1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo in tiếng việt hiện nay)

199 274 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 199
Dung lượng 2,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn trên tư liệu báo in tiếng Việt hiện nay làm đề tài nghiên cứu luận án của mình với mong muốn mang đến nh

Trang 1

§¹i häc quèc gia hµ néi TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-  -

PHẠM THỊ MAI HƯƠNG

NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG THỂ LOẠI PHỎNG VẤN

(TRÊN TƯ LIỆU BÁO IN TIẾNG VIỆT HIỆN NAY)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2017

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

Quy ước viết tắt 5

Danh mục các bảng 7

MỞ ĐẦU 8

1 Lí do chọn đề tài 8

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 10

5 Đóng góp của luận án 11

5.1 Về lí luận 11

5.2 Về thực tiễn 11

6 Bố cục của luận án 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 13

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13

1.1.1 Tình hình nghiên cứu các vấn đề về hội thoại trên thế giới 13

1.1.2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề về hội thoại ở Việt Nam 15

1.1.3 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ phỏng vấn nói riêng 17

1.2 Phỏng vấn và phỏng vấn báo in 21

1.2.1 Phân biệt thể loại phỏng vấn và phương pháp phỏng vấn 21

1.2.2 Một số quan niệm về phỏng vấn 22

1.2.3 Phân loại phỏng vấn 23

1.2.4 Đặc điểm nổi bật của thể loại phỏng vấn 24

1.3 Một số vấn đề về Lí thuyết hội thoại 26

Trang 4

2

1.3.1 Vận động hội thoại 27

1.3.2 Các đơn vị hội thoại 30

1.3.3 Các quy tắc hội thoại 37

1.4 Một số vấn đề về Lí thuyết hành vi ngôn ngữ 40

1.4.1 Tiêu chí phân loại và kết quả phân loại hành vi ngôn ngữ 40

1.4.2 Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp 42

1.4.3 Hành vi ngôn ngữ trong hội thoại và hội thoại phỏng vấn 43

1.5 Một số vấn đề về Lí thuyết lịch sự và vấn đề nghiên cứu lịch sự trong phỏng vấn 44

1.5.1 Các lí thuyết về lịch sự 44

1.5.2 Lịch sự trong phỏng vấn 48

1.6 Tiểu kết 49

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA CẶP THOẠI TRONG HỘI THOẠI PHỎNG VẤN 50

2.1 Cấu trúc của tham thoại trong cặp thoại phỏng vấn 50

2.1.1 Tham thoại dẫn nhập trong phỏng vấn 50

2.1.2 Mô hình hình thức của tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại phỏng vấn 63

2.1.3 Tham thoại hồi đáp trong phỏng vấn 68

2.2 Cấu trúc của cặp thoại phỏng vấn 69

2.2.1 Cặp thoại một tham thoại 70

2.2.2 Cặp thoại hai tham thoại 71

2.2.3 Mô hình hình thức của cặp thoại phỏng vấn 71

2.3 Quan hệ trao đáp trong cặp thoại phỏng vấn 75

2.3.1 Quan hệ trao đáp tích cực 75

2.3.2 Quan hệ trao đáp tiêu cực 77

Trang 5

3

2.4 Tiểu kết 79

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA CẶP THOẠI TRONG HỘI THOẠI PHỎNG VẤN 81

3.1 Dẫn nhập 81

3.2 Chức năng của cặp thoại mở đầu cuộc thoại phỏng vấn 81

3.2.1 Chức năng của hành vi trần thuật - thông báo 81

3.2.2 Chức năng của hành vi chào 84

3.3 Chức năng của cặp thoại kết thúc cuộc thoại phỏng vấn 86

3.3.1 Chức năng của các từ ngữ báo hiệu kết thúc cuộc thoại phỏng vấn 86

3.3.2 Chức năng của các hành vi ngôn ngữ báo hiệu kết thúc cuộc thoại phỏng vấn 87

3.4 Chức năng của cặp thoại triển khai cuộc thoại phỏng vấn 89

3.4.1 Chức năng của hành vi hỏi trực tiếp trong hội thoại phỏng vấn 89

3.4.2 Chức năng của hành vi hỏi gián tiếp trong hội thoại phỏng vấn 97

3.5 Tiểu kết 110

CHƯƠNG 4 CHIẾN LƯỢC PHỎNG VẤN VÀ SỰ VI PHẠM NGUYÊN TẮC LỊCH SỰ TRONG HỘI THOẠI PHỎNG VẤN 112

4.1 Hỏi đáp và vấn đề chiến lược giao tiếp trong hội thoại phỏng vấn 112

4.2 Chiến lược phỏng vấn trên báo in 112

4.2.1 Một số chiến lược điều hành vận động trao đáp trong hội thoại phỏng vấn 112

4.2.2 Chiến lược sử dụng một số hành vi ngôn ngữ để tiền dẫn nhập cho hành vi hỏi 119

4.3 Sự vi phạm nguyên tắc lịch sự trong phỏng vấn báo in 128

4.3.1 Tiêu chí đánh giá hành vi ngôn ngữ vi phạm nguyên tắc lịch sự trong phỏng vấn báo in 128

Trang 6

4.5 Tiểu kết 154 KẾT LUẬN 155 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 158 TÀI LIỆU THAM KHẢO 159 PHỤ LỤC: NGUỒN NGỮ LIỆU

Trang 7

Đối tượng phỏng vấn Hành vi

Hành vi chủ hướng Hành vi phụ thuộc Tham thoại

Tham thoại dẫn nhập Tham thoại hồi đáp

An ninh thế giới

An ninh thế giới cuối tháng Điện ảnh Việt Nam

Đời sống và Pháp luật Giáo dục và Thời đại Giáo dục Việt Nam Gia đình và Trẻ em Gia đình và Xã hội Gia đình và Xã hội cuối tháng

Hà Nội mới Khoa học và Đời sống

Trang 8

Tuổi trẻ và Đời sống Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh Thời trang trẻ

Ví dụ

Trang 9

7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập phỏng vấn 59 Bảng 2.2 Các hành vi phụ thuộc trong tham thoại dẫn nhập phỏng vấn 63 Bảng 2.3 Mức độ sử dụng các kiểu mô hình hình thức của TTDN trong cặp thoại phỏng vấn 67 Bảng 2.4 Các kiểu mô hình hình thức của cặp thoại phỏng vấn 74 Bảng 3.1 Các chức năng của hành vi hỏi trong phỏng vấn 109 Bảng 4.1 Mức độ sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện người được hỏi 141

Trang 10

Trong sự phát triển mạnh mẽ của các thể loại báo chí, phỏng vấn là thể loại ngày càng có ý nghĩa quan trọng vì nó có khả năng khai thác thông tin một cách khách quan

và chân thực nhất Từ chỗ xuất hiện lẻ tẻ, hiếm hoi trên một số tờ báo, những năm gần đây, các tác phẩm phỏng vấn đã xuất hiện thường xuyên trên báo chí với mật độ khá cao Trong cuộc cạnh tranh thông tin hiện nay, “phỏng vấn được xem là vũ khí lợi hại trong việc nâng cao uy tín của tờ báo và hấp dẫn bạn đọc” [94] Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là số lượng các tác phẩm phỏng vấn hay, sáng tạo chưa nhiều Nhiều nhà báo chưa biết cách hỏi, chưa biết cách lôi cuốn người được hỏi vào cuộc, nhiều bài phỏng vấn còn sa vào lối mòn

Trên thực tế, phỏng vấn là một cuộc giao tiếp giữa nhà báo với một hay nhiều đối tượng khác nhau Bên cạnh những tính chất đặc thù, xét dưới góc độ ngôn ngữ học, cuộc giao tiếp này vẫn mang những đặc điểm chung của hoạt động giao tiếp thông thường, vẫn chịu sự tác động của các quy tắc hội thoại, các nhân vật giao tiếp vẫn phải vạch ra cho mình những chiến lược hội thoại nhằm làm cho cuộc phỏng vấn đạt hiệu quả cao nhất Có thể nói, phỏng vấn là một hoạt động giao tiếp đặc biệt, có rất nhiều vấn đề cần quan tâm từ góc độ của Ngữ dụng học Tuy nhiên, cho đến nay, ngôn ngữ phỏng vấn mới chỉ được nghiên cứu với tư cách như một thể loại báo chí, như một phương pháp tác nghiệp phổ biến của nhà báo hay dưới góc độ đặc trưng ngôn ngữ

phỏng vấn của nhà báo… Việc tìm hiểu, nghiên cứu phỏng vấn với tư cách là một cuộc

Trang 11

9

hội thoại chưa được các nhà ngôn ngữ học chú ý nhiều Chính vì vậy, chúng tôi chọn

đề tài Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo in tiếng Việt hiện

nay) làm đề tài nghiên cứu luận án của mình với mong muốn mang đến những kiến

giải mới cho lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung và ngôn ngữ hội thoại báo chí nói riêng

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là ngôn ngữ hội thoại của các cuộc phỏng vấn với tư cách là một thể loại báo chí Phạm vi tư liệu mà chúng tôi khảo sát là 500 bài

phỏng vấn trên các tờ báo uy tín từ năm 2013 đến nay, đó là: báo Tiền phong, báo An

ninh thế giới, báo Gia đình và Xã hội, báo Thanh niên, báo Lao động, báo Tuổi trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, báo Hà Nội mới, báo Nông thôn Ngày nay, báo Giáo dục và Thời đại…

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ khảo sát ngôn ngữ của các cuộc phỏng vấn có hình thức hỏi – đáp giữa phóng viên với một đối tượng phỏng vấn nào đó, không tìm hiểu ngôn ngữ trong các cuộc thảo luận, tọa đàm, mạn đàm, diễn đàn diễn ra trên báo chí hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Vận dụng lí thuyết hội thoại, mục đích của luận án là nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn trên báo in từ các bình diện cấu trúc, chức năng cặp thoại phỏng vấn, chức năng, sự tương tác của các thành tố trong cuộc thoại phỏng vấn, chiến lược phỏng vấn và các hành vi ngôn ngữ có khả năng vi phạm nguyên tắc lịch sự khi phỏng vấn

Mục đích nêu trên được thể hiện qua năm nhiệm vụ cụ thể sau đây:

Khảo sát, phân tích tư liệu các cuộc phỏng vấn để làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc, chức năng của cuộc thoại phỏng vấn nói chung, đặc biệt là cặp thoại phỏng vấn

Chỉ ra sự tương tác giữa tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp trong cuộc thoại phỏng vấn

Chỉ ra chức năng của các hành vi ngôn ngữ thường dùng và tính tương tác của

Trang 12

10

chúng trong hội thoại phỏng vấn

Tìm hiểu và phân tích các chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong phỏng vấn báo in, chỉ ra mức độ đe dọa thể diện của hành vi hỏi đồng thời đề xuất một số biện pháp gia tăng tính lịch sự khi phỏng vấn

Nghiên cứu trường hợp và chỉ ra chiến lược sử dụng ngôn ngữ trong các thể loại phỏng vấn chân dung, phỏng vấn thời sự và phỏng vấn thông tin

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận án này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp và thủ pháp sau:

- Phương pháp phân tích hội thoại: Đây là phương pháp đầu tiên để phân tích các

cuộc thoại phỏng vấn đặt trong mối quan hệ với ngữ cảnh và các yếu tố khác như văn hóa, quan hệ liên nhân… ảnh hưởng đến quá trình sử dụng ngôn ngữ của nhà báo và ĐTPV trong cuộc giao tiếp

