Các thủ pháp phân tích nét nghĩa, phân tích ngôn cảnh được sử dụng trong nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa và cách sử dụng của từ ngữ xưng hô trong ngôn cảnh văn hóa giao tiếp tộc người..
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ XUÂN NGA
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ XUÂN NGA
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN
Chuyên ngành: Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam
Mã số: 9 22 01 09
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS ĐOÀN VĂN PHÚC
2 GS.TS ĐỖ VIỆT HÙNG
Hà Nội - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu trong luận án là trung thực Các kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Luận án có thừa kế kết quả nghiên cứu của một số nghiên cứu khác dưới dạng trích dẫn Nguồn trích dẫn được liệt kê trong mục tài liệu tham khảo
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 4
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 5
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN 5
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN 16
1.2.1 Một số vấn đề về xưng hô và từ ngữ xưng hô 16
1.2.2 Vấn đề giao tiếp và văn hóa giao tiếp 25
1.2.3 Nghĩa của từ và phân tích thành tố nghĩa 29
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN 31
1.3.1 Vài nét về dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê 31
1.3.2 Vài nét về Sử thi Dam Săn 33
1.3.3 Giá trị của Sử thi Dam Săn 36
1.4 TIỂU KẾT 40
Chương 2 ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG SỬ THI DAM SĂN 42
2.1 HỆ THỐNG ĐTNX TRONG TIẾNG Ê-ĐÊ VÀ TRONG SỬ THI DAM SĂN 42
2.1.1 Đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê 42
2.1.2 Đại từ nhân xưng được sử dụng trong Sử thi Dam Săn 44
2.2 CẤU TẠO CỦA ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG SỬ THI DAM SĂN 47
2.2.1 Đại từ nhân xưng là từ đơn 47
2.2.2 Đại từ nhân xưng là từ ghép 47 2.3 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA ĐTNX TRONG SỬ THI
Trang 5DAM SĂN 49
2.3.1 Đại từ nhân xưng ngôi I 49
2.3.2 Đại từ nhân xưng ngôi II 52
2.3.3 Đại từ nhân xưng ngôi III 58
2.3.4 Đại từ nhân xưng lưỡng ngôi, lưỡng số 59
2.4 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA Ê-ĐÊ QUA SỬ DỤNG ĐẠI TỪ NHÂN XƯNG TRONG SỬ THI DAM SĂN 62
2.4.1 Sự bình đẳng trong giao tiếp 62
2.4.2 Phân định rõ các mối quan hệ trong giao tiếp 64
2.5 TIỂU KẾT 68
Chương 3 TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 70
3.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 70
3.1.1 Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Ê-đê 70
3.1.2 Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn 72
3.2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 75
3.2.1 Từ ngữ thân tộc dùng để xưng hô trong gia đình, thân tộc 75
3.2.2 Từ ngữ thân tộc được sử dụng để xưng hô ngoài mối quan hệ họ hàng, thân tộc 81
3.2.3 Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc đặc biệt dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn 90
3.3 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA Ê-ĐÊ QUA VIỆC SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ THÂN TỘC ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 96
3.3.1 Phản ánh đặc điểm văn hóa mẫu hệ 96
3.3.2 Bảo vệ tập tục ]uê nuê trong hôn nhân 100
3.3.3 Thể hiện quan niệm “vạn vật hữu linh” 104
3.4 TIỂU KẾT 108
Chương 4 TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ XÃ HỘI DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 110
4.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ XÃ HỘI DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 110
4.1.1 Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội trong tiếng Ê-đê 110
4.1.2 Cấu tạo của từ chỉ quan hệ xã hội dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn 112
Trang 64.1.3 Cấu tạo của ngữ chỉ quan hệ xã hội dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn
112
4.2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA - NGỮ DỤNG CỦA TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ XÃ HỘI ĐƯỢC DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG SỬ THI DAM SĂN 113
4.2.1 Từ chỉ quan hệ xã hội được dùng để xưng hô 113
4.2.2 Ngữ chỉ quan hệ xã hội được dùng để xưng hô 124
4.3 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA Ê-ĐÊ QUA SỬ DỤNG TỪ NGỮ CHỈ QUAN HỆ XÃ HỘI ĐỂ XƯNG HÔ 126
4.3.1 Ít phân biệt đẳng cấp xã hội 126
4.3.2 Hài hòa, tế nhị trong giao tiếp 130
4.3.3 Tinh thần đoàn kết, tự lực tự cường 133
4.4 TIỂU KẾT 136
KẾT LUẬN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 153
PHỤ LỤC 154
Trang 8
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
Bảng 2.3 Tần số xuất hiện của các ĐTNX trong Sử thi Dam Săn tr 46
Trang 9MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Từ ngữ xưng hô, từ trước tới nay đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới và trong nước quan tâm ở hai phương diện cấu trúc và chức năng Với
sự phát triển của ngôn ngữ học theo hướng nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành chức và gắn với hoạt động giao tiếp thì vấn đề xưng hô được xem xét trong phạm vi rộng hơn Đó không chỉ là vấn đề thuần tuý của ngôn ngữ học cấu trúc, mà còn là vấn đề của ngữ dụng học, của xã hội ngôn ngữ học, ngôn ngữ học xuyên văn hoá, Hiện nay, các lý thuyết hội thoại, ngữ dụng học, văn hoá học, đã soi chiếu nhiều ánh sáng về lí thuyết, từ đó định ra nhiều hướng tìm hiểu mới cho việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô Vì vậy, việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô không chỉ dừng lại ở bình diện cấu trúc mà còn mở hướng nghiên cứu chúng ở các bình diện chức năng và ngữ dụng học
1.2 Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ và là một hành vi ở lời Tác giả Đỗ Hữu
Châu viết: "Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận” [13, tr.24] Lựa chọn và
sử dụng một từ ngữ xưng hô cụ thể nào đó là bộc lộ thái độ, một tình cảm nhất định của người nói đối với người đối thoại Về nguyên tắc, mọi cuộc giao tiếp chưa thể thực hiện nếu các bên tham gia giao tiếp chưa xác định được vai giao tiếp Mọi cuộc giao tiếp dễ dàng bị đổ vỡ nếu một hoặc các bên giao tiếp xử lí sai việc xác định thân phận trong quá trình giao tiếp Thực tế, nhiều bất cập xảy ra trong giao tiếp là do người đối thoại không biết sử dụng đúng từ ngữ xưng hô
Trong “Giáo trình ngôn ngữ học đại cương”, F Saussure viết: “Phong tục của
một dân tộc có tác động đến ngôn ngữ, và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [160, tr.47] Mỗi dân tộc có một đặc trưng riêng
trong đời sống văn hóa, trong cách nghĩ, cách nhận thức, tri nhận thế giới khách quan Đặc trưng ấy ghi dấu ấn trong hoạt động xã hội, truyền thống văn hóa và thói quen
Trang 10sử dụng ngôn ngữ của dân tộc Nó được cố định hóa qua nhiều thế hệ, bằng nhiều hình thức biểu đạt Bản sắc văn hóa và đời sống tinh thần của dân tộc có những mối quan hệ hữu cơ Vì vậy, việc tìm hiểu thói quen sử dụng ngôn ngữ sẽ góp phần tìm hiểu bản sắc văn hóa tộc người và lí giải những nét đặc sắc của ngôn ngữ dân tộc trong tương quan so sánh với các ngôn ngữ khác
1.3 Ở Việt Nam, với vai trò là ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt là ngôn ngữ có số người sử dụng đông nhất so với những ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số Các kết quả nghiên cứu về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đến nay về cơ bản đã hình thành một hệ thống lý luận khá ổn định Các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, tiếng Ê-đê nói riêng và tiếng Việt đều là loại hình đơn lập và có khá nhiều điểm tương đồng Vì vậy, có thể coi những kết quả nghiên cứu lí luận và thực tiễn về
từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt đã tạo những cơ sở lí luận nhất định cho việc tìm hiểu từ ngữ xưng hô trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà ngôn ngữ Ê-đê là một điển hình
Qua khảo sát nghiên cứu cho thấy, việc nghiên cứu vấn đề từ ngữ xưng hô (từ đặc điểm cấu trúc, chức năng, ngữ nghĩa, ngữ pháp cũng như dụng học) trong ngôn ngữ các dân tộc thiểu số còn khá khiêm tốn, đặc biệt là trong các tác phẩm văn học dân gian của các dân tộc này Vì vậy, nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn là quan trọng và cần thiết Nghiên cứu này không chỉ góp phần cung cấp thêm cơ sở dữ liệu và
lí thuyết để nghiên cứu từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê trong sử thi Dăm Săn nói riêng, mà còn góp phần định hướng nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong các ngôn ngữ Nam Đảo ở lục địa Đông Nam Á nói chung
1.4 Bên cạnh đó, có thể nhận thấy rằng kho tàng văn hóa dân gian của người
Ê-đê rất phong phú, đa dạng trong đó có luật tục (klei bhiăn), sử thi (khan), truyện cổ,
Sử thi Ê-đê không chỉ là những công trình nghệ thuật tiêu biểu của văn học dân gian (folklore) mà còn là tư liệu chứa đựng nhiều tri thức dân gian, là thành tựu văn hóa
độc đáo của người Ê-đê Trong số các khan của người Ê-đê thì Khan Dam Săn có một
vị trí đặc biệt quan trọng và nổi tiếng, là tác phẩm có giá trị cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ, đặc biệt là nghiên cứu đặc điểm
Trang 11từ ngữ xưng hô trong Sử thi các dân tộc Tây Nguyên nói chung, và trong Sử thi Dam Săn nói riêng đang là “mảnh đất màu mỡ” đối với các nhà nghiên cứu khoa học khi tiếp cận từ những bình diện khác nhau
