Dựa trên cơ sở tiếp thu thành công của những người đi trước, chúng tôi mong muốn được góp một phần bé nhỏ của mình để làm phong phú, hoàn thiện hơn việc nghiên cứu và tìm hiểu về sự tươn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cuộc sống, con người luôn có nhu cầu trao đổi thông tin, bày tỏ cảm xúc của mình, để thực hiện được những điều đó đòi hỏi con người phải hội thoại với nhau Hội thoại là một hình thức giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong mọi hoạt động của con người Muốn cho cuộc hội thoại thành công thì mỗi nhân vật giao tiếp phải biết sử dụng các yếu tố ngôn ngữ vào lời thoại của mình một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Ngôn ngữ hội thoại thể hiện rõ đặc điểm tính cách nhân vật hội thoại, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa, trình độ, tâm lí của mỗi nhân vật
Tuy nhiên trong giao tiếp hàng ngày, người ta nói ra không chỉ đơn thuần để nói, để thông báo, thể hiện tình cảm mà còn để hỏi, để biểu thị những điều chưa biết, cái không rõ và cần được giải đáp làm sáng tỏ vấn đề Ngoài ra, thông qua hành vi hỏi – đáp còn nhằm chuyển tải một thông tin ngầm, ẩn chứa đằng sau câu chữ cụ thể
Ngô Tất Tố được xem là cây bút xuất sắc của dòng văn học hiện thực trước Cách mạng, đồng thời cũng là một trong những tác giả có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại, được đánh giá là hiện tượng độc đáo của văn chương hiện thực Ngô Tất Tố đã vận dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày vào trong tác
phẩm của mình một cách linh hoạt, uyển chuyển, tinh tế, tiêu biểu là trong Tắt đèn và
Lều chõng Trong hai tiểu thuyết này, nhà văn chủ yếu để cho nhân vật tự hội thoại
với nhau Cho nên, đi sâu tìm hiểu tác phẩm của nhà văn Ngô Tất Tố chúng ta không thể không tìm hiểu lời ăn tiếng nói của các nhân vật Họ đã nói cái gì? Họ nói với nhau như thế nào? Họ nói với nhau để làm gì? Từ những lí do trên chúng tôi lựa chọn
đề tài: “Sự tương tác về hành vi hỏi - đáp qua lời thoại trong Tắt đèn và Lều chõng
của Ngô Tất Tố” làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 3Lựa chọn đề tài này sẽ giúp chúng tôi có cái nhìn sâu sắc về đặc điểm tính cách nhân vật, hiện thực cuộc sống được tái hiện trong tác phẩm và phong cách sáng tác của nhà văn Đồng thời, chúng tôi có dịp được tìm hiểu sâu hơn về con người và
sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố, góp phần khẳng định tài năng của nhà văn Để
từ đó tích luỹ kiến thức nhằm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy của bản thân sau này
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
* Nghiên cứu vấn đề ở phương diện Văn học:
Văn nghiệp lớn, đa dạng của Ngô Tất Tố đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học và đông đảo công chúng Mấy thập kỷ qua,
kể từ bài viết đầu tiên của Vũ Trọng Phụng về tiểu thuyết Tắt đèn (năm 1939) đến
nay, đã có cả trăm bài viết, công trình đi sâu khám phá các phương diện khác nhau trong thế giới nghệ thuật đa dạng, độc đáo của nhà văn So với nhiều cây bút cùng thời (ngay cả các nhà văn cùng trào lưu văn học hiện thực trước cách mạng) những ý kiến đánh giá về Ngô Tất Tố và văn nghiệp của ông khá ổn định, thống nhất, trong xu hướng khẳng định những thành tựu, phần đóng góp lớn cả vị trí trang trọng của ông –
một nhà văn “thực học – thực tài”, một nhân cách trong sáng cao đẹp trong nền văn
