từ đời ông, đời

cha ngài, hơn sáu chục năm nay” (Vệ sĩ của quan châu) [48, 9] Tiếp đó là

Lý trưởng Ly Si Gơ mặt ngựa, râu dê gian xảo bắt tay với Pháp, gây phỉ,chống Việt Minh Chưa hết còn phải kể tới Thổ ty Sề Sào Lỉn: “Lỉn là mộtsinh lực căng tràn, đầy dương tính Nhưng tuy thế, y vẫn là viên thổ quan

có học nhất, tính từ đời tổ tiên y, vốn là dư đảng của lũ giặc Cờ Vàng hènnhát, nhờ đầu hàng quân Pháp mà nên công danh, phú quý Sắc dục tẩmchút hương hoa văn hóa cũng có dấu vết khác biệt thật Chín người vợ củaLỉn là chín người đàn bà thuộc chín sắc tộc khác nhau: Hoa, Mèo, Tày,Giáy, Thái, Pa Dí… Y có chủ trương thưởng thức đủ hết hương vị riêngtừng chủng loại, chứ đâu phải chỉ là một kẻ thực bất trị kỳ vị, ngu si hùnghục hưởng lạc Chín người vợ thuộc chín sắc tộc trong vùng Lỉn caiquản,với hàng ngàn mẫu ruộng được chia theo danh nghĩa: ruộng chứcdịch, ruộng phu, ruộng lính, nhưng thực chất chỉ thuộc sở hữu một ông chủ

là Lỉn” (Móng vuốt thời gian) [48, 101] “Khôn ngoan, Lỉn cũng biết biến

đổi theo luồng gió văn minh quốc ngoại Làm chủ những khu rừng pơ-mu

và thảo quả đặc sản, y đã biết liên doanh khai thác buôn bán với người Tầu

Y đã giao tiếp với người nước ngoài Năm một nghìn chín trăm ba sáu, dự

Trang 29

đấu xảo ở Hà Nội, y còn đem theo cả một đội xoè con gái đi mua vui ganh đua với đội xoè nổi tiếng, có truyền thống của quan tri châu họ Đèobên xứ Thái…” [48, 102] Chứng kiến cuộc sống của Lỉn, “các chínhkhách cỡ tỉnh và các ông quan nhà binh người Tây (…) phải phát ghen vềquyền lực và sức hưởng thụ khoái lạc trần gian của Lỉn Bỗng thấy lưuluyến cái thời vua chúa mà ông cha họ đã hò nhau lật đổ, họ ngẩn người

-ra, ngẫm ra cái thứ văn minh thành thị đã buông thả hết mức của họ, còn

kém cỏi lắm, so với một tên chúa đất ở xứ mông muội này” (Móng vuốt

thời gian) [48, 102 -103] Còn là một dương cơ giầu có của thổ ty Sề Cổ

Siu: “Nằm lù lù một đống dài như cái dông đá chắn ngang rất chướng mắtgiữa đường phố Sinh Quyển, là hai toà nhà gạch hai tầng, với hàng chụccông trình phụ khác, hợp thành một dương cơ bề thế của thổ ty họ Sể oaidanh lừng lẫy một thời ở xứ Giáy Cái dương cơ ấy vừa là chốn côngđường, vừa là trại lính dõng, vừa là nơi ăn ở của các thủ túc tin cẩn, lại vừa

là một trang ấp làm ăn với mấy chục giai nhân và bộ máy quan liêu quyền

uy ôm trùm cả một lãnh địa rộng lớn ở miền tây của tỉnh Lào Cai miền sơn

cước này” (Những chiếc chum bạc) [48, 238] Để có được và duy trì sự giầu

có đó là do: “dòng họ Sề mỗi năm một mở mang thanh thế vào các lĩnh vựckinh doanh Họ chẳng còn đóng khung trong hoạt động nông lâm nghiệpnữa Tay họ vươn tới nghành thương mại Họ có chân trong ban quản trịCông ty đường sắt Việt - Điền Tuy không hề buông lơi quyền lợi của mộtdòng họ quý tộc được triều đình phong phiên thần theo chế độ thế tập, họcũng đã có những đổi mới trong mặt quan hệ Gian ác, nhưng tinh tế hơn

Bóc lột gia nhân tận lực nhưng cũng biết gia ân cho họ nhiều khi” (Những

chiếc chum bạc) [48, 242].

