1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính bền vững của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa tại huyện hoài đức, hà nội

86 91 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH --- LÊ ĐÔN ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

LÊ ĐÔN

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI

HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

-

LÊ ĐÔN

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA TẠI

HUYỆN HOÀI ĐỨC, HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG

Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG

Mã số: 8900201.03QTD

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đào Châu Thu

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Đào Châu Thu Luận văn không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Về số liệu và các kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào khác

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, thông tin được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính nguyên bản và xác thực của luận văn

TÁC GIẢ

LÊ ĐÔN

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian dài học tập, nghiên cứu đề tài luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Đào Châu Thu – người cô, người thầy đã dành nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn trực tiếp cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy, các cô tham gia giảng dạy lớp cao học Khoa học bền vững khóa 3, Khoa Các khoa học Liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và hỗ trợ cho tôi trong suốt thời gian theo học tại trường

Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Ủy ban huyện Hoài Đức, ban lãnh đạo phòng Tài Nguyên Môi trường huyện Hoài Đức đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể các bạn học viên lớp cao học Khoa học bền vững khóa 3, Khoa Các khoa học Liên ngành, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, góp ý cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này

Hà Nội, 05/2020

HỌC VIÊN THỰC HIỆN

LÊ ĐÔN

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

CHƯƠNG 1 7

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

1.1 Khái quát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam 7 1.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp 7

1.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 8

1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 10

1.2 Cơ sở lý luận về đô thị hóa 11

1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa 11

1.2.2 Đặc điểm của đô thị hóa 13

1.2.3 Các yếu tố của đô thị hóa ảnh hưởng tới biến động sử dụng đất nông nghiệp 14

1.2.4 Vấn đề quy hoạch đô thị hiện nay 1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và sử dụng đất đai bền vững trong bối cảnh đô thị hóa 18

1.3.1 Đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng đất nông nghiệp 18

1.3.2 Sử dụng đất đai bền vững trong bối cảnh đô thị hóa 21

1.4 Nhận xét chung 24

CHƯƠNG 2 25

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Phương pháp nghiên cứu 25

2.1.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 25

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu sử dụng công cụ bảng hỏi 25

2.1.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo FAO 26

2.1.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu 29

2.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Hoài Đức 29

2.2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Hoài Đức 29

2.2.2 Số liệu về kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức 33

Trang 6

2.2.3 Tài nguyên đất của huyện Hoài Đức 35

2.3 Nhận xét cuối chương 2 36

CHƯƠNG 3 38

ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC 38

3.1 Đánh giá tác động của quá trình đô thị hóa lên cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 38

3.1.1 Sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 38

3.1.2 Tác động của quá trình đô thị hóa lên cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 39

3.2 Đánh giá tính thích hợp và bền vững của sử dụng đất nông nghiệp 40

3.2.1 Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế 40

3.2.2 Hiệu quả xã hội 45

3.2.3 Đánh giá hiệu quả về mặt môi trường 49

3.2.4 Đánh giá tổng hợp hiệu quả của các loại sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoài Đức 59

3.3 Đề xuất giải pháp, biện pháp thực hiện nâng cao hiệu quả sử dụng đất theo hướng bền vững 61

3.3.1 Quan điểm đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững 62

3.3.2 Cơ sở đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững 63

3.3.3 Đề xuất sử dụng đất nông nghiệp bền vững trên địa bàn huyện Hoài Đức trong bối cảnh đô thị hóa 64

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

Gross Domestic Product

13 IPCC Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu

Intergovernmental Panel on Climate Change

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tiềm năng và hiện trạng đất có khả năng canh tác

trên thế giới Bảng 1.2 Tiềm năng đất nông nghiệp của một số nước ở Đông

Nam Á Bảng 1.3 Biến động sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam

thời kỳ 2006 – 2015 Bảng 2.1 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của

các loại hình sử dụng đất Bảng 2.2 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt xã

hội Bảng 2.3 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt môi

trườngBảng 3.1 Kết quả thống kê ngành nông nghiệp huyện Hoài

Đức trong giai đoạn 2012 – 2019 Bảng 3.2 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng

Bảng 3.3 Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất

Trang 11

Những năm qua, trong lĩnh vực đất đai phát sinh nhiều vấn đề phức tạp do một số quy định của pháp luật về đất đai không còn phù hợp, việc quản lý Nhà nước về đất đai hiện còn nhiều thiếu sót, yếu kém và bất cập Giữa Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi đôi khi lợi ích chưa được bảo đảm tương xứng Việc

tổ chức quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường chưa chặt chẽ, vẫn còn diễn biến phức tạp của tình trạng khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai Vì vậy bài toán đặt ra cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước về sử dụng hiệu quả và bền vững quỹ đất chưa có lời giải thỏa đáng; đất đai đang và sẽ còn

là vấn đề sôi động của cả nền kinh tế

Là một huyện cửa ngõ phía Tây của Hà Nội, huyện Hoài Đức có diện tích

tự nhiên 8.246,77 ha với 20 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trôi và 19 xã: An Khánh, An Thượng, Cát Quế, Đắc Sở, Di Trạch, Đông La, Đức Giang, Đức Thượng, Dương Liễu, Kim Chung, La Phù, Lại Yên, Minh Khai, Sơn Đồng, Song Phương, Tiền Yên, Vân Canh, Vân Côn, Yên Sở

Huyện Hoài Đức được đánh giá là huyện có điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên đất đai thích hợp cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp 4.108,06ha gồm 1.550,02ha đất trồng lúa; 923,44ha đất trồng cây hàng năm còn lại; 494,61ha đất trồng cây lâu năm; 105,14ha đất nuôi trồng

Trang 12

thủy sản; 34,85ha đất nông nghiệp khác Đất phi nông nghiệp là 4.109,04ha; đất chưa sử dụng 29,67ha

Tuy nhiên do ảnh hưởng của thời tiết còn chưa thuận lợi, thêm nữa hoạt động sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và ở huyện Hoài Đức nói riêng vẫn chủ yếu theo xu hướng độc canh, tập trung chú trọng đầu tư thâm canh cao sử dụng nhiều phân bón hóa học và các chất hữu cơ độc hại trong một thời gian dài dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến độ phì nhiêu của đất, đất thoái hóa không thể tiếp tục sản xuất, các dịch hại nghiêm trọng, đồng thời cũng gây ra những tác động tiêu cực đến hệ sinh thái và sức khỏe con người Cùng với đó quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa trên địa bàn làm đất sản xuất bị thu hẹp ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn sống của nhân dân

Cùng với đó, quá trình đô thi hóa đem lai nhiều tác động tích cưc, góp phần không nhỏ vào quá trình phát triển ở cấp quốc gia, cấp vùng và địa phương Quá trình đô thị hóa đem lại những lơi ích như:

- Đô thị hóa góp phần tạo động lực phát triển cho các địa phương

- Chất lượng cơ sở hạ tầng được nâng cao

- Các ngành công nghiệp, dịch vụ được thúc đẩy phát triển

- Đô thị hóa góp phần tạo ra việc làm cho người dân địa phương

Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển theo mục tiêu của địa phương về phát triển bền vững, đô thị hóa còn gây ra những tác động tiêu cực, gây ra các ảnh hưởng như:

- Góp phần thay đổi hiên trạng sử dụng đất

- Góp phần gây ra tình trạng di dân tự do, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế – xã hội

- Cơ sở hạ tầng phát triển thiếu đồng bộ, đặc biệt là các công trình xử lý chất thải

Và hiện nay, cũng chưa có những nghiên cứu nào mang tính liên ngành để đánh giá đước thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Hoài Đức

Trong bối cảnh đó tôi chọn đề tài "Đánh giá tính bền vững của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa tại huyện Hoài Đức, Hà

Trang 13

Nội” để đánh giá tính bền vững và đề xuất giải pháp sử dụng đất nông nghiệp

bền vững tại huyện Hoài Đức, Hà Nội Từ đó đề xuất một số giải pháp giúp người dân và chính quyền địa phương thực hiện phát triển bền vững đất nông nghiệp tại đây

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu với các mục tiêu sau:

* Mục tiêu tổng quát của luận văn:

Sử dụng phương pháp đánh giá thích hợp của FAO trong đánh giá hiệu quả sử dụng đất về Kinh tế, xã hôi, môi trường nhằm xác định được các loại sử dụng đất thích hợp và bền vững tại huyện Hoài Đức

- Đánh giá được tính bền vững của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại Hoài Đức trong bối cảnh đô thị hóa

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài trực tiếp là các loại hình sử dụng đất trong nông nghiệp và chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp cùng các yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà Nội

Vấn đề quản lý, sử dụng đất nông nghiệp và các yếu tố về kinh tế - xã môi trường liên quan đến đời sống người dân trong quá trình đô thị hóa cũng là đối tượng được nghiên cứu của luận văn

hội- Phạm vi nghiên cứu:

Về phạm vi khoa học: Đất trồng lúa, đất trồng hoa màu, đất trồng cây ăn quả, đất trông các cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao

Trang 14

Về không gian: Đề tài nghiên cứu trên phạm vi huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là nơi đại diện và điển hình có đầy đủ các loại hình canh tác cây trồng nông nghiệp cần nghiên cứu (điều tra số liệu tại 02 xã đại diện cho các loại hình sử dụng quỹ đất trong nông nghiệp tại huyện)

Về thời gian: Số liệu sử dụng trong luận văn thu thập trong giai đoạn 2010 đến năm 2020

4 Nội dung nghiên cứu

Luận văn được thực hiện với bốn nội dung nghiên cứu chính sau:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Hoài Đức, đặc biệt là đất đai, thổ nhưỡng khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất đất nông nghiệp

- Hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa của huyện, xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

- Đánh giá tính bền vững của sử dụng đất nông nghiệp qua hiệu quả sử dụng đất – hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp bền vững trong bối cảnh đô thị hóa

5 Quan điểm nghiên cứu

* Quan điểm hệ thống:

- Vấn đề sử dụng đất tại các đô thị luôn là một chuỗi các hệ thống phức tạp, trong đó mỗi loại hình sử dụng đất ở các đô thị chịu nhiều tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội trong một thể thống nhất Chính vì vậy, nếu một thành phần hay một bộ phận nào đó bị tác động thì sẽ kéo theo sự thay đổi của các bộ phận khác

- Khi nghiên cứu tác động của đô thị hóa tới hiện trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa, chúng ta cần nhìn nhận và xem xét tổng thể bởi sự thay đổi của một thành phần trong hệ thống sẽ dẫn đến thay đổi toàn hệ thống

* Quan điểm tổng hợp:

Biến động sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa chịu nhiều tác động của các yếu tố khác nhau Trong tiến hành nghiên cứu các tác động của quá trình đô thị hóa tới sự thay đổi hiện trạng sử dụng đất sản xuất

Trang 15

nông nghiệp, chúng ta cần phải đánh giá, phân tích tổng hợp các nguyên nhân gây ra đô thị hóa, đồng thời đánh giá được tác động của quá trình này lên sự thay đổi mục đích sử dụng của các loại hình sử dụng đất của huyện Hoài Đức

* Quan điểm phát triển bền vững: Trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, việc phát triển đô thị và đô thị hóa bền vững cần được tiến hành một cách toàn diện cân đối và vững chắc, có ý thức tiết kiệm đối với việc sử dụng nguồn tài nguyên đất nhưng vẫn phải đảm bảo việc phát triển kinh tế người dân cũng như tính bền vững về mặt môi trường

- Trong quá trình đô thị hóa, chúng ta cần phát huy những tiến bộ khoa học kỹ thuật lên các cây trồng vật nuôi, đồng thời ứng dụng khoa học công nghệ

để đảm bảo giống cây trồng cho hiệu quả năng suất cao nhất mà vẫn đảm bảo về mặt môi trường

- Trong quá trình mở rộng đô thị, chúng ta cần tập trung xử lý môi trường

ô nhiễm, cải thiện sinh thái đô thị, bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, đặc biệt là nguồn tài nguyên đất nông nghiệp, đồng thời quản lý được tốc độ tăng trưởng dân số và quy mô mở rộng đất đô thị nhưng vẫn đảm bảo phát triển bền vững trong tương lai

6 Những đóng góp của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Luận văn tiến hành điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương huyện Hoài Đức với các yếu tố liên quan đến sử dụng đất và sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về đô thi hóa, những tác động của đô thị hóa tới các lĩnh vực kinh tế – xã hội và môi trường, đặc biệt là những tác động của đô thị hóa tới tài nguyên đất nói chung và hiện trạng sử dụng đất nói riêng, đồng thời đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả đất

nông nghiệp tại Hoài Đức trong bối cảnh đô thị hóa và trong giai đoạn tiếp theo

Trang 16

kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại nơi đây đang áp dụng Đồng thời, luận văn góp phần đề xuất được các giải pháp thích ứng có tính ứng dụng

trong bối cảnh đô thị hóa đất sản xuất nông nghiệp

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 3 chương chính với các nội dung chính sau đây:

Chương 1 Tổng quan tài liệu: Nội dung của chương này tập trung vào

việc làm rõ khái niệm về đất sản xuất nông nghiệp, vai trò của đất sản xuất nông nghiệp, quá trình đô thị hóa, đặc điểm của đô thị hóa, sử dụng đất và tác động của đô thị hóa lên sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng bền vững đất sản xuất nông nghiệp

Chương 2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Chương này giới thiệu

các phương pháp nghiên cứu của luận văn liên quan tới quá trình đô thị hóa, sử dụng bền vững đất sản xuất nông nghiệp

Chương 3 Đánh giá tính bền vững và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa ở huyện Hoài Đức: Chương này đưa ra các kết quả phân tích đánh giá tính bền vững của

việc sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái quát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt

Nam

1.1.1 Đất nông nghiệp và sử dụng đất nông nghiệp

1.1.1.1 Khái niệm về đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ phát triển rừng [6]

Đất nông nghiệp gồm đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác [6]

1.1.1.2 Vai trò của đất nông nghiệp

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, vai trò của đất đai đóng một vị trí quan trọng không thể thay thế:

- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế Đất đai vừa là đối tượng để lao động, đất đai vừa là tư liệu lao động để sản xuất Bên cạnh đó, đất đai còn là sản phẩm tự nhiên; sử dụng hợp lý và đúng cách sẽ làm tăng sức sản xuất của đất đai

- Đất đai còn là tư liệu lao động, khi con người sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi thì đất đai có thể phát huy được tác dụng như một tư liệu lao động, không có đất đai thì sẽ không có hoạt động sản xuất nông nghiệp

- Đất đai là môi trường sống đối với sinh vật, là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng

- Đất đai không phải là tài nguyên vô tận, nó bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt Trái Đất Đây cũng chính là đặc điểm ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích và quy mô sản xuất nông nghiệp trên từng vùng, lãnh thổ khác nhau Do đó, việc khai thác hợp lý quỹ đất nông nghiệp hiện có của từng địa phương là vấn đề quan trọng, đồng thời là xu thế chủ đạo trong việc nâng cao đời sống của người nông dân

Trang 18

- Đất đai có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, các miền địa lý Đất nông nghiệp ở các vùng miền khác nhau thì sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau về thổ nhưỡng, khí hậu, độ phì nhiêu,… Do đó, việc lựa chọn và xác định các loại hình sử dụng đất, các loại cây trồng nông nghiệp sao cho phù hợp là có

ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế cuả từng hộ gia đình

1.1.1.3 Vấn đề sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa con người và đất đai trong tổ hợp giữa môi trường và các nguồn tài nguyên khác Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu phát triển thị trường sẽ quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất đai để đạt tới lợi ích sinh thái, kinh tế và xã hội với hiệu quả cao nhất [6] Hiện nay, vấn đề sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và đất đai nói chung được phát triển theo sáu xu thế:

- Sử dụng đất nông nghiệp tập trung, không manh mún và phát triển theo chiều rộng;

- Cơ cấu sử dụng đất cần được phát triển theo hướng đa dạng và chuyên môn hóa;

- Cần sử dụng đất theo hướng xã hội hóa, công hữu hóa;

- Cần sử dụng đất theo hướng hợp tác hóa, khu vực hóa và tiến tới là toàn cầu hóa;

- Sử dụng đất hợp lý hướng tới bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, thích ứng với bối cảnh biến đổi khí hậu

1.1.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Có khoảng 148.647.000 km2 tổng diện tích đất tự nhiên, nhưng những loại đất có khả năng cho sản xuất nông nghiệp là 2,2 tỷ ha, chiếm 22% tổng diện tích

Những loại đất phi nông nghiệp là 11,7 tỷ ha, chiếm tới 78%

Trong giai đoạn phát triển hiện nay, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm về số lượng và chất lượng đất Theo nhiều nghiên cứu đưa ra, có tới 15% tổng diện tích đất nông nghiệp trên Trái Đất đang bị bạc màu do những hoạt động của con người Dân số thế giới tăng nhanh nhưng tiềm năng đất nông

Trang 19

nghiệp thế giới còn lại có hạn, vì vậy, để có đủ lương thực và thực phẩm theo nhu cầu của con người, chúng ta cần bảo vệ và định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá là đất đai cho sản xuất nông nghiệp [1]

Diện tích đất có khả canh tác khoảng 3,3 tỷ ha trên tổng diện tích đất của thế giới, trong đó đất có khả năng trồng trọt chỉ khoảng 1,5 tỷ ha, chiếm 46,0%; Đất trống khoảng 1,8 tỷ ha, chiếm tới 54,0% (bảng 1.1) [1]

Bảng 1.1 Tiềm năng và hiện trạng đất có khả năng canh tác trên thế giới [1]

Đơn vị tính: triệu ha

năng canh tác

Diện tích đất canh tác

Trên thế giới, đất đai được phân bố không đồng đều ở các châu lục Mặc

dù có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên là thấp Mặt khác, phần lớn dân số thế giới lại tập trung đông ở Châu Á với các quốc gia dân

số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia

Khu vực Đông Nam Á với dân số là 413 triệu người (năm 1995), 530 triệu người (năm 2010) và tổng diện tích tự nhiên là 347 triệu ha, diện tích có khả năng trồng trọt được có 133 triệu ha, bình quân đất trồng trọt trên đầu người thấp Hiện nay, diện tích đang trồng trọt ở Đông Nam Á có 66 triệu ha, diện tích đang trồng trọt là 67 triệu ha, chiếm 50,3% so với diện tích có khả năng trồng trọt được

Bảng 1.2 Tiềm năng đất nông nghiệp của một số nước ở Đông Nam Á [4]

Các nước Dân số (triệu

người)

Tổng diện tích (triệu ha)

Khả năng trồng trọt

Hiện đang trồng

Cân đối (còn lại)

Chiếm

tỷ lệ (%)

Trang 20

1.1.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

Chính sách ruộng đất ở Việt Nam luôn gắn liền với các giai đoạn lịch sử nhất định Trong thời kỳ phong kiến và thuộc địa thì ruộng đất tập trung chủ yếu vào tay địa chủ, thực dân, còn nông dân chỉ được sở hữu một phần nhỏ Trong những năm 1930 của thế kỷ hai mươi, vùng đồng bằng sông Hồng với 6,5 triệu dân nông thôn thì đất công chỉ chiếm 1/5 tổng diện tích đất nông nghiệp với 230.000ha Vào thời kỳ cải cách ruộng đất giai đoạn 1953-1958, ở miền Bắc, ruộng đất chủ yếu tập trung ở các tầng lớp địa chủ, phú nông, thực dân Pháp, nhà thờ Cơ đốc, còn diện tích 810.000 đất công được chia cho các tầng lớp nông dân lao động

Trong những năm 2000, đất sản xuất nông nghiệp của Việt Nam chỉ chiếm 28,38%, gần tương đương với diện tích đất chưa sử dụng [6] Vì vậy, cần

có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng phục vụ cho mục đích khác nhau So với nhiều nước trên thế giới thì Việt Nam có tỷ lệ đất dùng vào mục đích nông nghiệp khá thấp Điều đó trái ngược với thực trạng Việt Nam là một nước có đa phần dân số làm nghề nông Do đó, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún cũng là những thách thức và trở ngại lớn trong việc phát triển ngành nông nghiệp Chính vì vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu đòi hỏi Việt Nam phải có chính sách khai thác đất hợp lý, sử dụng đất hiệu quả trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững [6]

Trang 21

Nông nghiệp Việt Nam đã đạt một số thành tựu nổi bật trong thời kỳ đổi mới, đồng thời, nông nghiệp nước ta đã duy trì được tốc độ tăng trưởng đều và

ổn định, thể hiện được lợi thế so sánh với các nước trong và ngoài khu vực Trong 5 năm từ 2010 – 2015, diện tích đất nông nghiệp không ngừng được mở rộng, trở thành chỗ dựa nền tảng cho ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển, theo đó đất nông nghiệp tăng bình quân mỗi năm đất nông nghiệp tăng thêm 113,036 ngàn ha, từ 26,2264 triệu ha năm 2010 lên 26,71958 triệu ha năm 2015

Bảng 1.3 Biến động sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam thời kỳ 2006