học dân tộc
Như chúng tôi đã nói ở trên, văn nghiệp của Ngô Tất Tố đã tốn rất nhiều giấy mực của giới nghiên cứu, phê bình văn học
Trước hết, chúng ta phải kể đến cuốn Ngô Tất Tố về tác gia và tác phẩm
(2001), Nxb Giáo dục Đây là cuốn sách tập hợp tương đối đầy đủ hệ thống những bài nghiên cứu, phê bình cũng như hồi ức, kỷ niệm của bạn bè, đồng nghiệp, người thân
về sự nghiệp văn chương và cuộc đời của tác giả Các bài viết từ nhiều góc độ khác nhau và cách tiếp cận khác nhau đã đi sâu vào phân tích, đánh giá những nét tiêu biểu nhất trong thế giới nghệ thuật và vị trí của nhà văn trong nền văn học dân tộc, với những bài viết tiêu biểu như:
- Nguyễn Đăng Mạnh với bài: Tắt đèn của Ngô Tất Tố
- Tắt đèn - cuốn tiểu thuyết hiện thực xuất sắc của Hoàng Chương
- Vũ Ngọc Phan có bài: Lều chõng của Ngô Tất Tố
Trang 4Bên cạnh đó, trong cuốn Tác giả trong nhà trường Ngô Tất Tố (2006), Nxb
Văn học đã tập hợp các bài viết tiêu biểu về tác giả Ngô Tất Tố cũng như sự nghiệp
sáng tác của ông Phan Cự Đệ đã có bài viết Ngô Tất Tố và một sự nghiệp đổi mới
hôm nay Tác giả cho rằng: “Ngô Tất Tố đã nhiều lần kêu gọi trở về cội nguồn dân tộc, trở về bản sắc văn hóa Việt Nam” [27, tr.50] Tác giả còn cho rằng: “Đối với cuộc sống, Ngô Tất Tố luôn có một cái nhìn hiện thực tỉnh táo, một thái độ dũng cảm, dám phanh phui mọi mâu thuẫn phức tạp, dám vạch trần mọi mặt nạ giả dối, nhưng đồng thời cũng luôn bộc lộ một niềm tin yêu nhân hậu và thiết tha vào bản chất tốt đẹp của con người Nhất là với người lao động nghèo khổ” [27, tr.51] Tác giả Vũ
Ngọc Phan trong bài: “Lều chõng” của Ngô Tất Tố cũng đã có nhận xét về nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết: “Xây dựng tiểu thuyết Lều chõng, chủ ý của tác giả là làm cho
người đọc thấy được những nét chính của cái học và lối thi cử phong kiến với tất cả những sự thối nát của nó” [27, tr.149] Tác giả còn cho rằng: “Nghệ thuật phản ánh hiện thực cũng có những chỗ tinh vi, đánh dấu hẳn một giai đoạn lịch sử vào giữa thế
kỷ XIX, người trí thức Việt Nam còn bị bả công danh cám dỗ…” [27, tr.152]
Phan Cự Đệ còn có bài viết Những khuynh hướng tiểu thuyết hiện đại trước
Cách mạng tháng Tám Khi nói về ngôn ngữ trong sáng tác của Ngô Tất Tố tác giả
khẳng định: “Ngôn ngữ trong tác phẩm của Ngô Tất Tố là ngôn ngữ hàng n gày, của
quần chúng nhân dân đã được nghệ thuật hóa”
Trong cuốn Nhà văn hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo (2003), Nxb Văn học Tác giả Trần Đăng Suyền có bài Nghệ thuật tự sự của Ngô Tất Tố trong tiểu
thuyết Tắt đèn Trần Đăng Suyền nhận định với nghệ thuật kể chuyện sắc sảo trong Tắt đèn: “Chứa đựng thời gian rất ngắn và không gian rất hạn hẹp Một sự dồn nén cao độ về không gian và thời gian, các biến cố sự kiện dồn nén hết sức căng thẳng”
[25, tr.248]
Như vậy, những công trình nghiên cứu về các sáng tác của Ngô Tất Tố khá phong phú và đa dạng Tuy nhiên, những công trình đó chủ yếu nghiên cứu ở khía cạnh nội dung của tác phẩm chứ chưa đi sâu vào khám phá thế giới nghệ thuật đặc sắc, đặc biệt là ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật
Gần đây còn có một số khóa luận tốt nghiệp bàn về những khía cạnh khác
nhau của tiểu thuyết Ngô Tất Tố như: Câu đặc biệt trong tiểu thuyết Tắt đèn của Ngô