Chính vì những lí do trên, chúng tôi chọn “Từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam
Săn” làm đề tài nghiên cứu cho luận án của mình
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án có mục đích nghiên cứu làm rõ đặc điểm của các từ ngữ xưng hô trong hoạt động thực tiễn giao tiếp của Sử thi Dam Săn Bên cạnh đó, chỉ ra được những đặc trưng về văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng các từ ngữ xưng hô trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau ở Sử thi Dam Săn
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát, hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, về giao tiếp, nhân vật giao tiếp, các quan hệ liên nhân và vấn
đề lịch sự trong giao tiếp
- Phân tích và miêu tả các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các
từ ngữ xưng hô được sử dụng trong Sử thi Dam Săn ở các bối cảnh giao tiếp cụ thể giữa các nhân vật tham gia giao tiếp
- Làm rõ đặc điểm văn hóa của người Ê-đê qua việc sử dụng lớp từ ngữ xưng
hô trong Sử thi Dam Săn
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tuợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn trên các bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ dừng lại ở việc khảo sát, nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong Sử thi
Dam Săn được rút ra từ cuốn Khan Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan do tác giả
Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch và chỉnh lí (NXB Chính trị quốc gia, năm 2003)
Tuy nhiên, ở đây chúng tôi cũng lưu ý rằng: các từ ngữ xưng hô trong Khan
Trang 12Đăm Săn và Khan Đăm Kteh Mlan được tác giả Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên
dịch, chỉnh lý là dựa trên lời kể của các nghệ nhân khan Ê-đê (ở thời điểm thu thập vào những năm 90 của thế kỉ XX) chứ không phải là lời nói cổ xưa của người Ê-đê ở thời kì chế độ mẫu hệ mà xuất hiện sử thi này Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng mọi lý giải, phân tích của chúng tôi sẽ phản ánh được đặc điểm ngôn ngữ của tộc người Ê-
đê ở thời kì xuất hiện của Sử thi Dam Săn
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp miêu tả là phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận
án Với phương pháp miêu tả, luận án sử dụng:
- Hệ thống các thủ pháp luận giải bên trong, như: thủ pháp phân loại, hệ thống hóa, thủ pháp đối lập để xác định cấu tạo từ, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp, thủ pháp phân tích nét nghĩa, thủ pháp phân tích ngôn cảnh, tình huống Các thủ pháp phân tích nét nghĩa, phân tích ngôn cảnh được sử dụng trong nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa
và cách sử dụng của từ ngữ xưng hô trong ngôn cảnh văn hóa giao tiếp tộc người
- Hệ thống các thủ pháp luận giải bên ngoài, như: thủ pháp thống kê miêu tả định lượng các từ ngữ xưng hô trong Sử thi, phân tích các nét đặc trưng về cấu tạo, ngữ pháp, ngữ nghĩa và cách sử dụng từ ngữ xưng hô cũng như các đặc điểm văn hóa tộc người liên quan đến cách sử dụng các từ ngữ này trong các phạm vi, bối cảnh giao tiếp
Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số phương pháp của các ngành khoa học khác, đó là: phương pháp tổng hợp trong triết học, logic học, hệ thống hoá, mô hình hoá bảng biểu trong toán học, cũng như phương pháp nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ - văn hóa học, ngôn ngữ - dân tộc học, ngôn ngữ - nhân chủng học Từ những phân tích lý giải các ngữ liệu, các mệnh đề, chúng tôi rút ra những vấn đề khoa học có
ý nghĩa thực tiễn qua từng chương, mục theo phương pháp quy nạp
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần khẳng định thêm lý luận về giao tiếp ngôn ngữ mà đặc biệt về vấn đề dụng học và văn hóa tộc người liên quan tới việc
sử dụng từ ngữ xưng hô trong tác phẩm văn học nói chung và văn học dân gian nói riêng Luận án góp phần vào việc nghiên cứu mối quan hệ giữa từ ngữ xưng hô trong
Trang 13các ngôn ngữ tiểu nhóm Chamic nói riêng, cũng như các ngôn ngữ Nam Đảo nói chung; góp phần vào việc làm rõ hơn mối quan hệ của các ngôn ngữ Nam Đảo lục địa (tiểu nhóm Chamic) với các ngôn ngữ Nam Đảo ở hải đảo, góp phần bảo tồn sử thi nói riêng và việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết của các DTTS nói chung trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa và hội nhập quốc tế
6 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
6.1 Về lí luận
Thông qua việc phân tích, miêu tả một cách khái quát và tương đối đầy đủ về
từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn, cụ thể là từ ngữ xưng hô chuyên dụng (Đại từ nhân xưng - ĐTNX) và từ ngữ xưng hô không chuyên dụng (từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc và từ ngữ chỉ quan hệ xã hội) trong Sử thi Dam Săn trên các bình diện: cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa, luận án sẽ cung cấp thêm ngữ liệu cho việc nghiên cứu các từ ngữ xưng hô trong các ngôn ngữ khác nhau và khẳng định mối quan hệ giữ ngôn ngữ và văn hóa, củng cố cách tiếp cận ngôn ngữ xuyên văn hóa
6.2 Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho đối tượng là các cán bộ, công chức người dân tộc khác trong quá trình học tập và sử dụng tiếng Ê-đê trong giao tiếp với người Ê-đê Đối với người Ê-đê, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, đây cũng là một tài liệu có thể tham khảo hữu ích để nâng cao năng lực sử dụng tiếng
mẹ đẻ, nhất là sử dụng từ ngữ xưng hô trong các bối cảnh, phạm vi giao tiếp khác nhau,
giúp họ am hiểu và yêu quý hơn tiếng mẹ đẻ cũng như các sử thi (khan) nói riêng và văn
hóa dân gian của dân tộc mình nói chung để bảo tồn, phát huy vai trò, giá trị và bản sắc ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc mình
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án có 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Đại từ nhân xưng trong Sử thi Dam Săn
Chương 3: Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn Chương 4: Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội dùng để xưng hô trong Sử thi Dam Săn
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu từ ngữ xưng hô
Khi nghiên cứu về từ ngữ xưng hô, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đi theo các hướng sau:
a) Hướng nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ - nhân chủng học
Tiên phong trong lĩnh vực này là các tác giả Friendrich Engels [153], Sigmund Freud (1856 – 1939), G Murdock, F Lounsbury, Leach, Needham và Schneider, Các tác giả này đã lập các bảng về quan hệ thân tộc, gia đình và xã hội Khi phân tích
về nguồn gốc thân tộc, thiết chế xã hội, các nhà nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến các đại từ nhân xưng (ĐTNX) và những từ ngữ được dùng để xưng hô trong mối quan
hệ thân tộc như grandmother, grandfather, mother, father, uncle, brother, Đáng chú
ý là các tác giả Leach, Needham và Schneider cho rằng, các từ thân tộc không mang tính chất quan hệ sinh học, đặc biệt là huyết thống, mà đây là những từ mang tính chất
xã hội nhất định, được quy đổi bởi hôn nhân Tuy nhiên, những nghiên cứu này cũng chỉ mới là bước khởi đầu
b) Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học cấu trúc
Từ quan điểm của ngôn ngữ học cấu trúc, các tác giả M.B Emeneau, L.C Thompson đã chỉ ra được các “chất liệu”, các “phương tiện vật chất” cơ bản được dùng
để thực hiện hành vi xưng hô trong tiếng Việt là các “đại từ nhân xưng” (pesonal pronouns), đồng thời đã phân chia ĐTNX thành hai nhóm: đại từ xưng hô chuyên dụng
và đại từ xưng hô lâm thời để nghiên cứu
Với công trình Studies in Vietnamese (Annamese) Grammer [152], M.B
Emeneau đã đề cập nhiều đến đại từ trong tiếng Việt, đặc biệt là đại từ xưng hô và nhóm xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ Tác giả cũng đã nhận ra hạn chế của
Trang 15ĐTNX và vai trò quan trọng của các từ xưng hô lâm thời mà ông gọi là “Đại từ cương
vị” Còn L.C Thompson trong công trình A Vietnamese Reference Grammar [165] đã
đề cập đến các ĐTNX trong tiếng Việt như: ta, tôi, họ, hắn, cùng các danh từ thân tộc
Với danh từ thân tộc, tác giả cho rằng giữa danh từ chung và danh từ riêng có hai mặt đối lập: thay đổi và không thay đổi; đồng nhất và không đồng nhất Ông cũng cho rằng:
“Số lượng các đại từ xưng hô thực thụ là quá ít và đại từ tôi, ta với thái độ xưng hô thể
hiện sự kính trọng hay thái độ bề trên, ở ngôi thứ nhất không có đại từ tương ứng với
nó ở ngôi thứ hai (chỉ người nghe) và ngôi thứ ba (chỉ người được nói đến), do đó phải thay bằng các từ thuộc từ loại hoặc các danh từ” [165, tr.248]
c) Hướng nghiên cứu theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng
Trên nền tảng lí thuyết được đề cập trong các công trình của M.A.K Halliday, Brown và A Gilman, hay Carol.M.ScoHon và Zku Wanjin, liên quan đến chức năng giao tiếp, hệ quy chiếu ở các ngôi trục quyền uy và thân sơ trong các vai giao
tiếp, V Luong Hy với công trình Discursive Practices and Linguistic Meanings (The
Vietnamese System of Person Reference) (“Thực dụng diễn từ và ý nghĩa ngữ học –
hệ quy chiếu về người trong tiếng Việt”) [157] đã đề xuất hướng nghiên cứu từ xưng