Đi cùng các thế lực quan lại đó là tên đầy tớ,tay sai trung thành Khun(Vệ sĩ của quan châu Vàng A Ký) đó là một đứa con hoang bị bỏ rơi mayđược vợ chồng người lính khố xanh không con đem về nuôi nấng nhưng nó

càng lớn càng khác người: “Mười tuổi đã bỏ nhà đi lang thang Nó thích

Trang 30

ngủ ngoài sân, ngoài rừng hơn ở trong nhà, trên giường (…) mười lăm tuổi

nó đã xung vào đội quân chuyên đi đâm thuê chém mướn của Quan Châu

để trả đũa các đồng sự của ngài, thì thật là chuyện không bình thường.Khủng khiếp nhất là cái buổi chiều mẹ nó tìm nó về ăn cơm vì đã ba ngày

nó không về Nghe người ta mách, mẹ nó đi và tìm thấy nó đang ở bãi thảngựa, ở đó có một xác người ăn mày chết đói Nó dựng xác người nọ lên vànhảy quanh, cầm gậy đập cho đến lúc đầu của con người xấu số nọ chỉ cònbằng nắm tay Mẹ nó kinh sợ quá, muốn ngất Nó cười hềnh hệch: “Cái xác

ấy mà! Sợ cái đếch gì!” [48, 14] “Khun ngửi được hơi lạ trong gió, ngheđược bằng da thịt, nhìn xuyên thấu đêm tối (…) Khun là sự hồi tổ, là sự lộngiống, là cái bản tính tàn bạo của đời sống rừng rú, là cái hoang sơ của buổikhai thiên” [ 48, 13] “Cuối cùng, sau khi đã hoàn thiện toàn bộ tính cáchhung bạo, Khun trở thành nanh hổ, vuốt gấu, răng chó, dao, súng, đao phủkhát máu, chết chóc và mù loà của quan châu Vàng A Ký” [48, 15] Khôngchỉ là một tên tay sai tàn bạo khiến chính ông chủ của mình đã có lúc phảirùng mình sợ hãi mà Khun còn khiến cho người ta băn khoăn không hiểu làquỷ sứ hiện hình vào Khun hay chính Khun là quỷ sứ cỡ siêu đẳng Thấp,lùn, hai chân đã cái cao cái thấp lại khuệnh khoạng, vòng kiềng Một mắtlép, một tai không vành Cả cái mặt cũng nham nhở như cái đầu lâu bịkhoét, gặm dang dở, vì chỗ nào cũng thấy có vết sẹo, vết xây xước, vết daochém Cái sọ người gớm guốc ấy cuối cùng lọt thỏm vào đám tóc, râu, lông

lá rậm bù, hôi rình Chẳng phải thông thạo thuật tướng số mới nói được vềcon người Khun Cái mặt ấy là trang lý lịch đời Khun, là cái bước dư đồcủa hành trình đời người Khun Cái tai cụt là do đồng bọn cắt để trườngphạt tội phản thùng Con mắt lép là hậu quả của lần vỡ nòng súng Vết sẹonày đem từ cuộc đâm chém nọ về, vệt dao kia là chiến tích của một lần điphục thù cho Quan Châu” [ 48, 16]

Còn là một anh chàng người Hà Nhì tên gọi Giàng Tả, (Giàng Tả, kẻ

lang thang) “hai mươi tuổi, người Hà Nhì, cũng như những trai tráng bộ

Trang 31

tộc mình, quanh năm suốt tháng đi làm thuê làm mướn Ấy thế, thua kémmọi người của cải thông thường như nhà cửa, thóc lúa, gia súc, điền thổ,nhưng Giàng Tả hơn hẳn mọi người ở thứ của cải vô giá: sức khoẻ Cũng là

da thịt mà da thịt Giàng Tả như sắt như đồng Vai Giàng Tả rộng gấp rưỡivai người Ngực phồng như hai quả gò, bả vai nổi u xương Cái cổ, cái đầucòn lạ hơn, thẳng đơ một đường, không biết gục xuống chịu luỵ ai, lúc nàocũng như quyết giữ thẳng, bành ra, to bằng mặt, trông thẳng như một khốiđúc liền, với vài ba nét mắt, miệng, mũi, ngắn nhỏ, đơn sơ Tất cả sứcmạnh như vậy là không biết phô ra, chúng chìm trong da thịt, xương cốt

trong dáng đứng bước đi ngay ngắn tự nhiên” (Giàng Tả, kẻ lang thang)

[48, 27] Tiếp xúc với Giàng Tả, Lý trưởng Ly Si Gơ không chỉ thèm cáisức của Giàng Tả mà Gơ còn nhận thấy: “Tả hiện là anh khổng lồ, xù xì,mộc mạc, nếu Gơ đẽo gọt khéo thì Tả có thể trở thành ông hộ pháp, ôngthần ác cầm búa rìu hoặc thanh long đao trấn ngự nơi cửa đền,cửa miếu

đấy” (Giàng Tả, kẻ lang thang) [48, 41 - 42].

Tuy lý trưởng Ly Si Gơ không đẽo gọt được Giàng Tả thành tên taysai cho mình được nhưng cũng làm cho người ta dễ hiểu lầm: “Lão Giàng

Tả đấy mà! Thẩm lẩm, thâm hiểm lắm! Không phải là đầu sỏ phỉ, chỉ là phỉviên, nhưng cúc cung tận tuỵ với chủ nó lắm Lão đã từng được Tây đồnthưởng mề - đay vì có công thồ cả một phuy xăng và đạn, súng cho chúngđấy Lão này gớm lắm! Chẳng sợ một ai Ly Si Gơ coi cũng chẳng ra gì!Gan,ngoan cố lắm!” [48, 50] Vì vậy: “Sau khi Y Tí giải phóng Giàng Tả(…) bị gọi đến tập trung cải tạo trong trại cải tạo những kẻ lầm đường theogiặc” [48, 47]

Đó còn là những người dân nô lệ: “Hơn một vạn dân, hàng trăm nămnay đã quen lệ bầy đàn, bị bóc lột bằng địa tô lao dịch,dưới hình thức côngkhông,bằng địa tô hiện vật,dưới hình thức cống nạp thóc khách, gà kháchcho Lỉn mà vẫn không mảy may ý thức về trạng thái nô lệ của mình và sự cổ

quái của hình thức cai trị của Lỉn” (Móng vuốt thời gian) [48, 101 - 102].

