Mục đích nghiên cứu Luận án vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến từ ngữ xưng hô, vấn đề giao tiếp, nhân vật giao tiếp, các quan hệ liên nhân và vấn đề lịch sự trong giao ti
Trang 1KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
PHẠM THỊ XUÂN NGA
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngư ̃ ho ̣c
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Văn Phúc
Vào lúc giờ ngày tháng năm 2019
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Từ ngữ xưng hô, từ trước tới nay đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới và trong nước quan tâm ở hai phương diện cấu trúc
và chức năng Với sự phát triển của ngôn ngữ học theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức và gắn với hoạt động giao tiếp thì vấn
đề xưng hô được xem xét trong phạm vi rộng hơn Đó không chỉ là vấn đề thuần tuý của ngôn ngữ học cấu trúc, mà còn là vấn đề của ngữ dụng học, của xã hội ngôn ngữ học, ngôn ngữ học xuyên văn hoá, Vì vậy, việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô không chỉ dừng lại ở bình diện cấu trúc mà còn
mở hướng nghiên cứu chúng ở các bình diện chức năng và ngữ dụng học 1.2 Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, tiếng Ê-
đê nói riêng và tiếng Việt đều là loại hình đơn lập và có khá nhiều điểm tương đồng Vì vậy, có thể coi những kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đã tạo những cơ sở lí luận nhất định cho việc tìm hiểu từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà ngôn ngữ Ê-đê là một điển hình
1.3 Trong số các khan của người Ê-đê thì Khan Dam Săn có một vị
trí đặc biệt quan trọng và nổi tiếng, là tác phẩm có giá trị cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ, đặc biệt là nghiên cứu đặc điểm từ ngữ xưng hô trong Sử thi các dân tộc Tây Nguyên nói chung, và trong sử thi Dam Săn nói riêng đang là “mảnh đất màu mỡ” đối với các nhà nghiên cứu khoa học khi tiếp cận từ những bình diện khác nhau Vì vậy, nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn là quan trọng
và cần thiết Nghiên cứu này không chỉ góp phần cung cấp thêm cơ sở dữ liệu và lí thuyết để nghiên cứu từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê trong sử thi Dăm Săn nói riêng, mà còn góp phần định hướng nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong các ngôn ngữ Nam Đảo ở lục địa Đông Nam Á nói chung
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn “Từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án vận dụng cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến từ ngữ xưng
hô, vấn đề giao tiếp, nhân vật giao tiếp, các quan hệ liên nhân và vấn đề lịch sự trong giao tiếp với mục đích nghiên cứu là làm rõ đặc điểm của các
từ ngữ xưng hô trong hoạt động thực tiễn giao tiếp của Sử thi Dam Săn
Trang 4Bên cạnh đó, chỉ ra được những đặc trưng về văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng các từ ngữ xưng hô trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau ở
sử thi Dam Săn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, về giao tiếp, nhân vật giao tiếp, các quan hệ liên nhân và vấn đề lịch sự trong giao tiếp
- Phân tích và miêu tả các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các từ ngữ xưng hô được sử dụng trong sử thi Dam Săn ở các bối cảnh giao tiếp cụ thể giữa các nhân vật tham gia giao tiếp
- Làm rõ đặc điểm văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng lớp từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn trên các bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do dung lượng có hạn, luận án chỉ dừng lại ở việc khảo sát Từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam săn được rút ra từ cuốn Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan do tác giả Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch và chỉnh