1.2 Cơ sở lý luận về đô thị hóa

1.2.1 Khái niệm về đô thị hóa

Đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội liên quan đến các dịch chuyển về mặt kinh tế - xã hội - văn hóa, không gian, môi trường gắn liền với những tiến

bộ về Khoa học - Kỹ thuật, tạo đà thúc đẩy sự phân công lao động, chuyển đổi nghề nghiệp hình thành các nghề nghiệp mới [15] Đô thị hóa thúc đẩy sự di cư vào các trung tâm đô thị và thúc đẩy phát triển kinh tế, từ đó làm thay đổi đời sống xã hội và văn hóa nâng cao mức sống người dân cũng như làm thay đổi cả

Trang 22

lối sống cũng như hình thức giao tiếp xã hội Nói một cách khác, đô thị hóa là quá trình chuyển đổi liên tục, từ cấu trúc và tính chất lao động xã hội theo hướng

từ nông nghiệp sang hướng công nghiệp hóa, từ công nghiệp sang hướng dịch

vụ và khoa học công nghệ, từ đơn giản đến phức tạp, từ chân tay sang trí óc dựa trên cơ sở của sự thay đổi phát triển về mặt công nghệ

Thuật ngữ “đô thị hóa” ra đời năm 1867 trong một tác phẩm của ông Ildenfonso Cerdà – một kỹ sư cầu đường người Tây Ban Nha, cuốn tác phẩm mang tên “Lý luận chung về đô thị hóa” Theo đó, đô thị hóa được xem là một hiện tượng thay đổi về cả kinh tế, xã hội, môi trường, được biểu hiện bằng sự thay đổi, phát triển của công – nông nghiệp, sản xuất hàng hóa, phân công lao động, chuyển đổi nơi ở và làm việc Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu cũng như các báo cáo hiện nay về vấn đề đô thị hóa đều lấy khía cạnh dễ nhận biết nhất của nhân khẩu học, đó chính là sự tăng trưởng của dân số đô thị trên tổng dân số của một vùng, một quốc gia và một châu lục Việc xem xét vấn đề đô thị hóa thông qua hiện tượng nhập cư vào đô thị làm cho đô thị tăng lên về lượng và mở rộng về không gian để định nghĩa đô thị hóa [15][17] Việc hiểu được định nghĩa

về đô thị sẽ giúp xác định được các tiêu chuẩn của đô thị hóa

Các học giả đã đưa ra định nghĩa đô thị dựa trên ngưỡng tối thiểu về lượng tập trung dân số và mật độ dân số Đây được xem là định nghĩa đô thị từ góc độ nhân khẩu học và địa lý [15]

Ở Việt Nam, đô thị được định nghĩa theo quan điểm của các nhà quản lý, theo đó, đô thị là một khu vực dân cư tập trung có đủ 2 điều kiện [15]:

- Về mặt phân cấp quản lý, đô thị được phân ra thành phố, thị xã, thị trấn – nơi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập;

- Về trình độ phát triển đô thị, thì đô thị phải đạt được những tiêu chuẩn như là: trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, đóng vai trò thúc đẩy kinh tế của cả nước hay của một vùng lãnh thổ với quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4000 người trở lên và đạt được một số tiêu chuẩn về cở sở hạ tầng

Hầu hết các tài liệu ở Việt Nam khi nghiên cứu đô thị hóa thì đều phân tích

đô thị hóa ở khu vực đô thị Trong nghiên cứu của Lê Du Phong, tác giả đã đưa

Trang 23

ra một số chỉ tiêu định lượng và định tính cơ bản đánh giá mức độ đô thị hóa theo chiều sâu và chiều rộng của khu vực đô thị [9][10] Theo đó, quá trình đô thị hóa được chia làm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn đầu là tiền công nghiệp

- Giai đoạn tiếp theo đô thị hóa mở rộng: dưới tác động của cách mạng công nghiệp, đô thị thu hút lớn 1 lượng lao động từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ

- Giai đoạn đô thị hóa hậu công nghiệp: khi văn minh đô thị hóa đi vào chiều sâu

1.2.2 Đặc điểm của đô thị hóa

Đô thị hóa gắn liền với sự thay đổi mạnh mẽ về kinh tế - xã hội trên cơ sở phát triển về công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ, là bước chuyển tiếp của việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất Do đó, đô thị hóa luôn đi cùng với chế độ kinh tế - xã hội

Trên thực tế, sự hiện diện của đô thị hóa còn xuất hiện ở những khu vực không phải là không gian đô thị, mà ở cả khu vực nông thôn và khu vực ven đô do quá trình đô thị hóa không chỉ xảy ra ở những khu vực được coi là đô thị [28] Vùng ven đô là một vành đai chuyển tiếp giữa thành phố và nông thôn, là khu vực giao thoa và tương tác giữa nông thôn và thành thị [28] Đây là nơi có

sự tồn tại xen kẽ các đặc tính đô thị và đặc tính nông thôn Chính do vậy, trong một nghĩa nào đó, khu vực ven đô có thể được coi là vùng nông thôn bởi nó được đặc trưng bởi các khu định cư mật độ thấp, khu vực canh tác nông nghiệp

và các dấu vết của lối sống nông thôn Ở một mặt nào đó, khu vực này là khu vực đô thị bởi đây là không gian diễn ra các hoạt động công nghiệp hóa và phát triển cơ sở hạ tầng, đồng thời khu vực này phải chịu áp lực ngày càng tăng của

đô thị cũ Ở một mặt nào đó, khu vực ven đô được xem là vùng đệm chuyển từ nông thôn sang thành thị

Trang 24

Hình 1.1 Vị trí vùng ven đô trong cấu trúc phát triển của đô thị [28]

Đô thị hóa nói chung và đô thị hóa ở khu vực ven đô lại có những đặc tính

và sắc thái riêng Đô thị hóa ở khu vực ven đô liên quan đến quá trình chuyển đổi của khu vực nông thôn nằm ngoại ô thành phố [29] Quá trình đô thị hóa ở khu vực ven đố nhấn mạnh sự hình thành, lan tỏa và sự phát triển của đặc tính

đô thị thay thế cho những đặc tính nông nghiệp, nông thôn vốn trước khi bị đô thị hóa nổi bật hơn [28] Quá trình đô thị hóa ở các khu vực ven đô đang diễn ra theo các hướng sau:

- Theo hướng xuất hiện tính đô thị ở một không gian nào đó, phát triển thành thị tứ, rồi theo thời gian dần phát triển thành một trung tâm đô thị;

- Theo chiều rộng, nghĩa là theo chiều mở rộng không gian đô thị, làm cho đặt tính đô thị được lan tỏa sang khu vực nông thôn;

- Theo chiều sâu và chiều cao, trong đó đô thị được tập trung lại và phát triển cao tầng, làm cho đặc tính đô thị càng dày đặc hơn trong khi không làm mở rộng không gian đô thị;

- Theo hướng kết hợp giữa cả 3 hướng nêu trên

1.2.3 Các yếu tố của đô thị hóa ảnh hưởng tới biến động sử dụng đất nông nghiệp

Trong hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị được tổ chức bởi Liên Hợp Quốc tại Ixtambul (Thổ Nhĩ Kỳ) đã kết luận “Đô thị hóa là quá trình tất yếu, dù muốn hay không muốn thì tương lai của thế giới vẫn sẽ nằm trong các thành phố”

