1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hội thoại trong sử thi đăm săn

152 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 232,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm, chính là sự quan sát vàmiêu tả tỉ mỉ, cách sử dụng ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng đầy sáng tạo, đặcbiệt là những lời thoại rất đa dạng trong

Trang 1

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết quả trong luận văn là trung thực, những kết luận khoa học của luậnvăn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Học viên thực hiện

Trương Hồng Phúc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫnPGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh - người trực tiếp hướng dẫn đề tài, cùng cácthầy cô giáo Trường Đại học Quy Nhơn đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện chotôi hoàn thành luận văn cao học này

Bình Định, ngày 30 tháng 8 năm 2020

Học viên thực hiện

Trương Hồng Phúc

Trang 4

MỤC LỤC

• •

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 4

7 Bố cục của luận văn 5

Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6

1.1 Giao tiếp và quá trình giao tiếp 6

1.1.1 Khái niệm giao tiếp 6

1.1.2 Quá trình giao tiếp 6

1.2 Mội số vấn đề về hội thoại 8

1.2.1 Các vận động hội thoại 8

1.2.2 Các quy tắc hội thoại

12 1.2.3 Thương lượng hội thoại

16 1.2.4 Cấu trúc hội thoại

17 1.3 Sử thi Đăm Săn

23 1.3.1 Khái quát về sử thi Đăm Săn

23 1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong sử thi Đăm Săn

25 Tiểu kết

26 Chương 2 - CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN

27 2.1 Đặc điểm của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 27

2.1.1 Hình thức cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 27

2.1.2 Cấu trúc của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 28

2.1.3 Vai giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 30

Trang 5

2.1.4 Hoàn cảnh giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 32

2.1.5 Mục đích giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 34

2.1.6 Nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 36

2.2 Đặc điểm của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 38

2.2.1 Số lượng nhân vật của các đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 38

2.2.2 Cấu trúc của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 40

2.2.3 Vai giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 41

2.2.4 Hoàn cảnh giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 44

2.2.5 Kết quả giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 48

2.3 Cấu trúc của cặp thoại trong Sử thi Đăm Săn 50

2.3.1 Cặp thoại một tham thoại 50

2.3.2 Cặp thoại hai tham thoại 53

2.3.3 Cặp thoại ba tham thoại 54

2.4 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 57

2.4.1 Nghĩa tường minh của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 57

2.4.2 Nghĩa hàm ẩn của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 59

Chương 3 - HÌNH THỨC HỘI THOẠI SỬ THI ĐĂM SĂN 65

3.1 Hình thức liên kết hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 65

3.1.1 Liên kết phẳng 65

3.1.2 Liên kết chéo 70

3.1.3 Liên kết lồng 73

3.2 Hội thoại trong Sử thi Đăm Săn và văn hóa giao tiếp của người Ê-đê 75 3.2.1 Hội thoại mang tính cộng đồng 75

3.2.2 Hội thoại mang tính cá nhân 77

3.2.3 Hội thoại mang tính dí dỏm, hài hước 80

3.3 Vận dụng lí thuyết hội thoại vào phân tích đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học phổ thông 81

Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nócũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Vấn đề nghiên cứungôn ngữ hội thoại được diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến giaotiếp văn chương Đối với văn học, hội thoại được xem là một yếu tố quan trọngtrong việc phân tích tác phẩm văn chương Nếu văn học viết phân tích hộithoại để đánh giá về phong cách tác giả thì văn học dân gian nghiên cứu hộithoại nhằm cảm nhận về những nét văn hóa đặc trưng được thể hiện trong tácphẩm; đặc biệt trong các thể loại Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười,

Sử thi

Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học dân

gian Việt Nam à thể loại văn học được sáng tạo từ trí tưởng tượng phong phú,bay bổng, lãng mạn của đồng bào Ê-đê ở Tây Nguyên thời cổ đại

Góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm, chính là sự quan sát vàmiêu tả tỉ mỉ, cách sử dụng ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng đầy sáng tạo, đặcbiệt là những lời thoại rất đa dạng trong đời sống xã hội người Ê-đê cổ truyền.Thông qua hội thoại ta nhận ra được tâm lí, tính cách của từng kiểu nhân vật,đồng thời chính ngôn ngữ hội thoại đã phác họa nên bức tranh đời sống củacộng đồng người Ê-đê ở Tây Nguyên Đó là lí do thứ nhất chúng tôi chọn đề

tài “Hội thoại trong Sử thi Đăm Săn” để nghiên cứu.

Thứ hai, vấn đề phân tích Ngữ dụng học ở Việt Nam đã được vận dụng đểnghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học từ nhiều góc độ:chiếu vật và chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ, lập luận, hội thoại, nghĩa tường minh

và nghĩa hàm ẩn (trong tác phẩm của Nguyễn Khải, Kim Lân, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Biểu Chánh ) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào

1

Trang 7

nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về hội thoại trong sử thi nói chung và đặc biệt

trong Sử thi Đăm Săn nói riêng.

Lí do thứ ba, chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu để làm rõ cấu trúc và

hình thức của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn; qua đó thấy được bản sắc văn

hóa của người Ê-đê trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Kết quả nghiên cứu cóthể bổ sung nguồn tài liệu cho chuyên ngành ngôn ngữ - văn hóa

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hội thoại trong sử thi Đăm Săn” để nghiên cứu.

2 Lịch sử nghiên cứu

Có thể nói, người đặt nền móng cho việc nghiên cứu dụng học hội thoại làGiáo Sư Đỗ Hữu Châu với các công trình nghiên cứu như: “Giản yếu về ngữdụng học” [Nxb Giáo dục, 1995], “Đại cương Ngôn ngữ học - Tập 2: Ngữdụng học” [Nxb Giáo dục Việt Nam, 2001] Ngoài ra còn có công trình “Ngữdụng học tập 1” - Nguyễn Đức Dân [Nxb Giáo dục, 1998]; Nguyễn Thiện Giápvới “Dụng học Việt ngữ” [Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007] Dựa trên cơ

sở lý thuyết mà các học giả nghiên cứu, ngày càng có nhiều đề tài, luận văntìm hiểu tác phẩm văn học trên bình diện ngôn ngữ hội thoại:

Hội thoại trong “Dế Mèn phiêu lưu ký” - Giáp Thị Thủy - Đại học Thái

Nguyên, 2009 Luận văn đã khảo sát đặc điểm ngôn ngữ hội thoại được thể

hiện trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài và đi đến nhận xét về sự thể hiện những quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự trong Dế Mèn phiêu lưu ký Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp -

Lê Thị Trang - Đại học Vinh, 2013 Thông qua khảo sát, tác giả luận văn đãtìm ra những đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp trong việc sử dụng ngôn ngữhội thoại

Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao - Mai Thị Hảo Yến - Đại học Sư

phạm Hà Nội, 2001 Đề tài này lại tập trung hướng đến hình thức thoại dẫntrong truyện ngắn của Nam Cao

2

Trang 8

Sử thi Đăm Săn đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu chủ yếu ở

góc độ văn hóa và văn học Chẳng hạn:

Trong Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam GS Phan Đăng Nhật đã khẳng định: “ Trong môi trường văn hoá dân gian sử thi là một tác phẩm văn hoá nghệ thuật tổng hợp Nó thu hút hầu hết các giá trị văn hoá nghệ thuật vốn có của dân tộc như: thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng ( ) không riêng gì Đăm San mà các Khan khác của đồng bào Tây Nguyên đều chung một khát vọng ( ) Tất cả đều nhằm một lý tưởng là đem lại cho xã hội

sự hoà hợp, giàu có hùng mạnh và yên vui” [25;114].

Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ trong bài viết Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm Săn thì cho rằng: “Về phương diện nội dung, quả là tác phẩm Đăm Săn đã đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất của thời đại anh hùng.