Ngoài ra, trong luận án chúng tôi sử dụng phương pháp này để tiếp cận các cuộc thoại theo cách quy nạp, từ những cuộc thoại phỏng vấn đã được định dạng, định hình

để trở lại tái hiện cơ chế sản sinh và biến hóa nhằm phát hiện ra các đặc điểm, chức năng, cấu trúc của cuộc thoại và cặp thoại phỏng vấn

- Phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên: trong hai loại mẫu là mẫu chủ ý và mẫu ngẫu

nhiên, chúng tôi sử dụng chủ yếu là mẫu ngẫu nhiên Lí do là vì phạm vi tư liệu rộng và nhiều, nếu chọn mẫu chủ ý sẽ có thể làm hạn chế tư liệu nên chúng tôi sử dụng mẫu ngẫu nhiên để thu thập được nguồn tư liệu được phong phú hơn Áp dụng phương pháp này, chúng tôi đã chọn được 500 bài phỏng vấn để phân tích

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: do khối lượng tư liệu lớn nên luận án sử

dụng cách khảo sát trường hợp khi nghiên cứu chiến lược sử dụng ngôn ngữ ở thể loại phỏng vấn chân dung, thể loại phỏng vấn điều tra và thể loại phỏng vấn thông tin Trong luận án, chúng tôi chọn ba cuộc phỏng vấn điển hình của ba thể loại phỏng vấn chân dung, thông tin và điều tra để phân tích chiến lược phỏng vấn thông qua sự vận động của cặp thoại phỏng vấn

- Phương pháp miêu tả: sau khi chọn được các bài phỏng vấn, chúng tôi tiến hành

miêu tả, phân tích để xác định từng kiểu cặp thoại trong cuộc thoại phỏng vấn đồng

Trang 13

11

thời xác định đặc điểm, vai trò, cấu trúc, chức năng của chúng trong tổ chức cuộc thoại

- Thủ pháp thống kê: Luận án tiến hành thống kê tần số xuất hiện của các đơn vị

tham gia cấu tạo nên 500 cuộc thoại phỏng vấn (như HVCH, HVPT, TTDN, HV hỏi trực tiếp, gián tiếp…) Kết quả thống kê được sử dụng để rút ra các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, giúp cho các cứ liệu khoa học có tính xác thực

Ngoài ra, luận án còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như thủ pháp mô hình hóa

để xác lập mô hình các cuộc thoại phỏng vấn đồng thời góp phần cụ thể hóa sự tương tác giữa các loại cặp thoại hỏi – đáp trong phỏng vấn

5 Đóng góp của luận án

5.1 Về lí luận

Trong Việt ngữ học, ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn trên báo chí, đặc biệt là báo in vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống và theo đúng tinh thần của Lí thuyết hội thoại Vì vậy, thông qua đề tài này, chúng tôi hi vọng sẽ góp phần nhỏ trong việc khám phá địa hạt nhiều mới mẻ và đầy hứa hẹn này Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ, mở rộng những vấn đề lí luận về việc nghiên cứu lí thuyết hội thoại ở Việt Nam, bổ sung thêm tính đúng về Lí thuyết hội thoại trên tư liệu báo in, giúp tìm hiểu cặn kẽ hơn về ngôn ngữ trong hoạt động phỏng vấn báo chí cũng như góp phần xây dựng các mô hình chuẩn mực cho hoạt động phỏng vấn

5.2 Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận án đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn trên báo in, đưa ra được hệ thống các thành tố dùng để cấu trúc nên cuộc thoại phỏng vấn Thông qua đó, luận án góp phần xây dựng nên mô hình cuộc thoại phỏng vấn chuẩn mực về nghi thức văn hóa giao tiếp

Mặt khác, luận án đã hệ thống hóa các chiến lược phỏng vấn mà các nhà báo giàu kinh nghiệm thường sử dụng để xây dựng các cuộc phỏng vấn hay, sáng tạo, khai thác thông tin tối đa từ người được hỏi nhằm thu hút độc giả Kết quả nghiên cứu của luận án

sẽ giúp cho các nhà báo có thêm kinh nghiệm trong quá trình tác nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng của các tác phẩm phỏng vấn Chính vì vậy, luận án sẽ là tài liệu học tập, tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nhà giáo, sinh viên và những người quan

Trang 14

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 2 Đặc điểm cấu trúc của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấn

Chương 3 Đặc điểm chức năng của cặp thoại trong hội thoại phỏng vấn Chương 4 Chiến lược phỏng vấn và sự vi phạm nguyên tắc lịch sự trong hội thoại phỏng vấn

Trang 15

13

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu các vấn đề về hội thoại trên thế giới

Nguồn gốc của phân tích hội thoại được tìm thấy đầu tiên trong tác phẩm của hai nhà nghiên cứu người Mĩ là Erving Goffman và Harold Garfinkel [dẫn theo 162; 403] Nền tảng của lí thuyết này là những tư tưởng của bộ môn phương pháp luận dân tộc học trong

nghiên cứu hội thoại (ethnomethodology) (xem thêm Garfinkel, 1967, Studies in

Ethnomethodology) và quan điểm về trật tự tương tác của E Goffman Theo đó, các thành

viên trong xã hội xây dựng và nhận biết sự vật, sự việc, hành động cũng như thấu hiểu nhau phải dựa trên những yếu tố như phong tục, tập quán, tâm lí [149; 2] Hai ông cũng chú trọng nghiên cứu các hành động nói thường ngày mà theo họ đã bị lãng quên, đặc biệt

là nghiên cứu các trường hợp tương tác xã hội thông qua phát triển phân tích hội thoại bằng cách thiết lập mối quan hệ nhằm khảo sát trật tự trong cuộc sống (1959, 1963, 1967,

1969, 1971, 1981)

Cuối những năm 60, đầu những năm 70, nhờ công trình của Harvey Sackd và các cộng sự của ông là Emmanuel A Schegloff, Gail Jefferson, phân tích hội thoại tách ra khỏi ngành xã hội học, trở thành một lĩnh vực độc lập với mục đích hướng đến nghiên cứu cấu trúc hoạt động của giao tiếp mà trước đây từng bị ảnh hưởng bởi một số ngành khoa học liên quan (Lerner, 2004) Phân tích hội thoại được rút

ra từ nghiên cứu dân tộc học, quan tâm đến trật tự được tạo ra như thế nào trong tương tác xã hội, có phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dựa trên phân tích vi

mô (Clayman và Maynard, 1995)

Từ những nghiên cứu đó cho đến nay, ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ lời nói đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu: N Chomsky, J.Austin, J Fillmore, H.P Grice, S C Dik trong đó H P Grice là tác giả có những đóng góp lớn đối với

việc nghiên cứu lí thuyết hội thoại hơn cả Trong tác phẩm Logic and conversation,

ông đã nghiên cứu nguyên lí cộng tác hội thoại, tương tác hội thoại, lôgic với hội thoại cũng như phân chia các phương diện liên kết hội thoại

Trang 16

14

G Yule (1986) cũng đã đề cập đến vấn đề cộng tác và hàm ý, hàm ý hội thoại, các đặc tính của hàm ý hội thoại trong mối quan hệ tương tác giữa các nhân vật giao tiếp, lịch sự và tương tác, hội thoại và cấu trúc ưa chuộng [32]

Gần đây các nhà nghiên cứu như Robin Wooffitt (2005) [172], David Liddicoat (2007) [149] đã xuất bản những công trình mang tính lí luận đại cương, trong đó đề cập

cụ thể các khái niệm quan trọng của phân tích hội thoại như ngữ cảnh chuỗi, mở rộng

và phân tích hội thoại, khoảng trống hội thoại…

Bên cạnh đó, lí thuyết, phương pháp phân tích và phương pháp luận cơ bản của lí thuyết hội thoại về sau đã được mở rộng ứng dụng nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau Đó là các nghiên cứu trong lĩnh vực tương tác và ngữ pháp, nghiên cứu mối quan

hệ giữa cấu trúc ngôn ngữ, tập quán ngôn ngữ, các tổ chức lượt lời và các trình tự trong

sự tương tác hội thoại (Ochs et al, 1996; Selting và Couper-Kuhlen năm 2001; Ford et al., 2002; Couper-Kuhlen và Ford, 2004)

Charles Goodwin nghiên cứu các đặc điểm tổ chức hành vi trong đối thoại tương tác - không chỉ là vai trò của ánh mắt, cử chỉ và vị trí cơ thể, mà còn sử dụng các công

cụ và các đặc điểm hình thành khác (Goodwin, 2000; xem thêm các nghiên cứu tại nơi làm việc ở Heath và Luff, 2000) Goodwin (2003) đưa ra tập hợp các nghiên cứu phân tích hội thoại về cách mà con người sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp

thông thường (xem Institional talk; Family speak; Computers in Lexicography)

Đối thoại trong sự hình thành có quy định, chuyên nghiệp cũng được nghiên cứu bằng cách mô tả nó hạn chế hoặc sửa đổi như thế nào so với tương tác hội thoại (Drew

và Heritage, 1992) Các nghiên cứu trong lĩnh vực này thường tìm hiểu thể loại hoặc các loại hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể, ví dụ, đối thoại tư pháp (Atkinson và Drew, 1979), các cuộc gọi khẩn cấp (Whalen và Zimmermann, 1990), các cuộc họp (Boden, 1994), cách nói tin tốt và xấu trong bối cảnh lâm sàng (Maynard, 2003) và tin đồn (Bergmann, 1993)

Như vậy, có thể thấy trên thế giới, phân tích hội thoại đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà ngôn ngữ học Tuy nhiên, các công trình chỉ mới đề cập đến phân tích hội thoại ở dạng đại cương, những công trình đi sâu vào nghiên cứu ứng dụng của phân tích hội thoại trong các lĩnh vực giao tiếp thông thường lại chưa đề cập đến một trong những dạng hội thoại đặc thù đó là phỏng vấn trên báo in Chính vì vậy,

Trang 17

15

những lí thuyết trên cùng với những nghiên cứu về hội thoại của các tác giả khác đã đặt

cơ sở cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong phỏng vấn

1.1.2 Tình hình nghiên cứu các vấn đề về hội thoại ở Việt Nam

Ở Việt Nam, ngữ dụng học nói chung và lí thuyết hội thoại nói riêng xuất hiện khá muộn so với các chuyên ngành ngôn ngữ khác Tuy nhiên, trong khoảng gần hai thập niên trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã công bố những công trình có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại

Trước hết, có thể kể đến tác giả Đỗ Hữu Châu với hai công trình Đại cương

Ngôn ngữ học (1993), (2002), Cơ sở ngữ dụng học (2003) Ông được xem là một

trong những người tiên phong trong việc giới thiệu một hướng tiếp cận mới, một hướng nghiên cứu mới vào Việt Nam – phân tích hội thoại trong sự hành chức của ngôn ngữ Năm 1993, lần đầu tiên các vấn đề về lí thuyết hội thoại như cấu trúc hội thoại, các quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, chức năng của các đơn vị

hội thoại đã được Đỗ Hữu Châu trình bày trong cuốn Đại cương Ngôn ngữ học,

Tập 2 [8] Có thể coi đây là những công trình chuyên sâu về ngữ dụng học nói chung và hội thoại nói riêng ở Việt Nam Mặt khác, hai công trình này cũng chính

là những định hướng quan trọng giúp người đọc bước đầu tiếp cận một lĩnh vực nghiên cứu mới, khó nhưng cũng hứa hẹn nhiều điều thú vị