lí (NXB Chính trị quốc gia, năm 2003)
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, phân loại; phương pháp miêu tả; phương pháp phân tích ngữ nghĩa; phương pháp tổng hợp; luâ ̣n án có kết hơ ̣p sử dụng thủ pháp so sánh văn hóa
5 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần khẳng định thêm lý luận về giao tiếp ngôn ngữ mà đặc biệt về vấn đề dụng học và văn hóa tộc người liên quan tới việc sử dụng từ ngữ xưng hô trong tác phẩm văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng Luận án góp phần vào việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa từ ngữ xưng hô trong các ngôn ngữ tiểu nhóm Chamic nói riêng, cũng như các ngôn ngữ Nam Đảo nói chung; góp phần vào việc làm rõ hơn mối quan hệ của các ngôn ngữ Nam Đảo lục địa (tiểu nhóm Chamic) với các ngôn ngữ Nam Đảo ở hải đảo, góp phần bảo tồn sử thi nói riêng và việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết của các DTTS nói chung trong thời kì công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế
Trang 56 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
6.1 Về lí luận: Thông qua việc phân tích, miêu tảmột cách khái quát và tương đối đầy đủ về từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn, cụ thể là từ ngữ xưng hô chuyên dụng (Đại từ nhân xưng - ĐTNX) và từ ngữ xưng hô không chuyên dụng (từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc và từ ngữ chỉ quan hệ xã hội) trong
Sử thi Dam Săn trên các bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa, luận án sẽ cung cấp thêm ngữ liệu cho việc nghiên cứu các từ ngữ xưng hô trong các ngôn ngữ khác nhau và khẳng định mối quan hệ giữ ngôn ngữ và văn hóa, củng cố cách tiếp cận ngôn ngữ xuyên văn hóa
6.2 Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho đối tượng là các cán bộ, công chức người dân tộc khác trong quá trình học tập và sử dụng tiếng Ê-đê trong giao tiếp với người Ê-đê Đối với người Ê-đê, đặc biệt là thế hệ trẻ, đây cũng là một tài liệu có thể tham khảo hữu ích để nâng cao năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ, nhất là sử dụng từ ngữ xưng hô trong các bối cảnh, phạm vi giao tiếp khác nhau, giúp họ am hiểu
và yêu quý hơn tiếng mẹ đẻ cũng như các khan nói riêng và văn hóa dân gian
của dân tộc mình nói chung để bảo tồn, phát huy vai trò, giá trị và bản sắc ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc mình
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án
có 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài; Chương 2: Đại từ nhân xưng trong sử thi Dam Săn; Chương 3: Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc dùng để xưng hô trong sử thi Dam Săn; Chương 4: Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội dùng để xưng hô trong sử thi Dam Săn
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô
1.1.1.1 Các nghiên cứu ở ngoài nước
- Hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ - nhân chủng học: Tiên
phong trong lĩnh vực này là các tác giả Friendrich Engels (1884), Sigmund Freud (1951), G Murdock, F Lounsbury, Leach, Needham và Schneider, Các tác giả này đã lập các bảng về quan hệ thân tộc, gia đình và xã hội Khi phân tích về nguồn gốc thân tộc, thiết chế xã hội, các nhà nghiên cứu đã
Trang 6bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng (ĐTNX) và những từ ngữ được
dùng để xưng hô trong mối quan hệ thân tộc như grandmother, grandfather, mother, father, uncle, brother, Đáng chú ý là các tác giả Leach, Needham
và Schneider cho rằng, các từ thân tộc không mang tính chất quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính chất xã hội nhất định, được quy đổi bởi hôn nhân
- Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc: Từ quan điểm
của ngôn ngữ học cấu trúc, các tác giả M.B Emeneau, L.C Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt là các “đại từ nhân xưng” (pesonal pronouns), đồng thời đã phân chia ĐTNX thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu
- Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng: Trên nền
tảng lí thuyết được đề cập trong các công trình của M.A.K Halliday, Brown
và A Gilman, hay Carol.M.ScoHon và Zku Wanjin, liên quan đến chức năng giao tiếp, hệ quy chiếu ở các ngôi trục quyền uy và thân sơ trong các
vai giao tiếp, V Luong Hy (1990) trong công trình Discursive Practices and Linguistic Meanings (The Vietnamese System of Person Reference),
(“Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học – hệ quy chiếu về người trong tiếng Việt”) đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng hô, cái mà tác giả gọi là
“hệ thống quy chiếu về người” một cách đồng bộ trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng
1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
- Quan điểm của ngữ pháp truyền thống: Các tác giả Nguyễn Tài Cẩn 1975),
Nguyễn Minh Thuyết (1988), Nguyễn Phú Phong (1996), đều xếp danh từ chỉ quan hệ thân tộc vào từ loại đại từ và cho rằng những danh từ thân tộc này có chức năng xưng hô như đại từ (tức đại từ lâm thời) Họ đã chia ĐTNX
thành hai nhóm: Nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng (tôi, tao, tớ, ) và nhóm
đại từ xưng hô lâm thời gồm những yếu tố đại từ hóa để xưng hô như danh
từ chỉ quan hệ thân tộc, chức danh, nghề nghiệp, học hàm, học vị và chỉ nơi chốn
Nguyễn Tài Cẩn đã quan tâm đến khả năng được dùng lâm thời như đại
từ để thay thế cho đại từ ở cả ba ngôi của các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và danh từ chỉ chức vụ nghề nghiệp Đỗ Hữu Châu lại chú ý đến chức năng chiếu vật của các từ xưng hô trong hội thoại Nguyễn Văn Chiến đã xác nhận:
từ xưng hô tiếng Việt được nghiên cứu bằng phương pháp tiếp cận hệ thống,
Trang 7tất cả các từ xưng hô tiếng Việt được nghiên cứu như một chỉnh thể nguyên vẹn, đó là hệ thống cấu trúc các yếu tố trỏ người trong sinh hoạt giao tiếp, đối thoại
- Quan điểm của ngữ pháp chức năng: Điển hình là các tác giả Bùi Minh
Yến (2001), Nguyễn Văn Chiến (1998), Nguyễn Văn Khang (1999), Lê Thanh Kim (2002), Trương Thị Diễm (2003) Họ đã dựa trên cơ sở lí thuyết
ký hiệu của Benveniste Lí thuyết này đã phân biệt sự khác nhau giữa ký hiệu đại từ và ký hiệu danh từ Ký hiệu đại từ tồn tại với chức năng “thay thế” và nội dung của nó là “rỗng” Trong khi đó, nội dung của ký hiệu danh
từ là “đặc” và có chức năng “định danh” Đại từ không có ý nghĩa biểu vật nên không gọi tên sự vật, khái niệm, hiện tượng trong thực tế khách quan,
nghĩa của đại từ là trỏ và thay thế, chỉ xác định được trong giao tiếp Vì
vậy, các tác giả này đã sử dụng “từ xưng hô” (Address Fronds) và các lí thuyết chức năng thiên về chức năng giao tiếp ngôn ngữ, nên thuật ngữ “từ xưng hô” này được sử dụng có nội hàm rộng, mà đại từ nhân xưng (ĐTNX) chỉ là một bộ phận trong đó
- Theo hướng đối chiếu liên ngữ: Theo hướng này, có thể kể đến Nguyễn
Văn Chiến (1992), Dương Thị Nụ (2002), Phạm Ngọc Hàm (2008), đã nghiên cứu bằng phương pháp đối chiếu để tìm hiểu về cấu trúc nét nghĩa của từ thân tộc, phân tích thành tố nghĩa của từ thân tộc trong tiếng Khơ-
me – Việt, tiếng Anh - Việt hoặc tiếng Hán - Việt, để làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa các nền văn hóa Đồng thời, các tác giả này đã chỉ
ra được sắc thái biểu cảm và mức độ sử dụng của danh từ thân tộc trong tiếng Việt