Đó là những biểu hiện của đời sống tinh thần, các quan hệ gia đình, sự đoàn kết của một cộng đồng trong sản xuất, hoà bình và tranh đấu Có thể coi đây

là thời đại anh hùng đặc thù của Tây Nguyên” [18;9]

Tác giả Vũ Anh Tuấn trong Giảng văn văn học Việt Nam khi bàn về giá trị tác phẩm Đăm Săn đã nhấn mạnh: “Đăm Săn vừa là người anh hùng văn hoá vừa là người anh hùng trận mạc Đăm Săn phi thường quả cảm, và luôn luôn chiến thắng ở cõi người với lí do hiển nhiên Đăm Săn tài giỏi và nhạy cảm trước số phận cả bộ tộc trong lao động rừng núi ( ) Đăm Săn là một kết tinh toàn vẹn tính cách anh hùng sử thi Ê đê” [38;27]

Nhìn một cách tổng thể, các công trình trên đều hướng đến nội dung cơbản về hình tượng nhân vật người anh hùng Đăm Săn hoặc đặc điểm của ngônngữ hội thoại trong văn học viết Việt Nam chứ chưa quan tâm về hội thoạitrong tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt ở thể loại sử thi Từ việc tiếp thu ý

kiến của những người đi trước, chúng tôi nghiên cứu “Hội thoại trong sử thi Đăm Săn”.

3

Trang 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và phân tích ngôn ngữ hội

thoại trong Sử thi Đăm Săn để làm rõ các đặc trưng nổi bật về ngôn ngữ nhân

vật Đồng thời thể hiện vai trò, ý nghĩa của ngôn ngữ hội thoại trong sử thi nói

chung và Sử thi Đăm Săn nói riêng Qua đó thấy được dấu ấn văn hóa của cộng

đồng người Ê-đê được bộc lộ trong ngôn ngữ hội thoại và giao tiếp hàng ngày.Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là xác định hệ thống cơ sở lí luận của hội

thoại Trên cơ sở ấy, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại tư liệu từ Sử thi Đăm Săn Sau đó, dựa vào kết quả khảo sát - thống kê chúng tôi thực hiện miêu tả cấu trúc và hình thức liên kết của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn để từ

đó phân tích, lí giải các yếu tố văn hóa cộng đồng của người Ê-đê

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Hội thoại trong sử thi Đăm Săn”.

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: “Sử thi Đăm Săn” được in trong

“Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tập 3, quyển 2, Trung tâm

khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện văn học, NXB Đà Nẵng, 2002

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp, thủpháp nghiên cứu liên ngành trong mối liên quan bổ trợ lẫn nhau:

- Phương pháp, thủ pháp, thao tác nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù: thống

kê phân loại: Dùng để thống kê ngôn ngữ hội thoại trong Sử thi Đăm Săn và

phân loại hội thoại theo các nhóm: cấu trúc hội thoại, liên kết hội thoại

- Phương pháp miêu tả và phân tích: Chúng tôi phân tích những đặc trưng về ngôn ngữ hội thoại trong Sử thi Đăm Săn để khái quát được những

đặc điểm cơ bản nhất về hội thoại trong tác phẩm sử thi

6 Đóng góp của luận văn

4

Trang 10

Với mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn hướng đến những đóng gópsau:

- Về lí luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ những đặc điểm của lí thuyếthội thoại trong giao tiếp tiếng Việt

- Về thực tiễn, luận văn sẽ cho thấy mối quan hệ giữa hội thoại và vănhóa giao tiếp của người Ê-đê Đồng thời bổ sung nguồn tư liệu phục vụ choviệc nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa - văn học

7 Bố cục của luận văn

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa luận văn được bố cục thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chúng tôi trình bày những vấn đề chung về giao tiếp và lí thuyết hội

thoại làm cơ sở định hướng nghiên cứu hội thoại trong Sử thi Đăm Săn.

Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong Sử thi Đăm Săn

Trong chương này, chúng tôi miêu tả đặc điểm của các thành phần trong

cấu trúc hội thoại Dựa vào kết quả khảo sát và thống kê ngữ liệu trong Sử thi Đăm Săn, chúng tôi rút ra những đặc điểm trong cấu trúc của cuộc thoại, đoạn

thoại, cặp thoại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn

Chương 3: Hình thức hội thoại trong Sử thi Đăm Săn

Chúng tôi phân tích các hình thức liên kết hội thoại; từ đó đánh giá

những biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Ê-đê qua hội thoại trong Sử thi Đăm Săn Dựa trên cơ sở của lí thuyết hội thoại, chúng tôi vận dụng để phân

tích đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trong chương trình Ngữ văn ởtrường THPT

5

Trang 11

Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Giao tiếp và quá trình giao tiếp

1.1.1 Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻthông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp

Tác giả Nguyễn Như Ý đã định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [39;101].

Để duy trì quá trình giao tiếp, con người cần sử dụng phương tiện giaotiếp, bao gồm: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Cả hai phương tiện giao tiếp nàyđều quan trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giao tiếp: với các mối quan

hệ gần gũi thì giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng nhiều hơn, còn trong cácmối quan hệ xã giao thì giao tiếp phi ngôn ngữ thường làm nền cho giao tiếpngôn ngữ

1.1.2 Quá trình giao tiếp

Quá trình giao tiếp được hiểu là sự mã hóa thông điệp của người nói(Sp1), sau đó gửi đến người nghe (Sp2) Sp2 sẽ giải mã và phản hồi thông tintheo quan điểm của họ Thông điệp khi mã hóa phải rõ ràng, súc tích, chínhxác, liên quan đến người nhận, kịp thời và có ý nghĩa, phù hợp với tình huống

Từ mô hình trên ta thấy, để có thể giao tiếp, con người phải có những

Trang 12

mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp “Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc

xã hội đó và trên các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, hoặc nhóm người trong xã hội đó” [39;102] Vì vậy, muốn quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cần

đảm bảo các yếu tố sau: nhân vật giao tiếp (người gửi và người nhận), nộidung giao tiếp (thông điệp), hoàn cảnh giao tiếp (môi trường giao tiếp rộng vàhẹp), phương tiện giao tiếp (hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ),mục đích giao tiếp (mong muốn của người gửi)

Nhân vật giao tiếp là “những người tham gia vào quá trình giao tiếp” [15;213]; trong vai người nói (người viết) hoặc người nghe (người đọc) Trong

hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp thường có sự đổi vai và luân phiên lượtlời với nhau

Nội dung giao tiếp là “hiện thực, thực tế khách quan (bao gồm cả thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng; bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần) được các nhân vật giao tiếp đưa vào cuộc giao tiếp” [15;217]

Hoàn cảnh giao tiếp là “môi trường giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp” [15;220] Bao gồm hoàn cảnh giao tiếp hẹp

(thời gian, không gian diễn ra cuộc giao tiếp) và hoàn cảnh giao tiếp rộng(hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa của dân tộc, của đất nước)

Phương tiện giao tiếp là “hệ thống tín hiệu mà các nhân vật giao tiếp sử dụng trong quá trình giao tiếp” [15;220] Đó là tất cả những yếu tố con người

dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những biểu hiện khác củamình trong quá trình giao tiếp; bao gồm: phương tiện ngôn ngữ và phi ngônngữ

Mục đích giao tiếp là “ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định” [15;222] Đây là yếu tố quan trọng nhất

trong hoạt động giao tiếp, nó chi phối việc lựa chọn các yếu tố còn lại và toàn

Trang 13

bộ cách thức tiến hành giao tiếp.

Thông qua hội thoại, các yếu tố trên thực hiện vai trò của mình trong sựkết hợp chặt chẽ với nhau Cuộc thoại thành công hay thất bại đều phụ thuộcvào sự chi phối của các yếu tố này

1.2 Mội số vấn đề về hội thoại

Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong

sự hành chức của ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đềuđược giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì “thuật ngữ hội thoại sẽ được dùng cho mọi hình thức hội thoại nói chung ( ) và đối thoại cho hình thức hội thoại tích cực mặt đối mặt giữa những người hội thoại ( ) Trong đối thoại lại có đối thoại tay đôi, đối thoại tay ba, tay tư, nói chung là đa thoại Kiểu đối thoại tay đôi được gọi là song thoại Song thoại là hình thức hội thoại nguyên mẫu của mọi cuộc đối thoại và hội thoại ” [5;540]

Từ đó ta thấy, dạng cơ bản của hội thoại là dạng “song thoại” (dialogue)tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên hội thoại có thể códạng tam thoại (ba nhân vật) và nói chung là đa thoại (nhiều nhân vật)

Để có cơ sở cụ thể nghiên cứu về hội thoại trong Sử thi Đăm Săn, chúng tôi sử dụng khái niệm hội thoại của tác giả Nguyễn Như Ý: “Hội thoại chính

là dạng hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra”

[39;122]

1.2.1 Các vận động hội thoại

• • o • •Vận động giao tiếp của ngôn ngữ thông thường bao gồm ba vận động:trao lời, trao đáp và tương tác

Khi nói về hội thoại, tác giả Đỗ Hữu Châu: “dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe Sp1, Sp2 và

Trang 14

Spn là các đối tác hội thoại” [5;540].