Tiếp theo, trong cuốn Ngữ dụng học, tác giả Nguyễn Đức Dân (1998) [14] dành

toàn bộ Chương III để giới thiệu về phương pháp nghiên cứu hội thoại, cấu trúc hội thoại, nguyên lí hội thoại và phép lịch sự Năm 1999, tác giả Nguyễn Văn Khang đã tiếp cận hội thoại từ góc nhìn Ngôn ngữ học xã hội Trong chương 8 [69], tác giả đi sâu vào ba vấn đề chủ yếu của hội thoại là: cấu trúc hội thoại, chiến lược hội thoại và phong cách hội thoại Từ bình diện ngôn ngữ học xã hội, tác giả đã dành nhiều thời gian để phân biệt năng lực ngôn ngữ và năng lực giao tiếp, những cấu trúc quan trọng dùng để biểu đạt lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ

Năm 2000, trong cuốn Dụng học Việt ngữ [26], tác giả Nguyễn Thiện Giáp

đã trình bày những vấn đề của lí thuyết hội thoại và phép lịch sự trong giao tiếp bằng những dẫn chứng sinh động, cụ thể với cách viết ngắn gọn, sáng rõ Nhiều vấn đề khác như cấu trúc hội thoại, lời ướm trong hội thoại, nguyên tắc hợp tác và hàm ý hội thoại, chiến lược giao tiếp trong hội thoại đã được ông trình bày và lí

Trang 18

16

giải một cách khá thấu đáo

Đặc biệt, năm 1999, tác giả Đỗ Thị Kim Liên xuất bản cuốn Ngữ nghĩa lời hội

thoại [77] Nếu như các tác giả trước đây khi nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại thường

xem xét câu hỏi, câu đáp một cách riêng lẻ thì lần đầu tiên, tác giả đã quan tâm nghiên cứu sự tương tác giữa câu hỏi – câu đáp từ bình diện ngữ nghĩa Nếu các tác giả như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Văn Khang trình bày các vấn đề

và dẫn dụ được lấy từ nguyên mẫu lời nói thì tác giả Đỗ Thị Kim Liên đã sử dụng các cuộc thoại trong tác phẩm văn học viết để soi sáng các vấn đề của lí thuyết hội

thoại Năm 2005, tác giả Đỗ Thị Kim Liên tiếp tục công bố Giáo trình Ngữ dụng

học [78] Trong công trình này, những nội dung cập nhật của lí thuyết hội thoại tiếp

tục được tác giả soi chiếu thông qua các tác phẩm văn học (văn xuôi và truyện thơ) Đây được xem như những nghiên cứu mở đường, đặt nền móng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại trong các tác phẩm văn học sau này

Trên cơ sở tiếp thu, vận dụng lí thuyết hội thoại trên thế giới và trong nước, nhiều công trình trong nước đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc hội thoại và các đơn vị hội thoại

Có thể kể ra đây các công trình như [19], [39], [42], [125], [131]…

Năm 1994, trong luận văn Thạc sĩ Bước đầu tìm hiểu cấu trúc hội thoại [19],

Nguyễn Thị Đan đã đưa ra một số mô hình cấu trúc của cuộc thoại trong phạm vi hội thoại đời thường Tác giả Dương Thị Tuyết Hạnh (1999) [39] dựa trên ngữ liệu của truyện ngắn Việt Nam hiện đại đã xây dựng được mô hình cấu tạo của tham thoại với hạt nhân là hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc Tác giả Phạm Văn Thấu (2000) [131] lại đi sâu nghiên cứu cấu tạo của cặp thoại, các kiểu cấu trúc liên kết của cặp thoại bao gồm: liên kết phẳng, liên kết lồng, liên kết đối xứng và liên

kết móc xích Tác giả Mai Xuân Huy trong Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của

lí thuyết giao tiếp [64] đã dành một phần trong Chương 3 để bàn về cấu trúc hội

thoại quảng cáo, cặp thoại trong hội thoại quảng cáo và sự liên kết của các cặp thoại Ngoài 5 cấu trúc mà tác giả Phạm Văn Thấu đã đưa ra, Mai Xuân Huy còn bổ sung thêm kiểu liên kết đồng quy hay còn gọi là liên kết hướng tâm

Bên cạnh đó, lí thuyết hội thoại còn được quan tâm nghiên cứu dưới góc độ ứng dụng vào những phạm vi giao tiếp cụ thể như giao tiếp mua bán, giao tiếp đàm phán thương mại, hội thoại dạy học, hội thoại giữa tư vấn viên tổng đài và người gọi điện

Trang 19

17

thoại tư vấn…

Đặc biệt, riêng bình diện hội thoại giữa người mua – người bán đã có tới 6 công trình đề cập đến vấn đề này như [81], [83], [102], [118], [125], [141] Nhìn chung, các tác giả đã tập trung chủ yếu vào những vấn đề cụ thể của hội thoại và đã chỉ ra được cấu trúc cuộc thoại mua bán, các đặc điểm của hội thoại mua bán ở chợ và các đơn vị cấu trúc hội thoại Điều đáng chú ý là tác giả Trần Thanh Vân đã đi sâu nghiên cứu những khác biệt về giới tính thể hiện qua cuộc thoại mua bán ở chợ Đồng Tháp, từ đó hướng đến việc làm rõ các kiểu dạng hoạt động ngôn ngữ đặc thù mang đặc trưng văn hóa vùng biểu hiện trong ngôn ngữ hội thoại

Ở bình diện hội thoại dạy học, có các công trình như Bùi Thị Ngọc Anh (2001) [1], Vũ Thị Thanh Hương (2004) [60], Quách Thị Gấm (2010) [25], Nguyễn Thị Hồng Ngân (2012) [91], Trần Thị Phượng (2015) [103] Các công trình trên đã đề cập khá đầy đủ đến các vấn đề của hội thoại dạy học như cặp thoại dạy học, vai trò của cặp thoại trong tổ chức của đoạn thoại và cuộc thoại, cấu trúc, chức năng của cặp thoại dạy học, bước thoại và năng lực giao tiếp của giáo viên, sinh viên, học sinh

Như vậy, có thể thấy, trên cơ sở những tri thức nền về lí thuyết hội thoại trong nước và quốc tế, nhiều công trình đã tập trung nghiên cứu, mở rộng, áp dụng lí thuyết hội thoại trong thực tiễn giao tiếp thường ngày và trong văn học Tuy nhiên, cho đến nay, ngôn ngữ hội thoại trong tác phẩm báo chí, đặc biệt ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn vẫn là địa hạt nghiên cứu khá mới mẻ, chưa được khai phá

1.1.3 Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí nói chung và ngôn ngữ phỏng vấn nói riêng

Hiện nay, ở Việt Nam, ngôn ngữ báo chí đã được nhiều tác giả đề cập, chúng tôi tạm chia thành hai nhóm nghiên cứu sau:

Thứ nhất, nhóm tác giả đề cập đến ngôn ngữ báo chí một cách khái quát trên diện

rộng như Vũ Quang Hào (2001) [36], Hoàng Anh (2003) [2], Nguyễn Tri Niên (2003) [93], Nguyễn Đức Dân (2007) [16] Các công trình này đã quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ báo chí ở những vấn đề nổi bật, đó là: ngôn ngữ chuẩn mực của báo chí, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm báo chí, ngôn ngữ các tên riêng trên báo chí, của thuật ngữ khoa học, thông tin chìm trong báo chí, diễn đạt trong báo chí…

Thứ hai, nhóm tác giả tập trung nghiên cứu sâu vào ngôn ngữ thể loại báo chí hoặc

Trang 20

18

một khía cạnh ngôn ngữ báo chí cụ thể như [13], [52], [62], [74], [89], …

Trong luận án Đầu đề tác phẩm báo chí trên báo in Việt Nam [89], tác giả Trần

Thu Nga (2007) đã làm sáng tỏ đặc trưng về cấu trúc ngữ pháp cũng như nghệ thuật ngôn từ của đầu đề tác phẩm báo chí, mối quan hệ nội dung giữa đầu đề và tác phẩm Tác giả Nguyễn Thế Kỷ (2005) [74] nêu lên những đặc điểm cơ bản của dạng thức nói trên truyền hình, chỉ ra sự khác nhau giữa dạng nói trên truyền hình với nói trên đài phát thanh, giao tiếp trên báo viết, điện thoại có hình, Internet Đồng thời, tác giả đã khảo sát một số hoạt động lời nói trên truyền hình cũng như phong cách ngôn ngữ trên truyền hình

Đi sâu nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ của từng thể loại báo chí, tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương (2003) [52] sử dụng kĩ thuật phân tích diễn ngôn trên tư liệu báo in bằng tiếng Anh và tiếng Việt để so sánh, đối chiếu nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt trong việc sử dụng các phương thức ngôn ngữ thể hiện chức năng ngữ nghĩa của thể loại phóng sự, đồng thời làm sáng tỏ đặc trưng ngôn ngữ của thể loại này Cùng hướng nghiên cứu theo lí luận phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán, tác giả Nguyễn Thị Thu Hường (2013) [62] tập trung phân tích thể loại xã luận trên các phương thức ngôn ngữ đảm nhiệm chức năng thông tin và chức năng liên nhân Trong khi đó, tác giả Huỳnh Thị Chuyên (2014) [13] lại đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ bình luận trong báo in tiếng Việt theo ngữ pháp chức năng của Halliday: chức năng tư tưởng, nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản của diễn ngôn bình luận

Tác giả Nguyễn Hồng Sao (2010) [111] lại đưa ra một hướng tiếp cận mới đối với ngôn ngữ báo chí dựa trên siêu chức năng liên nhân của ngữ pháp chức năng qua lăng kính của Bộ khung thẩm định (Appraisal Frame work), từ đó tác giả giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về các diễn ngôn của tiểu loại tin quốc tế và phóng sự trên báo tiếng Việt và báo tiếng Anh Công trình cũng đã đưa ra các cấu trúc hình thức

và nội dung của hai tiểu thể loại này đồng thời nêu được tác dụng của ngôn ngữ lượng giá đối với việc thể hiện lập trường, quan điểm của một nhà báo, một tờ báo hoặc một dòng báo chí

Riêng đối với tình hình nghiên cứu thể loại phỏng vấn trên thế giới và ở Việt Nam, cho đến nay, chúng tôi cũng tạm chia thành hai nhóm như đối với tình hình nghiên cứu ngôn ngữ báo chí:

Trang 21

19

Nhóm 1, nhóm các tác giả nghiên cứu phỏng vấn dưới góc độ thể loại báo chí hoặc

một số kĩ năng cơ bản khi thực hiện các cuộc phỏng vấn Các tác giả nước ngoài như

G.V Cudơnhetxốp, X L Xvích và A.la Lurốpxki với tác phẩm Báo chí truyền hình [31], Line Ross với Nghệ thuật thông tin [79], X.A Muratốp với Giao tiếp trên truyền

hình – Trước ống kính và sau ống kính camera, Michael Schudsen với Sức mạnh của tin tức truyền thông [88]