hô, cái mà tác giả gọi là “hệ thống quy chiếu về người” một cách đồng bộ trên các bình diện ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng Đồng thời, ông còn cho rằng, hệ thống quy chiếu ngôi tiếng Việt bao gồm 3 tiểu loại ngữ pháp: Đại từ nhân xưng, danh từ chung (danh từ thân tộc và danh từ cương vị) và danh từ riêng đối lập nhau trên hai phương diện là thay đổi/ không thay đổi, đồng nhất/ không đồng nhất… Tuy đã đi sâu phân tích và chỉ ra chức năng thay thế của danh từ chung và đại từ nhân xưng, nhưng quan điểm của ông còn hơi cứng nhắc khi xem xét về vấn đề từ loại và miêu
tả các từ xưng hô thân tộc vẫn còn sơ lược, cho dù sự đóng góp của ông trong việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô là đáng ghi nhận
Từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã nêu, khi nghiên cứu về
từ ngữ xưng hô trong Sử thi Dam Săn, chúng tôi đã tham khảo về cách phân chia và
sử dụng đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc và các danh từ khác làm phương tiện xưng
hô để áp dụng trong luận án
Trang 161.1.1.2 Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê
a) Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê
Nhiều học giả nước ngoài đã có quá trình nghiên cứu lâu dài về các tộc người
ở Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê nói riêng đặc biệt các học giả người Pháp như H Maitre, L Sabatier, J Dournes, G Condominas, Trong các công trình nghiên cứu về người Ê-đê, ở những mức độ khác nhau, các tác giả trên đã quan tâm đến đời sống, phong tục, tập quán, nghi lễ, Nghiên cứu sớm nhất về người Ê-đê là
công trình Les Jungles Moi [159] của H Maitre khi mô tả đời sống xã hội, kinh tế,
phong tục, của nhiều dân tộc ở vùng Cao nguyên Trung bộ Việt Nam, trong đó có người Ê-đê, M’nông Đây là nguồn tư liệu giá trị, khảo tả chân thực về cuộc sống của hai dân tộc này trong những năm đầu thế kỷ XX
Năm 1915, L.Sabatier đã thu thập và biên tập bộ luật tục Ê-đê (sau này được Ngô Đức Thịnh biên tập) [117] Văn bản luật tục Ê-đê được L.Sabatier chia 236 điều
ra làm 11 chương và cơ cấu, sắp xếp nội dung theo từng mảng chủ đề, tương ứng với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Đó là những quy tắc ứng xử chứa đựng các tiêu chí về đạo đức, luân lí, các phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo, được mọi thành viên trong cộng đồng chấp nhận và thực hiện một cách tự giác Chỉ đến công
trình “Người Êđê, một xã hội mẫu quyền” của Anne De Hautecloque - Howe [149] thì
cơ cấu tổ chức, các quan hệ xã hội, mà xã hội Ê-đê là một xã hội mẫu quyền điển hình ở Tây Nguyên mới được miêu tả một cách khá hệ thống, đầy đủ
b) Nghiên cứu về tiếng Ê-đê
- Về ngữ âm
L.A Tadahiko Shintani đã nghiên cứu hệ thống âm vị học tiếng Ê-đê tương
đổi tỉ mỉ trong công trình Études phonetique de la langue Rhadé [166] Tuy vậy, sự
miêu tả và lí giải của ông về ngữ âm- âm vị học đối với những âm thanh hầu và các nguyên âm lại chưa thực sự thuyết phục Điều này được Đoàn Văn Phúc đề cập trong các công trình ngữ âm tiếng Ê-đê [84; 86; 88]
- Về từ vựng
Với công trình Boh blu\ klei Êđê - Yuan - Zapônê [167] L.A Tadahiko Shintani
đã cung cấp một bảng từ vựng hết sức phong phú, góp phần nghiên cứu những bình
Trang 17diện khác nhau của tiếng Ê-đê Nhưng cũng như công trình [156], các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức độ đối chiếu từ ngữ giữa các ngôn ngữ chứ chưa gắn với ngữ cảnh cụ thể
Ngoài ra còn có thể kể tới một số sách công cụ như: các loại Sách học tiếng
Ê-đê và các bộ Từ điển song ngữ tiếng Ê-Ê-đê được các tác giả như: R.P Louison Benjamin [151], James A Tharp and Y-Bhăm {uôn Yă [168] hay các sách học tiếng
Ê-đê cũng nói về vấn đề cấu tạo từ thông qua các mô hình từ ghép, từ láy
- Về ngữ pháp
Tam Thi Minh Nguyen cũng có một số công trình [161], [162], [163],
[164],… xoay quanh vấn đề ngữ pháp tiếng Ê-đê như: Some topics in Ede syntax [161], Expressive Forms in Bih [164] Riêng công trình Verb serialization in Ede
from a diachronic perspective [162] nghiên cứu tiếng Ê-đê trên phương diện từ
loại (động từ)
1.1.1.3 Nghiên cứu về sử thi Ê-đê và Sử thi Dam Săn
Sử thi (khan) Ê-đê ra đời từ rất sớm và tồn tại trong đời sống văn hóa các dân
tộc Tây Nguyên, nhưng phải đến năm 1927, khi L.Sabatier sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp thì “Sử thi Đăm Săn” mới được xem là dấu mốc đầu tiên trong việc sưu tầm, nghiên cứu sử thi Ê-đê Năm 1933, “Sử thi Đăm Săn” được in song ngữ Ê-đê - Pháp trên tạp chí của Viện Viễn Đông Pháp Sau này, G.Condominas, nhà dân tộc học nổi
tiếng người Pháp, trong bài “Những quan sát xã hội học về hai trường ca Rađê” [Dẫn
theo 26] đã nghiên cứu các khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của Sử
thi Dam Săn và Dam Di Khi đánh giá về Sử thi Dam Săn, chính ông cho rằng: “Người
ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không nhớ ngay đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên
ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc ở Miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác”[26, tr.230] Trong công trình “Cuộc hôn nhân trong sử thi Ê-đê và Mã Lai”, tác giả N.I.Niculin đã tìm hiểu những mối quan hệ
mang tính cội nguồn chung” của một số sử thi Ê-đê với sử thi Mã Lai Ông còn dịch
một số sử thi Ê-đê sang tiếng Nga và đã nhận xét rằng: “Kết quả tất cả những công
Trang 18việc lớn lao mà các nhà folklore Việt Nam đã làm được cho phép chúng ta có thể khẳng định rằng các tác phẩm sử thi Ê đê đã được nghiên cứu sâu sắc hơn và toàn diện hơn so với sử thi của một loạt dân tộc khác ở Việt Nam” [Dẫn theo 57]
Các công trình nghiên cứu về sử thi Ê-đê và Sử thi Dam Săn đã được các tác giả khai thác từ nhiều góc độ, đây sẽ là nguồn tư liệu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nghiên cứu luận án này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2.1 Nghiên cứu từ ngữ xưng hô
Ở trong nước, vấn đề từ ngữ xưng hô được nghiên cứu ở rất nhiều ngôn ngữ khác nhau và từ nhiều bình diện khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu đầy đủ và có
hệ thống nhất phải kể đến các công trình nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt Khi nghiên cứu từ xưng hô trong tiếng Việt, các nhà Việt ngữ học đã đi theo các hướng nghiên cứu sau:
- Quan điểm của ngữ pháp truyền thống
Các tác giả Nguyễn Tài Cẩn [10], Nguyễn Minh Thuyết [122], Nguyễn Phú Phong [83], đều xếp danh từ chỉ quan hệ thân tộc vào từ loại đại từ và cho rằng những danh từ thân tộc này có chức năng xưng hô như đại từ (tức đại từ lâm thời) Họ đã chia
ĐTNX thành hai nhóm: Nhóm đại từ xưng hô chuyên dụng (tôi, tao, tớ, ) và nhóm
đại từ xưng hô lâm thời gồm những yếu tố đại từ hóa để xưng hô như danh từ chỉ quan
hệ thân tộc, chức danh, nghề nghiệp, học hàm, học vị và chỉ nơi chốn
Theo hướng nghiên cứu này, các tác giả tuy có mở rộng phạm vi sử dụng của các danh từ xưng hô bằng cách thêm những tính từ và danh từ làm định ngữ, hoặc danh từ
thân tộc (DTTT) kết hợp với “các” như: các anh, các em, hoặc DTTT kết hợp với
“ấy” để chỉ cho ngôi thứ ba – vai được nhắc đến trong giao tiếp như: bác ấy, cô ấy, chị
ấy, Thế nhưng, họ lại gộp tất cả những từ có chức năng xưng hô, cho dù có nguồn gốc
từ loại nào đi nữa hay mức độ đại từ hóa cao thấp ra sao đều là loại đại từ, mà cụ thể là
ĐTNX Như vậy, các tác giả này đã quan niệm ĐTNX bao gồm những từ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô Nguyễn Tài Cẩn [10] đã
quan tâm đến khả năng được dùng lâm thời như đại từ để thay thế cho đại từ ở cả ba
Trang 19ngôi của các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và danh từ chỉ chức vụ nghề nghiệp Đỗ Hữu Châu lại chú ý đến chức năng chiếu vật của các từ xưng hô trong hội thoại (trong các công trình viết năm 1981, 1987) Nguyễn Văn Chiến [16, 17], qua các công trình nghiên cứu của mình, đã xác nhận: từ xưng hô tiếng Việt được nghiên cứu bằng phương pháp tiếp cận hệ thống, tất cả các từ xưng hô tiếng Việt được nghiên cứu như một chỉnh thể nguyên vẹn, đó là hệ thống cấu trúc các yếu tố trỏ người trong sinh hoạt giao tiếp, đối thoại
- Quan điểm của ngữ pháp chức năng
Các tác giả Bùi Minh Yến [146], Nguyễn Văn Chiến [16], Nguyễn Văn Khang [54], Lê Thanh Kim [63], Trương Thị Diễm [25], đều nghiên cứu từ ngữ xưng hô theo hướng ngữ pháp chức năng Họ đã dựa trên cơ sở lí thuyết ký hiệu của Benveniste Lí thuyết này đã phân biệt sự khác nhau giữa ký hiệu đại từ và ký hiệu danh từ Ký hiệu đại từ tồn tại với chức năng “thay thế” và nội dung của nó là “rỗng” Trong khi đó, nội dung của ký hiệu danh từ là “đặc” và có chức năng “định danh” Đại từ không có ý nghĩa biểu vật nên không gọi tên sự vật, khái niệm, hiện tượng
trong thực tế khách quan, nghĩa của đại từ là trỏ và thay thế, chỉ xác định được trong
giao tiếp Vì vậy, các tác giả này đã sử dụng “từ xưng hô” (Address Fronds) và các lí thuyết chức năng thiên về chức năng giao tiếp ngôn ngữ, nên thuật ngữ “từ xưng hô” này được sử dụng có nội hàm rộng, mà đại từ nhân xưng (ĐTNX) chỉ là một bộ phận trong đó mà thôi
- Theo hướng đối chiếu liên ngữ