Trao lời: Là vận động người nói Sp1 nói ra và hướng lời nói của mình

về phía người nhận Sp2 Thông thường, Sp1 khác người nhận Sp2 trừ trường

hợp độc thoại thì có thể đồng nhất Cho nên, “Trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2” [5;540]

Ví dụ 1:

Trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo đã độc

thoại nội tâm: “Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo?

Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: Có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa!”

Có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới ngườinhận hoặc tự hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực ) bổ sung cho lời củangười nói Đây là kiểu hội thoại theo dạng thức phi ngôn ngữ

Đoạn miêu tả Chí Phèo ăn vạ tại nhà Bá Kiến đã cho chúng ta thấy rõ

điều này: “Ối làng nước ôi! Cứu tôi với Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến

nó đâm chết tôi! Thằng lí Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!” - kèm theo lời kêu la ấy của Chí là hình ảnh “Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt Máu ra loe loét trông gớm quá!”.

Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng người nhận Sp2 tất yếu phải cómặt, “đi vào” trong lời của Sp1 Ngay trước khi Sp2 đáp lời, anh ta, ngôi thứhai, đã được đưa vào trong lời trao của ngôi thứ nhất “tôi” và thường xuyênkiểm tra, điều hành lời nói của Sp1 Cũng chính vì vậy, ở phía người nói,người trao lời, nói năng có nghĩa là “lấn trước” vào người nghe Sp2, phải dựkiến trước phản ứng của người nghe để chọn lời cho thích hợp, để làm sao cho

có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào Sp2

Trao đáp: Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời

Trang 15

đáp lại lượt lời của Sp1, sẽ có sự lần lượt thay đổi vai nói, vai nghe giữa cácnhân vật giao tiếp Chúng ta đã biết lời là sản phẩm của các hành động ngônngữ Tất cả các hành động ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự đáp ứng Cũng như sựtrao lời, sự trao đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời,thông thường thì hai loại yếu tố này đồng hành cùng nhau.

Khi Sp1 phát ra một tín hiệu ngôn ngữ thì luôn mong muốn nhận được

sự hồi đáp của Sp2 Nếu không nhận được sự trao đáp từ Sp2 thì Sp1 sẽ rơi vào tình trạng “nói vào chỗ trống”; đồng thời Sp2 “cũng tự cảm thấy áy náy, cảm thấy sự tàn nhẫn, sự thiếu lịch sự của mình” [5;543] Cho nên trong hội

thoại, cả người nói và người nghe đều sử dụng những tín hiệu điều hành vậnđộng trao đáp; được thể hiện trong sơ đồ sau:

Tín hiệu điều hành vận động trao đáp

Tín hiệu đưa đẩy Tín hiệu phản hồi

phi lời kèm lời bằng phi lời kèm lời bằ

ng

Tương tác: Các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn

nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại

Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác Họtác động lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất

là tác động đến lời nói (và ngôn ngữ) của nhau “Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2 ” [5;544]

Trang 16

Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa là phương tiện mà Sp1, Sp2 sửdụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến nhau.

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Lượt lời là do một phát ngôn hoặc do một

số phát ngôn liên kết với nhau kể từ khi được người nói nói ra cho đến khi người này ngừng lời, tức cho đến khi gặp một vị trí chuyển tiếp quan yếu”

[5;609] Để giữ lịch sự, cần tôn trọng lượt lời của người khác, tránh nói tranhlượt lời, cắt lời hoặc chêm vào lời người khác Im lặng cũng là một cách biểuthị thái độ

Ví dụ 2: lượt lời được thể hiện rõ nét qua đoạn thoại sau giữa Liên và

An trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam).

Liên: Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không? An: Vâng, bà ta mua hai bánh còn cụ Chi lấy nửa bánh nữa.

Liên: Thôi, để mai tính một thể.

Giữa tương tác bằng lời và không bằng lời có sự đồng nhất về khái niệmcặp kế cận Trong hội thoại, cặp kế cận là sự đáp ứng các quy tắc hội thoại, tạo

ra mạch liên kết để cuộc thoại phát triển theo chiều hướng bình thường Cặp kếcận được thiết lập bởi một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp vàchúng được điều khiển bởi quy tắc giữa cân bằng trong tương tác Ví dụ:

Sp1: Anh cho tôi hỏi đường đến phố Cổ Ngư.

Sp2: Chị cứ đi thẳng đến ngã ba, rẽ phải là đến.

Cuối cùng, trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố và sửachữa Trao đáp củng cố nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa ngườitrong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả

Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng

cho một cuộc hội thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoạiđều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác

Trang 17

1.2.2 Các quy tắc hội thoại

Hội thoại là một hoạt động xã hội, do đó nó cũng có những quy tắc

riêng Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định ( ) những công thức siêu giao tiếp mà chúng ta thường nghe được như “Để tớ nói cái đã”, “Để tớ nói xong đã”, “Đừng chen ngang”,

“Đừng nói leo”, “Đừng ngắt lời tớ”, “Trả lời đi chứ!”, “Lại đánh trống lảng rồi”, “Đừng nói cái giọng đó với tớ” chứng tỏ rằng quy tắc hội thoại là có thực” [5;556].

Chuyên gia Ngữ dụng học người Pháp C.K.Orecchioni cho rằng quy tắchội thoại có những tính chất như sau:

- “Các quy tắc hội thoại có bản chất hết sức đa dạng” [5;556] Do chỗ có

rất nhiều nhân tố tham gia vào hội thoại cho nên cứ mỗi loại nhân tố lại cónhững quy tắc tương ứng

- “Có những quy tắc tổ chức hội thoại và quy tắc chuẩn tắc” [5;556] Quy

tắc tổ chức hội thoại tức là điều hành, tổ chức các đơn vị hội thoại; quy tắcchuẩn tắc chi phối việc nói năng để đạt được mục đích của mình

- “Có những quy tắc hội thoại chung cho mọi cuộc hội thoại nhưng cũng

có những quy tắc riêng cho mỗi loại hình, mỗi kiểu hội thoại” [5;557].

- “Các quy tắc hội thoại gắn rất chặt với ngữ cảnh” [5;557].

- “Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tùy theo từng xã hội và từng nền văn hóa” [5;557].

- “Nhìn chung quy tắc hội thoại khá mềm dẻo, linh hoạt” [5;557].

- “Phần lớn quy tắc hội thoại được vận dụng một cách tự phát” [5;557].

Những tính chất này được thể hiện cụ thể qua những quy tắc: quy tắc

Trang 18

điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc liên kết hội thoại, quy tắc điều hành nội dung của hội thoại.

1.2.2.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời

Khi có hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lờicho anh ta theo cách lời người này kế tiếp lời người kia không có sự dẫm đạplên lời của nhau Cho a là lời của Sp1 và b là lời của Sp2 thì nguyên tắc nàycho ta a-b-a-b Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phảigiảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau

Ví dụ 3:

Sp1: Cậu đi đâu đấy?

Sp2: Tớ lên thư viện đây.

Sp1: Chờ tớ một chút nhé!

Sp2: Cậu cũng đi à?

Sp1: Tớ cần tìm tài liệu về Nam Cao.

Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do cácnhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với nhau

Quy tắc luân phiên lượt lời chính là cơ sở của sự liên hòa phối, vì vậy,

“phải liên hòa phối là để cho các quy tắc luân phiên lượt lời vận hành được tốt, mà các quy tắc luân phiên lượt lời có vận hành tốt thì cuộc hội thoại mới

có kết quả” [5;559].