Trang 32

Biên ải trong truyện ngắn Ma Văn Kháng còn là một vùng đất tươiđẹp Ta có thể tìm thấy vẻ đẹp tự nhiên, hoang sơ của vùng biên ải qua cácđịa danh như: “Y Tí là mảnh đất phía cực Tây của tỉnh Lào Cai, nó đượcmệnh danh là mái nhà của cả vùng đất núi non hiểm trở này (…) Y Tí caohơn hai nghìn mét, chỉ có hai mùa thu đông trong năm Mùa đông, bầu trời

Y Tí xanh ngăn ngắt, rợn cả mắt Nước ruộng kết băng phẳng lì cứng bóng

như kính” (Giàng Tả, kẻ lang thang) [48, 26 -27] Rồi cả địa danh: “San

Cha Chải, phải “leo dốc” cật lực một ngày trời Một ngày ròng gánh cựclên non, nhưng lên tới nơi mình cảm thấy ngay là được đền bù Trời mởtoang tám cánh cửa cho mình phóng tầm mắt thoả sức Mình thấy sôngHồng một vệt lênh láng nơi lưng trời xa Nhìn xuống phố huyện nhà cửaxúm xít như một bãi nấm (…) Nơi đây, cỏ ngải bị chân ngựa giẫm bốc mùithơm tinh dầu nằng nặng Nơi đây,hoa tục đoạn nở và tam thất rừng mọcnhởn nhơ cho riêng nó Không khí thanh sạch mùi hoa lá Yên bình nhưthời mới mở đất, chó nhà thiu thiu ngủ trong nắng, chỉ hậm hực đánh hơinếu có con thú lạ về San Cha Chải không biết khoá sắt, khoá đồng, chỉ lấyhai thanh gỗ gài bắt chéo, để ngăn gà nhà vào bới bếp mỗi khi vắng chủ.Nơi đây, gà rừng ăn lẫn gà nhà Én làm tổ đầu hồi Nơi đây, trâu thả rông,

mắt chưa thấy màu gì hơn màu chàm đen, màu là rừng xanh” (San Cha

Chải) [48, 401 -402] Chưa hết, “hương sắc bản quê San Cha Chải, ấy là

những triền núi vàng suộm cỏ gianh như một biển nắng chiều Là cáikhoảng xanh mờ ảo tít xa của những vùng rừng vầu cổ xưa Là cái mùi hoathảo quả thơm lựng hoà trộn với làn khí trời tê mát dưới tán rừng nguyên

thuỷ thuần một loại pơ-mu lão đại” (Hoa gạo đỏ) [66, 317]

Điểm tô cho vẻ đẹp đó còn là những cây hoa gạo chạy dài suốt mộtdọc biên giới “Khắp đất nước, có lẽ không ở đâu hoa gạo có cung màu đẹptuyệt như ở đây Ở đây, trời xanh trong vắt, thanh lọc đến kỳ hết vẩn bụivào mắt người như nhìn thấu tới tận cõi vô cùng Ở đây, sau một mùa đônggiá lạnh, xo ro,cây bung nở hết mình cái sức tích tụ bao tháng ngày Suốt

Trang 33

một nẻo biên giới, trên những nương lúa đã bỏ hoá, hoa gạo rừng rực cháy

đỏ một vệt dài tít tắp Ngắm nhìn cảnh trí tự nhiên ấy, chạnh nghĩ tới sựxếp sắp cố tình của con người, ta không khỏi bàng hoàng trước cái ngẫuhứng tài tình của thiên nhiên, cây cỏ cũng muốn tham gia vào đời sốngnhân sinh (…) những hạt gạo đuôi xoè lông tơ từ một miền nảo miền nàotheo gió phát tán tới đây (…) góp phần xác định ranh giới quốc gia (…) Ưahạn, chịu sáng, thích nghi với mọi khắc nghiệt, nên đến mùa xuân này thìhoa gạo đã thật sự là những hàng đại thụ, thân hai ba người ôm, nghềnhngàng cành nhánh vùng vẫy Đơm hoa bừng sáng cả một vùng trời miềnbiên viễn này Chẳng có thứ cây nào mà lại hào phóng sắc đỏ đến thế.Vàhoa thì vừa đỏ vừa lực lưỡng đến thế Bằng cái cốc vại một, mỗi bông đậutrên cành trông chẳng khác một đốm lửa Cả ngàn đốm lửa như thế suốt cảngày phấp phới vẫy gọi những đàn sáo từ xa đến thưởng ngoạn vẻ đẹp củachính mình Bon sáo vô tư,líu lo nhẩy nhót, đôi lúc đã vô ý làm rụng một

bông hoa…” (Hoa gạo đỏ) [48, 169 - 170].