Trong cuốn Nghệ thuật phỏng vấn các nhà lãnh đạo, tác giả Samy Cohen (2004)

[112] đã tập hợp các bài viết của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các nhà báo có kinh nghiệm Từ kinh nghiệm thực tế của họ khi phỏng vấn các nhà lãnh đạo, cuốn sách

đã tổng hợp những thủ pháp để thực hiện một cuộc phỏng vấn với các đối tượng phỏng vấn là những người có địa vị cao trong xã hội sao cho đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất

Tác giả Maria Lukina (2005) trong cuốn Công nghệ phỏng vấn [86] lại tổng hợp

10 nhóm vấn đề khó khăn khi tiến hành một cuộc phỏng vấn, từ đó đi sâu nghiên cứu các cách thức tiến hành một cuộc phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây có thể xem là một trong những công trình nghiên cứu khá quy mô về phỏng vấn Nhìn chung, ở Việt Nam, hầu hết các công trình mới chỉ quan tâm đến phỏng vấn

dưới góc độ tác nghiệp báo chí Trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình, tác giả

Trần Bảo Khánh (2003) [66] đã dành một mục lớn để nói về phỏng vấn truyền hình như cách thức chuẩn bị phỏng vấn, tiếp cận đối tượng và một số dạng câu hỏi khi tiến hành phỏng vấn truyền hình

Tác giả Lê Hồng Quang (2005) trong Một ngày thời sự truyền hình [104] cũng đã

đề cập đến phỏng vấn truyền hình với ba loại chủ yếu: phỏng vấn – nhân chứng; phỏng vấn – tuyên bố và phỏng vấn – giải thích Tuy nhiên, tác giả chỉ coi phỏng vấn như một phương tiện, cách thức thực hiện các phóng sự truyền hình chứ chưa nghiên cứu phỏng vấn và ngôn ngữ phỏng vấn ở góc độ là một thể loại báo chí

Trên cơ sở luận án tiến sĩ Báo chí học Thể loại phỏng vấn trên báo in Việt Nam

hiện nay (2010), năm 2015, tác giả Lê Thị Nhã đã xuất bản Giáo trình Phỏng vấn báo chí [94] Cuốn sách đã tiến hành phân loại phỏng vấn và nêu các tiêu chí sáng tạo tác

phẩm phỏng vấn đồng thời đưa ra quy trình, kĩ năng thực hiện phỏng vấn trên báo in Bên cạnh đó, tác giả còn phân biệt một số đặc trưng và cách thức tiến hành phỏng vấn trên báo phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử trong sự so sánh với phỏng vấn

Trang 22

20

trên báo in Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ về phỏng vấn trên báo

in dưới góc độ thể loại báo chí nhưng những đặc trưng ngôn ngữ khi tiến hành phỏng vấn chưa được tác giả đề cập

Nhóm 2, nhóm các tác giả nghiên cứu phỏng vấn dưới góc độ đặc trưng ngôn ngữ

thể loại Công trình như Hà Nguyên Sơn (2006) [117] nghiên cứu diễn tiến ngôn ngữ phỏng vấn trong các chương trình thời sự, thể loại chân dung, gameshow và sự chi phối của ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình đối với vấn đề tác nghiệp, nghệ thuật đặt câu hỏi đối với các vị khách mời Tác giả Trần Phúc Trung (2011) [140] đã tiến hành nghiên cứu hoạt động hỏi trong ngôn ngữ phỏng vấn trên các kênh của VTV (Việt Nam) và TV5 (Pháp) Luận án đã tập trung phân loại hành động hỏi trong phỏng vấn, các nhân tố giao tiếp ảnh hưởng đến hành động hỏi trong hoạt động phỏng vấn truyền hình, đưa ra được các phương tiện ngôn ngữ diễn tả hành động hỏi Mặt khác, điểm đáng chú ý là trong công trình này, tác giả đã bước đầu nghiên cứu những ảnh hưởng của văn hóa và ứng xử ngôn ngữ đối với hành động hỏi, phương pháp đặt câu hỏi trong phỏng vấn truyền hình Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nghiên cứu ngôn ngữ phỏng vấn ở hành động trao lời (hỏi) còn hành động đáp lời chưa được đề cập Đề cập đến vấn đề lịch sự trong phỏng vấn báo chí, luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Tuyết Minh (2007) [84] đã tiến hành nghiên cứu các hành vi ngôn ngữ và các yếu tố ngôn ngữ trong mối quan hệ với phép lịch sự Cũng nghiên cứu về phép lịch sự nhưng dựa trên tư liệu các cuộc trong phỏng vấn trên truyền hình, tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2010) [139]

đã làm rõ các hành động ngôn ngữ thỏa mãn tính lịch sự và không thỏa mãn tính lịch

sự trong thể loại phỏng vấn này Tác giả Vũ Thị Bảo Thơ (2009) [135] bước đầu tiến hành nghiên cứu cấu trúc của tham thoại, cặp thoại phỏng vấn báo in tuy nhiên vẫn còn

ở mức sơ giản Tác giả Hoàng Lê Thúy Ngọc (2012) [96] lại khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên Huế nhằm góp phần làm rõ giao tiếp hội thoại trong phỏng vấn truyền hình đồng thời đưa ra những đặc điểm về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp của phát ngôn hỏi trong các cuộc phỏng vấn của Đài Truyền hình Thừa Thiên Huế Có thể nói đây là luận văn đầu tiên đề cập đến ngôn ngữ phỏng vấn dưới ánh sáng của lí thuyết hội thoại Tuy nhiên, tác giả mới dừng lại nghiên cứu về cấu trúc cuộc thoại của các cuộc phỏng vấn trên truyền hình địa phương, những đặc trưng về ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn, sự tương tác của các cặp thoại hỏi – đáp chưa được đề cập

Trang 23

21

Như vậy, có thể thấy bức tranh nghiên cứu về hội thoại cũng như ngôn ngữ phỏng vấn rất phong phú, đa dạng Mặc dù vậy, những nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ phỏng vấn vẫn còn rất ít, đặc biệt là hướng nghiên cứu theo đường hướng phân tích hội thoại Với ngôn ngữ hội thoại phỏng vấn trên báo in, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu theo đường hướng này Đây là lần đầu tiên, vấn đề này được nghiên cứu ở phạm vi một luận án tiến sĩ

1.2 Phỏng vấn và phỏng vấn báo in

1.2.1 Phân biệt thể loại phỏng vấn và phương pháp phỏng vấn

Trong tiếng Việt, phỏng vấn là từ Hán Việt trong đó “phỏng” có nghĩa là thăm hỏi,

điều tra, còn “vấn” có nghĩa là hỏi Theo nghĩa đó, có thể hiểu thuật ngữ này dưới nhiều góc độ khác nhau Trong cuộc sống thường ngày, hoạt động phỏng vấn có thể hiểu là hình thức giao tiếp xã hội giữa người này với người khác về một vấn đề nào đó nhằm mục đích cá nhân, gắn với nhu cầu trò chuyện, trao đổi, chia sẻ của con người Hoặc phỏng vấn được hiểu như một phương pháp nhằm thu thập thông tin về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Trong lao động báo chí, phỏng vấn có thể được hiểu như một phương pháp tác nghiệp của nhà báo hoặc như một thể loại báo chí đặc thù

Với tư cách là phương pháp thu thập thông tin, phỏng vấn là cuộc hỏi chuyện, trao

đổi giữa nhà báo với một hoặc nhiều đối tượng nhằm thu thập thông tin, tư liệu, số liệu… nhằm phục vụ cho hoạt động sáng tạo tác phẩm thuộc các thể loại báo chí như

tin, phóng sự, ký, điều tra… Những thông tin thu được thông qua hoạt động này, nhà

báo có thể thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong tác phẩm của mình Nhiều tác giả cho rằng, phỏng vấn là phương pháp thông tin phổ biến nhất được các nhà báo sử dụng khi tác nghiệp [61], [86], [94]

Tuy nhiên, với tư cách là thể loại báo chí, phỏng vấn cũng là cuộc đối thoại giữa nhà báo với một hoặc nhiều đối tượng nhưng lại nhằm thu thập thông tin để sáng tạo nên tác

phẩm phỏng vấn Chính vì vậy, nếu trong phương pháp phỏng vấn, người trả lời phỏng

vấn có thể xuất hiện trực tiếp hoặc gián tiếp tùy theo chủ đích của nhà báo thì trong tác

phẩm phỏng vấn, ĐTPV bắt buộc phải xuất hiện trực tiếp với đầy đủ thông tin về tiểu sử

cá nhân Đặc điểm này giúp cho nguồn thông tin mà độc giả thu được trong tác phẩm

phỏng vấn có độ tin cậy cao hơn, khách quan hơn so với nguồn thông tin ở các tác phẩm

báo chí khác Tuy nhiên, bản chất của phỏng vấn không chỉ là hỏi – đáp Hoạt động hỏi –

Trang 24

22

đáp phải được nâng lên thành một cấp độ nhất định mới trở thành phỏng vấn [94]

Như vậy, có thể thấy mặc dù có một số điểm tương đồng nhưng về cơ bản, phương pháp phỏng vấn và thể loại phỏng vấn có sự khác nhau, đặc biệt là về hình thức đăng tải thông tin cũng như giá trị của thông tin

Nhà báo Eric Maitrot lại cho rằng: “Phỏng vấn là một thể loại báo viết cơ bản bởi

nó tồn tại như một thực hành chuyên nghiệp (phóng viên gặp một con người cụ thể để đặt những câu hỏi và sau đó đăng nội dung cuộc gặp gỡ, cô đọng hơn, dưới dạng câu trả lời” [87; 90]

Ở nước ta, một số nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm phỏng vấn khá cụ thể Tác giả Phạm Thành Hưng (2007) cho rằng: “Phỏng vấn là phương thức khai thác và truyền thông tin theo cấu trúc lời hỏi, lời đáp nối tiếp nhau” [51; 145]

Tác giả Đinh Văn Hường (2006) lại định nghĩa: “Phỏng vấn báo chí là một trong những thể loại thuộc nhóm các thể loại báo chí thông tấn, trong đó trình bày cuộc nói chuyện giữa nhà báo với một hoặc một nhóm người về vấn đề mà xã hội quan tâm, có

ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định, được đăng phát trên các phương tiện thông tin đại chúng” [61; 7]

Như vậy, có thể thấy mặc dù cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung các

tác giả đều thừa nhận phỏng vấn là một cuộc đối thoại (hỏi – trả lời) giữa nhà báo

(người hỏi) và người được phỏng vấn (người trả lời) nhằm mục đích cung cấp thông tin, ý kiến về những sự kiện, vấn đề thời sự hoặc nhằm khắc họa chân dung nhân vật mà công chúng quan tâm Trong luận án, chúng tôi kế thừa những cách

hiểu trên về phỏng vấn của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước, đặc biệt

chúng tôi nhấn mạnh thể loại phỏng vấn trên báo in là “hình thức đăng tải tác phẩm

dưới dạng đối thoại (hỏi – trả lời)” [94; 18]

Trang 25

Căn cứ vào mục đích cuộc phỏng vấn, tác giả Maria Lukia [86; 34] đã chia phỏng vấn thành 4 loại sau:

Phỏng vấn chân dung hay còn gọi là phỏng vấn nhân vật, phỏng vấn cá nhân là loại

phỏng vấn chỉ tập trung vào một nhân vật Ở dạng phỏng vấn này, nhà báo đưa ra câu hỏi

để ĐTPV tự bộc lộ về mình (quan điểm, tâm tư, thành tích, kế hoạch tương lai…) ĐTPV thường là những người nổi tiếng, người có thành tích nổi bật ở các lĩnh vực hoạt động như văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế…, đặc biệt họ phải là người “thu hút được sự quan tâm của công chúng” [86; 35] Ở dạng phỏng vấn này, không khí của cuộc thoại thường thoải mái, thân mật, nhà báo có thể đưa ra những câu hỏi ngẫu hứng, mang tính đưa đẩy, khuyến khích người được phỏng vấn bộc lộ cá tính, tâm tư của mình

Phỏng vấn điều tra nhằm phân tích, nghiên cứu sâu về một sự kiện, vấn đề có

tính phức tạp, cấp bách, phát sinh nhiều luồng dư luận mà công chúng đang đòi hỏi cần làm sáng tỏ [94] Ở dạng phỏng vấn điều tra, nhà báo thường sử dụng những câu hỏi mang tính kiểm tra hoặc phản biện ĐTPV là những nhân chứng liên quan đến sự việc, sự kiện

Phỏng vấn thời sự hay còn gọi là phỏng vấn thông tin, phỏng vấn tin tức là dạng

phỏng vấn mà nội dung gắn liền với những tin tức, sự kiện mang tính thời sự được công chúng quan tâm ĐTPV khá rộng: từ những người có thẩm quyền đến người có

uy tín, nhân chứng có liên quan (là người bình thường)…

Phỏng vấn linh hoạt là một dạng của phỏng vấn thời sự nhưng cô đọng hơn Ngoài

phần nội dung của phỏng vấn thời sự còn có thể thêm phát ngôn linh hoạt của chuyên gia lĩnh vực nào đó liên quan đến nội dung bài phỏng vấn đang đề cập

Trong luận án, chúng tôi tập trung khảo sát ba loại phỏng vấn là phỏng vấn chân

Trang 26

24

dung, phỏng vấn điều tra và phỏng vấn thời sự Chúng tôi chọn ba loại phỏng vấn này bởi theo chúng tôi, đây là những loại phỏng vấn thể hiện rõ nét nhất những đặc trưng

ngôn ngữ hội thoại

1.2.4 Đặc điểm nổi bật của thể loại phỏng vấn báo in

So với các thể loại báo chí khác, về hình thức, phỏng vấn là thể loại dễ nhận diện hơn

cả Với báo in, phỏng vấn thường được đăng tải thành một bài riêng trên mặt báo theo kiểu câu hỏi và câu trả lời nối tiếp nhau Tác giả Lê Thị Nhã cho rằng: “Thể hiện bằng hình thức đối thoại là đặc điểm nổi bật nhất của thể loại phỏng vấn” [94; 37] “Khác với các thể loại như tin, bình luận…, chính hệ thống câu hỏi và câu trả lời trong bài phỏng vấn tạo nên nhịp điệu và sự tương tác giữa những người tham gia vào cuộc đối thoại” [94; 38] Trên thực tế, trong phỏng vấn có thể xuất hiện cả hình thức trao đổi, tranh luận hoặc gợi mở vấn

đề để đối tượng được phỏng vấn trả lời Tuy nhiên, bản chất của phỏng vấn không phải là

trao đổi, trò chuyện hay tranh luận mà chủ yếu là hình thức đối thoại: hỏi và trả lời

Tuy nhiên, xét ở góc độ ngữ dụng học, phỏng vấn báo chí là một kiểu hội thoại đặc thù khác với các dạng hội thoại khác Trước hết, ở cuộc thoại này, nhà báo luôn là người đưa ra hành động hỏi, ĐTPV là người đưa ra hành động hồi đáp (trả lời) Trong cuộc giao

tiếp này, gần như không có hiện tượng luân phiên đổi vai như các cuộc thoại thông thường

Nhưng xét ở khía cạnh sáng tạo tác phẩm, nếu ở các thể loại báo chí khác, nhà báo

là người chủ động tạo nên tác phẩm khi họ đã thu thập đầy đủ thông tin cho tác phẩm thì ở thể loại phỏng vấn, nhà báo “không tự quyết định được bài phỏng vấn mà phải có

sự đồng ý, hợp tác của người được phỏng vấn” [61; 58] Nói như vậy có nghĩa là, trong cuộc thoại phỏng vấn, nhà báo phải sử dụng chiến lược giao tiếp khéo léo để điều hành vận động trao đáp giữa người hỏi và người trả lời sao cho thật nhịp nhàng để hướng diễn tiến cuộc phỏng vấn theo đích mà nhà báo đặt ra Điều này dẫn đến hệ quả là trong thực tế, đôi khi do nhà báo và ĐTPV có sự chuẩn bị và phối hợp nhịp nhàng “quá mức” cần thiết khiến độc giả có cảm giác bài phỏng vấn trở nên quá an toàn, công thức, thiếu tính hấp dẫn và đột phá

Ngoài ra, có thể thấy, về lí thuyết, ĐTPV có thể là bất cứ người nào, nhưng trong thực tế, nhằm hấp dẫn độc giả, nhà báo thường chọn những người có địa vị xã hội cao,

có uy tín, nổi tiếng để hỏi Do vậy, như chúng tôi đã đề cập, thông tin thu được từ

phỏng vấn thường mang độ tin cậy, sức thuyết phục, khách quan và cả giá trị pháp lí

Trang 27

25

Người trả lời phỏng vấn luôn được nêu rõ tên tuổi, chức danh và họ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước công chúng về những thông tin mà mình chia sẻ

Bên cạnh đó, một điều dễ nhận ra là cuộc thoại phỏng vấn thường diễn ra chỉ với 2

người, hoặc 3-4 người nhưng mục đích không phải để cho những người tham gia mà

kết quả cuộc phỏng vấn nhằm phục vụ “người thứ ba”, đó là đông đảo độc giả Trên

thực tế, phỏng vấn báo chí là những cuộc trao đổi mang tính chất xã hội hóa bởi vì mục đích của phỏng vấn là “vì người khác, cho người khác, trước sự chứng kiến của người khác” [130] Có thể không xuất hiện trực tiếp trong cuộc thoại phỏng vấn nhưng độc giả chính là đối tượng quan trọng mà cuộc thoại phỏng vấn hướng tới Nhà báo nêu ra các câu hỏi xuất phát từ nhu cầu của công chúng độc giả và ĐTPV cũng trả lời nhằm thỏa mãn nhu cầu của độc giả Đây chính là nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất, chi phối mọi hoạt động cũng như ngôn ngữ sử dụng trong cuộc phỏng vấn

Thực chất, phỏng vấn trên báo in là hình thức văn bản hóa lời nói Để tạo nên tác

phẩm phỏng vấn, nhà báo phải trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, trò chuyện với ĐTPV Tuy nhiên, trước đó, một số người được phỏng vấn có thể yêu cầu nhà báo gửi câu hỏi trước để họ có thể nghiên cứu kĩ câu hỏi và chuẩn bị nội dung câu trả lời Chính vì vậy, trước khi đăng tải cuộc phỏng vấn, nhà báo có thể có nhiều cách thể hiện bài phỏng vấn khác nhau sao cho câu hỏi và câu trả lời phải thật tự nhiên cuốn hút Nhà báo không nhất thiết phải sử dụng y nguyên những câu trả lời rườm rà, khó hiểu

nhưng khi biên tập, phải trung thành với câu trả lời của đối tượng được phỏng vấn Tuy nhiên, sự can thiệp của nhà báo khi xây dựng tác phẩm phỏng vấn báo in phải

được tiết chế ở mức độ vừa phải, tránh sự can thiệp thô bạo hoặc áp đặt theo lăng kính chủ quan của nhà báo Phải làm thế nào để người được phỏng vấn khi đọc bài phỏng vấn có thể thấy được “đó không phải chính xác những điều tôi đã nói nhưng chính xác những gì tôi muốn nói” [65; 116]

Mặt khác, do phỏng vấn được xây dựng trên cơ sở một cuộc đối thoại nên ngôn

từ trong phỏng vấn luôn giàu chất khẩu ngữ Phỏng vấn trên phát thanh tác động

đến thính giác công chúng bằng lời nói Thông qua giọng điệu, tốc độ lời nói, tiếng động hiện trường, thính giả có thể hình dung về khung cảnh, con người đang tham gia phỏng vấn Chính vì vậy, nhà báo phải lựa chọn lời nói, cách phát âm, cách xưng hô vừa chuẩn mực, súc tích, vừa hấp dẫn Nếu phỏng vấn trên phát thanh thiếu

Trang 28

26

vắng hình ảnh thì phỏng vấn trên truyền hình được xem là cuộc nói chuyện “nguyên chất” với đầy đủ lời nói, điệu bộ, hình ảnh, khung cảnh của những người tham gia cuộc thoại Với những lợi thế đó, phỏng vấn truyền hình là thể loại có khả năng hấp dẫn khán giả

Điều đó cũng có nghĩa, để tạo nên sức hấp dẫn, phỏng vấn báo in phải chịu nhiều

“áp lực” và luôn ở trong thế cạnh tranh mạnh mẽ với báo nói và báo hình để thu hút được số lượng công chúng cho riêng mình trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay Khác với phỏng vấn trên phát thanh hoặc truyền hình, đối với phỏng vấn trên báo

in, ngôn từ phỏng vấn là yếu tố tối quan trọng tạo nên sự hấp dẫn, sinh động cũng như

khả năng lôi cuốn người đọc Qua ngôn ngữ hỏi – đáp giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn, độc giả biết được rõ nét phong cách, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật sử dụng ngôn từ, nghệ thuật ứng xử của những người tham gia trực tiếp vào cuộc thoại

này Chính vì vậy, trong phỏng vấn trên báo in, việc sử dụng ngôn từ được coi như

chiến lược giao tiếp của những nhà báo và người được phỏng vấn

1.3 Một số vấn đề về Lí thuyết hội thoại

Hội thoại là sự tương tác bằng lời, là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến

và quan trọng nhất của sự hành chức ngôn ngữ Nghiên cứu về hội thoại là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu của ngữ dụng học từ cuối thế kỉ XX

Dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại (dialogue) Đỗ Hữu Châu [9] gọi đây là hình thức đối thoại tay đôi hay hình thức đối thoại tích cực mặt đối mặt giữa hai nhân vật hội thoại Ngoài ra, trong hội thoại, có thể có dạng tam thoại (trilogue) diễn ra giữa ba nhân vật và đa thoại (polylogue) giữa nhiều nhân vật Do đối tượng luận án là nghiên cứu thể loại phỏng vấn, vì vậy chúng tôi chỉ quan tâm đến dạng song thoại Từ đối tượng đó, khi tìm hiểu về lí thuyết hội thoại, chúng tôi tập trung vào ba vấn đề: các vận động hội thoại, các đơn vị hội thoại và các nguyên tắc hội thoại

1.3.1 Vận động hội thoại

Vận động hội thoại giữa hai nhân vật gồm ba vận động chủ yếu: trao lời, trao đáp

và sự tương tác hội thoại

1.3.1.1 Sự trao lời (Allocution)

Trang 29

27

Sự trao lời hay còn gọi là lời trao “là vận động mà người nói hướng lời nói của mình về phía người nhận (người nghe)”