Quy tắc liên kết không chỉ phi phối các bản ngôn đơn thoại mà chi phối

cả các lời tạo thành một cuộc đối thoại

Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phátngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị hội thoại; được thể hiệntrong quan hệ lập luận

Ví dụ 4:

- Trường hợp 1:

tắc liên kết hội thoại

Trang 19

Như vậy, quy tắc liên kết hội thoại hướng đến quá trình điều phối độ dài

- ngắn, tiếp tục hay không tiếp tục, tích cực hoặc tiêu cực của một cuộc hộithoại - tức ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc hội thoại; cho nên nó còn được gọi

là quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại

1.2.2.3 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại

Các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại điều hành cả nội dung miêu tả

và nội dung liên cá nhân, ngữ dụng của nó Cho nên, “quy tắc điều hành nội dung hội thoại phải điều hành không chỉ những nghĩa trực tiếp, theo câu chữ

mà còn phải điều hành cả những nghĩa hàm ẩn, những nghĩa phải suy ra mới nắm bắt được nữa” [5;560] Hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người tham

gia phải tôn trọng một số nguyên tắc, đó là:

a Nguyên tắc cộng tác hội thoại: do Gride nêu ra từ năm 1967 và được phát biểu một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại - ĐHC) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại - ĐHC) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia vào” [5;560] Nguyên

tắc cộng tác hội thoại được Grice tách thành 4 phương châm nhỏ:

Trang 20

- Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng

tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại

- Phương châm về chất: Hãy làm cho phần đóng góp của anh là đúng.

- Phương châm quan hệ: Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu

(pertinent) tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

- Phương châm cách thức: Hãy nói cho rõ ràng.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận ra được những trường hợp vi phạmchúng trong hội thoại, qua đó đánh giá được kết quả của cuộc hội thoại; điều

này đã được GS Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Còn xúc phạm, vi phạm, chối bỏ (và cả treo một phương châm) là những việc làm có ý thức, cố ý “khai thác” các phương châm nhằm gài đằng sau phát ngôn trực tiếp của mình những hàm ngôn hội thoại, tạo ra những ý nghĩa không tự nhiên” [5;567].

Nếu những phương châm trên được tôn trọng thì một cuộc hội thoại sẽ đạtđược tính chất cộng tác giữa những nhân vật hội thoại, đạt được tính quan yếu,đạt được yêu cầu về lượng tin và đạt yêu cầu triệt để

b Nguyên tắc tôn trọng thể diện của những người hội thoại: người tham

gia hội thoại phải khéo léo tránh xúc phạm đến thể diện của người khác cũngnhư cố gắng gìn giữ thể diện của mình Đó là nguồn gốc của các biện pháp tu

từ như nói giảm, nói vòng, của các công thức xã giao, của những lời nói dối vìlịch sự

c Nguyên tắc khiêm tốn: Trong hội thoại cần giảm thiểu sự tự khen ngợi

mình Trong giao tiếp nói chung người nào luôn luôn bộc lộ cái tôi sẽ gây khóchịu cho người đối thoại Vì vậy, cần khiêm tốn để tạo không khí hòa nhã chocuộc giao tiếp, đó là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của quátrình giao tiếp

Trang 21

Bên cạnh những quy tắc phổ quát đó, tùy địa phương, tùy từng cá nhân, tùytừng dân tộc mà còn có những quy tắc hội thoại “đặc ngữ” Bởi vậy sự nghiêncứu hội thoại, một mặt đi theo hướng nghiên cứu quen thuộc là tìm ra quy luậtchung, mặt khác cần thiết phải đi theo con đường so sánh đối chiếu, để tìm rađặc thù liên văn hóa của hội thoại.

1.2.3 Thương lượng hội thoại

1.2.3.1 Đối tượng thương lượng

Các nhân vật tham gia giao tiếp có thể thương lượng về: hình thức củahội thoại; cấu trúc hội thoại; lí lịch và vị thế giao tiếp của các đối tác; các yếu

tố ngôn ngữ: các nhân vật hội thoại phải thương lượng về từ ngữ được dùng, ýnghĩa của chúng và về câu cú; nội dung hội thoại

1.2.3.2 Phương thức thương lượng

Quá trình thương lượng hội thoại diễn ra tùy theo các yếu tố sau:

Về thời gian thương lượng: trong hội thoại thương lượng là quá trình

diễn ra liên tục nên không thể xác định thời gian cố định cho một cuộc thươnglượng

Về thể thức thương lượng: có thể thương lượng một cách trực tiếp (nêu

đề tài trực tiếp), hoặc thương lượng ngầm, gián tiếp

Về kết quả của hội thoại: được thể hiện qua sơ đồ sau:

Kết quả hội thoại

Tích cực Tiêu cực

1.2.4 Cấu trúc hội thoại

Hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn

vị cấu trúc của hội thoại là: cuộc thoại (cuộc tương tác), đoạn thoại, cặp thoại(cặp trao đáp) Ba đơn vị này có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa là hình thành

Thỏa thuận Tự nguyện liên

kết

Mỗi người giữ vữnglập trường riêng

Liên kếtmiễn

Trang 22

do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại Hai đơn vị có tính chất đơnthoại, có nghĩa là do một người nói ra là: tham thoại, hành động ngôn ngữ.

1.2.4.1 Cuộc thoại

“Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất” [5;626], tính từ khi

các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói cho đến lúc chấm dứt câu chuyện

Các tiêu chí để xác định một cuộc thoại:

(1) Nhân vật hội thoại

(2) Tính thống nhất về thời gian và địa điểm

(3) Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn

(4) Tiêu chí về các dấu hiệu xác định ranh giới cuộc thoại

Tuy nhiên, bởi tính tự do của hội thoại nên các tiêu chí trên không cố định,không có tính chất chặt chẽ; vì thế C.K Orecchioni đã đưa ra một định nghĩa

dễ hiểu hơn về cuộc thoại như sau: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [5;627] 1.2.4.2 Đoạn thoại

Về nguyên tắc, tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa “đoạn thoại là một mảng ngôn bản do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng” [5;627] Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề: một

chủ đề duy nhất, và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Cũng có thể nóitiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự thực hiện mối quan hệ lập luận trongđoạn thoại đó

Có những đoạn thoại trong cuộc thoại ít nhiều được định hình do đó dễnhận ra hơn các đoạn thoại khác Đó là đoạn thoại mở thoại và đoạn thoại kếtthúc Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại được thể hiện như sau:

Trang 23

Ranh giới giữa cuộc thoại và đoạn thoại là rất mong manh, khó để xácđịnh, đôi khi nó chỉ mang tính võ đoán Thế nhưng, trong nghiên cứu ngữ dụngnói chung, hội thoại nói riêng cuộc thoại và đoạn thoại là những yếu tố quantrọng đến việc hình thành lí thuyết hội thoại.

Xét về cấu trúc nội tại, có các loại cặp thoại như sau:

Thứ nhất, cặp thoại một tham thoại: xảy ra khi người nghe thực hiện một

hành động vật lí (gật đầu, lắc đầu, xua tay, dậm chân ) thay cho hành động ngôn ngữ, hoặc người nghe im lặng, không có hành động gì cả, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng”.

Thứ hai, cặp thoại hai tham thoại: được coi là dạng thông thường nhấttrong hội thoại Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng vớimột chức năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”,tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp” Ở cặp thoại này, lượt lờitrùng khớp hoàn toàn với một tham thoại (một tham thoại trùng khớp hoàntoàn với một hành vi ngôn ngữ) Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặpthoại trong trong hiện thực giao tiếp Nhưng trong thực tế có rất nhiều trườnghợp cặp thoại gồm ba tham thoại

Trang 24

Thứ ba, cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia,

hoặc có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan

hệ ràng buộc lẫn nhau Có thể có những dạng cặp thoại phức tạp như sau:

- Dạng (1): oại cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ cómột tham thoại hồi đáp

- Dạng (2): oại cặp thoại có một tham thoại dẫn nhập, với nhiều thamthoại hồi đáp

- Dạng (3): oại cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở cảhai phía

Xét về tính chất, có các loại cặp thoại như sau:

Thứ nhất, cặp thoại chủ hướng/ cặp thoại phụ thuộc: “Cặp thoại chủ

hướng” là cặp chủ đạo giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạnthoại Trong đoạn thoại, ngoài cặp thoại chủ hướng ra, còn có thể có nhiều cặpthoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào một cặp thoại khác, cụ thể là phụthuộc vào một trong các tham thoại của cặp thoại phụ thuộc, vì vậy được gọi là

“cặp thoại phụ thuộc” Tính chất phụ thuộc của cặp thoại này thể hiện ở chỗkhông mang đích hay chủ đề chung, mà chỉ có chức năng bổ trợ, giải thíchthêm về những khía cạnh hay chi tiết nào đó của tham thoại trong cặp thoạichủ hướng Trong cặp thoại phụ thuộc thường gặp là hai loại cặp thoại: cặpthoại củng cố và cặp thoại sửa chữa

Thứ hai, cặp thoại tích cực/ tiêu cực: Khi xác định tính chất của cặp

thoại thường phải dựa vào tính chất của tham thoại mà chủ yếu là tham thoạihồi đáp Cụ thể là: Khi tham thoại hồi đáp tích cực (thỏa mãn đích dẫn nhập),thì ta có cặp thoại tích cực; khi tham thoại hồi đáp tiêu cực (nghịch hướng đíchdẫn nhập), thì ta có cặp thoại tiêu cực

Ví dụ 5: Cặp thoại tích cực:

Sp1: Cậu có thể cho tớ mượn chiếc xe đạp một lát được không?