Từ ngữ xưng hô theo hướng đối chiếu liên ngữ, có thể kể đến Nguyễn Văn Chiến [16], Dương Thị Nụ [79], Phạm Ngọc Hàm [35], đã nghiên cứu bằng phương pháp đối chiếu để tìm hiểu về cấu trúc nét nghĩa của từ thân tộc, phân tích thành tố nghĩa của từ thân tộc trong tiếng Khơ-me – Việt, tiếng Anh - Việt hoặc tiếng Hán - Việt, để làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa các nền văn hóa Đồng thời, các tác giả này đã chỉ ra được sắc thái biểu cảm và mức độ sử dụng của danh từ thân tộc trong tiếng Việt
Có thể thấy rõ, trong các công trình nghiên cứu về từ xưng hô, các tác giả đã
Trang 20theo các hướng khác nhau: Một là, bàn về từ ngữ xưng hô ở góc độ lí luận chung như
từ xưng hô là đại từ xưng hô hoặc danh từ thân tộc, từ ngữ xưng hô với chức năng ngữ pháp của từ loại và từ ngữ xưng hô với chức năng ngữ pháp giao tiếp Đây cũng
là quá trình của nhận thức, là vấn đề của thuật ngữ “đại từ nhân xưng” và “từ xưng hô” Vấn đề có liên quan đến lịch sử phát triển của lý thuyết ngôn ngữ học từ truyền
thống đến hiện đại, hay chủ nghĩa cấu trúc đến lý thuyết giao tiếp Hai là, bàn về từ
xưng hô trong giao tiếp ở phạm vi gia đình và xã hội Từ xưng hô được nghiên cứu ở phạm vi sử dụng, tác dụng giao tiếp, giá trị xã hội và văn hóa, Còn ở mức độ nhất định đã thực hiện đối chiếu liên ngữ, văn hóa Anh – Việt, Hán – Việt
1.1.2.2 Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê và tiếng Ê-đê
a) Nghiên cứu về dân tộc Ê-đê
Một trong những công trình đầu tiên là của nhóm tác giả Bế Viết Đẳng, Chu Thái Sơn, [29] Gần đây, tác giả Vũ Quốc Khánh [58] có giới thiệu một số nét đặc sắc trong đời sống, tập tục, văn hoá của người Ê-đê ở Việt Nam Còn Thu Nhung Mlô Duôn Du lại nghiên cứu một cách khá đầy đủ và hệ thống về vai trò và vị trí của người phụ nữ Ê-đê dưới góc nhìn dân tộc học, chỉ ra những biến đổi về vai trò và vị trí của người phụ nữ Ê-đê trong xã hội hiện đại so với xã hội truyền thống [76] Tác giả Buôn Krông Thị Tuyết Nhung đã khảo sát một số sử thi tiêu biểu của người Ê-đê giúp cho người đọc thấy được văn hóa mẫu hệ qua hệ thống đề tài (đề tài chiến tranh
và đề tài hôn nhân), cốt truyện và hệ thống nữ nhân vật trong sử thi Ê-đê [77], giúp hiểu thấu đáo hơn về văn hóa mẫu hệ Ê-đê và sử thi Ê-đê, đồng thời góp phần bảo lưu sử thi Tây Nguyên và góp phần phát huy vai trò văn hóa truyền thống trong tình hình hiện nay Năm 2018, cũng tương tự như các công trình của Thu Nhung Mlô Duôn Du [76] và Buôn Krông Thị Tuyết Nhung [77], luận án của Lê Thị Quỳnh Hảo chủ yếu nghiên cứu về người phụ nữ Ê-đê, M’nông trong truyền thống và sự biến đổi
vị thế, vai trò của họ trong xã hội hiện nay [37]
b) Nghiên cứu về tiếng Ê-đê
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Ê-đê trên các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn hóa, dân tộc học,…
Trang 21- Nghiên cứu về ngữ âm
Các bài viết, công trình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Êđê ở các phạm vi, khía
cạnh, cách tiếp cận rất khác nhau Về điều này có thể kể tới bài viết Vài nét về các
ngôn ngữ Malayo - Polynedia ở Việt Nam của Rơmah Dêl và Trương Văn Sinh [24],
cùng hàng loạt bài viết, công trình của Đoàn Văn Phúc [84; 86; 88; 89; 90; 91] Qua
hệ thống các công trình, bài viết của mình, tác giả Đoàn Văn Phúc đã miêu tả hết sức chi tiết, chính xác hệ thống ngữ âm – âm vị học của ngôn ngữ này, đặc biệt là việc lí giải các hiện tượng ngữ âm mà ông gọi là phụ âm tắc, thanh hầu, hữu thanh (được ghi
bằng con chữ ê trong chữ Ê-đê), hay miêu tả các phụ âm đặc biệt mà ông gọi là phụ
âm tắc, hữu thanh, tiền thanh hầu hóa (được ghi bằng các chữ cái b, d, j, g trong chữ
Ê-đê) cùng với các tổ hợp phụ âm đa dạng Và mấy năm gần đây, Y Tru Aliô - một người Ê-đê lại đi theo hướng nghiên cứu ứng dụng và so sánh, đối chiếu ngữ âm tiếng Ê-đê với tiếng Anh Trong công trình [133], tác giả đã phân tích những điểm ngữ âm khác nhau của hai ngôn ngữ Anh và Ê-đê, và đưa ra một số giải pháp giúp cải thiện khả năng phát âm tiếng Anh cho sinh viên Ê-đê theo định hướng giao tiếp Bên cạnh
đó, tác giả còn có một số công trình nghiên cứu về ngữ âm tiếng Ê-đê vẫn theo hướng
so sánh, đối chiếu [131; 132; 133; 134]
- Nghiên cứu về từ vựng
Khi nói tới nghiên cứu từ vựng tiếng Ê-đê, có thể nói số lượng các công trình nghiên cứu tuy có nhiều song bởi hầu hết các tác giả không phải người bản ngữ và không nghiên cứu sâu nên việc viết về nó chủ yếu là so sánh phương ngữ, so sánh
từ vựng ở phạm vi hẹp Điều đó thể hiện ở các bài viết, công trình của Đoàn Văn Phúc [89; 90; 91], Nguyễn Minh Hoạt [42; 43; 44;] Đoàn Thị Tâm [102; 104; 106; 107; 108],
- Nghiên cứu về ngữ pháp
Về hình thái học, có thể nói đây là mảng được một số tác giả như Phan Văn Phức [92], Đoàn Văn Phúc và Tạ Văn Thông [90; 91; 92; 93], hay Đoàn Thị Tâm [99; 108; 109;…] cũng như một vài người khác quan tâm Ban Nghiên cứu Giáo dục học sinh dân tộc tỉnh Đắk Lắk cũng đã nghiên cứu, thể hiện ở các sách giáo khoa tiếng Ê-
Trang 22đê cho học sinh Tiểu học [2; 3]
Về cú pháp, đa số các sách học tiếng Ê-đê đề cập đến các mẫu câu theo cấu trúc
và mục đích phát ngôn, nhưng do phạm vi nghiên cứu cũng như các tư liệu phục vụ chưa đầy đủ về nên viết sơ sài và thậm chí còn sai lệch [2; 3; 91; 97] Song, có lẽ đầy
đủ hơn cả là phần viết của tác giả Đoàn Văn Phúc và Tạ Văn Thông khi họ bàn về các cụm từ/ ngữ (cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ) hay các kiểu câu theo cấu trúc (câu đơn, câu ghép, câu đặc biệt) cũng như các kiểu câu theo mục đích phát ngôn (câu
tường thuật, câu hỏi, câu cảm thán, câu cầu khiến) tiếng Ê-đê trong công trình Ngữ
pháp tiếng Êđê [91]
Trên tinh thần Quyết định 53-CP của Hội đồng Chính phủ ngày 22/02/1980 cũng như các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 1981, tỉnh Đắk Lắk đã triển khai chương trình dạy song ngữ Ê-đê - Việt cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 5 tại một số trường tiểu học Do thiếu sự chuẩn bị đầy đủ mà chương trình bị thất bại Từ năm học
1995 – 1996 thì việc tổ chức dạy-học tiếng Ê-đê như một môn học mới được bắt đầu Sau đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép xuất bản và lưu hành bộ sách giáo khoa tiếng Ê-đê gồm 9 quyển, được sử dụng cho học sinh Tiểu học ở các lớp 3, lớp 4 và lớp
5, gồm: sách bài học, sách bài tập và sách hướng dẫn giáo viên
Thực hiện Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 07/01/2004; Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004, Quyết định số 449/QĐ-TTg ngày 12/3/2013; Quyết định số 2356/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh Đắk Lắk (thông qua Sở Nội vụ và Sở Giáo dục và Đào tạo) cũng tổ chức dạy tiếng Ê-đê cho đội ngũ cán bộ công chức người dân tộc khác công tác tại vùng người Ê-đê sinh sống Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk và các cơ quan công quyền đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về bồi dưỡng tiếng DTTS cho cán bộ, công chức công tác tại địa phương Hiện tại, toàn Tỉnh có 5.272 cán bộ công chức, viên chức là người DTTS Từ năm 2010 đến nay, Tỉnh đã tổ chức 94 lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng Ê-đê cho hơn 9.272 lượt cán bộ, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở Để triển khai giảng dạy, Bộ Giáo dục và Đào tạo và tỉnh Đắk Lắk cũng đã cho in và phát hành hành nhiều cuốn sách dạy - học tiếng Ê-đê
Trang 23Cũng có rất nhiều cuốn từ điển ra đời phục vụ cho việc học tiếng Ê-đê và nghiên cứu về dân tộc Ê-đê trên các phương diện như ngôn ngữ, văn hóa Chẳng hạn
như: Từ điển Việt - Êđê [93], Từ điển Êđê - Việt [114], hay một số sách công cụ
khác phục vụ dạy-học tiếng Ê-đê như các cuốn từ điển song ngữ [88; 158; 159; 160;
162;…], các sách học tiếng [88; 93], ngữ pháp [2; 3; 92…] Đặc biệt, cuốn Từ điển
Êđê - Việt [114] do Tạ Văn Thông chủ biên Bên cạnh đó, Trương Thông Tuần đã
nêu lên những đặc điểm tâm lí văn hóa dân tộc qua các phương thức so sánh này trong
công trình Phương thức so sánh trong văn bản luật tục Êđê [128] Trong một số bản
Khan của người Ê-đê [112], Nguyễn Hữu Thấu đã có phụ lục với gần 2500 từ ngữ Êđê - Việt Hệ thống từ vựng này được trình bày khá phong phú và đa dạng về mặt nghĩa, tùy thuộc vào ngữ cảnh sử dụng mà một từ được thể hiện bằng nhiều nét nghĩa khác nhau Song do không phải là nhà ngôn ngữ học nên ông không thể phân tích được các nét nghĩa của các từ ngữ xưng hô ở ngôn ngữ này
c) Từ ngữ xưng hô trong tiếng Ê-đê và trong Sử thi Dam Săn
Về từ ngữ xưng hô tiếng Ê-đê cũng có khá nhiều công trình, bài viết của một số tác giả Trương Thông Tuần [127], Nguyễn Minh Hoạt, Đoàn Thị Tâm Tác giả Nguyễn Minh Hoạt có hàng loạt bài viết liên quan tới việc sử dụng lớp từ ngữ xưng
hô trong tiếng Ê-đê [42; 43; 44; 45; 46; 47; 48] Có thể nói, trong bài viết [42] và luận văn của mình [43], tuy chưa thể khai thác hết các đặc điểm về cấu tạo, ngữ nghĩa, ngữ dụng và văn hóa của các từ ngữ xưng hô trong tiếng Ê-đê, song tác giả đã vẽ ra một bức tranh khá đa dạng về các từ ngữ xưng hô ở ngôn ngữ này Theo tác giả, ngoài các ĐTNX (các từ ngữ xưng hô chuyên dụng), còn có các từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc cũng như các từ ngữ chỉ quan hệ xã hội (các danh từ chỉ chức vụ xã hội, các danh từ, ngữ danh từ chỉ người làm một số nghề đặc biệt,…) hoặc có sự kết hợp giữa từ ngữ chỉ chức danh với tên riêng, từ ngữ xưng hô lâm thời với tên riêng, thậm chí có cả các đại từ chỉ thị (chỉ định/ xác định) Khi so sánh số lượng ĐTNX giữa tiếng Ê-đê
và tiếng Việt, tác giả cho rằng số lượng ĐTNX ở tiếng Ê-đê ít hơn so với tiếng Việt