VD (1): Nhà báo trao lời cho đối tượng phỏng vấn: - Chị có định hướng con đi

theo truyền thống gia đình không? (TP, 8/11/2014)

Trong hoạt động trao lời, sự có mặt của người nói là điều tất yếu, “sự có mặt đó thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, ở tình cảm, thái độ, hiểu biết, quan điểm của người nói trong nội dung của lượt lời trao” [9; 206]

Mặt khác, cùng với sự có mặt của người nói, tình thế trao lời luôn ngầm ẩn rằng người nghe tất yếu phải có mặt đi vào diễn ngôn của người nói Người nghe (người nhận) có thể có mặt một cách tường minh và cũng có thể có mặt một cách hàm ẩn Tuy nhiên, điều đặc biệt, khác với các hoạt động giao tiếp thông thường khác, trong phỏng vấn, lời trao luôn luôn tồn tại dưới dạng câu hỏi Lời trao – câu hỏi của nhà báo – luôn hướng đến duy nhất đối tượng được hỏi (người nghe, người nhận) vì vậy đối tượng này luôn có mặt một cách tường minh trong lời trao

Ngoài ra, trong phỏng vấn, giữa lời trao và lời đáp tương ứng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Lời trao (câu hỏi) nếu xét trên phương diện diễn ngôn chính là ngữ cảnh diễn ngôn trực tiếp của câu hỏi Trong nhiều trường hợp, câu trao còn quy định cấu trúc

và ngữ nghĩa của câu đáp

Tôi nghĩ đây là chuyện riêng tư nếu tách riêng câu hỏi có thể hiểu đây là phát

ngôn có hiệu lực của hành vi trần thuật – đánh giá về một sự kiện khách quan nào đó Tuy nhiên, nếu đặt trong mối tương quan với câu hỏi:

(1) – A: Những lần xuất hiện trên báo chí, từ hình ảnh đến ngôn ngữ, chị luôn cho

độc giả thấy mình là người hạnh phúc, có một gia đình hạnh phúc Còn giờ đây thì sao?

- B: Tôi nghĩ đây là chuyện riêng tư (TGVH 27/2/2013)

thì B (1) lại có hiệu lực ngôn trung là từ chối cung cấp thông tin, hồi đáp cho A (1) vì xét về phương diện đề tài, thông tin mà người hỏi mong muốn nhận được liên quan đến lãnh địa tự do, không muốn bị xâm phạm của người được phỏng vấn

Chính vì vậy, trong hoạt động trao lời của cuộc thoại phỏng vấn, nhà báo luôn là người chủ động lấn trước một bước để thiết lập cuộc thoại cũng như điều hành vận động trao đáp Khi hỏi, nhà báo đồng thời giới thiệu một cách ngầm ẩn luôn những đặc

Trang 30

28

điểm về bản thân mình với đối tượng được hỏi, như vị thế xã hội, mục đích giao tiếp, ý định nói năng, sự hình dung tạm thời về hình ảnh tinh thần của người được hỏi… Có nhiều nhân tố chi phối, ảnh hưởng đến hoạt động trao lời của nhà báo trong phỏng vấn như từ xưng hô, chủ đề cuộc phỏng vấn, mục đích, thái độ của nhà báo và ngữ cảnh của cuộc phỏng vấn

Chẳng hạn, để trao lời, tùy thuộc vào ngữ cảnh của cuộc phỏng vấn, vào thể loại phỏng vấn (chân dung, điều tra, thông tin) cũng như mối tương quan với ĐTPV mà nhà báo chọn từ xưng hô thích hợp Việc lựa chọn từ xưng hô do vậy có tác dụng thiết lập mối quan hệ liên nhân giữa nhà báo – ĐTPV ngay từ khi mở đầu cuộc thoại

(2) – A: Ngay sau khi có thông tin từ đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương phản ánh

việc các hộ dân ở khu đô thị Mễ Trì Thượng phải “chạy” 8 triệu đồng để làm “sổ đỏ”,

Bí thư Thành ủy đã trực tiếp chỉ đạo cơ quan chức năng của thành phố xác minh Thưa

Bí thư, vậy thực hư của sự việc này đang được làm rõ đến đâu? (ANTĐ, 28/10/2014)

Trong VD trên, do mục đích của cuộc phỏng vấn là nhằm làm rõ thông tin phải

“bôi trơn” để được cấp sổ đỏ (thể loại phỏng vấn thời sự); cuộc phỏng vấn được tiến

hành bên hành lang Quốc hội, do vậy nhà báo sử dụng lối xưng hô mang tính nghi

thức, gọi ĐTPV bằng chức danh Bí thƣ Thành ủy Chính lối xưng hô này đã góp phần

đi trước một bước trong việc xây dựng hình ảnh của ĐTPV (trả lời với tư cách là Bí thư Thành ủy) đồng thời nhờ đó mà nguồn tin thu được sẽ mang tính pháp lí, tính

khách quan cao hơn

1.3.1.2 Sự trao đáp (Exchange)

Sự trao đáp hay còn gọi là sự đáp lời là lời của người nghe dùng để đáp lại lời của người nói Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi người nghe nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của người nói Khi lời trao không có lời đáp thì không thành cuộc thoại

Trên thực tế, tất cả các hành vi ngôn ngữ đều đòi hỏi sự hồi đáp Sự hồi đáp có thể

được thực hiện bằng các HVNN tương thích với HVNN dẫn nhập, chẳng hạn như chào

– chào, cầu khiến – nhận lời/từ chối, mời – nhận lời/từ chối…

Trong phỏng vấn, cặp hỏi – trả lời được xem là một cặp trao đáp trong phân tích

hội thoại, trong đó nội dung câu hồi đáp luôn chịu sự chi phối bởi nội dung ngữ nghĩa của câu trao Một cuộc phỏng vấn chỉ thành công khi nội dung lời đáp của ĐTPV phải

Trang 31

29

hướng vào những trọng điểm nội dung mà câu trao của nhà báo đưa ra để tạo nên sự liên kết về nội dung Chúng làm thành cặp tương tác cũng như có sự gắn kết về nội dung trao đáp

(3) – A: Theo đơn tố cáo, ông đã “đẩy” vụ việc lên Bộ Xây dựng?

- B: Không, tôi không có đẩy, tôi không đẩy cho ai cả; cái đó ông Dũng nói bậy

và tự bịa đặt ra; cái đó là hình thức lừa đảo; cái đó là không được (LĐ, 2/11/2013)

(4) - A: Chị có định hướng con đi theo truyền thống gia đình không?

- B: Tôi không có ý định đó Mỗi người có một thiên hướng riêng, mình không thể

áp đặt Tôi tôn trọng sở thích và lựa chọn của con (TP, 8/11/2014)

Ở ví dụ (3), câu trao là câu hỏi – quy kết trách nhiệm (ĐTPV là người đẩy vụ việc

lên Bộ Xây dựng), câu đáp là câu trần thuật – phủ định quy kết trách nhiệm Ở ví dụ (4),

câu trao là câu hỏi yêu cầu xác nhận thông tin về chủ thể hành động (ĐTPV có định

hướng con đi theo truyền thống gia đình), câu đáp là câu trần thuật – xác nhận thông tin

Các cặp trao đáp trên tạo thành cặp tương tác về HVNN và về nội dung trao đáp góp phần tạo nên tính liên kết của cặp thoại nói riêng và cuộc phỏng vấn nói chung

1.3.1.3 Sự tương tác hội thoại (Interaction)

Sự tương tác hội thoại có thể hiểu là quá trình các nhân vật hội thoại ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại với nhau làm biến đổi cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại

Trong phỏng vấn, sự tương tác hội thoại có thể diễn ra trên các phương diện: tương tác về mối quan hệ liên nhân, tương tác về HVNN hoặc tương tác về đề tài phỏng vấn… Trước khi diễn ra cuộc phỏng vấn, giữa nhà báo và người được phỏng vấn thường

có một khoảng cách nhất định về quan hệ Từ khoảng cách này, nhà báo có thể chọn từ xưng hô ngay khi mở đầu cuộc thoại sao cho phù hợp với vai giao tiếp Tuy nhiên, trong quá trình diễn tiến của cuộc thoại, mối quan hệ giữa nhà báo – ĐTPV có thể thay đổi theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, từ đó kéo theo sự thay đổi về cách xưng

hô (thân mật hay xa cách)

Ngoài ra, trong quá trình phỏng vấn, giữa các nhân vật tham gia có thể có sự tương tác về HVNN Khi thực hiện một HVNN, nhà báo thường mong chờ một HVNN đáp

ứng ở người được phỏng vấn, chẳng hạn như khen – tiếp nhận lời khen, nhận định –

Trang 32

30

tán thành, yêu cầu – chấp nhận yêu cầu… Nhưng trên thực tế, có nhiều cuộc phỏng

vấn có sự bất đồng về HVNN khiến cho cuộc thoại diễn tiến theo hướng tiêu cực, đi chệch so với đích đặt ra ban đầu của nhà báo

Bên cạnh đó, như chúng tôi đã đề cập, đề tài cuộc phỏng vấn thường do nhà báo chủ động lựa chọn và xác định trước khi tiến hành phỏng vấn Nhìn chung, các câu hỏi và câu trả lời cần được định hướng theo đề tài đó Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn, do sự tương tác của các nhân vật tham gia cuộc thoại mà đề tài này có thể có sự thay đổi, nhà báo có thể thu được những thông tin mới, ngoài

dự kiến ngay từ chính hiện trường hoặc từ chính câu trả lời của ĐTPV Những thông tin phát sinh này sẽ làm cho cuộc thoại thay đổi về đề tài cũng như về đích giao tiếp Nhờ đó công chúng có thể nhận được những bài phỏng vấn hấp dẫn, tránh được sự khuôn mẫu, áp đặt

1.3.2 Các đơn vị hội thoại

Hội thoại là một cấu trúc hoàn chỉnh bao gồm các đơn vị hội thoại bậc dưới cấu tạo nên Tuy nhiên, cho đến nay, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định cấu trúc hội thoại

Trường phái phân tích hội thoại Mĩ đưa ra các thuật ngữ quyền được nói (floor), lượt lời (turn at talk) và kiến trúc lượt lời (turn construction) Họ cho đơn vị cơ sở, đơn

vị tổ chức nên các đơn vị khác lớn hơn của hội thoại là lượt lời Vì vậy, cấu trúc hội

thoại theo khuynh hướng Mĩ được hiểu như cấu trúc của tổ chức chuỗi, tức là trong quan hệ của một lượt lời với các lượt lời là ngữ cảnh của nó và cấu trúc của các cặp kế cận với phần thứ hai được ưa chuộng/không được ưa chuộng Mặc dù chưa đưa ra được hệ thống chi tiết các đơn vị hội thoại nhưng những quan điểm trên chính là nền tảng lí thuyết quan trọng cho các nhà nghiên cứu hội thoại sau này

Trường phái phân tích diễn ngôn Anh coi cuộc thoại như một diễn ngôn tổng thể

bao gồm các bộ phận bên trong cấu thành Năm đơn vị hội thoại được trường phái này

phát hiện là: cuộc tương tác (interaction), phiên giao dịch (transaction), trao đáp (exchange), bước thoại (move), hành động nói (speech act)