Trang 25

Sp2: Cậu cứ lấy mà đi nhé!

Những cặp thoại sau đây được coi là tích cực: ra lệnh - tuân lệnh; yêucầu - chấp nhận; khen tặng - tiếp nhận; mời - nhận lời; hỏi - trả lời; nhận định -tán thành; phê bình - tiếp thu; buộc tội - thú nhận; mắng - thừa nhận

Những cặp thoại sau đây là tiêu cực: mời - từ chối; khen tặng - khướctừ; yêu cầu - từ chối; hỏi - hỏi lại, trả lời không thuận theo sự chờ đợi; mắng -cãi; phê bình - phủ nhận; chất vấn - thanh minh; buộc tội - chối, bào chữa

Chúng ta có thể phân biệt hai khái niệm tham thoại và lượt lời ượt lời làchuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầuđến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượtlời, và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại

Trang 26

Ví dụ 7:

(1) Sp1: Chào!

(2) Sp2: Chào cậu!

(3) Sp1: Sao? Dạo này cậu khỏe chứ?

(4) Sp2: Cảm ơn nhé! Tớ khỏe Còn cậu thì sao?

(5) Sp1: Mình khỏe lắm, béo tốt thế này cơ mà Cậu làm gì rồi? (6) Sp2: Tớ đi dạy Mới xin đi làm được hơn tháng.

Ta thấy, (1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng;(3) và (4) là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoạihỏi, (4) là một lượt lời gồm 3 tham thoại (một tham thoại cảm ơn, một thamthoại đáp và một tham thoại hỏi); tương tự như vậy với cặp thoại (5) và (6)

Như vậy, “tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [5;629].

Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữtạo nên Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hướng làm nòng cốt và có thể cóthêm một hoặc một số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng đảm nhiệm vaitrò quyết định mục đích giao tiếp của tham thoại chứa nó, đồng thời tham giakết hợp với hành vi chủ hướng nằm ở tham thoại khác để tạo nên cặp kế cận.Hành động phụ thuộc có vai trò làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành độngchủ hướng trong quá trình hội thoại Khi tham thoại chỉ có một hành vi thì ranhgiới tham thoại sẽ trùng với ranh giới hành vi

Trong tham thoại, hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết địnhhướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại.Còn hành vi phụ thuộc thì có nhiều chức năng khác nhau như: củng cố, giảithích, biện minh, đánh giá nhằm hỗ trợ cho hành vi chủ hướng

Ngoài ra, trong tham thoại còn có những thành phần mở rộng Nhữngthành phần này không đóng góp lớn cho nội dung ngữ nghĩa của tham thoại mà

Trang 27

chỉ thuần tuý là những hành vi có chức năng ngữ dụng, chỉ có chức năng duytrì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại.

Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân loại tham thoại thànhhai loại: tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp

- Tham thoại dẫn nhập có chức năng mở đầu cho một cặp thoại

- Tham thoại hồi đáp, là tham thoại có chức năng phản hồi tham thoạidẫn nhập Tham thoại hồi đáp có thể đóng vai trò kết thúc cặp thoại, vì thế còngọi là “tham thoại hồi đáp - dẫn nhập”

Mỗi tham thoại đều có thể nằm trong quan hệ cặp thoại với tham thoạitrước và sau nó, nghĩa là tham gia trực tiếp tạo nên hai cặp thoại, trừ thamthoại đầu tiên, và cuối cùng thường chỉ tham gia vào một cặp thoại

Điều đáng lưu ý là từ tham thoại thứ hai của cặp thoại thứ nhất, cáctham thoại hồi đáp lần lượt trở thành tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại tiếptheo Cứ như vậy, sự khởi phát của cặp thoại thứ nhất như một mắt xích đầutiên để kéo theo cả chuỗi các cặp thoại khác

Mỗi tham thoại có thể nằm trong quan hệ trao đáp theo những hướngkhác nhau, có thể vừa làm tham thoại hồi đáp cho một cặp thoại này, vừa đóngvai trò dẫn nhập cho cặp thoại khác, tạo ra các kiểu cấu trúc khác nhau Nóikhác đi, mỗi tham thoại biểu hiện chức năng dẫn nhập hoặc hồi đáp, nhưngcũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, gọi là “tham thoại có chứcnăng ghép”

1.2.4.5 Hành vi ngôn ngữ

Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhaubằng cách sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đadạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ Dựa trên cơ sở đó,

Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm “Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Các ứng xử bằng lời (và bằng các yếu tố kèm ngôn ngữ)

Trang 28

đều căn cứ vào các hành vi ngôn ngữ đi trước, không phải căn cứ vào các đơn

vị ngữ pháp thông thường như từ và câu” [5;631].

Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hainhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi

Những hành vi có hiệu lực ở lời tức là những hành vi có hiệu lực thayđổi quyền lực và trách nhiệm của người hội thoại, theo cách hiểu của O.Ducrot, là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhânvật hội thoại với nhau Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời trong mộttham thoại, người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình và có quyềnđòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng,chẳng hạn: hỏi/ trả lời; cầu khiến/ hành động hay phản đối Những quyền lực

và trách nhiệm đó làm cho các hành vi ngôn ngữ có tính chất như các quy ướcpháp lí và những đối ngôn có những tư cách pháp nhân nhất định

1.3 Sử thi Đăm Săn

1.3.1 Khái quát về sử thi Đăm Săn

Trong Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, tác giả Đỗ Hồng Kỳ đã đưa ra

khái niệm về sử thi như sau: “Người Ê Đê có thể loại văn học dân gian tổng hợp gọi là klei khan, gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là sử thi dân gian”

[19;76]

Nếu xét theo góc độ ngôn ngữ của từng nhóm người đê thì nhóm

Ê-đê Kpă gọi là khan, nhóm Ê-Ê-đê Mdhur gọi là cơ-năk, một số nhóm khác gọi làghan Trong tiếng Ê-đê, klei là lời/ bài, khan là hát kể; nhưng hát kể ở đâykhông phải hát thông thường mà hát bao hàm ý nghĩa ngợi ca Cho nên kleikhan được hiểu là một hình thức truyện kể tổng hợp, được thông qua hát kể

Sử thi Đăm Săn đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan

tâm G Condominas - nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp đã nghiên cứu cáckhía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Đăm Di và

Trang 29

Đăm Săn; ông ca ngợi khan Đăm Săn: “Người ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không nhớ ngay đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc ở nội địa miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác” [45;230]

Có thể tóm tắt sơ lược Khan Đăm Săn thành bốn phần cụ thể như sau:

(1) Đăm Săn chấp nhận lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị trong bối cảnh cả con người

và thần linh đều theo tập tục Chuê-nuê

(2) Đăm Săn tiến hành săn bắt, sản xuất, tiến đánh các tù trưởng gian tham,hiếu sắc, xác lập địa vị và danh tiếng của người giàu có, hùng mạnh