1.1.2 Tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong tiếng Ê-đê và trong
Sử thi Dam Săn
Về từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê cũng có khá nhiều công trình, bài viết của một số tác giả như: Trương Thông Tuần, Nguyễn Minh Hoạt, Đoàn Thị Tâm Tác giả Nguyễn Minh Hoạt có hàng loạt bài viết liên quan tới việc sử dụng lớp từ ngữ xưng hô trong tiếng Ê-đê Tuy chưa thể khai thác hết các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa của các từ ngữ xưng
hô trong tiếng Ê-đê, song tác giả đã vẽ ra một bức tranh khá đa dạng về các
từ ngữ xưng hô ở ngôn ngữ này Theo tác giả, ngoài các ĐTNX (các từ ngữ xưng hô chuyên dụng), còn có các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc cũng như các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội (các danh từ chỉ chức vụ xã hội, các danh từ, ngữ danh từ chỉ người làm một số nghề đặc biệt,…) hoặc có sự kết hợp
Trang 8giữa từ ngữ chỉ chức danh với tên riêng, từ ngữ xưng hô lâm thời với tên riêng, thậm chí có cả các đại từ chỉ thị (chỉ định/ xác định) Đoàn Thị Tâm
(2017) nhận định: “Đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê có ba ngôi (ngôi I, ngôi II và ngôi III) và các đại từ nhân xưng lưỡng ngôi Về cấu tạo, đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê cấu tạo chủ yếu là từ và được chia thành số đơn và số phức Về ngữ nghĩa, chúng có sự phân biệt về sắc thái biểu cảm nhưng phụ thuộc vào ngữ cảnh Về văn hóa, chúng thể hiện lối giao tiếp
nhún nhường của người Ê-đê” Ngoài ra, Đoàn Thị Tâm còn có bài nghiên
cứu về một số từ thân tộc đặc biệt trong tiếng Ê-đê được dùng để xưng hô trong giao tiếp thể hiện một số đặc điểm văn hóa riêng của người Ê-đê Bên cạnh đó, Trương Thông Tuần cũng nghiên cứu vấn đề liên quan đến từ ngữ xưng hô, từ ngữ chỉ người, tên riêng.… trong tiếng Ê-đê
1.1.3 Nghiên cứu về sử thi Ê-đê và sử thi Dam Săn
Có thể nói, dưới góc nhìn dân tộc học và đặc biệt là văn hóa dân gian,
sử thi Dam Săn đã được nghiên cứu một cách khá toàn diện Về điều này
có thể thấy trong những công trình, chuyên khảo, bài viết của các nhà nghiên cứu như Chu Xuân Diên (1960), Hoàng Ngọc Hiến (1980), Phan Đăng Nhật (1999), Chu Thái Sơn (1997), Tuyết Nhung Buôn Krông (2010), Đỗ Hồng Kỳ (2012), Trương Bi, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Văn Kha (20030, Vũ Hoàng Hiếu (2008), Hà Thị Thu Hà (2008),
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.2.1 Một số vấn đề về xưng hô và từ ngữ xưng hô
1.2.1.1 Khái niệm xưng hô
Xưng hô là thuật ngữ dùng để tự gọi mình (xưng) và gọi người khác (hô) trong các cuộc giao tiếp với nhau Theo Từ điển tiếng Việt, thì xưng
hô là “Tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau”
1.2.1.2 Khái niệm từ ngữ xưng hô
Từ ngữ xưng hô là những từ và ngữ (định danh) được dùng để tự xưng mình với người khác và gọi người khác là gì đó trong các mối quan hệ giao tiếp, bao gồm cả người được nhắc tới trong cuộc giao tiếp (ngôi thứ ba)
1.2.1.3 Phân loại từ ngữ xưng hô
Từ ngữ xưng hô bao gồm TNXH chuyên dụng (ĐTNX) và TNXH không chuyên dụng (gồm từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc và từ ngữ chỉ quan
hệ xã hội)
1.2.2 Vấn đề giao tiếp và văn hóa giao tiếp
Trang 91.2.2.1 Khái niệm giao tiếp
Với sự phát triển của ngữ dụng học Việt ngữ, đã có nhiều khái niệm về giao tiếp, nhưng nhìn chung giao tiếp vẫn là quá trình trao đổi thông tin, tác động qua lại giữa người với người và sự tri giác về con người bởi con người
1.2.2.2 Các nhân tố tác động đến sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp
a) Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, nên phải dùng các TNXH phù hợp giữa chủ thể và khách thể để cuộc thoại diễn ra một cách thuận lợi Giữa các nhân vật xưng hô trong các cuộc giao tiếp đều có các mối quan hệ: vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân
1.2.3 Nghĩa của từ và phân tích thành tố nghĩa
1.2.3.1 Nghĩa của từ
Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hay lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định
1.2.3.2 Các thành tố nghĩa của từ
John Lyons trong công trình Ngữ nghĩa học dẫn luận cho rằng “để cho
những quan hệ về nghĩa giữa các từ vị trở nên tuyệt đối chính xác, là sử dụng cách phân tích thành tố cách phân tích này liên quan đến việc phân tách nghĩa hệ thống của một từ vị thành những thành tố của nó” Vì vậy, khi nói tới nghĩa của từ, chúng ta không thể không nói tới việc phân tích các nét nghĩa, hay các thành tố nghĩa (nghĩa vị) của từ
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.3.1 Vài nét về dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê
1.3.1.1 Dân tộc Ê-đê cư trú tập trung nhất tại tỉnh Đắk Lắk Với dân số
331.194 người, dân tộc Ê-đê là cộng đồng DTTS tương đối thống nhất về ý
Trang 10thức tộc người, ngôn ngữ cũng như văn hóa Người Ê-đê sử dụng ngôn ngữ thuộc nhánh phía Tây của ngữ hệ Austronesia và được xếp vào các ngôn ngữ tiểu nhóm Chăm (Chamic subgroup)
1.3.1.2 Tiếng Ê-đê
Về ngữ âm, tiếng Ê-đê là một ngôn ngữ đơn tiết khá triệt để so với các ngôn ngữ tiểu nhóm Chăm, tạo thành một tiểu nhánh ngôn ngữ đơn tiết Tiếng Ê-đê chưa có thanh điệu, có tới 140 tổ hợp hai phụ âm và 73 tổ hợp ba phụ âm
Về từ vựng, trong vốn từ Ê-đê bao gồm nhiều lớp từ, nhiều yếu tố từ vựng có nguồn gốc từ nhiều họ, nhóm ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam Á, thậm chí cả các ngôn ngữ châu Âu Về ngữ pháp, tiếng Ê-đê mang đặc điểm ngữ pháp của một ngôn ngữ đơn lập Về cấu trúc, đa số các hình vị tiếng Ê-đê
có vỏ ngữ âm là một âm tiết Để diễn đạt ý nghĩa ngữ pháp, phương thức ngữ pháp chủ yếu trong tiếng Ê-đê là trật tự từ và hư từ Còn mô hình cấu trúc câu thường là cấu trúc theo trật tự chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ
1.3.2 Vài nét về Sử thi Dam Săn
1.3.2.1 Khái niệm sử thi
Sử thi còn gọi là “anh hùng ca” Đây là “Thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa
trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh của lịch sử”
1.3.2.2 Hoàn cảnh ra đời và nội dung của sử thi Dam Săn
a) Hoàn cảnh ra đời của sử thi Dam Săn: Sử thi Dam Săn là một trong
những thiên sử thi anh hùng nổi tiếng của người Ê-đê mà trước đây có tên đầy
đủ là Klei khan Y Dam Săn (Bài ca chàng Dam Săn), nảy sinh vào thời kì tan
rã của chế độ công xã nguyên thủy, trong điều kiện mà xã hội loài người bước vào ngưỡng cửa bình minh của lịch sử Sử thi Dam Săn gắn với tên tuổi L Sabatier, viên công sứ Pháp với việc phát hiện đầu tiên (năm 1923-1924) Sabatier đã dịch sử thi này ra tiếng Pháp và xuất bản ở Paris năm 1927 Cuốn sách ra đời đã gây chấn động đối với các nhà nghiên cứu Folklore ở Pháp và
các nước châu Âu Năm 1988, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã công bố Sử thi Đăm Săn, bản sưu tầm và biên dịch của Nguyễn Hữu Thấu
b) Nội dung Sử thi Dam Săn: Theo tập tục “nối dây” (]uê nuê), Dam
Săn phải kết hôn với hai người vợ là Hơ Nhị và Hơ Bhị của ông (bên dòng
họ mình) Là chàng trai tài giỏi, dũng mãnh, chàng đánh thắng các tù trưởng Mtao Grự và Mtao Mxây, những người đã âm mưu cướp vợ và hạ uy tín của chàng Dam Săn trở thành một tù trưởng hùng mạnh nhất vùng Song,
Trang 11Dam Săn còn muốn giàu mạnh hơn nữa Chàng chặt cây thần, quyết định cưỡi ngựa lên trời, bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ Nhưng vì hành động này, cả người và ngựa của chàng bị lún xuống rừng đầm lầy bà Sun Yrit, chết ngập trong rừng sáp đen Hồn của chàng đầu thai vào người chị ruột