Cùng với vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên thì cuộc sống và nhưngphong tục tập quán của bà con các dân tộc cũng được giới thiệu quanhững đặc trưng riêng biệt của vùng đất này Đó là đám cưới của ngườiTày: “Ôi,những đám cưới còn giữ nguyên phong tục cổ truyền Có bánhchưng, bánh dày Có bài hát thách đố Cô dâu đi hài thêu chỉ ngũ sắc, mặc

áo vóc hồng, thắt lưng hoa lý, óng ánh vòng bạc cổ tay, khuyên bạc đuôi

tai, xà tích bên sườn…” (Người thợ bạc ở phố cũ) [48, 92].

Còn là ngày hội A-tha-chin-đơ của người Phù Lá (Bài ca trong sáng).

“Tháng hai ta, vào đúng ngày con cừu là ngày hội A-tha-chin-đơ của ngườiPhù Lá Thôn xóm náo động lên từ tinh mơ (…) ông lão Chẩn Khu, ngườiđầu làng, người thầy cúng cao tuổi nhất, đã thức dậy,dắt con chó vàng lôngmõm bù xù đi quanh xóm Con chó dòng dây đi trước Ông lão đi sau, taycầm dây, tay cầm khúc nứa đầu đập giập Tạch! Tạch! Cái khúc nứa đậpvào các sườn nhà Ông lão lẩm nhẩm lời khẩn khứa và mỗi khi đi qua một

Trang 34

căn nhà lại ngẩng lên, như thuận tay giơ khúc nứa quật đánh pạch một cáixuống lưng con chó Con chó rít ăng ẳng, đuôi quặp xuống giữa hai khoeochân Mặc! Ông lão cứ đập vào sườn nhà, cứ đánh vào lưng chó.

Ấy là lớp đuổi ma trong ngày hội đầu năm cầu thần nông Ma! Matrong các nhà chạy ra đi, ra đi! Cái gậy nứa đuổi chúng ra Chúng ra, vôhình vô ảnh, nhưng nghe thấy tiếng chó là mất hồn mất vía, chạy lênrừng cả

Con chó đi một tua qua đủ tám nhà, rồi quành ra cổng làng, vòng vềcuối làng, nơi cũng như cổng làng có dựng hàng rào, cắm dao gỗ, cung nỏtrừ tà Bấy giờ, hàng xóm đã dậy Trong làn sương mỏng mảnh đang tanbiến, hai người trai trẻ khiêng tới giữa làng, cạnh cây mí, một mảng vầu to

Từ trong các căn nhà đất, đàn ông, đàn bà, con trẻ ôm chăn chiếu, áo quầntới Ông lão Chẩn Khu cũng ôm cái chăn chiếu, xám lại, chen vào, rũ tungcái chăn như rũ bụi, miệng nói như hát ( ) Cái mảng lại được khiêng lên.Xem chừng nặng hơn khi nó được mang tới Bốn trai làng ghé vai mới nhấcđược Cái mảng lừng lững trên vai người, êm đềm trôi qua cổng làng, rồitụt xuống con suối Lũng Sa và từ giã làng Tùng Séng Sui, trôi đi Tất cảtai ương trôi đi! Trôi đi! Để bắt đầu từ nay hạt lúa gieo xuống được nghìnhạt, cây sèo lên hoa xuốt bốn tháng, con người được mạnh khoẻ, sướngvui, ông lão Chẩn Khu, các bậc già cả, cùng người con dâu, chị Giàng, côChin, đứa cháu gái là con Seo Chính, cũng như mọi người được hưởng

trọn vẹn một năm mới tốt đẹp” (Bài ca trong sáng) [48, 136 - 137- 138].

Là sinh hoạt của người dân nơi hội quán ở đầu làng Lao Chải: “Hộiquán là cái lều bát giác, bốn bề trống toang nằm giữa một bãi đất, có dây

đu, đu quanh, xung quanh trồng cây cọ lùn làm cảnh Đêm đêm trai gáitrong bản vác chăn ra hội quán ngủ, trò chuyện, tìm hiểu nhau Tháng tư,

có mấy ngày hội phóng đãng, trai gái tự do ân ái Người ta bảo đó là nỗi

nhớ đời sống quần hôn ngày xưa” (Giàng Tả, kẻ lang thang) [48, 31].