(3) Đăm Săn đi chặt cây thần và cầu hôn với nữ thần Mặt Trời

(4) Đăm Săn chết trong đầm lầy và sự xuất hiện của Đăm Săn cháu

Qua đó, ta thấy Khan Đăm Săn chính là mô hình thu nhỏ của xã hội tộc người Ê-đê cổ đại Chính vì thế, Sử thi Đăm Săn đã trở thành một tuyệt tác của kho tàng văn học thiểu số Việt Nam Khan Đăm Săn xây dựng hình tượng nhân

vật Đăm Săn tài giỏi trong lao động và chiến đấu Đó là nhân vật hoàn thiện,hoàn mĩ về tất cả các mặt: sức mạnh, đạo đức, tài năng, ngoại hình, trang phục,

vũ khí Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến những vấn đề cơ bản của xã hộiÊ-đê như: tục Chuê-nuê (nối dây, nối dòng), cuộc đấu tranh giữa các tù trưởng

để giành lại vợ, lấy lại quyền uy cho gia đình, dòng họ

Điều đặc biệt, tác phẩm phản ánh hình thái chế độ mẫu hệ Ê-đê một cáchkhá chân thực và sinh động, trong đó nổi bật hình tượng các nhân vật: nhân vậtngười anh hùng (nhân vật trung tâm), nhân vật Mtao (tù trưởng), nhân vật nữtài sắc, nhân vật Aê Du, Aê Diê (ông Trời) Mối quan hệ giữa các nhân vậtđược biểu hiện chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ hội thoại

1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong sử thi Đăm Săn

Thứ nhất, ngôn ngữ của nhân vật người anh hùng (nhân vật trung tâm):

Trang 30

có thể nói Đăm Săn là nhân vật tiêu biểu nhất cho kiểu nhân vật này trong

Khan Đăm Săn nói riêng, Khan Ê-đê nói chung Qua tác phẩm, ta thấy, ngôn

ngữ của Đăm Săn đầy hào sảng uy nghi, đại diện cho cuộc chiến chính nghĩa

Thứ hai, ngôn ngữ của nhân vật Mtao (tù trưởng): tiêu biểu là các nhânvật Mtao Grự và Mtao Mxây Trong cuộc chiến với Đăm Săn, các nhân vậtMtao có sự run sợ, hèn nhát của một kẻ xấu xa, tiêu biểu cho cuộc chiến phinghĩa; tuy nhiên, vì danh dự và sĩ diện mà họ phải buông lời ngạo nghễ, trêutức Đăm Săn

Thứ ba, ngôn ngữ của nhân vật nữ tài sắc: hiện lên trong Khan Đăm Săn

với hình ảnh của chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị Đây là những nhân vật tiêu biểucho văn hóa mẫu hệ của người Ê-đê, họ đại diện cho quan niệm người phụ nữ

lí tưởng, vừa xinh đẹp, vừa có tài thêu dệt hơn người Chính vì vậy, ngôn ngữcủa họ mang tính quyền lực, bộc lộ vai trò của người chủ trong ngôi nhà dài;ngay cả với các anh em trai của mình họ cũng thể hiện uy quyền mẫu hệ

Thứ tư, ngôn ngữ của nhân vật Aê Du, Aê Diê (ông Trời): đây là hai vịthần tối cao của người Ê-đê, là thần sáng tạo và cai quản muôn loài Ngôn ngữcủa nhân vật này được bộc lộ chủ yếu dưới dạng lời khuyên mang tính răn đe;

trong Khan Đăm Săn, Aê Du, Aê Diê chính là nhân vật can thiệp, quyết định

những vấn đề hệ trọng của con người, luôn chế ngự cái ác, đem lại may mắn

và hạnh phúc cho mọi người

Tiểu kết chương 1

Trong ngôn ngữ văn chương, hội thoại là phương tiện phổ biến nhất, cónhiều biểu hiện đa dạng, phong phú trong những ngữ cảnh khác nhau, phục vụcho tư tưởng nghệ thuật của tác giả văn học hướng đến các đối tượng tiếpnhận

Để phân tích hội thoại nói chung cũng như trong một tác phẩm văn học

dân gian như Khan Đăm Săn, trước hết, chúng ta phải quan tâm đến những

Trang 31

khái niệm cơ bản của hội thoại dưới góc độ ngữ dụng học như: cuộc thoại,đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Từ những tiêu chí nhậndiện, đặc điểm về hình thức và chức năng của các yếu tố hội thoại ta có thể xácđịnh rõ vai trò của hội thoại trong tác phẩm văn học Đồng thời, cùng với

những hiểu biết về Sử thi Đăm Săn và một số đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của từng loại nhân vật trong Khan Đăm Săn, ta có thể dễ dàng lí giải được cách

thức tổ chức hội thoại trong tác phẩm này; qua đó tìm ra những giá trị đặc

trưng về hội thoại trong Sử thi Đăm Săn đối với văn hóa độc đáo của cộng

Trang 32

Chương 2 - CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM

SĂN

2.1 Đặc điểm của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

2.1.1 Hình thức cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

Khảo sát Sử thi Đăm Săn chúng tôi thu được tất cả 70 cuộc thoại Dựa

trên cơ sở sự tham gia của các nhân vật giao tiếp, chúng tôi phân loại hình thứccác cuộc thoại theo 3 tiêu chí: song thoại, tam thoại, đa thoại Cụ thể như sau:

Các cuộc thoại trong Sử thi được diễn biến một cách linh hoạt, đa dạng:ban đầu là giao tiếp mang tính chất song thoại giữa giữa hai nhân vật, sau đó

có sự xuất hiện của nhân vật khác làm cho cuộc thoại chuyển từ song thoạisang tam thoại hoặc đa thoại

Ví dụ 8: Cuộc thoại giữa Hơ Nhị và Hơ Âng:

Hơ Nhị: Ơ đuk, ơ đuk, có thấy em đuk ở đây không?

Hơ Âng: Cậu ấy còn đi đâu nữa, đuk? Đang nằm trong buồng của cậu

ấy kia kìa Cô cậu lại có chuyện với nhau phải không? Cãi nhau hả?

Hơ Nhị: Nào có chuyện gì mà cãi nhau, đuk? Hơ Bhị chỉ gọi anh ấy về

ăn cơm thôi.

Trang 33

ồi Hơ Nhị đi thẳng vào buồng Đăm Săn.

Trang 34

Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, về nhà chúng ta nào.

Đăm Săn: Tôi về mà làm gì? Các cô đâu có cần tôi mà tôi về? Các cô

đã không cần, sao tôi lại về nhỉ? [42;60]

Hình thức song thoại được sử dụng chủ yếu với 39 cuộc chiếm 55,7%,tiếp theo là 20 cuộc theo hình thức đa thoại chiếm 28,6% và ít nhất là hìnhthức tam thoại 11 cuộc chiếm 15,7%

Số lượng nhân vật đã góp phần ảnh hưởng đến dung lượng cuộc thoại,

đa phần những cuộc thoại dài đều là do có nhiều nhân vật tham gia, chẳng hạn:cuộc thoại 22 gồm 3 đoạn thoại với sự tham gia của các nhân vật: Hơ Nhị,Đăm Săn, Prong Mưng, cùng tôi tớ, dân làng Hay cuộc thoại 50 gồm 4 đoạnthoại với sự tham gia của các nhân vật: Mtao Mxây, Đăm Săn, Y Suh, Y Sah,các tù trưởng và tôi tớ, dân làng

2.1.2 Cấu trúc của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

Trong Sử thi Đăm Săn, đa số là những cuộc thoại gồm từ một đến ba

đoạn thoại (67 cuộc thoại), chỉ có 3 cuộc thoại có cấu trúc 4 đoạn thoại Cụthể:

Cấu trúc thông thường của một đoạn thoại gồm 3 phần: đoạn mở thoại,đoạn thân thoại, đoạn kết thoại Thế nhưng, qua khảo sát thực tế có thể nhậnthấy có nhiều cuộc thoại không có đầy đủ ba thành phần Đó là trường hợp:

- Cuộc thoại chỉ có thân thoại

Ví dụ 9:

Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?

Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ Tốt rồi đấy, ông ạ Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ [42;51]

- Cuộc thoại chỉ gồm một đoạn thoại, trong đó:

+ Đoạn thoại chỉ gồm một cặp thoại, vừa đóng vai trò phần thân vừađóng vai trò phần kết; phần mở thoại được kể bằng lời trần thuật

Trang 35

Ví dụ 10:

Hơ Nhị, Hơ Bhị bỏ váy cũ mặc váy mới Váy này thấy chưa đẹp, lại lấy váy kia Cả hai chị em đều mặc váy sọc điểm hoa kơ-ụ, mặc áo điểm hoa êmiê, những váy áo từ trên cao ông trời đã ban cho, từ trên cao ông trời đã thả xuống.

Hơ Nhị: Hỡi bọn trẻ làng ta xem ta đẹp chưa nào?

Tôi tớ: Đẹp rồi đấy bà ạ Sang rồi đấy, bà ạ [42;52]

+ Đoạn thoại đóng cả ba vai trò: mở, thân và kết thoại

Ví dụ 11:

Hơ Bia Điêt Kluich: Ơ cái anh chàng chim ưng con, có chuyện gì mà anh đến đây anh liệng? Ơ cái chàng chim hia con, có chuyện gì mà anh đến đây kêu Anh đem đến cho tôi quách hoa hòm vẽ đấy phải không?

Đăm Săn: Ơ em, xin em đừng giận Thế là từ nay cơm ta ăn đã khác nồi khác mâm, rượu ta uống đã khác cần khác ché, nước ta gội đầu đã khác păm pli (bồ kết), gội chung với ta đã là một kẻ khác, cả miếng thịt trâu thị bò cũng

đã khác con, mời nhau ăn không còn là ta với nhau nữa rồi! [42;55]

+ Đoạn thoại không có phần mở và kết thoại

Ví dụ 12:

Đăm Săn: Ơ các con, ơ các con, các con hãy đem cái đầu của hắn bêu ngoài cổng làng, đem cái hàm của nó móc ngoài bãi cỏ để cho kiến đen, kiến gió chúng bâu! [42;75]

Nguyên nhân hình thành các trường hợp trên là do: nội dung được diễn

đạt bằng lời kể, không thể hiện bằng lời thoại Có thể thấy trong Sử thi Đăm Săn ở rất nhiều trường hợp tác giả dân gian đã kết hợp rất hài hòa giữa lối văn

trần thuật với hội thoại Lời kể có thể thay thế cho mở và kết thoại

Ngoài ra còn có một lí do khác, đó là trường hợp thoại hẫng tức chỉ cómột nhân vật nói, phát ngôn thành lượt lời của người nói mà không có lượt lời

Trang 36

của người nghe Thường được diễn ra khi người nghe ở vai dưới hoặc tronghoàn cảnh tiếp nhận bị động Tuy nhiên phần lớn các cuộc thoại trong tácphẩm đều có đầy đủ ba phần, trong đó nhiều cuộc thoại phần thân thoại cónhiều đoạn thoại.

Qua thống kê, ta thấy: đa số là các cuộc thoại ngắn (1 - 2 đoạn thoại), cóđến 37 cuộc thoại một đoạn thoại, 25 cuộc thoại hai đoạn thoại, số lượng thoạidài (3 đoạn thoại trở lên) rất ít - 8/70 cuộc thoại, gồm: 5 cuộc thoại ba đoạnthoại và 3 cuộc thoại bốn đoạn thoại Từ đặc điểm này, có thể khẳng định tácgiả dân gian thường sử dụng các cuộc thoại ngắn

2.1.3 Vai giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn gồm cả vai giao

tiếp: vai trên - vai dưới (43 cuộc thoại) và ngang vai (21 cuộc thoại) Cụ thể:

Vai giao tiếp X r

Ví dụ 13: Trong cuộc thoại 2, nhân vật Hơ ị trong quan hệ với Y

Đhing là quan hệ ngang vai, nên Hơ ị xưng tôi, gọi là anh em:

Hơ Lị: Thưa anh em, vì đâu xui khiến mà chiêng leo giàn bếp bậc quyền môn lại đến với kẻ tiện ti, bỗng dưng anh em hạ cố đến nhà tôi lần này vậy?

Y Đhing: Ấy, xin người chị em đừng vội dấp rừng chầm lối Từ nay hai nhà chúng ta lại đi lại làm thân, chúng ta lại cùng nhau kẻ mua người bán Bên này làng ta, bên kia cũng làng ta [42;46]

Nhưng trong mối quan hệ với Đăm Săn lại là quan hệ vai trên - vai dưới

Ví dụ 14:

Trang 37

Hơ Lị: Ơ anh, ơ anh, anh ra nhà khách! Cả nhà đầy khách, phòng khách đầy người Chăm, những người cầm đầu đang ngồi một mình ở giữa nhà.

Đăm Săn: Không, không, anh không ra đâu, em ơi Em cứ đi đốt gà, đem rượu ra mời họ [42;47]

Trong Sử thi Đăm Săn còn có hiện tượng có thể một nhân vật đóng

nhiều vai giao tiếp trong cùng một cuộc thoại, thường trong tam thoại hoặc đathoại

Ví dụ 15:

Đăm Săn: Ơ Hơ Lị, ơ chị Hơ Âng, sao cứ đứng đấy mà nhìn con nhà người ta đứng ở xó củi hả? Chứ không thấy người ta vố đã gác trên xà nhà, bành đã hạ xuống sàn hiên, voi đã đang quạt tai phần phật, chân đang giậm đất hay sao?

Hơ Âng: Đuk ơi, đuk vào đây! Mời đuk ngồi vào chiếu.

Hơ Bia Điêt Kluich: Đứng đây cũng được, đuk à Tôi phải đâu là khách

mà ngại! Người ta kia mới là khách [42;56]

Xét mối quan hệ giữa Hơ Âng với Đăm Săn là vai trên - vai dưới, cònvới Hơ Bia Điêt Kluich lại là ngang vai

Thông thường cuộc thoại mà các nhân vật giao tiếp nằm ở mối quan hệvai trên - vai dưới thì người có vị thế trên sẽ có vai trò giao tiếp mạnh hơn,ngược lại người kia có vị thế giao tiếp yếu hơn Người có vị thế giao tiếp mạnh

có phần lấn lướt người có vị thế giao tiếp yếu, và người có vị thế giao tiếp yếucũng vì thế mà ngại đưa ra ý kiến, ngại giãi bày hết lí lẽ, làm cho các cuộcthoại trở nên ngắn đi Tuy nhiên, ở Sử thi này thì khác; có những trường hợpnhân vật giao tiếp ở vai giao tiếp dưới nhưng lại có vai trò giao tiếp mạnh,không bị chi phối bởi vai trên, thậm chí còn có phần lấn lướt vai trên tronggiao tiếp

Trang 38

Ví dụ 16: Cuộc thoại 42 giữa Mtao Mxây và tôi tớ của làng Đăm Săn:

Mtao Mxây: Ơ các con, ơ các con, đầu bến nước này là ai, ai là con chim chút mẹ, ai là đốt dây êdung, đốt dây êmiêng ở cái làng này.

Tôi tớ: Quyền cao nhất ở đây cũng gốc từ cây mđơk, chức lớn nhất ở đây cũng gốc từ cây êboa Chủ là chúng tôi, mà tớ cũng là từ chúng tôi.

[42;79]

Trong trường hợp này, vai giao tiếp trên của tù trưởng Mtao Mxây đã bịtôi tớ làng Đăm Săn hạ thấp xuống ngang vai Cho nên Mtao Mxây không đạtđược mục đích giao tiếp (đích tiêu cực)

Điều này đã khẳng định sự ảnh hưởng của vai giao tiếp đến đề tài vàđích giao tiếp của cuộc thoại Ở những cuộc thoại có cả hai dạng quan hệ vai,

đề tài thường được mở rộng, nhiều đoạn thoại được triển khai, dung lượngnhững cuộc thoại này vì thế mà lớn hơn Như vậy, một lần nữa thấy được vaigiao tiếp và vị thế giao tiếp đã chi phối đến dung lượng cuộc thoại

Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn chủ yếu là quan hệ

vai trên - vai dưới, tiếp theo là quan hệ ngang vai, quan hệ vừa vai trên vừa vaidưới vừa ngang vai có số lượng ít hơn Qua đó, ta thấy quan hệ thứ bậc trong

Sử thi Đăm Săn chiếm phần đa trong những cuộc giao tiếp.