Theo đó, một bước thoại được tạo nên bởi một số hành vi, “là đơn vị nhỏ nhất trong diễn ngôn Bằng đơn vị này diễn ngôn sẽ phát triển lớn hơn một hành vi Đó là

Trang 33

31

đơn vị tối thiểu có thể nhận diện được của hội thoại nhưng nhỏ hơn một cặp thoại” [dẫn theo 9; 301]

So với trường phái phân tích hội thoại Mĩ, trường phái phân tích diễn ngôn Anh đã

có sự nghiên cứu sâu sắc, kĩ lưỡng các đơn vị trên và dưới lượt lời Đặc biệt, việc phát hiện ra đơn vị bước thoại và hành động nói tạo nên bước thoại được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là “gần với hiện thực hơn, có khả năng giải thích hiện thực hội thoại hơn

là đơn vị lượt lời (hay phát ngôn)” [9; 311]

Trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ – Pháp cho rằng hội thoại là một tổ chức

có tôn ti với các đơn vị cấu trúc từ lớn đến bé là: cuộc thoại (còn gọi là cuộc tương tác,

conversation, interaction), đoạn thoại (sequence), cặp trao đáp (cặp thoại – exchange), tham thoại (intervention) và hành động nói (speech act) Trong cấu trúc này, ba đơn vị

đầu nằm trong sự vận động trao đáp nên có tính chất lưỡng thoại, hai đơn vị sau có tính chất đơn thoại

Trong lịch sự nghiên cứu hội thoại, quan điểm của trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ – Pháp được đánh giá là khá toàn diện và được chấp nhận rộng rãi nhất [9], [78],… Trong luận án này, chúng tôi kế thừa quan điểm cũng như tên gọi các thuật ngữ của trường phái này

1.3.2.1 Cuộc thoại (Conversation)

Cuộc thoại hay còn gọi là cuộc tương tác (interaction) là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về cuộc thoại

G Yule quan niệm: “Thường thường cuộc thoại bao gồm hai, hay nhiều hơn, người tham dự được nhận lượt lời, và mỗi lần chỉ một người nói” [32; 137]

Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Cuộc thoại đó là một lần nói chuyện trao đổi giữa những cá nhân, ít nhất là hai, trong một xã hội” [14; 79]

C K Orecchioni đưa ra định nghĩa mềm dẻo hơn về cuộc thoại: “để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [dẫn theo 9; 313] Trong luận án, chúng tôi chấp nhận cách định nghĩa của C K Orecchioni Theo

đó, để xác định một cuộc thoại, có thể có các nhân tố sau:

- Nhân vật hội thoại: có thể có hai, ba hoặc nhiều người tham gia Tuy nhiên, do

Trang 34

32

giới hạn của luận án, chúng tôi chỉ dừng lại ở các cuộc thoại phỏng vấn mang tính chất song thoại, trong đó có hai nhân vật chủ yếu tham gia hội thoại: nhà báo (người phỏng vấn) và đối tượng được phỏng vấn Các thể loại khác cũng mang tính chất hỏi – đáp nhưng số lượng người tham gia lớn hơn hai người hoặc nhiều người như tọa đàm, mạn đàm… không thuộc đối tượng nghiên cứu của chúng tôi

- Sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra hội thoại Trong phỏng vấn báo

chí, thời gian và địa điểm diễn ra hội thoại khá linh hoạt Cuộc phỏng vấn có thể diễn ra

ở nhà riêng của nhân vật, ở hội trường, ở quán cà phê… Thời gian và không gian trong phỏng vấn báo chí đa số đảm bảo tiêu chí “không đứt quãng”

- Sự thống nhất về chủ đề cuộc thoại Chủ đề là nội dung khái quát toát lên từ toàn bộ

cuộc thoại Trong phỏng vấn, thông thường, người chủ động về chủ đề là phóng viên chứ không phải là đối tượng được phỏng vấn Nhưng nội dung cuộc thoại phỏng vấn được cấu thành không chỉ có câu hỏi của phóng viên mà chủ yếu là từ câu trả lời của nhân vật Vì vậy, nội dung câu trả lời cần được định hướng theo một chủ đề cụ thể để tránh sự lan man, lạc hướng Về cơ bản, chủ đề trong thể loại phỏng vấn cần phải đảm bảo các yếu tố “mới

mẻ, sắc sảo, giàu ý nghĩa xã hội, được nhiều người quan tâm” [94; 114]

Ngoài ra, về mặt hình thức, cuộc thoại thường gồm có ba phần: phần mở thoại, thân thoại và kết thoại Trong cuộc thoại phỏng vấn trên báo in, do giới hạn của mặt báo nên rất nhiều cuộc thoại bị cắt bỏ phần mở thoại (thường mang tính nghi thức thể hiện qua hành vi chào hỏi), do vậy, trong dữ liệu nghiên cứu của chúng tôi không phải cuộc thoại nào cũng đầy đủ ba phần Chính vì vậy, trong thực tế triển khai cần tùy theo tính chất cuộc thoại để xác định ranh giới của nó

1.3.2.2 Đoạn thoại (Sequence)

Về nguyên tắc có thể hiểu đoạn thoại là “một mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng” [9; 313] Như vậy, có thể thấy, cuộc thoại có thể bao gồm nhiều đoạn thoại và đoạn thoại được cấu tạo bởi các cặp thoại (cặp trao đáp) Trong những cuộc thoại có tính nghi thức, có thể chia thành các đoạn thoại: đoạn mở đầu (còn gọi là đoạn mở thoại), đoạn thoại thân cuộc thoại (thân thoại) và đoạn thoại kết thúc (kết thoại)

Phần mở thoại thường có tính đưa đẩy, thăm dò, thương lượng về đề tài, về số

lượng, về thái độ… Trong đoạn này, người nói thường sử dụng lời chào, lời giới thiệu mang tính nghi thức nhằm tạo lập quan hệ, hướng người nghe tham gia cuộc thoại

Trang 35

Phần kết thoại là phần tổng kết, kết luận về chủ đề đã triển khai ở phần thân thoại

Đó thường là lời cảm ơn, xin lỗi, hứa hẹn, lời chúc hoặc lời tạm biệt

- Lời cảm ơn: (6) - Xin cảm ơn bạn về những chia sẻ! (TGĐA, 11/2015)

- Lời chúc: (7) - Chúc Hương Giang luôn hạnh phúc! (TGVH, 1/10/2014)

1.3.2.3 Cặp thoại và cặp thoại phỏng vấn

a Quan niệm về cặp thoại

Cặp thoại (exchange) được các nhà ngôn ngữ học thuộc ba trường phái nghiên cứu hội thoại đã kể trên dùng để chỉ đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất mang tính tương tác giữa người nói và người nghe tuy nhiên nó chưa phải là đơn vị cuối cùng Nó nằm ở vị trí trung gian giữa tham thoại – đơn vị bậc dưới và đoạn thoại – đơn vị bậc trên Thuật

ngữ này được các nhà dụng học Việt ngữ dịch là cặp trao đáp (cặp thoại) [9; 315]; cặp

đối đáp [37; 88]; sự trao đáp [30; 34]

Trường phái phân tích diễn ngôn Anh và trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ -

Pháp đều thừa nhận exchange là một đơn vị hội thoại tương đương với khái niệm cặp

thoại hay cặp trao đáp trong Việt ngữ học Tuy nhiên, về đơn vị cấu thành cặp thoại thì

các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất

Nguyễn Đức Dân coi lượt lời là đơn vị cấu tạo nên cặp thoại và “hai lượt lời có liên quan trực tiếp với nhau và đứng kề nhau làm thành một cặp thoại (adjacency)” [14; 85] Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng “cặp thoại là hai phát ngôn có quan hệ trực tiếp

với nhau” [26; 70] Ví dụ: chào – chào, hỏi – trả lời, mời – nhận lời mời…

Đỗ Hữu Châu khi phân tích cấu trúc hội thoại của trường phái phân tích hội thoại Thụy Sĩ - Pháp cho rằng “cặp thoại được cấu thành từ các tham thoại” Căn cứ vào số

lượng tham thoại mà hình thành nên cặp thoại một tham thoại, cặp thoại hai tham

thoại, cặp thoại ba tham thoại hay cặp thoại có nhiều tham thoại

Đỗ Thị Kim Liên cũng đồng quan điểm trên khi định nghĩa: “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu, cũng tức là cặp kế cận, gồm đơn vị dẫn nhập và hành vi hồi đáp

Trang 36

34

Cặp thoại được hiện thực hóa qua tham thoại trao đáp” [78; 231]

Trong luận án, chúng tôi kế thừa cách hiểu về cặp thoại của tác giả Đỗ Hữu Châu,

Đỗ Thị Kim Liên Trong phỏng vấn, cặp thoại phỏng vấn tồn tại dưới dạng cặp thoại hỏi - trả lời Có thể thấy cặp câu hỏi - trả lời là loại hình tương tác chủ yếu của cuộc thoại phỏng vấn, trong đó hỏi là đặc quyền của nhà báo, rất hiếm khi đối tượng được phỏng vấn hỏi trở lại nhà báo Về nguyên tắc, một cặp thoại ít nhất phải do hai tham thoại tạo nên Tham thoại thứ nhất ở lượt lời người trao gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai ở lượt lời người đáp gọi là tham thoại hồi đáp Có thể khái quát cặp câu hỏi - trả lời theo kiểu cặp thoại trao đáp như sau: Tham thoại dẫn nhập: Câu hỏi

Tham thoại hồi đáp: Câu trả lời

b Tính chất của cặp thoại

Tính chất tuyến tính: tính chất này bắt nguồn từ đặc trưng hình tuyến của ngôn

ngữ Trong hội thoại phỏng vấn, tính chất này được thể hiện ở sự kế tiếp về mặt thời gian của các tham thoại trong cặp trao – đáp

Trong tổ chức của cặp thoại phỏng vấn, tính chất tuyến tính được thể hiện qua trật tự: tham thoại dẫn nhập (câu hỏi) của phóng viên thường xuất hiện trước tham thoại hồi đáp (câu trả lời) của đối tượng được phỏng vấn

Tính chất kế cận: hai tham thoại tương tác với nhau tạo thành cặp kế cận Tính kế

cận được hiểu là sự tương thích của các cặp tham thoại trong quan hệ trao đáp và là

một thuộc tính phổ biến Ví dụ: hỏi – trả lời, yêu cầu – chấp nhận, khen – tiếp nhận lời

khen, nhận định – tán thành Trong quan hệ trao đáp, “trước một tham thoại dẫn nhập

có hiệu lực hay đích ở lời được biểu hiện tường minh hoặc hàm ẩn và sự hồi đáp tường minh sẽ tạo nên những cặp kế cận đích thực” [134; 71]

(8) – A: Bộ Giao thông Vận tải có thể cam kết mùa mưa năm nay bà con nơi đây

sẽ không phải chui vào túi nilông để qua suối không?