Trang 25

Các nghiên cứu thay đổi sử dụng đất thường xoay quanh trọng tâm câu hỏi về mối quan hệ giữa việc sử dụng đất và các yếu tổ làm biến động sử dụng đất Việc thay đổi sử dụng đất bị tác động bởi rất nhiều yếu tố có nguồn gốc khác nhau, trong

đó có yếu tố tự nhiên, phạm vi địa lý, thời gian và cường độ Trong đó, các yếu tố

ảnh hưởng tới biến động sử dụng đất có thể được chia thành hai loại:

- Yếu tố tác động của môi trường tự nhiên như khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng

- Yếu tố tác động của con người như dân số, công nghệ, hệ thống chính trị

và kinh tế, tôn giáo và văn hóa, yếu tố dân tộc

Hình 1.2 Hiện trạng sử dụng đất [7]

Như vậy, có thể thấy biến động sử dụng đất là kết quả của hoạt động kinh

tế - xã hội và điều kiện tự nhiên trong quá trình khai thác, sử dụng của con người được thể hiện trong hình 1.2

Trong các yếu tố ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất trong sơ đổ 1.2, tác nhân kinh tế - xã hội được coi là tác nhân chính và chủ yếu Một đặc điểm dễ nhận ra rằng việc chuyển đổi sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị, đất khu công nghiệp là hiện tượng phổ biến và điển hình xảy ra ở hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [7]

Chuyển đổi sử dụng đất được xem là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế Những yếu tố được cho là chủ đạo gây ra biến đổi đất nông nghiệp ở các nước đang phát triển là mật độ dân số cao, tăng trưởng kinh tế nhanh và quá trình đô thị hóa Ở Việt Nam, chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp diễn ra với tốc độ nhanh và mạnh mẽ từ những năm 1990 khi mà nhà nước có những chính sách ưu tiên cho việc tăng trưởng và

Trang 26

phát triển kinh tế Các yếu tố của đô thị hóa tác động lên sử dụng đất nông nghiệp được chia thành hai nhóm: yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh [8]

 Yếu tố ngoại sinh:

(1) Công nghiệp hóa

Phát triển công nghiệp là động cơ quan trọng cho việc tăng trưởng kinh tế (2) Tăng trưởng và sự chuyển đổi kinh tế

Một trong những nguyên nhân quan trọng làm thay đổi sử dụng đất là sự tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi kinh tế Trong nghiên cứu của mình, Xiangzeng Deng và cộng sự đã chứng minh sự tăng thu nhập từ sản xuất và dịch

vụ đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng đô thị ở Trung Quốc Vào những năm 1980-1990, tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc đã thúc đẩy sự phát triển của các vùng nông thôn với những ngôi làng công nghiệp, và đây chính là yếu tố gây ra áp lực đáng kể lên chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp

(3) Dân số

Quá trình đô thị hóa và di cư từ nông thôn ra đô thị cũng là yếu tố chính ảnh hưởng đến biến động sử dụng đất nông nghiệp Trong nghiên cứu về mô hình phân bố mất đất nông nghiệp ở một số thành phố ở Trung Quốc, Han và cộng sự đã xác định được mối quan hệ giữa đô thị hóa và biến động đất nông nghiệp tại các thành phố đó Có nhiều nghiên cứu cho thấy có mối tương quan lớn giữa việc tăng dân số và mất đất nông nghiệp ở các thành phố ven biển, nơi quá quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh [7]

(4) Phát triển cơ sở hạ tầng

Phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một trong những yếu tố tác động đến quá trình biến động đất nông nghiệp Việc xây dựng mạng lưới đường giao thông là một trong những nguyên nhân lớn gây ra việc chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp ở hầu hết các quốc gia, trong đó Trung Quốc cũng từng phải đối mặt với

áp lực như vậy từ hai thập kỷ trước

(5) Chính sách của nhà nước

Trang 27

Đa phần các chính sách phát triển kinh tế có xu hướng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp và gián tiếp thúc đẩy quá trình chuyển đổi đất đai ở nhiều nước đang phát triển như Indonesia, Trung Quốc, Việt Nam và Philippin Hơn nữa, các chính sách phát triển không gian đô thị và công nghiệp làm đẩy mạnh việc chuyển đổi sử dụng đất tại khu vực đó

Các yếu tố nội sinh được xác định là: Hiệu quả kinh tế của đất và sử dụng đất, kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên

Có thể tóm lược lại các tác động của quá trình đô thị hóa tới biến động sử dụng đất:

- Thứ nhất: đô thị hóa là quá trình dẫn tới sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất theo hướng giảm mạnh diện tích đất chưa sử dụng, đất nông nghiệp, đồng thời tăng mạnh về diện tích đất chuyên dụng, và đất đô thị

- Thứ hai: Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới sự hình thành và thay đổi đất đô thị là quá trình đô thị hóa Năm 2000, diện tích đất đô thị của nước ta chỉ có 990.276 ha, tăng lên 1.153.548 ha vào năm 2005 và đã tăng lên 1.629.000 ha năm 2010 Đất đô thị sẽ tiếp tục gia tăng cùng với quá trình đô thị hóa theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Thứ ba: Quá trình đô thị hóa thúc đẩy việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất tăng mạnh, đặc biệt là ở các khu vực ven đô - nơi có sự dịch chuyển

về diện tích đất từ đất nông nghiệp sang đất đô thị, đất xây dựng nhanh

và mạnh

- Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình đô thị hóa khu vực ven đô Hà Nội cũng nảy sinh nhiều vấn đề nan giải, đó là sự ô nhiễm môi trường do chất thải, nước thải, suy giảm diện tích đất nông nghiệp vốn là nơi cung cấp rau xanh, lương thực thực phẩm cho người dân Hà Nội, người nông dân mất đất sản xuất dẫn đến mất việc làm và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế

- Vùng sản xuất nông nghiệp còn lại bị chia cắt manh mún, thiếu nước phục

vụ sản xuất nông nghiệp, thực phẩm bị ô nhiễm, sản lượng và năng suất sụt giảm Sản xuất nông nghiệp vùng ven đô đang đứng trước nhiều thách thức,

Trang 28

trong đó đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất là phụ nữ, người lao động ở độ tuổi trung niên, trẻ em,

1.2.4 Vấn đề quy hoạch đô thị hiện nay

Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị

Trong quá trình quản lý phát triển đô thị, nhiều địa phương đã lấy phương thức phát triển các dự án “khu đô thị mới” làm “chiến lược” trọng tâm, hào phóng cứ đâu có đất trống, ít phải giải phóng mặt bằng là ban phát các dự án cho các chủ đầu tư mà không cần đếm xỉa đến quy hoạch chung, đến lợi ích lâu dài của đô thị, của cộng đồng… Bởi thế, đã hình thành nhiều dự án ảo, còn các dự

án được triển khai thiếu sự đồng bộ thường là đi “chệch” khỏi mục tiêu, nội dung ban đầu của quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết đã xác lập hoặc dự án đã được phê duyệt Sự biến tướng của các dự án đầu tư phát triển khu đô thị mới như tăng mật độ xây dựng, chiều cao công trình, diện tích sàn xây dựng hoặc chuyển chức năng sử dụng đất từ dịch vụ công cộng sang công trình hỗn hợp có chức năng nhà ở… so với quy hoạch ban đầu cũng đã góp phần không nhỏ làm