[43; tr.47] Còn theo tác giả Đoàn Thị Tâm: “Đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê có
ba ngôi (ngôi I, ngôi II và ngôi III) và các đại từ nhân xưng lưỡng ngôi Về cấu tạo,
Trang 24đại từ nhân xưng trong tiếng Ê-đê cấu tạo chủ yếu là từ và được chia thành số đơn
và số phức Về ngữ nghĩa, chúng có sự phân biệt về sắc thái biểu cảm nhưng phụ thuộc vào ngữ cảnh Về văn hóa, chúng thể hiện lối giao tiếp nhún nhường của người
Ê-đê” [113, tr.8] Ngoài ra, Đoàn Thị Tâm còn có bài nghiên cứu về một số từ thân
tộc đặc biệt trong tiếng Ê-đê được dùng để xưng hô trong giao tiếp thể hiện một số đặc điểm văn hóa riêng của người Ê-đê Bên cạnh đó, còn có bài viết của Trương Thông Tuần [126],… cũng nghiên cứu vấn đề liên quan đến từ ngữ xưng hô, từ ngữ chỉ người, tên riêng.… trong tiếng Ê-đê
1.1.2.3 Nghiên cứu về sử thi Ê-đê và Sử thi Dam Săn
Có thể nói, dưới góc nhìn dân tộc học và đặc biệt là văn hóa dân gian, Sử thi Dam Săn đã được nghiên cứu một cách khá toàn diện Về điều này có thể thấy trong những công trình, chuyên khảo, bài viết của các nhà nghiên cứu như Chu Xuân
Diên [26], Hoàng Ngọc Hiến [38], Phan Đăng Nhật [73], Chu Thái Sơn [98], Tuyết
Nhung Buôn Krông [77], Đỗ Hồng Kỳ [62], Trương Bi, Đỗ Hồng Kỳ, Nguyễn Văn Kha [5], Võ Hoàng Hiếu [39], Hà Thị Thu Hà [33], Tuy nhiên, theo tìm hiểu của chúng tôi, đến nay chưa có bất kì một công trình nào nghiên cứu về lớp từ ngữ xưng
hô trong Sử thi Dam Săn một cách toàn diện trên các bình diện cấu trúc, ngữ nghĩa, chức năng, dụng học
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.2.1 Một số vấn đề về xưng hô và từ ngữ xưng hô
1.2.1.1 Khái niệm xưng hô
Xưng hô là thuật ngữ dùng để tự gọi mình (xưng) và gọi người khác (hô) trong
các cuộc giao tiếp với nhau Theo Từ điển tiếng Việt [81] thì xưng hô là “Tự xưng
mình và gọi người khác là gì đó khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan
hệ với nhau” [81] Có thể hiểu rằng, xưng là một hành động người nói dùng một biểu
thức ngôn ngữ để đưa mình vào cuộc thoại, để người nghe biết rằng mình đang nói
và chịu trách nhiệm về lời nói của mình, cũng là hành động tự quy chiếu của người
nói (ngôi 1), còn hô là hành động của người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa
người nghe vào trong cuộc thoại, là tập hợp những cách thức mà người nói dùng để
Trang 25chỉ người đối thoại với mình
Theo Nguyễn Văn Chiến thì “Xưng hô trước hết là một hành vi giao tiếp xã hội
Ở Việt Nam, xưng hô thể hiện một cách trực tiếp nhất, rõ rệt nhất lối hành xử của những người tham thoại” [17] Nhưng từ góc nhìn ngữ dụng học, tác giả Đỗ Hữu
Châu cho rằng: “Phạm trù xưng hô hay phạm trù ngôi bao gồm những phương tiện
chiếu vật nhờ đó người nói tự quy chiếu, tức tự đưa mình vào diễn ngôn (tự xưng) và đưa người giao tiếp với mình (đối xưng) vào diễn ngôn Như thế phạm trù ngôi thuộc quan hệ vào vai giao tiếp ngay trong cuộc giao tiếp đang diễn ra với điểm gốc là người nói” [13, tr.73] Dẫn theo Benveniste trong “Những vấn đề ngôn ngữ học đại
cương” (1966), ông cho rằng, chỉ có ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai mới thực sự là các ngôi xưng hô, bởi vì những người đang giao tiếp với nhau dùng chúng để “chỉ” nhau Ngôi thứ ba trong thực tế được dùng để chiếu vật người hay sự vật được nói đến chứ không tham gia vào cuộc giao tiếp, không phải là nhân vật góp phần tạo nên các cuộc giao tiếp
Tác giả Phạm Ngọc Thưởng [123, tr.55] đồng tình với quan điểm này và cho
rằng: Những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật tham gia trực tiếp vào hành vi xưng hô
mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ Đại từ ngôi thứ ba không phải là đại từ xưng hô
Theo chúng tôi, việc vạch ra sự đối lập giữa một bên là ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai và một bên là ngôi thứ ba nhằm phân biệt những nhân vật nào thực sự là nhân vật hội thoại và nhân vật nào chỉ được nhắc đến trong các diễn ngôn là việc làm cần thiết Tuy nhiên, chúng tôi không vì thế mà loại bỏ những từ quy chiếu nhân vật ở ngôi thứ
ba ra khỏi vốn từ xưng hô Theo chúng tôi, từ ngữ xưng hô là những từ ngữ vừa dùng
để “xưng” (tự xưng) và vừa dùng để “hô” Ở đây, không chỉ hô gọi người đang trực tiếp giao tiếp với mình ở ngôi thứ hai (đối xưng) mà còn hô gọi những người ở ngôi thứ ba, tức là người được nói đến Đôi khi, thông qua việc xem xét đối tượng giao tiếp của mình gọi nhân vật thứ ba là gì mà cả hai ngôi cùng điều chỉnh cách xưng hô với đối tượng giao tiếp cho phù hợp Ngoài ra, nếu loại bỏ những từ hô gọi của các đối tượng thuộc ngôi thứ ba ra khỏi hệ thống từ ngữ xưng hô thì sẽ rất khó khăn khi
Trang 26giải quyết các từ ngữ xưng hô “kiêm ngôi” (phân biệt với từ “chuyên ngôi” – cách
gọi của Đỗ Hữu Châu) như người ta, mình và đặc biệt là các từ xưng hô thân tộc, tên
riêng Đại bộ phận lớp từ này kiêm cả ba ngôi
Trong công trình [55], tác giả Nguyễn Văn Khang sử dụng thuật ngữ “xưng gọi”
thay cho “xưng hô” và khẳng định rằng: “Xưng” tức là chủ thể giao tiếp và “gọi” là
khách thể giao tiếp, bao gồm “khách thể trực diện” và “khách thể không trực diện”
Tác giả còn chú thích rõ: Khách thể không trực diện tức là “người được nhắc tới –
người thứ ba” [55, tr.210]
Theo Nguyễn Văn Khang [55, tr.204-206], trong giao tiếp xã hội thường có một số kiểu xưng hô sau:
- Xưng hô bằng họ và tên với các kiểu như:
+ Xưng hô bằng tên;
+ Xưng hô bằng họ;
+ Xưng hô bằng tên đệm + tên;
+ Xưng hô bằng họ + tên;
+ Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên
- Xưng hô bằng tất cả các từ dùng để xưng hô, bao gồm:
+ Đại từ nhân xưng;
+ Các từ thân tộc dùng để từ xưng hô
+ Các từ khác được dùng để từ xưng hô
- Xưng hô bằng chức danh, bao gồm:
+ Gọi bằng một trong các chức danh;
+ Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh
- Xưng hô bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con) Đây là cách gọi thay bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con)
- Xưng hô bằng sự kết hợp, như gọi bằng các kết hợp khác nhau, kiểu như: + Gọi bằng chức danh + tên,
+ Gọi bằng chức danh + họ tên,
+ Gọi bằng từ xưng hô + tên/họ tên
- Xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô: không xuất hiện từ xưng hô trong giao tiếp
Trang 27Tuy nhiên, trong thực tiễn giao tiếp thì việc xưng hô bằng từ ngữ xưng hô nào là
do cả hai phía người nói (SP1) và người nghe (SP2) quyết định Trong quá trình giao tiếp, không chỉ người nói lựa chọn từ xưng hô phù hợp với mục đích nói, với chiến lược giao tiếp đã hoạch định mà người nghe cũng phải lựa chọn từ xưng hô cho phù hợp Dù ở phạm vi giao tiếp nào, trong gia đình hay ngoài xã hội, nói chung, từ xưng
hô tạo thành một cặp tương ứng giữa xưng và hô Cho nên trong một cuộc giao tiếp có thể có sự biến đổi trong cách xưng hô theo diễn tiến của cuộc giao tiếp Sự thay đổi cách xưng hô thường liên quan đến sự thay đổi về quan hệ khoảng cách giữa các nhân vật giao tiếp, về tính chất quan hệ (tốt hoặc xấu) Ngoài chức năng chiếu vật vai giao tiếp, từ xưng hô còn thể hiện quan hệ liên nhân Nói cách khác, xưng hô đánh dấu sự duy trì và nhấn mạnh quan hệ quyền lực giữa những người tham gia giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, người nghe có thể thực hiện thao tác suy ý để xác định ý định giao tiếp, chiến lược giao tiếp của người đối thoại thông qua các từ xưng hô của họ
Trong luận án này, chúng tôi chấp nhận khái niệm xưng hô theo quan điểm của
Nguyễn Văn Khang [55]: “Xưng hô là hành động tự xưng mình khi nói với người
khác và gọi người khác là cái gì đó trong giao tiếp (kể cả người được nhắc tới) để bộc lộ được tính chất và tình cảm trong mối quan hệ xã hội với nhau”
Tóm lại, quan điểm của mình, chúng tôi xem toàn bộ đại từ nhân xưng ở cả ba ngôi đều thuộc hệ thống từ ngữ xưng hô Tuy nhiên, xuất phát từ khái niệm xưng hô
có thể nhận thấy, nếu ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai là xưng hô “tích cực”, “chủ động”
thì ngôi thứ ba là xưng hô “thụ động”
1.2.1.2 Khái niệm từ ngữ xưng hô
Để xưng hô trong giao tiếp, không thể thiếu từ ngữ xưng hô Nghiên cứu về từ xưng hô hay từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt được nhiều tác giả quan tâm như: Trương Thị Diễm [25], Nguyễn Văn Chiến [17], Lê Thanh Kim [61],… Ervin Tripp.S,
trong tác phẩm Social Linguistic Rules of Address đã cho rằng:“Các dạng thức xưng
hô từ hay các từ, các ngữ, các biểu thức xưng hô được sử dụng để giao tiếp xưng hô với ai đó dưới dạng nói và viết Đó là cách giao tiếp mà trong đó người ta giao tiếp với người khác Hành vi xưng hô kiểu này luôn phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, tầng
Trang 28lớp xã hội, quan hệ xã hội, tâm lý hay quan hệ vị thân giữa những người tham thoại”
[Dẫn theo 61, tr.28]
Từ cách hiểu về phạm trù xưng hô như đã nêu ở trên, chúng tôi quan niệm rằng
từ ngữ xưng hô là những từ và ngữ (định danh) được dùng để tự xưng mình với người khác và gọi người khác là gì đó trong các mối quan hệ giao tiếp, bao gồm cả người được nhắc tới trong cuộc giao tiếp (ngôi thứ ba)
Chức năng của từ ngữ xưng hô
Chức năng chủ yếu của từ ngữ xưng hô là sự thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những người đối thoại và duy trì cuộc thoại Sự im lặng hay sự thiếu vắng lời xưng hô hoặc