Trang 35

Không chỉ khám phá vẻ đẹp tự nhiên, hoang dã, tìm hiểu nhữngphong tục, tập quán độc đáo, truyện ngắn Ma Văn Kháng còn cho ta thấycác khía cạnh của đời sống đa dạng,phức tạp qua các nhân vật đủ hình, đủkiểu Đó là những tên lừa đảo chuyên nghiệp, những tên buôn lậu thuốc

phiện ranh mãnh trong truyện Ngựa bất kham, Thử thách cuối cùng, San

Cha Chải đến những người dân miền núi lặng lẽ hiền lành, nhân hậu Vì

muốn hoàn thành nhiệm vụ, ông lão Tài đã phải dời bỏ gia đình một mìnhlên trông coi vườn tam thất cho nông trường nhưng cuối cùng vợ ông phảnbội ông, nông trường cũng bỏ mặc ông, ông đau xót và buồn tủi nhưng

“dẫu thế nào, cũng không thể lấy bội bạc để đáp lại bội bạc được” (Ông lão

gác vườn và chó Phúm) [48, 79] Đó là ông lão Chư, vì muốn cô gái người

Tày vùng hạ huyện có một đám cưới hoàn chỉnh, ông đã thay những đồngbạc giả của cô gái bằng những đồng bạc trắng dự trữ của mình “Quyếtđóng trọn vai vị ân nhân của cô gái Tày vùng hạ huyện, ông lão Chư nhấtquyết làm kẻ sửa chữa cái khiếm khuyết của cuộc sống chưa hoàn hảo đểđoạn đời tới của cô gái được suôn sẻ mội bề Nghĩa là sẽ có cái đám cướitưng bừng của cô gái, cũng vẫn sẽ long lánh vòng bạc cổ tay, xà tích bên

sườn, khuyên sáng đuôi tai… như mọi cô dâu Tày vùng hạ huyện” (Người

thợ bạc ở phố cũ) [48, 94] Ông lão Chẩn Khu chỉ có một người con trai

nhưng vẫn động viên anh đi bộ đội: “Mày cứ đi Ngày xưa tao chỉ làm

thằng hầu Nay mày được làm bộ đội Thế là tao sướng rồi” (Bài ca trăng

sáng) [48, 146] Những nàng thiếu nữ nhan sắc tuyệt trần như nàng Seo

Ly trong truyện Seo Ly, kẻ khuấy động tình trường “Không còn là một

thiếu nữ măng tơ, không, hoàn toàn không còn là măng mới như, trăng mớimọc, nụ mới hé Seo Ly đã là một thiếu phụ viên mãn tròn vẹn Vóc dángnàng thuần thục, đã nẩy nở hết độ Mỗi chi tiết trên cơ thể nàng đã đượcđào thải, gạn lọc, chọn tuyển và bây giờ định hình những tuyệt phẩm củatạo hoá Nổi bật trên cơ thể nàng là khuôn hình eo hông mượt mà và bầungực tràn trề sinh lực Chúng uyển chuyển khi nàng bước đi Và cùng hoà

Trang 36

phố với chúng, mắt nàng biếc xanh mầu núi lung liêng, môi nàng hé mởđầy vẻ mời mọc, gợi tình (…) Và nàng, rõ ràng đường nét da thịt, rõ ràngbụng tròn lưng nở như một thực thể đàn bà, mà thần thái lại quái kiệt yêu

kiều, như từ huyền thoại cổ tích đi ra” [48, 195] Là nhân vật Minh Châu trong truyện Người bị ruồng bỏ “một trang tuyệt sắc, mặt trái xoan, mắt bồ

câu, cổ cao ba ngấn…” [48, 311] Là Nương trong truyện Một vầng nắng

nhỏ: “Mặc chiếc áo sơ mi vải thô cổ rộng ,cửa tay loáng thoáng đôi nét

hoa văn dân tộc, nàng phô diễn một cách tự nhiên nhất làn da mát mẻ,trắng hồng và vóc hình căng nở đầy đặn của mình Tóc nàng đen nháy,dầy dặn, giầu sức sinh toả, xoã từ đầu đến ngang lưng (…) Không trangđiểm không xén tỉa, nàng mộc mạc lại thoáng chút hoang sơ thô dã, lả lơi

tự nhiên” [48, 124-125]

Và, những chiến sĩ công an, những người thầy giáo, cán bộ từ miềnxuôi xa xôi lên đây… cũng được nói tới trong nhiều truyện viết về đề tài

miền núi của Ma Văn Kháng như San Cha Chải; Cố Vinh,người xứ lạ;

Người bị ruồng bỏ; Mùa săn ở Na lé ;Bài ca trăng sáng…

Tóm lại, truyện ngắn Ma Văn Kháng đã làm hiện lên, sống dậy mộtvùng lãnh thổ miền núi phía Bắc của Tổ quốc vừa cụ thể, gần gũi lại vừahoang dại bí ẩn

2.2 Cảm thương cho sự mông muội của kiếp người

Với cái nhìn xót xa thương cảm cho sự mông muội của kiếp người,

Ma Văn Kháng hướng sự thể hiện đến với những kẻ chưa được hoặc khôngđược làm người nơi núi rừng hoang sơ, nơi mà bao quanh cuộc sống củacon người là núi rừng, muông thú,nơi con người sống giữa lòng thiênnhiên, nơi mà trình độ văn minh và những giới hạn văn hoá ở đây còn đang

xa lạ với con người Chính vì không có ý thức về mình cũng như chưa cócon mắt tinh tường dùng lý trí để phán xét mọi việc xẩy ra quanh mình nên

họ chưa nhận thức được những điều xấu xa mà cái xấu xa thì lại tinh vi xảoquyệt Nhưng sống với bản năng đơn thuần nên khi bị cái xấu thâm nhập,