“chệch hướng” ý tưởng không gian kiến trúc trong tổng thể chung đô thị

1.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng đất đai bền vững trong bối cảnh đô thị hóa

1.3.1 Đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp

Nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không giảm số lượng và chất lượng của loại hàng hoá khác [5] Một trong những vấn đề đáng lưu ý hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới là việc sử dụng đất nông nghiệp sao cho có hiệu quả cao thông qua việc phân bổ cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp[15][16]

Trang 29

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế cho từng địa phương là những điều kiện quan trọng để phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam theo hướng sản xuất hàng hoá mang tính ổn định và bền vững

Nhiều nhà khoa học đã cho rằng việc xác định đúng khái niệm và bản chất của việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất nông nghiệp phải được xem xét trên cả 3 phương diện: kinh tế, xã hội và môi trường [17]

* Hiệu quả kinh tế

Mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả của sản xuất thu được được thể hiện thông qua hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, trong đó thì sản xuất phải đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là khi đánh giá việc sử dụng các nguồn lực nông nghiệp thì cả yếu tố hiện vật và giá trị đều được xét đến Sản xuất đạt hiệu quả về măt kinh tế khi đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bố

* Hiệu quả xã hội

Xác định hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp thông qua khả năng tạo ra việc làm trên diện tích đất sản xuất nông nghiệp [17] Hiệu quả kinh tế và xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, qua lại lẫn nhau và là một thể thống nhất, chúng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả của quá trình sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Các tiêu chí thể hiện hiệu quả xã hội:

- Đảm bảo nguồn an ninh lương thực, tăng lợi ích của nông dân;

- Các chỉ tiêu phát triển kinh tế của vùng phải được đáp ứng;

- Giải quyết công ăn việc làm, thu hút người lao động cho người dân;

- Chuyển giao tiến bộ, khoa học - kỹ thuật, giải quyết vấn đề định canh, định cư…;

- Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là mặt hàng xuất khẩu

Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá tính hiệu quả về mặt xã hội của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là một trong những yêu cầu cần thực hiện và được nhiều nhà khoa học quan tâm

* Hiệu quả môi trường

Trang 30

Hiệu quả về mặt môi trường là kết quả môi trường có được sau khi chịu tác động của hoá học, sinh học, vật lý, môi trường Hiệu quả môi trường được đánh giá khi xét đến các nguyên nhân gây ra nó, bao gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý môi trường và sinh vật môi trường

Các tiêu chí đánh giá tính hiệu quả về mặt môi trường bao gồm:

- Theo quan điểm của sinh thái học: hiệu quả môi trường được đánh giá khi xét đến nguyên nhân gây ra là nhân tạo hay tự nhiên, năng suất sinh học cao đạt được hay thấp, môi trường có dễ bị thay đổ hay khó bị thay đổi

- Các yếu tố tác động đến môi trường bao gồm: nguồn nước thải (trong đó xét đến hàm lượng các chất độc hại có trong nước thải); đất, trầm tích (hàm lượng dinh dưỡng, các chất thải độc hại trong đất theo độ sâu tầng đất); dịch bệnh (có khả năng xảy ra dịch bệnh trong sản xuất nông nghiệp hay không xảy ra);

- Điều kiện tự nhiên khác: thay đổi bề mặt tự nhiên, các điều kiện về mặt hình thái của đất;

- Tác động tới sức khỏe con người: khả năng tạo ra các chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe con người [9]

Như vậy, hiệu quả về mặt môi trường được xét đến là hiệu quả mang tính chất lâu dài, phải vừa đảm bảo lợi ích trước mắt do gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất, vừa phải đảm bảo lợi ích về mặt lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường Hiệu quả môi trường sẽ càng được quan tâm và đánh giá khi hiệu quả kinh tế và xã hội của một loại hình sử dụng đất được đảm bảo

Như vậy, trên quan điểm sử dụng đất bền vững đất sản xuất nông nghiệp thì cần phải phân tích về hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường Trong đánh giá đất đai thì đây được xem là khâu quan trọng, là cơ sở để lựa chọn các loại hình

sử dụng đất bền vững và cũng là cơ sở để đưa ra các giải pháp giải quyết các tranh chấp của nhiều loại hình sử dụng đất trên một vùng đất Các loại hình sử dụng đất có các chỉ tiêu càng cao về kinh tế, xã hội thì hiệu quả kinh tế xã hội càng cao; bên cạnh đó thì hiệu quả về mặt môi trường được xét đến nhằm loại trừ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây suy thoái và tác động xấu đến môi trường và gây hại cho sức khỏe con người

Trang 31

1.3.2 Sử dụng đất đai bền vững trong bối cảnh đô thị hóa

1.3.2.1 Quan điểm về sử dụng đất bền vững

Ngày nay, nhiều vùng đất màu mỡ đã bị suy thoái rõ rệt, kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường, làm giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguồn đất có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng Trước những biểu hiện đó, nhằm đảm bảo cho đời sống của người dân, cần phải có những chiến lược về sử dụng đất hiệu quả để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn có khả năng phục hồi đất Với những mong muốn đó, thì thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” đã được ra đời [27]

Rất nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã tiến hành những nghiên cứu về vấn đề sử dụng đất bền vững trên nhiều khu vực của thế giới, trong đó có Việt Nam Sử dụng đất bền vững là sử dụng tất cả các đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học của đất mà có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng Đất đai là một thuật ngữ dùng chung, bao gồm cả thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật

và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai Trong nghiên cứu sử dụng đất bền vững, tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đã sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định [29]

Khái niệm bền vững được xét đến với ba tiêu chí sau: (1) Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận; (2) Bền vững về mặt môi trường: Sử dụng đất phải đảm bảo độ phì nhiêu của đất, không gây ra thoái hoá đất, bảo vệ được môi trường tự nhiên; (3) Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nguồn lao động, tạo ra việc làm và đảm bảo đời sống xã hội [29] Sử dụng đất bền vững là khái niệm dùng trong hoạt động sản xuất và quản

lý đất đai được xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng ở mỗi vùng đất nhất định của con người Đất đai trong sản xuất nông nghiệp được gọi là sử dụng bền vững nếu duy trì được các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng ổn định, chất lượng tài nguyên đất không bị suy giảm theo thời gian, đồng thời, việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống con người và sinh vật Sử dụng đất bền vững có thể được xem như là sử

Trang 32

dụng đất đai hợp lý, các nhu cầu và mục đích sử dụng phải đảm bảo hài hoà với các lợi ích về kinh tế - xã hội, đồng thời phải bảo vệ môi trường, đảm bảo sự phát triển cho hiện tại và tương lai”

1.3.2.2 Nguyên tắc sử dụng đất bền vững

Simth A J and Dumaski (1993) đã xác định có 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững để có thể duy trì được tính bền vững của đất, đó là: (1) Duy trì hoặc nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất nông nghiệp (2) Giảm mức độ rủi ro trong quá trình sản xuất; (3) Bảo vệ tiềm năng của nguồn tài nguyên đất và ngăn cản sự thoái hoá đất; (4) Khả thi về mặt kinh tế; (5) Được xã hội chấp nhận [30]