sự thay đổi cách xưng hô cũng có một giá trị xã hội - ngôn ngữ học nhất định Như vậy, xưng hô ngoài chức năng thiết lập quan hệ tiếp xúc (chức năng mở đầu cuộc thoại) còn
có chức năng biểu lộ thái độ, tình cảm cũng như vị thế của các nhân vật hội thoại Chúng tôi tìm hiểu ba chức năng cơ bản của từ xưng hô là chức năng định vị, chức
năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên cá nhân
- Chức năng định vị:
Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Trong ngôn ngữ tất cả các câu nói, bằng
cách này hay cách khác đều phải có những yếu tố đóng vai trò định vị" [13, tr.130]
Theo quan sát, yếu tố định vị đóng vai trò căn bản trong tất cả các phát ngôn có
sử dụng từ ngữ xưng hô Con người luôn ở vào thế giao tiếp với nhiều lớp người khác nhau về địa vị xã hội, lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn và giao tiếp cũng diễn ra ở ngữ cảnh rộng, hẹp khác nhau như không gian, thời gian cũng như tính chất quy thức hay bất quy thức của cuộc giao tiếp Chính vì thế, các nhân vật hội thoại luôn luôn phải lựa chọn và sử dụng các từ ngữ xưng hô cho phù họp với từng loại quan hệ vai và phù họp với ngữ cảnh giao tiếp Có nghĩa là, tùy vào mối quan hệ của ego+ (+ego là một thuật ngữ của ngành Dân tộc học chỉ cái Tôi) với người đối thoại Việc thay đổi này được thực hiện nhờ vào điểm gốc quy định chỗ đứng của ego Do đó, các nhân vật hội thoại muốn sử dụng từ ngữ xưng hô hợp lý, phải xác định được vị thế của mình với vị thế của người đối thoại: tuổi tác, quan hệ gia đình, quan hệ xã hội, vị thế giao tiếp
Trang 29- Chức năng chiếu vật
Tác giả Đỗ Hữu Châu đã thực hiện sự phân biệt giữa nghĩa biểu vật, nghĩa chiếu vật: "Ý nghĩa biểu vật (trong hệ thống) sẽ được chuyển hoá thành ý nghĩa chiếu vật (trong lời nói)" [13, 149] Nghĩa chiếu vật lại được phân thành: chiếu vật cá thể, chiếu vật loại (chiếu loại) và chiếu vật bộ phận (chiếu một số bộ phận trong loại ) Các đại
từ nhân xưng thường là những tín hiệu chuyên dùng để thực hiện chức năng chiếu vật Nghĩa chiếu vật của từ xưng hô là chiếu vật cá thể Vì vậy, các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai mỗi khi được dùng, chúng đều quy chiếu tới người nói, người nghe có mặt trong cuộc thoại
Trong hệ thống ngôn ngữ có những từ không có ý nghĩa biểu vật nhưng trong lời nói chúng vẫn có ý nghĩa chiếu vật Dựa vào chức năng chiếu vật của từ ngữ xưng
hô, các nhân vật hội thoại có thể lựa chọn một từ ngữ xưng hô bất kỳ để tự quy chiếu
và quy chiếu nhân vật đang đối thoại với mình Như vậy, nếu vai trò định vị và vai trò biểu thái là vấn đề chung cho từ ngữ xưng hô thì ý nghĩa chiếu vật lại chỉ có riêng khi từ xưng hô đã được cá thể hoá và đi vào hoạt động
- Chức năng thể hiện quan hệ liên cá nhân
Quan hệ giữa các nhân vật hội thoại là quan hệ liên cá nhân Nói tới quan hệ liên cá nhân trước hết là nói đến khoảng cách ngang và dọc giữa các nhân vật hội thoại Nguyên tắc của quan hệ ngang là những nhân vật hội thoại có thể gần gũi hay
xa cách đối với nhau Trục quan hệ ngang là một trục có nhiều cung đoạn một mặt hướng tới sự xa cách, một mặt hướng tới sự thân thuộc, thân cận - tâm tình Quan hệ ngang về bản chất là đối xứng Tuy nhiên cũng có trường hợp phi đối xứng: một người muốn gần, người kia muốn giữ nguyên hoặc xa cách
Trái ngược với quan hệ ngang, nguyên tắc của quan hệ dọc về bản chất là phi đối xứng Trong một số kiểu tương tác không bình đẳng, sự không bình đẳng trước hết là vấn đề của ngữ cảnh: tuổi tác, giới tính, địa vị, vai trò trong hội thoại, sự làm chủ ngôn ngữ Hoạt động của quan hệ ngang và quan hệ dọc luôn tuân theo những nguyên tắc nhất định Hai loại quan hệ này được biểu hiện qua các dấu hiệu phi lời
và kèm lời (như y phục), các dấu hiệu ngôn ngữ (như các nghi thức xưng hô, tổ chức
Trang 30các lượt lời ) Chúng tôi sử dụng hai trục quan hệ: trục dọc và trục ngang trong lý thuyết quan hệ liên cá nhân của C.K Orecchioni để nghiên cứu từ ngữ xưng hô - một trong những dấu hiệu bằng lời thể hiện khoảng cách ngang và dọc của các nhân vật giao tiếp
Khi ego sử dụng một từ xưng hô bất kỳ để giao tiếp với người đối thoại thì chính ego đã tự xác định mình với người đối thoại ở trục quan hệ dọc hay trục quan hệ ngang Nói một cách khác, có những từ xưng hô biểu thị khoảng cách dọc và có những
từ xưng hô biểu thị cho khoảng cách ngang Như vậy, quan hệ ngang biểu thị khoảng cách xã hội của nhân vật giao tiếp Các từ xưng hô thể hiện quan hệ ngang như cậu -
tớ, tao - mày, ông - tôi (quan hệ bạn bè), anh - em (quan hê vợ chồng ), tôi – anh, tôi
- bà (quan hệ xã hội ), Quan hệ dọc về bản chất là phi đối xứng - quan hệ dọc biểu thị quan hệ quyền lực của nhân vật giao tiếp Các từ xưng hô biểu thị cho quan hệ dọc là con, cháu (vị thế thấp) so với bố, mẹ, ông bà (vị thế cao ), em (vị thế thấp), so với anh, chị (vị thế cao), các từ chỉ chức vụ được dùng để biểu thị cho vị thế cao Quan hệ liên cá nhân là quan hệ động Nghĩa là các nhân vật hội thoại khi thì giao tiếp với nhau trên trục ngang, lúc lại lấy trục dọc để giao tiếp Việc xác định trục giao tiếp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như ngữ cảnh, đề tài được đề cập
1.2.1.3 Phân loại từ ngữ xưng hô
Từ ngữ xưng hô là những từ, ngữ được dùng để “xưng” và “hô” trong giao tiếp Nếu như “xưng” là dùng cho người đang trực tiếp tham gia cuộc giao tiếp thì “hô” có thể dùng cho người đang trực tiếp tham gia cuộc giao tiếp hoặc không trực tiếp tham gia vào cuộc giao tiếp (người/vật được nhắc đến trong cuộc giao tiếp)
Khi giao tiếp, người ta thường dùng các ĐTNX để xưng hô Tuy nhiên, thực tế giao tiếp rất đa dạng, bản thân các ĐTNX không thể hiện hết được các mối quan hệ liên nhân giữa các đối tượng giao tiếp nên hầu hết các ngôn ngữ đều dùng các từ ngữ
khác để xưng hô Do đó, khi nói tới từ ngữ xưng hô, người ta thường nói tới từ ngữ
xưng hô chuyên dụng (tức là ĐTNX) và từ ngữ xưng hô không chuyên dụng (gồm
từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc, từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp và từ ngữ chỉ các mối quan hệ xã hội) Tất cả các yếu tố, đơn vị này đều được gọi là từ ngữ xưng hô
Trang 31a) Từ ngữ xưng hô chuyên dụng (ĐTNX)
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đã trực tiếp hoặc gián đề cập đến vấn đề này Diệp
Quang Ban [6, tr.518] gọi ĐTNX là nhân xưng từ và và đại từ chỉ thị là chỉ thị từ Ông cho rằng: “Nhân xưng từ là những từ không mang nghĩa, chúng thuộc vào số
những từ dùng để quy chiếu” [6, tr.519] Còn Hữu Quỳnh cho rằng “Đại từ xưng hô
là đại từ được dùng để xưng hô hoặc thay thế và trỏ người Đại từ xưng hô trong tiếng Việt gồm các đại từ chuyên dùng để xưng hô và các từ xưng hô lâm thời, mượn các danh từ biểu thị quan hệ thân thuộc hay quan hệ xã hội” [94, tr.780] Về điều
này, các tác giả Lê Biên [9], Phạm Ngọc Hàm [35] cũng có cách nhìn nhận, phân chia khác nhau về đại từ xưng hô, đại từ chuyên dùng,…
Tuy một số nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ khác nhau cũng là cách phân loại lưỡng phân: từ ngữ xưng hô chuyên dụng/ từ ngữ xưng hô không chuyên dụng Vậy, từ ngữ xưng hô chuyên dụng chính là ĐTNX, còn từ ngữ xưng hô không chuyên dụng là những từ ngữ dùng để xưng hô nhưng không phải là ĐTNX Chúng có thể là
từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc, từ ngữ chỉ chức vụ, nghề nghiệp và từ ngữ chỉ các mối quan hệ xã hội
Tóm lại, ĐTNX là lớp từ chỉ người hoặc vật tham gia vào quá trình giao tiếp Đại từ nhân xưng được chia thành các ngôi: ngôi thứ nhất (người nói), ngôi thứ hai (người nghe) và ngôi thứ ba (người/vật được nói đến)
b) Từ ngữ xưng hô không chuyên dụng
- Từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc
Trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ có liên quan như “gia đình”, “gia tộc”,
“thân tộc” và từ ngữ thân tộc dùng để xưng hô
Gia đình là “Tập hợp những người sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong
xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [81, tr.381]
Gia tộc là “Tập hợp nhiều gia đình có cùng một tổ tiên” [81, tr.382]
Thân tộc là “Những người bà con trong cùng một dòng họ” [81, tr.924]
Theo Trần Ngọc Thêm thì “Những người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật
Trang 32thiết với nhau thành đơn vị cơ sở là GIA ĐÌNH và đơn vị cấu thành là GIA TỘC”
[111, tr.89]
Như vậy, từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc là từ ngữ chỉ người trong gia đình và dòng
họ, gia tộc theo các mối quan hệ khác nhau Khi những người này giao tiếp với nhau,
họ thường sử dụng những từ ngữ thân tộc để xưng hô Tuy nhiên, không phải từ ngữ chỉ quan hệ thân tộc nào cũng được dùng để xưng hô Cùng với sự phát triển của xã hội, từ ngữ xưng hô cũng có những thay đổi Có những từ thân tộc trước đây không dùng để xưng hô nhưng đến một giai đoạn nào đó lại được dùng để xưng hô Chẳng
hạn như vợ/ chồng, dâu/ rể là những thuật ngữ thân tộc chỉ mối quan hệ hôn nhân
giữa một người nữ và một người nam hoặc mối quan hệ giữa người nữ với gia đình người nam trong mối quan hệ hôn nhân và ngược lại Trước đây, người Việt không
dùng các từ ngữ này để xưng hô nhưng hiện nay giới trẻ đã sử dụng vợ/chồng để xưng
hô với nhau:
- “A lô! Vợ hả? Đang làm gì đó?”
- Vợ đang họp Tí nữa, vợ gọi lại cho chồng nghe!