Trang 37

lôi kéo thì con người không có sức đề kháng, miễn dịch trước nó vì vậy bị

nó lôi kéo mê hoặc cũng là điều dễ hiểu Hướng cái nhìn tới những conngười như thế, Ma Văn Kháng không khỏi xót xa, thương cảm và muốndành cho họ những lời minh oan cho những hành động sai trái của họ màcăn nguyên của nó là sự dốt nát, mông muội của chính bản thân họ gâynên

Trước hết đó là Khun tên vệ sĩ của quan châu, một kẻ hình hài thìgớm ghiếc, bản tính thì tàn bạo, một kẻ mà khiến “người ta băn khăn khônghiểu là quỷ sứ hiện hình vào Khun hay chính Khun là quỷ sứ cỡ siêu đẳng”

(Vệ sĩ của quan châu) [48,16] Một kẻ mà ngay đến những người đã nuôi

nấng yêu thương, che chở cho hắn từ lúc mới lọt lòng cho đến khi lớn là bố

mẹ nuôi của hắn cũng phải kinh hãi vì sự tàn bạo của đứa con mà họ đã

nuôi nấng đến nỗi “hai vợ chồng người lính nọ lặng lẽ rời bỏ vùng đất dữ

này, ngậm ngùi đứng trước Thần, Phật, ăn năn và tủi hổ, vì đã nuôi nấngmột hòn máu rơi thành một hung thần tai ác” Và đến cả quan châu, người

đã sử dụng hắn như một vệ sĩ tin cẩn, một tên tay sai đắc lực, cũng có lúcphải rùng mình sợ hãi: “Còn nó là cái gì, chính tôi cũng không biết…”.Một kẻ đáng sợ như thế tưởng chẳng có gì phải xót xa thương cảm ấy vậy,

mà không, Ma Văn Kháng vẫn dành cho hắn những lời biện minh cho tất

cả những hành động tàn bạo và man rợ ấy: “Khun bạo liệt tàn nhẫn, nhưngKhun không ý thức được hành động của mình” Nghĩa là, những hành độngcủa Khun chỉ là những hành động của một kẻ mông muội, mang tính bảnnăng của những con thú hung dữ chứ đó không phải là hành động của mộtcon người có ý thức Ma Văn Kháng còn dành sự xót xa thương cảm của

mình cho Mã Đại Câu (Mã Đại Câu, người quét chợ Mường Cang) một kẻ

dị hình, dị dạng, khố rách, áo ôm, không nơi nương tựa, không người thânthích và cũng chẳng biết nguồn gốc xuất thân từ đâu: “Dòng giống Mã ĐạiCâu thì chẳng ai biết Mà lai lịch của lão thì cũng còn mù mờ lắm Vậy làchỉ còn căn cứ phần nào vào mặt mũi vóc dáng, mà phỏng đoán thôi Vậy

Trang 38

thì hình hài, diện mạo lão như thế này: Người cao chừng thước rưỡi, dađen sạm, quắt như cái roi trâu, cóc váy đóng vẩy như xưa rày chưa hề biếttắm táp rửa ráy là gì Đặc sắc nhất là cái đầu to quá khổ, do nặng quá nên

cứ phải ngoẹo như là ngả trên vai.Các bộ phận trên mặt lão thì thế này:mắt trắng rã, mồm hõm, răng vẹo vọ, má trái bị một vết sẹo xẻ đôi, cái tai

phải cụt, đôi môi trơn lì như hai vết sẹo và thâm đen” (Mã Đại Câu, người

quét chợ Mường Cang) [48, 262] Đi cùng với cái hình hài gớm ghiếc ấy

là một trí tuệ “ngu ngốc đến mức nhầm ông chủ tịch ngày nay với thằngbang trưởng ngày xưa Hoá rồ hoá dại hay đói khát tới mức nào mà phải đi

ăn thịt con dơi muỗi, con chuột ở trong hang!” [48, 246] Còn với mọingười, Mã Đại Câu chỉ là một lão già ngu xuẩn và đần độn hay giúp mọingười làm những công việc nặng nhọc như vác đá, ghê tởm như chônngười chết vô thừa nhận Nghĩa là Mã Đại Câu cũng chẳng làm gì tổn hại

gì đến ai Với tình cảnh đó, Mã Đại Câu đáng thương hơn là đáng trách

“Thương hại lão già, chủ tịch Lục Vân Hài mới khe khẽ vỗ vai lão: -Thôiông Câu Ở hang, thành người rừng, thành quỷ đấy! Về phố thôi Về phố