Nhiều tổ chức quốc tế như hội khoa học đất quốc tế, Trung tâm Phát triển phân bón quốc tế, Ủy ban về nghiên cứu đất, FAO, WB, tổ chức Rockefeler

đã hợp tác với nhau nhằm xây dựng một khung chung cho việc đánh giá quản lý

sử dụng đất bền vững Để quản lý sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp nói riêng

và nguồn tài nguyên đất bền vững cần xác định: (i) Giải pháp quản lý đất có đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, đem lại lợi ích cho con người hay không; (ii) Giải pháp có sớm đạt được bền vững hay không; (iii) Giải pháp có thể thực hiện được phù hợp với định hướng phát triển của quốc gia hay không [29][30][31][32]

Khung đánh giá sử dụng đất bền vững theo tổ chức FAO được hình thành trên cơ sở năm khái niệm bền vững: (1) tính sản xuất hiệu quả, (2) tính an toàn, (3) tính bảo toàn, (4) tính lâu bền và (5) tính chấp nhận được [26] Định nghĩa:

"Quản lý bền vững đất là sự tổng hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm kết nối chặt chẽ các nguyên lý kinh tế, xã hội với các quan tâm về môi trường, đồng thời duy trì hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng tính an toàn, giảm rủi ro trong sản xuất, bảo vệ tiềm năng và ngăn ngừa thoái hóa đất và được

xã hội chấp nhận" đã được nhóm công tác của FAO đưa ra trong khung đánh giá quản lý bền vững đất dốc tại hội nghị ở Nairobi [29]

1.3.2.3 Quan điểm và nguyên tắc phát triển nông nghiệp bền vững

Trang 33

Theo FAO (1990) đã đưa ra qan điểm về nông nghiệp bền vững bao gồm

“Việc quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên cho nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống con người, đồng thời gìn giữ, cải thiện môi trường và bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên” [29]

Theo Bill (1994) lại cho rằng nông nghiệp bền vững là một chỉnh thể hợp nhất để lựa chọn môi trường bền vững cho con người, liên quan đến cây trồng, vật nuôi, các công trình xây dựng và cơ sở hạ tầng (nước, năng lượng, đường xá,…) Tuy nhiên, các yếu tố này không hẳn là tạo ra nông nghiệp bền vững mà chính là mối quan hệ giữa các yếu tố do con người tạo ra, sắp đặt và phân bổ trên Trái Đất [28]

Trong phát triển nông nghiệp bền vững, vấn đề chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ đất, nước và đề xuất một số hệ thống canh tác bền vững trong những năm cuối của thế kỷ 20 Mục đích của việc này là tạo ra một hệ thống sinh thái bền vững, có tiềm lực về mặt kinh tế, đồng thời có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người mà không gây ra thoái hóa đất, không gây ra ô nhiễm môi trường [33][34]

Mollison và Remy Mia Slay (1999) lại có những quan điểm khác về phát triển nông nghiệp bền vững, đó là: (1) Nông nghiệp bền vững là phải phát triển hài hòa với thiên nhiên, tuân theo các quy luật tự nhiên, không đi ngược các quy luật của tự nhiên vốn có; (2) Ngoài việc bảo vệ những hệ sinh thái hiện có, nông nghiệp bền vững còn tìm cách khôi phục những hệ sinh thái đất suy thoái; (3) Mục đích của phát triển nông nghiệp bền vững là tạo ra một hệ sinh thái bền vững có tiềm năng về mặt kinh tế, thỏa mãn nhu cầu đời sống con người và không làm suy kiệt nguồn tài nguyên, không hủy hoại môi trường sống; (4) Nguyên tắc xây dựng nông nghiệp bền vững: Áp dụng các ứng dụng khoa học

kỹ thuật khác nhau tùy vào điều kiện khí hậu từng vùng/miền, phù hợp với điều kiện kinh tế của mỗi địa phương để tạo ra những hệ sinh thái nông nghiệp phù hợp [28]

Mollison và Remy Mia Slay, (1999) cho rằng cần phải tính toán cẩn thận việc áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại hay việc sử dụng các hóa

Trang 34

chất làm phân bón[28] Trong nông nghiệp bền vững, việc sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc trưng của cảnh quan và cơ cấu đất nông nghiệp để sử dụng một cách thống nhất và hiệu quả Nông nghiệp bền vững là hệ thống về nông nghiệp mà nhờ đó người nông dân có thể tồn tại

và phát triển, họ có thể sử dụng nguồn tài nguyên đất để tạo ra lương thực, đồng thời không liên tục hủy diệt sự sống trên Trái Đất

1.4 Nhận xét chung

Chương 1 của luận văn đã đưa ra tổng quan về một số vấn đề liên quan tới đất nông nghiệp, đô thị hóa, sử dụng đất nông nghiệp bền vững và các tác động của đô thị hóa đến sử dụng đất Với đối tượng của luận văn là tính bền vững của việc sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh đô thị hóa, chương 1 là định hướng cho luận văn khung lý thuyết nghiên cứu

Trang 35

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống liên ngành Sử dụng với đối tượng nghiên cứu là đất nông nghiệp, có sự phối hợp giữa đối tượng quản lý,

sử dụng đất, nhà kinh doanh

2.1.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

Thu thập các tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết cho nghiên cứu như: các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường của huyện, sau đó tiến hành khảo sát thực địa tại địa phương

- Thu thập số liệu sơ cấp: Bằng phương pháp điều tra chọn mẫu phiếu điều tra tại 1 số xã, thị trấn trên địa bàn huyện có tập trung nhiều đất sản xuất nông nghiệp

2.1.2 Phương pháp phỏng vấn sâu sử dụng công cụ bảng hỏi

Luận văn sử dụng bộ công cụ bảng hỏi và phỏng vấn sâu với các câu hỏi tập trung vào thay đổi diện tích đất nông nghiệp ở các xã vùng ven bãi sông và vùng nội đồng

a Thiết kế bảng hỏi

Bảng hỏi được sử dụng cho điều tra gồm bốn phần Phần một là hệ thống các câu hỏi về hộ, nhân khẩu, lao động và các nguồn thu nhập chính của các hộ dân cư Phần thứ hai là hệ thống các câu hỏi về sản lượng, quy mô sản xuất của các hộ nông nghiệp Phần ba của bảng hỏi đề cập đến vấn đề nhà ở cũng như môi trường sinh hoạt của các hộ nông nghiệp Phần cuối của bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi liên quan đến phương tiện sản xuất mà người dân địa phương thường sử dụng Với nội dung trên đó, học viên tiến hành điều tra về mức sống, sự thay đổi

về sản lượng trồng trọt và chăn nuôi, cũng như cơ cấu các ngành nghề nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu Bên cạnh đó, hệ thống các câu hỏi trên học viên

sử dụng kết hợp với phỏng vấn sâu các nông hộ để tiến hành thu thập thông tin về sinh kế cũng như việc sử dụng các nguồn vốn sinh kế ở địa phương