Kiểu xưng hô như trên diễn ra rất phổ biến trong những cặp vợ chồng trẻ mà thôi Điều này cho thấy, không có gì là bất biến và từ thân tộc dùng để xưng hô cũng
có thể thay đổi theo sự phát triển chung của xã hội Nhưng trong sự thay đổi đó, luôn
có sư phê phán và kế thừa Có những từ ngữ xưng hô ra đời được cả cộng đồng chấp nhận nhưng cũng có những từ ngữ xưng hô vừa mới ra đời đã “chết yểu” vì không phù hợp với phong tục, tập quán văn hóa của cộng đồng.Từ ngữ xưng hô là tấm gương phản ánh rõ nét lịch sử và bộ mặt văn hóa xã hội của một dân tộc
- Từ ngữ chỉ quan hệ xã hội
Theo Từ điển tiếng Việt thì: quan hệ là “sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay
nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi thì có thể tác động đến sự vật
kia Quan hệ giữa cung và cầu Quan hệ họ hàng với nhau” [81, tr.799]
Như vậy, có thể hiểu: từ ngữ chỉ quan hệ xã hội là lớp từ ngữ chỉ mối quan hệ của
con người trong các mối quan hệ xã hội như: lớp người, giới tính, tầng lớp
Trang 331.2.2 Vấn đề giao tiếp và văn hóa giao tiếp
1.2.2.1 Khái niệm giao tiếp
Từ góc nhìn ngôn ngữ học, Đỗ Việt Hùng trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học cho rằng: “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là sự tiếp xúc giữa con người (nhóm
người) với con người (nhóm người), trong đó diễn ra sự trao đổi thông tin (hiểu rộng), đồng thời thể hiện thái độ, cách đánh giá, cách ứng xử của các nhân vật giao tiếp đối với nội dung giao tiếp và giữa các nhân vật giao tiếp với nhau” [49, tr.480]
Với sự phát triển của ngữ dụng học Việt ngữ, đã có nhiều khái niệm về giao tiếp, nhưng nhìn chung giao tiếp vẫn là quá trình trao đổi thông tin, tác động qua lại giữa người với người và sự tri giác về con người bởi con người
1.2.2.2 Các nhân tố tác động đến sử dụng từ ngữ xưng hô trong giao tiếp a) Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, nên phải dùng các từ ngữ xưng hô phù hợp giữa chủ thể và khách thể để cuộc thoại diễn ra một cách thuận lợi Giữa các nhân vật xưng hô trong các cuộc giao tiếp đều
có các mối quan hệ: vai giao tiếp, quan hệ liên cá nhân và vị thế giao tiếp
+ Vai giao tiếp
Trong cuộc giao tiếp, các nhân vật luôn đảm nhận vai giao tiếp khác nhau, gồm vai phát ngôn (Sp1) và vai nhận (Sp2) Trong vai nhận có vai trực tiếp và gián tiếp Vai gián tiếp tức là vai được nhắc đến - vai thứ 3 (ngôi thứ 3) Tất cả các vai giao tiếp, kể cả vai phát và vai nhận đều có ảnh hưởng nhất định đến hình thức và nội dung giao tiếp Một mặt, ta có thể thấy rõ được rằng, hình thức và nội dung giao tiếp
là do Sp1 chủ động trong việc lựa chọn và quyết định theo mục đích giao tiếp của mình đặt ra Mặt khác, hoạt động giao tiếp lại không phải là hoạt động đơn phương
mà là một hoạt động xã hội, tức là có sự cộng tác của Sp2 Do đó, Sp1 không thể độc lập hoàn toàn trong việc lựa chọn hình thức và nội dung giao tiếp
Vì lí do đó, người phát được gọi là vai xưng, người nhận gọi là vai hô sẽ có sự luân phiên thay đổi giữa vai xưng và vai hô với nhau trong hội thoại Trong quá trình
giao tiếp, cuộc thoại có thể diễn ra hai chiều hoặc một chiều là do người phát và người
Trang 34nhận dẫn cuộc thoại theo hướng tiêu cực hay tích cực Vì vậy SP1 phải cân nhắc nội dung và hình thức cuộc thoại trước khi truyền tải thông tin đến SP2 Khi giao tiếp, SP1 phát phải chú ý đến các đặc điểm như: tuổi tác, giới tính, vị trí xã hội, nghề nghiệp… và các mối quan hệ thân sơ, quyền uy, ngang vai hay không của vai nhận để xưng hô cho phù hợp
+ Quan hệ liên cá nhân
Khi nói đến nhân vật trong giao tiếp, chúng ta không thể không nói đến mối quan
hệ giữa các nhân vật, đó là mối quan hệ liên cá nhân Quan hệ liên cá nhân là quan hệ xét trong tương quan xã hội, sự hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân có thể được xác định theo hai trục quan hệ: Quan hệ quyền uy (trục tung) và quan hệ thân sơ (trục hoành) Xét về quan hệ quyền uy giữa các nhân vật giao tiếp có các mối quan hệ ngang vai và quan hệ không ngang vai; xét về quan hệ thân
sơ, nó thể hiện quan hệ gần gũi hay xa lạ giữa các nhân vật giao tiếp
+ Vị thế giao tiếp
Qua các vai giao tiếp trong hội thoại và cách sử dụng từ xưng hô, cùng với những quy tắc thiết chế xã hội, chúng ta có thể nhận biết được vai nào ở vị trí trên, vai nào ở vị trí dưới Chính vị thế xã hội của các nhân vật trong hội thoại có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ xưng hô Thông thường, trước người có vị thế cao hơn mình, người giao tiếp có xu hướng sử dụng những từ ngữ xưng hô chuẩn mực với sắc thái lịch sự, trịnh trọng hoặc ít nhất cũng sử dụng những
từ ngữ trung hoà về sắc thái biểu cảm
Đối với người có vị thế ngang bằng, trong ngữ cảnh giao tiếp quy thức, nhân vật
hội thoại thường có ý “xưng khiêm hô tôn”, còn ở ngữ cảnh giao tiếp không quy thức,
các nhân vật có vị thế ngang bằng, thường sử dụng các từ xưng hô với đầy đủ sắc thái thân mật, lịch sự hay suồng sã
Với chức năng định vị, từ ngữ xưng hô có tác dụng bộc lộ vị thế xã hội của các nhân vật trong hội thoại, đồng thời vị thế xã hội của các nhân vật hội thoại lại bị chi phối chức năng định vị và chức năng biểu thái của từ ngữ xưng hô Để có cuộc thoại diễn ra thuận lợi thì các vai tham gia họi thoại cần xưng hô chính xác và thích hợp
Trang 35Muốn vậy, nhân vật hội thoại phải xác định được vị thế của mình cũng như vị thế của người đối thoại
b) Ngữ cảnh giao tiếp
+ Ngôn cảnh văn hoá
Các đặc điểm về thời gian và nơi chốn cụ thể của một hoạt động giao tiếp được gọi là ngôn cảnh giao tiếp Ngôn cảnh giao tiếp có ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức
và nội dung của giao tiếp
Việc lựa chọn các từ ngữ xưng hô là để xác định bản thân và xác định người đối thoại với các sắc thái thân mật, lịch sự hay suồng sã Nhưng sự lựa chọn này không thể vượt qua tính quy thức và bất quy thức trong ngữ cảnh giao tiếp, nó có mối quan
hệ chặt chẽ với các chức năng của từ ngữ xưng hô, cũng như vị thế xã hội và quyền
uy của nhân vật giao tiếp
Trong ngôn cảnh văn hoá, dù là ngôn ngữ nào, các vai xưng hô hầu hết đều tuân
theo quy thức xưng hô và nguyên tắc “xưng khiêm hô tôn”, ngay cả khi ngang vai (mình,
anh và em mình) cũng phải tuân theo nguyên tắc này
Vậy, trong những ngôn cảnh văn hoá cụ thể, có những quy định thành văn hay bất thành văn buộc người giao tiếp dùng những từ xưng hô (kể cả thái độ, cử chỉ và nội dung đối thoại) phải phù hợp với những quy định của môi trường đó, mới trở thành người có văn hoá giao tiếp ứng xử
+ Ngôn cảnh tình huống
Ngôn cảnh tình huống là sự thể hiện cụ thể của hoàn cảnh giao tiếp, của thoại trường, của các nhân vật giao tiếp, cũng như những biểu hiện cụ thể, ở một thời điểm
cụ thể của chính các nhân tố tạo nên cuộc giao tiếp đó
Trong cuộc thoại, ngữ cảnh giao tiếp thay đổi thì lời nói của từng nhân vật giao tiếp cũng phải thay đổi theo cho phù hợp Điều này có thể hiểu rằng, ngôn cảnh tình huống ở một thời điểm của cuộc giao tiếp là sự hiện thực hoá các nhân tố tạo nên ngữ cảnh, cũng như tạo nên cuộc giao tiếp
c) Tính quy thức (formal) và phi quy thức (informal) của ngữ cảnh giao tiếp
Những ứng xử ngôn ngữ của con người phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh giao
Trang 36tiếp Cùng một quan hệ vai như cha - con, trong ngữ cảnh giao tiếp quy thức (Formal)
sẽ có những biến thể ngôn ngữ khác với những biến thể ngôn ngữ trong ngữ cảnh phi quy thức (Informal)
Ở đây, chúng tôi chỉ tìm hiểu tính quy thức/ không quy thức qua các từ ngữ xưng hô Nói cách khác là tìm hiểu sự chi phối của tính quy thức/ phi qui thức trong việc lựa chọn và sử dụng từ ngữ xưng hô Như chúng ta biết, trong vị thế xã hội và quyền uy của nhân vật giao tiếp, người có vị thế cao, có quyền uy thì có khả năng sử dụng từ ngữ xưng hô rộng rãi hơn người ở vị thế thấp Anh ta có thể tự do lựa chọn các từ ngữ xưng hô để định vị bản thân mình và định vị người đối thoại Nhưng trong cách xưng hô ấy, không thể vượt qua tính quy thức/ phi quy thức của hoàn cảnh giao
tiếp Thủ trưởng có thể dùng cặp từ mày - tao để xưng hô với cấp dưới của mình trong
trường hợp giao tiếp phi quy thức, nhưng khi bàn về công việc nơi công sở thì thủ trưởng không thể dùng cặp từ này để xưng hô với nhân viên của mình Như vậy, tính quy thức và phi quy thức của ngữ cảnh có mối quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng từ ngữ xưng hô cũng như vị thế xã hội và quyền uy của nhân vật giao tiếp Để thể hiện thái độ của mình (chức năng biểu thái) qua từ xưng hô như suồng sã hay thân mật, lịch sự hay không lịch sự, người giao tiếp phải xác định (chức năng định vị) vị thế của mình và vị thế của người đối thoại cũng như phải tính đến tính chất quy thức hay phi quy thức của ngữ cảnh
Có thể nói, ở những người có vị thế ngang bằng như bạn bè, thì việc sử dụng từ ngữ xưng hô ít mang tính quy thức Ngược lại, xưng hô với người ở vị thế cao, người