đi, tôi sẽ xếp việc cho ông làm!” [48, 265] Những tưởng thế là xong: “Thờigian lặng lẽ trôi trong sự yên dạ của mọi người Mã Đại Câu, lão già vô gia

cư, không nghề nghiệp, chẳng thân thích, con người chẳng có gốc rễ dântộc, ốm o, xấu xí, lẩm cẩm, gàn quải chắc là cứ thế mà sống yên ổn cho đếnlúc nhắm mắt xuôi tay, hết đời người Cứ yên lòng, lão Câu nhé Lão ốmthì đã có thuốc thang và người trợ giúp Lão không chết đói, chết rét đâu,nếu như chính lão không muốn Bởi vì xã hội này vốn ưu ái con người Lãochẳng có công tích gì với xã hội này đâu Có khi còn có tội nữa là khácđấy Người ta dị nghị quá khứ lão lắm Nhưng mà thôi, giờ lão đã già, ốmyếu, chỉ cần biết thế thôi, mọi người sẽ đối xử tử tế với lão Tuổi già củalão vậy là đã mãn nguyện rồi chưa, hỡi Mã Đại Câu” [48, 266] Nhưngcuộc sống yên bình mà mọi người sắp đặt cho lão lại bị chính lão hất đổ

Mã Đại Câu đã ngu muội nghe lời xúi giục của bọn xấu ăn cháo đái bát rồi

Trang 39

bỏ đi Khi đi lão ta còn: “Đứng lại ở nơi cửa khẩu, vạch quần, hướng về

mảnh đất đã cưu mang lão, đái một bãi, rồi lão nhổ bọt, chửi: - Téo mẹ tằngỐ-Nàn!” [ 48, 269]

Để rồi vỡ mộng trở về trong bơ phờ mỏi mệt đến cái chăn rách, cáinồi nhôm méo lúc đi hắn mang theo cũng bị tước đoạt hết Những tưởng đócũng là bài học để hắn có thể nhận ra sự ngu dại của mình nên khi hắn quaytrở về đến xin chủ tịch Lục Vân Hài rủ lòng thương thì chủ tịch Lục VânHài lai động lòng: “Ánh mắt của ông nhìn lão thật nghiêm nghị mà giọngthì đầy xót thương: - Đã ngu dại thì phải ở với người tử tế chứ, ông Câu.Thôi được, chiếu cố cho ông lần nữa thôi Ăn xong quệt mỏ là không tốtđâu! Nhớ nhé!” [48, 274] Ấy vậy mà khi quân xâm lược sang hắn lạiquên ngay bài học bị lừa phỉnh hôm nào và định một lần nữa ôm gótquân xâm lược nhưng kết quả lại là: “Nòng súng ngắn của sư trưởng chĩathẳng vào ngực Mã Đại Câu Mã Đại Câu quay đầu định chạy Nhưnglão đã quay tròn, y như người say thuốc, có điều là mệt lắm, mệt bã cảngười Tuy vậy, lão vẫn cố gào: “Ngộ là người Hán Tây Ngộ là ngườiHán Tây Ngộ gốc ở pên Tầu Tây”… Lão ngã rụi xuống, óc tăm tối vẫnchẳng hiểu chuyện gì đã xẩy ra Lão đã bị lừa mà vẫn chưa tỉnh ngộ, vẫnchưa hiểu nổi một điều giản dị: ngu đần mà sống với người hiền từ, lươngthiện thì quá lắm cũng chỉ làm cho người ta bực mình thôi, chứ ai giết lãolàm gì!” [48, 276-277] Đó là lời của người kể chuyện hay đó chính là tâmtrạng giận mà thương của tác giả cho sự muông muội đến chết vẫn chưatỉnh ngộ của những con người như Mã Đại Câu

Sự xót xa, thương cảm của Ma Văn Kháng còn dành cho cái Léng,

(Thím Hoóng) một đứa trẻ người Hoa hồn nhiên, đáng yêu: “Con bé Léng

thừa hưởng sức vóc của cha, khoẻ mạnh, mập mạp lắm Tóc đuôi sam lũnchũn, má bầu, mắt một mí (…) Cái Léng học trường phổ thông cấp hai khuphố, chan hoà với các bạn bè người Việt trong học hành, vui chơi Bạn bè

Trang 40

thích đến nhà nó vì nhà nó có rất nhiều truyện tranh Toàn truyện cổ, tranh

vẽ đẹp, kèm lời kể hấp dẫn

Cái Léng rất nhớ chuyện Nó giải thích ý tứ từng tờ tranh, nó dẫntruyện vanh vách, mặc dầu một chữ Tầu bẻ đôi nó cũng không biết”[48, 276 - 277] Sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương của mọi ngườixung quanh như thế, nhưng khi bước vào tuổi thiếu nữ nghe theo tiếnggọi của bọn người phản động đến mức say mê, cuồng tín, Láng quăngmình vào cuộc đại náo ngu xuẩn như ngưòi bị quỷ bắt mất linh hồn nócùng với đám thanh thiếu niên người Hoa ở thị trấn kéo nhau qua cácphố hò hét ầm ĩ, tạo phản và cho đó là phẩm chất cao quý nhất Mẹ nó