2.1.4 Hoàn cảnh giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

Hoàn cảnh và vai giao tiếp chi phối rất lớn đến việc lựa chọn ngôn từ,

cấu trúc của hội thoại nói chung, hội thoại trong Sử thi Đăm Săn nói riêng.

Trong Sử thi Đăm Săn, có 42/70 các cuộc thoại nằm trong hoàn cảnh

giao tiếp mang tính chất cộng đồng diễn ra tại không gian sinh hoạt chung

Trang 39

27/70 cuộc thoại là hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất riêng tư như cuộc tâmtình trò chuyện, hỏi han, khuyên nhủ Chỉ có 1/70 cuộc thoại vừa mang tínhriêng tư, vừa mang tính cộng đồng, lúc đầu là hoàn cảnh chỉ có hai anh em HơNhị và Y Đhing diễn ra trong nhà của Hơ Nhị nhưng ở đoạn cuối của cuộcthoại lại chuyển hoàn toàn sang không gian cộng đồng Sau đây là bảng thống

kê hoàn cảnh giao tiếp trong Sử thi Đăm Săn:

Xét ở góc độ có nghi thức và không nghi thức thì phần lớn các cuộc

thoại trong Sử thi Đăm Săn thuộc hoàn cảnh có nghi thức Khan Đăm Săn là

bức tranh rộng lớn về cuộc sống vật chất và tinh thần của người Ê-đê, nội dung

cơ bản của khan là kể chuyện các nhân vật anh hùng trong mối quan hệ với

con người và thần linh Vì thế hoàn cảnh giao tiếp của Khan Đăm Săn mang

tính nghi thức, biểu hiện văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Ê-đê ở TâyNguyên Điều này góp phần tạo nên tính sinh động của tác phẩm

Sở dĩ các cuộc thoại diễn ra chủ yếu ở hoàn cảnh cộng đồng là do Sử thi Đăm Săn “được xem là bức tranh toàn cảnh về không gian địa lí và không gian xã hội của tộc người Ê-đê truyền thống Ở đấy, từ khung cảnh của ngôi nhà dài, bến nước, nương rẫy, rừng cây, sông suối, đến trang phục, ăn uống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ, cưới xin, xử kiện, trò chơi dân gian, đàn hát đều được nói đến một cách khá chân thực và sinh động” [19;118].

Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?

Hoàn cảnh giao tiếp X r

Trang 40

Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ Tốt rồi đấy, ông ạ Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ [42;51].

Chỉ trong hoàn cảnh cộng đồng thì nhân vật Đăm Săn mới bộc lộ hếtđược bản chất văn hóa của người Ê-đê, từ cách sinh hoạt cho đến phong tục tậpquán

2.1.5 Mục đích giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn

Qua khảo sát, ta thấy trong Sử thi Đăm Săn có 58 cuộc thoại có mục

đích giao tiếp, chủ yếu là các cuộc thoại tích cực - 41/70 cuộc (cuộc thoạinhằm tạo lập và duy trì quan hệ xã hội), 17/70 cuộc thoại tiêu cực; còn lại làcác cuộc thoại hẫng 12/70 cuộc thoại Cụ thể:

Qua nghiên cứu, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, cuộc thoại tích cực thường có dung lượng dài, có nhiều nhânvật giao tiếp, đề cập đến nhiều đề tài, nhiều chủ đề nhưng cuối cùng vẫn đưađến kết quả như dự tính của người phát ngôn Thậm chí có những cuộc thoạidiễn ra rất căng thẳng, tưởng như sẽ không đạt được đích giao tiếp nhưng qua

Ngày đăng: 12/08/2021, 20:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Diệp Quang Ban (2010), Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
[2] Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2007), Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[8] Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên), (2006), Dẫn luận Ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận Ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[9] Nguyễn Thiện Giáp (2007), Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG Hà Nội [10] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (2007), Từđiển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ", NXB ĐHQG Hà Nội[10] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên) (2007), "Từ"điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (2007), Dụng học Việt ngữ, NXB ĐHQG Hà Nội [10] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội[10] Lê Bá Hán
Năm: 2007
[11] Cao Xuân Hạo (2017), Tiếng Việt - văn Việt - người Việt, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - văn Việt - người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2017
[12] Cao Xuân Hạo (2017), Tiếng Việt - mấy vấn đề Ngữ âm, Ngữ pháp, Ngữ nghĩa, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt - mấy vấn đề Ngữ âm, Ngữ pháp, Ngữnghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 2017
[13] Nguyễn Văn Hiệp (2018), Cú pháp tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội [14] Nguyễn Văn Hoàn (chủ biên) (1982), Đam Săn sử thi Êđê, Nxb Khoa họcxã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú pháp tiếng Việt", NXB ĐHQG Hà Nội[14] Nguyễn Văn Hoàn (chủ biên) (1982), "Đam Săn sử thi Êđê
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp (2018), Cú pháp tiếng Việt, NXB ĐHQG Hà Nội [14] Nguyễn Văn Hoàn (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội[14] Nguyễn Văn Hoàn (chủ biên) (1982)
Năm: 1982
[15] Đỗ Việt Hùng (2013), Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ thống đến hoạt động, NXB ĐH Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học từ bình diện hệ thống đến hoạtđộng
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: NXB ĐH Sư phạm
Năm: 2013
[16] Phạm Đặng Xuân Hương (2007), “Sự ra đời thần kì của người anh hùng trong sử thi - Khan Ê-đê”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sự ra đời thần kì của người anh hùngtrong sử thi - Khan Ê-đê”
Tác giả: Phạm Đặng Xuân Hương
Năm: 2007
[17] Nguyễn Văn Khang (2013), Ngôn ngữ học Xã hội, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học Xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
[18] Đỗ Hồng Kỳ (2001), “Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm San”, Tạp chí Văn hóa dân gian số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm San”
Tác giả: Đỗ Hồng Kỳ
Năm: 2001
[19] Đỗ Hồng Kỳ (2008), Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông
Tác giả: Đỗ Hồng Kỳ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
[20] Đinh Trọng Lạc (chủ biên), (2010), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
[21] Phương ựu (Chủ biên) (2002), Lí luận văn học, NXB Giáo dục [22] Phan Đăng Nhật (1991), Sử thi Êđê, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học", NXB Giáo dục[22] Phan Đăng Nhật (1991), "Sử thi Êđê
Tác giả: Phương ựu (Chủ biên) (2002), Lí luận văn học, NXB Giáo dục [22] Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Giáo dục[22] Phan Đăng Nhật (1991)
Năm: 1991
[23] Phan Đăng Nhật (2003), “Thuộc tính cơ bản của sử thi”, Tạp chí Văn hoá dân gian, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thuộc tính cơ bản của sử thi”
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Năm: 2003
[24] Phan Đăng Nhật (1996), “Tín ngưỡng dân gian Êđê và nghệ thuật sử thi Êđê”, Tạp chí Văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tín ngưỡng dân gian Êđê và nghệ thuật sử thi Êđê”
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Năm: 1996
[25] Phan Đăng Nhật (1981), “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”(trướcCách mạng tháng Tám năm 1945), NXB Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”"(trước"Cách mạng tháng Tám năm 1945)
Tác giả: Phan Đăng Nhật
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1981
[26] ê ưu Oanh (2008), Giáo trình Lí luận văn học, NXB ĐH SP Hà Nội [27] Hoàng Phê (chủ biên), (2016), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức [28] Vũ Tiến Quỳnh (1998), Phê bình - Bình luận văn học, NXB Văn nghệTP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận văn học", NXB ĐH SP Hà Nội[27] Hoàng Phê (chủ biên), (2016), "Từ điển Tiếng Việt", NXB Hồng Đức[28] Vũ Tiến Quỳnh (1998), "Phê bình - Bình luận văn học
Tác giả: ê ưu Oanh (2008), Giáo trình Lí luận văn học, NXB ĐH SP Hà Nội [27] Hoàng Phê (chủ biên), (2016), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức [28] Vũ Tiến Quỳnh
Nhà XB: NXB ĐH SP Hà Nội[27] Hoàng Phê (chủ biên)
Năm: 1998
[29] Trịnh Sâm (2018), Đi tìm bản sắc tiếng Việt, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đi tìm bản sắc tiếng Việt
Tác giả: Trịnh Sâm
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2018
[30] Trần Đình Sử (2001), Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng văn chọn lọc văn học Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w