- B: Chúng tôi cho rằng từ nay đến mùa mưa vẫn còn thời gian để lập phương án

xây cầu treo ở đó Tôi nghĩ thời gian 4-5 tháng để xây cầu treo thì có thể đáp ứng được (TT TPHCM, 18/3/2014)

Trong VD trên, tính chất kế cận được biểu hiện khá rõ ràng: khi phóng viên đặt câu hỏi tường minh và ĐTPV trả lời tạo nên cặp kế cận hỏi – đáp điển hình

Tính chất tích cực và tiêu cực:

Trang 37

35

Trong tổ chức cặp thoại, TTHĐ không chỉ có vai trò kết thúc cặp thoại mà căn cứ vào đó, còn chỉ ra mức độ đáp ứng các yêu cầu mà tham thoại dẫn nhập đặt ra Mức độ thỏa mãn hay không thỏa mãn là cơ sở hình thành hai kiểu cặp thoại là cặp thoại tích cực và cặp thoại tiêu cực “Cặp thoại tích cực là cặp thoại bình thường và người ta có thể kết thúc cặp thoại ở đó” [9; 328]

(9) – A: Ông có nhớ tại các kì họp Quốc hội, ông đã bao nhiêu lần đưa vấn đề

biển Đông ra nghị trường?

- B: Tính đến nay qua 10 kì họp Quốc hội, tôi nhớ khoảng 5 lần đã phát biểu chính

thức về vấn đề biển Đông khi Quốc hội thảo luận về kinh tế - xã hội Ngoài ra khi Quốc hội thảo luận ở tổ, thảo luận ở hội trường về các dự luật nhiều lần phát biểu tôi đã lồng ghép chuyện bảo vệ chủ quyền biển đảo (NTNN, 1/1/2016)

Trong trường hợp, cặp thoại kết thúc trong bất đồng hay trong sự không hài lòng của người dẫn nhập, hoặc người nói sẽ quyết tâm tái dẫn nhập nhằm “xoay chuyển tình thế từ tiêu cực sang tích cực” [9; 328]

anh có thể dành nhiều lời lẽ ngọt ngào đến thế?

- B: Ngoan xin phép chỉ chia sẻ những vấn đề riêng liên quan đến bản thân mình

lập quan hệ giữa những người tham gia hội thoại

(11) - A: Hiện nay dư luận thường đề cập chỉ 1/3 đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức hoạt động có hiệu quả (1) Điều đó đồng nghĩa việc có không ít người hưởng lương chỉ để "đi ra đi vào" (2) Sở Tài nguyên Môi trường giải quyết tình trạng này ra

Trang 38

36

sao, thưa ông? (3)

- B: Trong mạng thông tin của Sở, từ lãnh đạo các cấp đến nhân viên, từng ngày, từng tuần làm gì đều nằm trong kế hoạch, đã được phê duyệt, có kiểm tra, đôn đốc Để đánh giá cán bộ, công chức, viên chức phải căn cứ vào hiệu quả công việc được giao, bình xét ngay từ cơ sở, mỗi tháng một lần Ba tháng không hoàn thành nhiệm vụ thì xử

lý, thậm chí chuyển công tác khác… (HNM, 23/3/2014)

Phần cốt lõi TTDN của nhà báo gồm 3 hành vi: hành vi trần thuật – tái hiện (1), hành vi trần thuật – khẳng định (2) và hành vi hỏi (3), trong đó (1), (2) là HVPT, (3) là

HVCH Phần mở rộng gồm hành vi rào đón (dư luận thường đề cập) và hành vi xưng

hô (thưa ông), các hành vi này có tác dụng đưa đẩy, tạo lập mối quan hệ liên nhân giữa

nhà báo và ĐTPV

Để xác định được TT trước hết phải xác định được HVCH, nghĩa là phải dựa vào đích giao tiếp của người nói (nhà báo) và TTHĐ của ĐTPV Trong VD (11), TTHĐ của ĐTPV tập trung nêu những giải pháp để giải quyết để xử lí tình trạng cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ ở Sở (hồi đáp vào HVCH hỏi của nhà báo)

1.3.2.5 Hành vi ngôn ngữ (Speech act)

Hành vi ngôn ngữ là đơn vị tạo thành tham thoại Trong một tham thoại có thể có một hoặc một số hành vi ngôn ngữ Để hiểu rõ hơn về đơn vị hội thoại này, chúng tôi

sẽ trở lại ở mục Một số vấn đề về Lí thuyết hành vi ngôn ngữ (mục 1.4.)

1.3.3 Các quy tắc hội thoại

Khi tham gia hội thoại, để cuộc thoại thành công, các nhân vật hội thoại phải tuân thủ một số quy tắc nhất định gọi là quy tắc hội thoại Các nhà nghiên cứu hội thoại đề cập đến nhiều quy tắc như quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc thương lượng, quy tắc cộng tác, quy tắc lịch sự, quy tắc liên kết… Khi nghiên cứu ngôn ngữ

hội thoại báo in, luận án chúng tôi quan tâm chủ yếu đến nguyên tắc cộng tác và

nguyên tắc lịch sự Đây là hai nguyên tắc tác động, chi phối mạnh mẽ đến cuộc thoại

phỏng vấn Trong phần này, chúng tôi chỉ trình bày những nội dung liên quan đến nguyên tắc cộng tác trong hội thoại, nguyên tắc lịch sự, do liên quan trực tiếp đến nội dung luận án nên sẽ được chúng tôi trình bày ở một phần riêng

Nguyên tắc cộng tác (cooperative principle) đã được một số nhà nghiên cứu cụ thể

hóa dưới dạng một số quy tắc H.P.Grice gọi đó là những phương châm hội thoại (maxims), Ducrot gọi đó là luật diễn ngôn, còn Gardon và Lakoff gọi đó là những định

đề hội thoại Theo Grice, để một cuộc thoại có thể diễn ra bình thường, các bên tham

Trang 39

37

thoại cần tuân thủ bốn phương châm hội thoại sau: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức [dẫn theo 6; 126] Khi nghiên cứu cặp thoại phỏng vấn, cần phải xem xét sự tác động, điều chỉnh của các phương châm này đối với cặp câu hỏi – câu trả lời

1.3.3.1 Phương châm về lượng (maxim of quantity)

Hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng thông tin như nó được đòi hỏi Đừng đóng góp thông tin lớn hơn đòi hỏi

Phương châm này đề cập đến mức độ thông tin chứa trong một tham thoại Trong phỏng vấn, phương châm về lượng liên quan trực tiếp đến câu trả lời của đối tượng

được phỏng vấn Trước hết, câu trả lời phải chứa thông tin Đây là yêu cầu tất yếu vì

cung cấp thông tin là lí do và mục đích của câu trả lời Tuy nhiên, trong phỏng vấn, yêu

cầu này thường đặt ra ở mức độ cao hơn là thông tin phải có tính mới, tính thời sự, hấp

dẫn bạn đọc

Thứ hai, câu trả lời phải chứa đủ thông tin yêu cầu, nếu không, người hỏi buộc

phải đặt thêm những câu hỏi bổ sung và nếu người trả lời không muốn hợp tác, có thể tạo nên những cặp thoại tiêu cực trong phỏng vấn

Thứ ba, câu trả lời không được vượt quá yêu cầu Một câu trả lời vi phạm yêu cầu

này, cung cấp thừa thông tin có thể gây cản trở cho quá trình phỏng vấn (người hỏi có thể không nắm bắt được ý đồ của người được hỏi), hoặc có thể làm cho cuộc phỏng vấn tiến triển theo hướng bất lợi cho đối tượng được phỏng vấn

1.3.3.2 Phương châm về chất (maxim of quality)

Đừng nói điều mà mình tin là sai

Đừng nói điều mà mình không đủ bằng chứng xác thực

Nghiên cứu phương châm về chất, có thể thấy phương châm này tác động rõ đến cách đặt câu hỏi của phóng viên Khi đặt câu hỏi, phóng viên phải thực sự mong muốn

nhận được câu trả lời Ví dụ, về mặt logic, một câu hỏi kiểu như “Tại sao anh lại làm

thế nhưng tôi không muốn biết điều đó” là không chấp nhận được

Mặt khác, cần tránh “đặt câu hỏi chứa tiền giả định không chân thực; hoặc vượt cấp

về tiền giả định” [22; 51] bởi nó vi phạm tính không chân thực của phương châm về chất Tuy nhiên, cũng cần nói thêm rằng, ở phương diện khác, nếu nhà báo chắc tay thì

Trang 40

38

việc vi phạm phương châm về chất đôi khi lại là chiến thuật giao tiếp hữu hiệu để thu được thông tin Chẳng hạn, đối với một số trường hợp, phóng viên có thể sử dụng câu hỏi mà mình không có bằng chứng xác thực để khai thác thông tin chân xác từ đối tượng được hỏi, đặc biệt là trong phỏng vấn điều tra

(12) - A: Xin được hỏi thẳng thắn Bộ trưởng, có tình trạng chủ đầu tư và công ty

tư vấn bắt tay nhau, nâng đơn giá lên gấp 2-3 lần so với thực tế và Bộ Giao thông Vận tải đang làm gì để khắc phục những yếu tố chủ quan làm đội giá đường sá? (LĐ,

18/3/2014)

(13) - A: Hiện nay chỉ mới phát hiện một phần nhỏ về tiêu cực trong trợ giá xe

buýt phổ thông, trong khi đó còn có thông tin cho biết có hiện tượng cấu kết về tiêu

cực trong trợ giá xe buýt đưa rước học sinh và công nhân Sở có biết chuyện này không? (TT TPHCM, 2/8/2013)

Hoặc trong phỏng vấn, khi đặt câu hỏi cũng như khi trả lời, nếu người nói không chắc chắn về tính đúng sai, có thể sử dụng thêm các lời mào đầu để tránh vi phạm

phương châm về chất Ví dụ: Nếu tôi nhớ không nhầm…., Nếu tôi đoán không sai…

1.3.3.3 Phương châm quan hệ (maxim of relation)

Hãy đóng góp những điều có liên quan

Như vậy, có thể hiểu phương châm này chi phối người hỏi và người trả lời trong phỏng vấn ở chỗ cả hai đối tượng giao tiếp đều phải nói những điều có liên quan đến nội dung cuộc phỏng vấn, phục vụ và làm sáng tỏ những vấn đề mà cuộc phỏng vấn đề cập tới

1.3.3.4 Phương châm cách thức (maxim of manner)

Tránh lối nói tối nghĩa

Tránh lối nói mập mờ (mơ hồ)

Hãy nói ngắn gọn

Hãy nói có trật tự

Theo phương châm này, các câu hỏi và câu trả lời phỏng vấn phải ngắn gọn, rõ ràng, không được mơ hồ, tối nghĩa Trong thực tế phỏng vấn, rất nhiều phóng viên vi phạm phương châm cách thức khi sử dụng câu hỏi dài, gộp nhiều ý trong một câu hỏi Điều này tạo nên rào cản đối với quá trình tiếp xúc câu hỏi của người trả lời cũng như quá trình tiếp nhận của độc giả

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3. Mức độ sử dụng các kiểu mô hình hình thức của TTDN trong cặp thoại  phỏng vấn - Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo in tiếng việt hiện nay)
Bảng 2.3. Mức độ sử dụng các kiểu mô hình hình thức của TTDN trong cặp thoại phỏng vấn (Trang 68)
Bảng 4.1. Mức độ sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện  người được hỏi - Ngôn ngữ hội thoại trong thể loại phỏng vấn (trên tư liệu báo in tiếng việt hiện nay)
Bảng 4.1. Mức độ sử dụng các biện pháp nhằm giảm thiểu mức độ đe dọa thể diện người được hỏi (Trang 141)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w