ốm đau nằm đó khi được hỏi “Léng à, mẹ cháu ốm thế, sao cháu chẳng ở

nhà chăm sóc mẹ?” thì nó đáp trơn tru ráo hoảnh: “Trái tim tôi không cóchỗ dành cho mẹ cha!” [48, 388] Không chỉ không có chỗ dành cho cha

mẹ mà nó còn lớn tiếng rủa cha mẹ là “hạng người thối tha”, đáng đemchôn dưới ba thước đất sâu” [48, 392] Và cũng chính nó đã biến “nhữngđiều nó nói thành hành động”, một hành động vô nhân tính dã man, tànbạo Nó nhét mẹ nó vào cái thống bẩn thỉu để đến khi có người tìm thấy thì

mẹ nó ở trong tình trạng: “Ngồi co quắp, tóc tai bơ phờ, đầu gục, mắt nhắm

nghiền như chết rồi trong lòng cái thống sặc mùi hôi mốc” [48, 329] Bà

mẹ khốn khổ khi được đưa ra khỏi cái thống thì chỉ là một bộ xương có hơithở thoi thóp nhưng vừa mới lấy lại được một chút sức lực đã phải kêu lên:

“Đi chứ! Ở lại gặp nó mà chết à! Nó bảo mình là đứa phản động, nó chomình vào cái thống, bỏ mình chết rồi đấy” [48, 393] Rõ ràng, hành độngman rợ của đứa con ruột thịt đã thật sự là nỗi ám ảnh kinh hoàng cho bà mẹtội nghiệp Một kẻ mất hết lương tri, tàn bạo đến không tưởng, một đứa conbất hiếu đến vậy, tưởng có chết cũng không thể xoá bỏ được hết tội lỗi củamình chứ đừng nói đến chuyện xót thương hay tha thứ được Ấy vậy màtấm lòng bao la yêu thương con hết mức của mẹ đâu có bao giờ vơi cạn Bà

mẹ ấy sau những phút kinh hoàng vẫn không nguôi ngóng đợi, nhớ thương

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phạm Mai Anh (1997), Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau 1980, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Ma Văn Kháng từ sau 1980
Tác giả: Phạm Mai Anh
Năm: 1997
[2]. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học,(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”", Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
[3]. Lại Nguyên Ân (biên soạn,1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
[4]. M. Bakhtin (1992),Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch), Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
[5]. Mai Huy Bích (1998), “Đề tài gia đình trong văn xuôi những năm gần đây”,Văn nghệ.(23) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài gia đình trong văn xuôi những năm gần đây”,"Văn nghệ
Tác giả: Mai Huy Bích
Năm: 1998
[6]. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975 (Khảo sát trên những nét lớn), Luận án PTS Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
[7]. Nguyễn Thị Bình (2001), “Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi nước ta thời kỳ sau 1975”, Tạp chí Văn học,(3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi nước ta thời kỳ sau 1975”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
[8]. Nguyễn Thị Bình (2003), “Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975”, Tạp chí Văn học,(4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2003
[9]. Nguyễn Thị Bình (2006), Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay, Văn học Việt Nam sau 1975 những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thập kỷ 80 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[10]. Nam Cao (2004), Tuyển tập, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2004
[11]. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Văn nghệ, (49, 50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
[12]. Nguyễn Minh Châu (2003),Truyện ngắn, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
[13]. Bùi Kim Chi, Nguyễn Việt (1990), “Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, khen và chê”, Văn nghệ, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú, khen và chê”, "Văn nghệ
Tác giả: Bùi Kim Chi, Nguyễn Việt
Năm: 1990
[14]. Lê Văn Chính (2004), Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tiểu thuyết viết về đề tài thành thị của Ma Văn Kháng
Tác giả: Lê Văn Chính
Năm: 2004
[15]. Ngô Trí Cương (2004), Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng
Tác giả: Ngô Trí Cương
Năm: 2004
[16]. Trần Cương (1982), “Điểm sách Mưa mùa hạ”, Tạp chí Văn học,(5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm sách Mưa mùa hạ”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1982
[17]. Trần Cương (1985), “Mùa lá rụng trong vườn- một đóng góp mới của Ma Văn Kháng”, Nhân dân chủ nhật, (ngày 6/10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa lá rụng trong vườn- một đóng góp mới của Ma Văn Kháng”, "Nhân dân chủ nhật
Tác giả: Trần Cương
Năm: 1985
[18]. Nguyễn Lân Dũng (1989), “Số phận người lương thiện”, Lao động (45) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận người lương thiện”, "Lao động
Tác giả: Nguyễn Lân Dũng
Năm: 1989
[19]. Minh Dương (1990), “Bản lĩnh người thầy và ngòi bút chiến đấu của nhà văn”, Giáo viên nhân dân, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản lĩnh người thầy và ngòi bút chiến đấu của nhà văn”, "Giáo viên nhân dân
Tác giả: Minh Dương
Năm: 1990
[20]. Đào Đồng Điện (2004), Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật nữ trong văn xuôi Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả: Đào Đồng Điện
Năm: 2004

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w