có quyền uy hơn mình thì người ở vị thế thấp luôn có xu hướng xưng hô chuẩn mực, quy thức Hệ thống đại từ xưng hô ngôi thứ hai trong tiếng Việt, cũng như trong tiếng Ê-đê không có từ lịch sự, lễ phép Do đó, để chỉ những người ở vị thế trên một cách thật quy thức, người ở vị thế dưới phải sử dụng các danh từ thân tộc như ông, bà, chú, bác, cô hay các từ chỉ chức vụ nghề nghiệp như bác sĩ, thầy giáo Cũng như vậy,
để tôn trọng người đối thoại và thể hiện tính qui thức trong xưng hô, người ở vị thế
cao có thể gọi người ở vị thế thấp là anh, chị hay ông, bà và tự xưng là tôi, theo
nguyên tắc xưng khiêm hô tôn Có thể nói, tính quy thức/ phi quy thức thể hiện rõ
Trang 37trong từ xưng hô Các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được sử dụng làm từ xưng
hô thường có tính quy thức cao Các đại từ xưng hô phần lớn ít tính qui thức Các danh từ thân tộc được sử dụng rộng rãi ngoài xã hội với xu hướng làm thân thuộc hoá các quan hệ người - người nên cũng có tính quy thức cao
1.2.3 Nghĩa của từ và phân tích thành tố nghĩa
1.2.3.1 Nghĩa của từ
Khi nói về nghĩa của từ, các nhà triết học, lôgíc học, ngôn ngữ học, đã bàn rất nhiều về khái niệm nghĩa (meaning), về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cái được biểu hiện trong thực tế khách quan Tùy theo cách nhìn nhận, phân tích khác nhau mà các
nhà nghiên cứu có những quan niệm khác nhau Trong Bút ký triết học, V.I Lênin đã ghi lại: “Nhưng tên gọi là cái gì? Một phù hiệu dùng để phân biệt, một dấu hiệu đập
vào mắt mà tôi đem làm thành đặc trưng của đối tương, làm thành cái tiêu biểu cho đối tượng, để hình dung đối tượng trong tính chỉnh thể của nó” [Dẫn theo 11, tr.159]
Tác giả A.I.Smirniski quan niệm: “Nghĩa của từ là sự phản ánh hiển nhiên của
sự vật, hiện tượng hay quan hệ trong ý thức (hay là sự cấu tạo tâm lí tương tự về tính chất hình thành trên sự phản ánh những yếu tố riêng lẻ của thực tế) nằm trong cấu trúc của từ với tư cách là mặt bên trong của từ” [Dẫn theo 31, tr.19]
Còn J.A.Apresjan (1995) trong bài Hình ảnh con người theo các cứ liệu ngôn
ngữ: thử miêu tả theo hệ thống [150] sau khi phân tích mối liên hệ nghĩa của các từ
trong hệ thống các từ chỉ cảm xúc con người đã “phác họa một sơ đồ chung nêu đặc
điểm của con người với tư cách là cơ sở của từ điển học hệ thống…… và cố gắng trình bày mối liên hệ giữa các luận điểm lý thuyết ngôn ngữ học và các nguyên tắc miêu tả những loại hình từ điển học trong các từ điển đồng nghĩa và tường giải”
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng: “Nghĩa của từ (cũng như các đơn vị ngôn
ngữ khác) là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản thân nó Hiểu nghĩa của một đơn vị nào đó là hiểu đơn vị ấy có quan hệ với cái gì, tức là nó biểu thị cái gì
Có thể thấy rõ điều này khi chúng ta quan sát cách người ta nắm nghĩa của từ như thế nào Nghĩa của từ cũng như các đơn vị ngôn ngữ khác tồn tại thực sự khách quan trong lời nói, còn trong nhận thức chỉ có sự phản ánh của những nghĩa đó mà
Trang 38thôi ” [32, tr.284-285]
Trong thực tế, lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ có khá nhiều định nghĩa về nghĩa của
từ, kể cả công trình trong nước và ngoài nước Vì vậy, khó có thể điểm lại một cách toàn diện, đầy đủ những quan điểm về nghĩa của từ Trong luận án này, chúng tôi tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước và quan niệm rằng: nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hay lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định
1.2.3.2 Các thành tố nghĩa của từ
John Lyons trong công trình Ngữ nghĩa học dẫn luận [56, tr.124] cho rằng “để
cho những quan hệ về nghĩa giữa các từ vị trở nên tuyệt đối chính xác, là sử dụng cách phân tích thành tố cách phân tích này liên quan đến việc phân tách nghĩa hệ thống của một từ vị thành những thành tố của nó” sau khi phân tích nghĩa của một
loạt các từ tiếng Anh như: boy (con trai), girl (con gái), man (đàn ông), và woman
(đàn bà) Cách phân tích của Lyons đã chỉ ra rằng: nghĩa tố nào là cơ bản hơn so với các nghĩa tố còn lại
Khi nói tới nghĩa của từ, chúng ta không thể không nói tới việc phân tích các nét nghĩa, hay các thành tố nghĩa (nghĩa vị) của từ Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì có
sự phân biệt giữa ý nghĩa (biểu niệm) và khái niệm Ông cho rằng thực tế có một quá trình biện chứng: “khái niệm (chuyển hóa thành) ý nghĩa biểu niệm rồi ý nghĩa biểu niệm (chuyển hóa thành) khái niệm trong giao tiếp” [12, tr.176] Tác giả Đỗ Hữu
Châu cho rằng: “Cần thiết phải phân biệt hai bình diện ngữ nghĩa trong ý nghĩa biểu
niệm của từ: bình diện khái quát, cũng là bình diện cấu trúc và bình diện cụ thể Một cấu trúc biểu niệm có thể được phân hóa thành những cấu trúc biểu niệm ở cấp thấp hơn, có mức độ khái quát thấp hơn” [12, tr.182] Như vậy, khi phân tích các nét
nghĩa của từ, người ta cần chú ý các nét nghĩa theo cấu trúc nghĩa trong từ điển học Ông cũng cho rằng việc phân tích các nét nghĩa có thể làm thay đổi cấu trúc nghĩa biểu niệm và thậm chí còn có nét nghĩa dụng học Chẳng hạn, trong trường hợp tiếng
Ê-đê, khi sử dụng từ o\ng (mày) để nói với SP2 thì tùy vào ngữ cảnh cụ thể để ta có
thể phân tích được các nét nghĩa thân mật, suồng sã, yêu quý hay tức giận, căm ghét,
Trang 39khinh bỉ của SP1 đối với SP2
Trong hệ thống từ thân tộc tiếng Ê-đê có từ adei (có nét nghĩa em trong quan
hệ với người ngang hàng, ngang bậc kiểu như anh, chị) Nhưng nếu trong ngữ cảnh
bà ngoại (người đẻ ra mẹ trong hệ thống thân tộc) là SP1 sử dụng để nói với cháu gái
ngoại (SP2) thì nghĩa dụng học của adei đã khác hoàn toàn Và chỉ trong ngữ cảnh của chế độ tập tục ]uê nuê (nối nòi), người đọc mới hiểu được tại sao bà ngoại gọi cháu ngoại của mình là adei (em) Lí do duy nhất là sau khi bà ngoại mất mà dòng họ nhà gái không có người làm nuê (vợ nối dây) cho ông ngoại thì cháu gái đó có thể làm nuê cho ông ngoại của mình
so với 11 dân tộc thiểu số tại chỗ khác ở Tây Nguyên
Người Ê-đê cùng với người Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru và Chăm sử dụng ngôn ngữ thuộc nhánh phía Tây của ngữ hệ Austronesia và được xếp vào các ngôn ngữ tiểu nhóm Chăm (Chamic subgroup) Tại Đắk Lắk, người Ê-đê cư trú ở các {uôn, kri\ng (vùng) tại vùng trung tâm, vùng Bắc và Đông Bắc các huyện Krông {u\k, Krông Pă], Krông {ông, Krông Ana, Ea Súp, M’Drăk… và thành phố Buôn Ma Thuột Họ có ý thức chung khá rõ rệt về cộng đồng dân tộc của mình và thường tự nhận là người Ê-đê (anak Đê), mặc dù trong ý thức của họ có sự phân biệt giữa các nhóm, các địa phương
Trang 40Hiện nay, người Ê-đê không còn phân biệt một cách chi tiết, cặn kẽ các nhóm
địa phương mà chỉ còn lại một số nhánh Ê-đê chính như Kpă, Krung, Ktul, {lô,
Adham, Mdhur,… Sự phân biệt thường chỉ dựa vào một vài đặc trưng về khu vực cư
trú, về sinh hoạt văn hóa vật chất hay văn hóa tinh thần cũng như sự khác nhau ở một
số từ trong vốn từ vựng hay ngữ âm tiếng địa phương của mình
Do những nhu cầu của cuộc sống và những biến động của lịch sử mà người
Ê-đê cũng như nhiều tộc người khác có cuộc sống xen kẽ, cận cư Mối quan hệ của người Ê-đê với các tộc người khác trong vùng không chỉ là quan hệ láng giềng của những người cộng cư mà còn là quan hệ của những tộc người vốn có sẵn mối quan
hệ nhất định về ngôn ngữ, văn hóa
1.3.1.2 Tiếng Ê-đê
Về phương diện ngữ âm, theo tác giả Đoàn Văn Phúc [88], tiếng Ê-đê là một ngôn ngữ đơn tiết khá triệt để so với các ngôn ngữ tiểu nhóm Chăm, tạo thành một tiểu nhánh ngôn ngữ đơn tiết, trong khi các ngôn ngữ khác như Gia-rai, Chu-ru, Chăm, Ra-glai còn mang nhiều dấu vết của một ngôn ngữ đa tiết cổ xưa Tiếng Ê-đê chưa có thanh điệu, nhưng có tới 140 tổ hợp hai phụ âm và 73 tổ hợp ba phụ âm [88] Đây chính là kết quả của quá trình đơn tiết hoá Ở đây còn lưu giữ khá rõ "dấu vết
hóa thạch" của các tiền tố cấu tạo từ: m-, k-, hay trung tố cấu tạo từ -n-
Về phương diện từ vựng, trong vốn từ Ê-đê bao gồm nhiều lớp từ, nhiều yếu tố từ vựng có nguồn gốc từ nhiều họ, nhóm ngôn ngữ khác nhau ở khu vực Đông Nam Á, thậm chí cả các ngôn ngữ châu Âu Tuy nhiên, vốn từ gốc Nam Đảo vẫn chiếm số lượng lớn nhất trong vốn từ vựng cơ bản của ngôn ngữ này Bên cạnh các từ có nguồn gốc Nam Đảo, trong vốn từ cơ bản tiếng Ê-đê còn có rất nhiều từ có nguồn gốc Nam Á, Thái - Kađai Theo tác giả thì chính cái vốn từ vựng này phản ánh những giai đoạn khác nhau trong sự tiếp xúc, vay mượn và phát triển của tiếng Ê-đê Và thật may mắn, các ĐTNX trong tiếng Ê-đê đều là những từ có nguồn gốc Nam Đảo
Về ngữ pháp, tiếng Ê-đê mang đặc điểm ngữ pháp của một ngôn ngữ đơn lập Về phương diện cấu trúc, đa số các hình vị tiếng Ê-đê có vỏ ngữ âm là một âm tiết, tuy rằng có những âm tiết ấy về hình thái lại là dấu vết của một hình vị với một phụ tố cấu