Hơ Âng để rồi Dam Săn cháu ra đời và làm chồng nuê dòng họ Hơ Nhị, tiếp tục con đường của cậu mình
1.3.3 Giá trị của sử thi Dam Săn
1.3.3.1 Giá trị tư tưởng
- Phản ánh bức tranh sinh hoạt đời thường
- Phản ánh những biến cố trong xã hội
1.3.3.2 Giá trị nghệ thuật
Sử thi Ê-đê nói chung và Sử thi Dam Săn nói riêng xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng với một nhân cách trọn vẹn, vừa thể hiện vẻ đẹp cá nhân vừa thể hiện vẻ đẹp của cộng đồng
1.4 TIỂU KẾT
Các nhà nghiên cứu đã rất quan tâm đến các vấn đề về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp tiếng Ê-đê, song hầu hết các công trình nghiên cứu về từ ngữ xưng
hô chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các ĐTNX Các công trình nghiên cứu về
từ xưng hô, về lí thuyết giao tiếp, sự tương tác giữa SP1 với SP2 cũng như với người được nói đến là những cơ sở lí luận giúp chúng tôi có cơ sở lí luận khi nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong sử thi Dam Săn
Chương 2 ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG SỬ THI DAM SĂN 2.1 HỆ THỐNG ĐTNX TRONG TIẾNG Ê-ĐÊ VÀ TRONG SỬ THI DAM SĂN
2.1.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê
Chúng tôi đồng tình với tác giả Đoàn Thị Tâm khi khái quát ĐTNX
trong tiếng Ê-đê qua Bảng 2.1 và có bổ sung thêm một vài điểm
Bảng 2.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê Ngôi Số Đại từ nhân xưng
II đơn ih (mày, ông, anh, chị…), o\ng (mày)
phức di ih (chúng mày, các ông, các anh, các chị…), phung
Trang 12ih/ phung di ih (bọn chúng mày, bọn các ông…)
III
đơn `u (nó), gơ\ (nó)
phức di `u (chúng nó, họ), di gơ\, phung `u; phung gơ\/ phung
di gơ\ (bọn nó, lũ nó…)
Như đã nói ở trên, chúng tôi bổ sung thêm ĐTNX lưỡng ngôi và
lưỡng số arăng Trường hợp phung ih và phung di ih (bọn chúng mày, bọn
các ông…) mà tác giả Đoàn Thị Tâm coi là một từ ngữ thì chúng tôi coi là
hai gồm: phung ih và phung di ih
2.1.2 Đại từ nhân xưng được sử dụng trong sử thi Dam Săn
Sử thi Dam Săn có 9 ĐTNX và được phân loại ở bản 2.2 như sau:
Bảng 2.2 Đại từ nhân xưng trong Sử thi Dam Săn Stt
Cũng theo số liệu thống kê, các từ ngữ xưng hô (bao gồm ĐTNX và
từ ngữ xưng hô khác) có tần số xuất hiện 1.661 lần trong Sử thi Dam Săn, trong đó, ĐTNX có tần số xuất hiện với 929 lần, chiếm tỉ lệ xấp xỉ 56%
(929/1661 = 56%) Dưới đây là Bảng tần số xuất hiện của các ĐTNX trong
sử thi này
Bảng 2.3 Tần số xuất hiện của các ĐTNX trong Sử thi Dam Săn
Các ĐTNX trong Sử Tần số xuất hiện Tỉ lệ (%) Tỉ lệ (%)
Trang 13thi Dam Săn ĐTNX TNXH
Phần lớn các ĐTNX số đơn (kâo, ih) có tần số xuất hiện cao hơn so với
các ĐTNX số phức Các ĐTNX khác xuất hiện với tỉ lệ tương đối đồng
đều, riêng di `u, xuất hiện khá khiêm tốn
2.2 CẤU TẠO CỦA ĐTNX TRONG SỬ THI DAM SĂN
2.2.1 Đại từ nhân xưng là từ đơn
Phần lớn các ĐTNX được sử dụng trong Sử thi Dam Săn đều được cấu
tạo là từ đơn, gồm 7/9 đơn vị ĐTNX, gồm: kâo (tôi), hmei (chúng tôi), drei (ta, mình, chúng mình…), ih (mày, ông, bà, anh, chị…), o\ng (mày), `u (nó)
và arăng (người ta)
2.2.2 Đại từ nhân xưng là từ ghép
Sử thi Dam Săn có 2 ĐTNX được cấu tạo theo phương thức ghép chính
phụ là di ih (chúng mày, các ông, các chị,…) và di `u (chúng nó, bọn họ,…)
xuất hiện
2.3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA ĐTNX TRONG
SỬ THI DAM SĂN
2.3.1 Đại từ nhân xưng ngôi I
2.3.1.1 ĐTNX ngôi I, số đơn
Sử thi Dam Săn có 1 ĐTNX ngôi I, số đơn là kâo Kâo là từ cá nhân dùng để tự xưng với ngôi thứ II (như ih, o\ng hay di ih), có thể ngang hàng, cao hơn hay thấp hơn Kâo trong tiếng Ê-đê có nghĩa và chức năng như I
(tôi, tao, tớ,…) trong tiếng Anh nên được sử dụng trong mọi hoàn cảnh và trung hòa về sắc thái biểu cảm