Trang 36

b Cơ sở xác định mẫu và kích thước mẫu điều tra hộ

Mẫu điều tra được học viên thực hiện các xã Yên Sở và thị trấn Trạm Trôi Đây là các hộ tiêu biểu của ngành nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoài Đức, và là đặc trưng của khu vực ven bãi và khu vực nội đồng, đồng thời

là hai khu vực có sự ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa khác biệt

Cách chọn kích thước mẫu điều tra là 30 phiếu điều tra, được chia thành 02 mẫu: Điều tra phỏng vấn 20 hộ dân về tình hình sản xuất, đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất trên các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại 2 xã (10 phiếu/xã) đại diện cho 2 vùng sinh thái khác nhau của huyện (vùng trong đê và vùng ngoài đê) Bên cạnh đó, 10 phiếu phỏng vấn các cán bộ xã, huyện trên địa bàn

- Với số lượng phiếu chia đều cho hai lĩnh vực;

- Các chủ hộ được điều tra phải có độ tuổi từ 22 tuổi trở nên;

- Các chủ hộ phải đảm bảo các tiêu chí về giới tính, đảm bảo tỉ lệ về nam, nữ, già, trẻ và có các bộ xã để đảm bảo tính khách quan cho kết quả điều tra;

- Các chủ hộ phải có kinh nghiệm làm nghề từ ba năm trở lên

c Thời gian tiến hành điều tra khảo sát

Trên cơ sở liên hệ với địa phương, tác giả thực hiện việc phỏng vấn điều tra thực địa đối với các hộ dân cư trong khoảng thời gian từ ngày 28/07/2019 đến 30/07/2019 dưới sự hỗ trợ của cán bộ phòng tài nguyên huyện Hoài Đức

2.1.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất theo FAO

2.1.3.1 Hiệu quả kinh tế

Các chỉ tiêu dùng trong đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế bao gồm:

- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ các giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một chu kỳ sản xuất trên một đơn vị diện tích ở một kỳ nhất định (thường là 1 năm)

GTSX = Sản lượng sản phẩm x Giá bán sản phẩm

- Chi phí trung gian (CPTG): Là tổng các chi phí vật chất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, khấu hao tài sản cố định, lãi vay…và các chi phí thuê lao động phục vụ cho quá trình sản xuất

- Thu nhập hỗn hợp (TNHH): Giá trị sản xuất trừ đi chi phí trung gian (không tính công lao động gia đình)

Trang 37

Bảng 2.1 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng

đất [9]

Cấp

đánh giá

Thang điểm

TNHH/ha (triệu đồng)

HQĐV/ha (lần)

GTNC (nghìn đồng/công)

Nếu số điểm của một LUT 7 - 9 điểm: Hiệu quả kinh tế cao

Nếu số điểm của một LUT 5 – <7 điểm: Hiệu quả kinh tế trung bình Nếu số điểm của một LUT nhỏ hơn 5 điểm: Hiệu quả kinh tế thấp

2.1.3.2 Hiệu quả về mặt xã hội

Các chỉ tiêu được dùng để đánh giá hiệu quả về mặt xã hội là:

- Tính chấp nhận và khả năng của người dân

- Khả năng thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm và đảm bảo thu nhập thường xuyên, ổn định cho nông dân

- Khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội được phân thành 3 cấp dựa kết quả điều tra nông hộ (Bảng 2.2)

Trang 38

Bảng 2.2 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt xã hội [9]

Mức

đánh giá

Thang điểm

Khả năng tiêu thụ sản phẩm (%)

Khả năng thu hút lao động (công)

Mức độ chấp nhận của người

dân (%)

Nếu số điểm của một LUT 7 - 9 điểm: Hiệu quả xã hội cao

Nếu số điểm của một LUT 5 – <7 điểm: Hiệu quả xã hội trung bình

Nếu số điểm của một LUT nhỏ hơn 5 điểm: Hiệu quả xã hội thấp

2.1.3.3 Hiệu quả về mặt môi trường

- Đánh giá khả năng bảo vệ và cải tạo đất trong quá trình sản xuất nông nghiệp thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng

- Mức độ người dân sử dụng phân bón

- Mức độ người sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu môi trường được phân thành 3 cấp dựa kết quả điều tra nông hộ (Bảng 2.3)

Bảng 2.3 Việc phân cấp chỉ tiêu đánh giá hiệu quả về mặt môi trường [9]

Mức đánh

giá

Thang điểm

Khả năng thích hợp, bảo vệ và cải tạo đất %

Mức độ sử dụng phân bón/ha

Mức độ sử dụng thuốc BVTV/ha

Cao 3 > 60% Nằm trong định mức Nằm trong định

mức Trung

Dưới định mức Dưới định mức

mức Tổng hợp hiệu quả môi trường của LUT: Tổng có 3 chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả môi trường của các LUT Số điểm tối đa của một tiêu chí là 3 điểm

Trang 39

LUT có số điểm tối đa là 9 điểm;

Nếu số điểm của một LUT 7 - 9 điểm: Hiệu quả môi trường cao;

Nếu số điểm của một LUT 5 – <7 điểm: Hiệu quả môi trường trung bình; Nếu số điểm của một LUT nhỏ hơn 5 điểm: Hiệu quả môi trường thấp

2.1.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu, tài liệu

- Xử lý số liệu trên các bảng tính Excel;

- Trình bày kết quả bằng các bảng số liêu, biểu đồ và ảnh chụp thực tế minh họa quá trình thực hiện nghiên cứu

2.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Hoài Đức

2.2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Hoài Đức

Trang 40

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Hoài Đức

Xét về mặt kinh tế, huyện Hoài Đức có vị trí địa lý rất thuận lợi do nơi đây gần các trung tâm kinh tế và thị trường tiêu thụ lớn nội thành Hà Nội Việc thay đổi diện mạo mới và phát triển huyện Hoài Đức bắt đầu diễn ra mạnh mẽ khi trục Đại lộ Thăng Long đi qua Trên địa bàn huyện Hoài Đức có các tuyến giao thông lớn đi qua như Quốc lộ 32, Tỉnh lộ 423, 422, 70 là một trong những điều kiện thuận lợi về mặt giao thông vận tải cho huyện Có thể đánh giá vị trí địa lý kinh tế của huyện Hoài Đức là yếu tố quân trọng tạo nên sự phát triển chung của Thành phố Hà Nội

Trong những năm tới, sự phát triển mạnh mẽ của thành phố Hà Nội nói chung và huyện Hoài Đức nói riêng, cùng với hệ thống giao thông thuận tiện sẽ làm cho nền kinh tế của huyện có những bước phát triển vượt bậc

b) Địa hình, địa mạo

Huyện Hoài Đức nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng và sông Đáy, địa hình nghiêng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, có địa hình nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng, gồm 3 vùng đồi núi, đồng bằng, vùng bãi Trong khu vực huyện Hoài Đức có một số núi sót như núi Voi, vua Bà, núi Thầy, Hoàng Xá (núi đá vôi) Ngoài ra, sông Tích và sông Đáy chảy qua khu vực địa giới hành chính của huyện Huyện có khu vực là đồng bằng

Ngày đăng: 25/05/2020, 15:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w