Trang 5Tất Tố của Nguyễn Thị Kim Cúc Nguyễn Thị Hằng với Bi kịch kẻ sĩ phong kiến trong tiểu thuyết Lều chõng của Ngô Tất Tố Hay khóa luận của Lê Thị Liễu về vấn
đề Lều chõng – Tiểu thuyết phụng sự xuất sắc của Ngô Tất Tố
* Nghiên cứu vấn đề ở phương diện Ngữ dụng học:
Trên thế giới đã từ lâu, ngữ dụng học phát triển một cách mạnh mẽ và ngày càng có vị trí đặc biệt trong ngôn ngữ học Số lượng các chuyên khảo cũng như các công trình đề cập tới những phương diện khác nhau của ngành này ngày một tăng Có thể nói rằng ngày nay, không một công trình nghiên cứu ngôn ngữ học nào lại không
Lý thuyết hội thoại là một trong những vấn đề trung tâm của ngữ dụng học Ở bình diện này, trước hết phải kể đến tác giả Đỗ Hữu Châu Ông có các công trình tiêu
biểu về ngữ dụng học như: Cơ sở ngữ dụng học (2003), Đại cương ngôn ngữ học (2006), Giáo trình ngữ dụng học (2007) Các vấn đề về lý thuyết hội thoại, vận động
hội thoại, quy tắc hội thoại, thương lượng hội thoại, cấu trúc hội thoại được tác giả
Đỗ Hữu Châu trình bày một cách có hệ thống, đầy đủ, giúp cho người đọc có những cách tiếp cận mới đối với một lĩnh vực vừa mới vừa khó
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như Ngữ pháp
chức năng tiếng Việt (2000) và Tiếng Việt sơ khảo ngữ pháp chức năng (2006) của
GS Cao Xuân Hạo, Ngữ dụng học của GS.TS Nguyễn Đức Dân Dụng học Việt ngữ (2007), Giáo trình Ngữ dụng học (2008), 777 khái niệm ngôn ngữ học (2010) của
Nguyễn Thiện Giáp Tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng đã cho ra đời 2 công trình nghiên
cứu có giá trị Ngữ nghĩa lời hội thoại (1999) và Giáo trình ngữ dụng học (2005)
Ngoài các công trình nghiên cứu tiêu biểu trên, khi bàn về hội thoại và các hành vi ngôn ngữ còn có nhiều bài viết liên quan của các tác giả Nguyễn Thị Thìn, Mai Ngọc Chừ, Diệp Quang Ban,… nhằm cung cấp các khái niệm về hội thoại, cặp thoại, ngữ cảnh giao tiếp, hành vi ngôn ngữ
Trang 6Lê Anh Xuân với bài viết Tại lời dưới dạng câu nghi vấn để thể hiện hành vi
khẳng định một cách gián tiếp Trong bài viết này tác giả đã trình bày một cách cụ thể
và ngắn gọn những cách thể hiện gián tiếp dưới dạng câu nghi vấn Cũng trong nội
dung này Nguyễn Thị Thìn có bài viết Tác dụng báo hiệu hành vi ngôn ngữ gián tiếp
của một số kiểu cấu trúc nghi vấn Hay bài viết Chức năng thực hiện các hành vi ngôn ngữ tại lời gián tiếp của câu hỏi tu từ của Lê Thị Thu Hoài Lê Anh Xuân còn
có bài viết Các dạng trả lời gián tiếp cho câu hỏi chính danh , trong bài viết này tác
giả đã trình bày một cách cụ thể các dạng trả lời gián tiếp bằng dạng câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến và dạng câu đặc biệt Như vậy, tất cả các bài viết này chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu hành vi ngôn ngữ gián tiếp và họ chỉ lấy các ví dụ để minh họa cho công trình nghiên cứu của mình chứ chưa đi sâu và nghiên cứu một tác phẩm văn học cụ thể nào
Việc phân tích các hành vi ngôn ngữ tại lời trong các tác phẩm văn học còn khá
ít Nguyễn Thị Én có bài Hành vi cầu khiến qua lời thoại nhân vật nữ trong truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp Trong bài viết của mình, tác giả chỉ dừng lại ở việc nghiên
cứu hành vi cầu khiến của nhân vật nữ ở cả hành vi gián tiếp và trực tiếp
Ngoài ra còn có nhiều luận văn, khóa luận tốt nghiệp đã đi vào giải quyết các vấn đề riêng lẻ trong hành vi ngôn ngữ và lý thuyết hội thoại như: Hoàng Thị Nguyệt
với Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại qua truyện ngắn Nam Cao Trần Thị Minh Toan với Hành vi ngôn ngữ gián tiếp trong hội thoại qua truyện ngắn Nguyễn
Công Hoan Hay Đặc trưng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nam Cao của Vũ
Thị Hạnh Phan Khắc Luận với Đặc trưng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, Đặc trưng ngôn ngữ hội thoại trong tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán của Dương Thị Thanh Huyền, Võ Thị Hạnh với Tìm hiểu hành vi khen ngợi trong văn học hiện thực phê phán, Hoàng Thu Huyền với Tìm hiểu cách thể hiện hành vi chửi mắng trong văn học hiện thực phê phán, Tìm hiểu cách thể hiện hành vi chê trách trong văn học hiện thực phê phán của Phạm Khắc Kiên,…
Như vậy, hành vi tại lời là một vấn đề lí thú và được nhiều người quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên các bài viết trên chỉ đề cập đến một khía cạnh của hành vi ngôn ngữ trong văn học hiện thực phê phán nói chung hay là những vấn đề về hành vi
tại lời gián tiếp trong tác phẩm văn học Còn với đề tài: “Sự tương tác về hành vi hỏi
Trang 7– đáp qua lời thoại trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố” khách quan mà nói
thì chưa có một công trình nghiên cứu nào khai thác một cách trọn vẹn, cụ thể và sâu sắc Dựa trên cơ sở tiếp thu thành công của những người đi trước, chúng tôi mong muốn được góp một phần bé nhỏ của mình để làm phong phú, hoàn thiện hơn việc nghiên cứu và tìm hiểu về sự tương tác hành vi hỏi – đáp trong tác phẩm văn học của nhà văn Ngô Tất Tố
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: Sự tương tác về hành vi hỏi - đáp
qua lời thoại trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài này: chúng tôi đi vào khảo sát hai tiểu thuyết
của Ngô Tất Tố là Tắt đèn và Lều chõng, Nxb Văn học (1977)
Tư liệu mà chúng tôi khảo sát là các lời thoại của các nhân vật giao tiếp theo từng cặp thoại (hỏi - đáp) với sự tương tác của chúng
4 Phương pháp nghiên cứu
Đi vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
* Phương pháp khảo sát
* Phương pháp thống kê, phân loại
* Phương pháp so sánh, đối chiếu
* Phương pháp phân tích – tổng hợp
5 Bố cục của khóa luận
Đề tài mà chúng tôi nghiên cứu ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Phần nội dung được chia làm ba chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương II: Các kiểu tương tác về hành vi hỏi - đáp qua lời thoại trong Tắt
đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
Chương III: Vai trò, tác dụng của sự tương tác về hành vi hỏi – đáp qua lời
thoại trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
Trang 8PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Hội thoại và những vấn đề liên quan đến đề tài
1.1.1 Định nghĩa hội thoại
Hội thoại là một khái niệm đã được các nhà ngôn ngữ học ở nước ngoài nghiên cứu rất sớm Khi bàn về hội thoại các nhà nghiên cứu ngôn ngữ hàng đầu ở Việt Nam như Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Hồ Lê cũng đã đưa ra quan niệm của mình
GS.TS Đỗ Hữu Châu không đưa ra định nghĩa về hội thoại nhưng ông đã
khẳng định: “Hội thoại là hình thức giao tiếp căn bản thường xuyên, phổ biến của
ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đ ều được giải thích dựa vào hình thức căn bản này” [4, tr.88]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói
chuyện với nhau” [20, tr.572]
Nguyễn Đức Dân lại cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia
nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò của hai bên thay đổi: Bên nghe lại tr ở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người là hội thọai” [5, tr.76]
Đỗ Thị Kim Liên lại đưa ra một quan niệm về hội thoại như sau: “Hội thoại là
một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [18, tr.18] Trong
bài này, chúng tôi đi theo quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu và Đỗ Thị Kim Liên
1.1.2 Phân biệt lời thoại và lời dẫn thoại trong tác phẩm văn học
Trang 9- Lời dẫn thoại là lời tường thuật của tác giả trong tác phẩm văn học Nó không chứa đựng lời nói của nhân vật Lời dẫn thoại có chức năng cơ bản là dẫn dắt, báo trước sự xuất hiện, sự tồn tại của những lời nói nhân vật khiến lời thoại xuất hiện không đột ngột mà luôn gắn với một chủ thể tình huống, ngữ cảnh nhất định
Vì vậy, dạng lời nói này không chỉ đóng vai trò chuyển tiếp, nối liền các sự kiện mà còn cung cấp thông tin về hành động, nói năng của nhân vật giúp người đọc hiểu rõ nội dung phát ngôn
- Lời thoại có hai loại:
+ Lời đối thoại: là những lời đối đáp trong cuộc giao tiếp song phương, đa phương thường là những phát ngôn đáp lại phát ngôn đi trước Thường kèm theo những cử chỉ, động tác biểu cảm của hai người trở lên
+ Lời độc thoại: là lời đối thoại không đòi hỏi đáp lại, độc lập với người tiếp nhận, được thể hiện rõ trong hình thức nói và viết
1.1.3 Vận động hội thoại
1.1.3.1 Vận động trao lời
Trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết rằng lượt lời được nói ra dành cho Sp2
Ví dụ: Chị Dậu hỏi anh Dậu:
- Thế nào? Thầy em có mệt lắm không? Sao chậm về thế? Trán đã nóng lên đây mà!
(Tắt đèn, trang 22)
Trong lời trao, sự có mặt của Sp1 là điều tất yếu Sự có mặt đó thể hiện ở từ xưng hô ngôi thứ nhất, tình cảm, thái độ hiểu biết, quan điểm của Sp1 trong nội dung của lời trao Người nói Sp1 có thể dùng điệu bộ, cử chỉ làm dấu hiệu bổ sung cho lời nói Trong lời của Sp1 có thể có mặt của Sp2 thể hiện ở lời hô gọi, chỉ định, từ nhân xưng ngôi thứ hai, ở những yếu tố hàm ẩn Trong hội thoại người trao lời không phải
tự do, thích nói gì thì nói, nói theo cách nào thì nói mà còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết, khả năng tiếp nhận của Sp2
1.1.3.2 Vận động đáp lời (trao – đáp)
Trang 10Cuộc thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời đáp lại lượt lời của Sp1 Vận động đáp lời hay còn gọi là vận động trao – đáp là cái lõi của hội thoại sẽ diễn ra liên tục, lúc nhịp nhàng, lúc khúc mắc, lúc nhanh, lúc chậm với sự thay đổi liên tục vai nói, vai nghe
Câu trao thường có dạng: Câu hỏi, câu cầu khiến, câu cảm thán, câu tuyên
bố, câu đe dọa,…Vì vậy, nội dung câu đáp cũng luôn chịu sự chi phối bởi nội dung ngữ nghĩa lời trao Nội dung lời đáp phải hướng vào những trọng điểm nội dung mà lời trao đưa ra để tạo nên sự liên kết về nội dung Chúng làm thành cặp tương tác cũng như có sự gắn kết về nội dung trong suốt cuộc thoại Đây là một nhân tố cần thiết trong cuộc hội thoại trao - đáp
Ví dụ: Câu trao là câu hỏi và câu đáp là câu trả lời vào trọng điểm hỏi
- Cậu không coi bảng chữ húy người ta yết ở cửa trường từ kỳ đệ nhất hay sao?
- Có! Tôi có coi! Nhưng tôi không thấy nói đến chữ “đặng”
(Lều chõng, trang 480)
1.1.3.3 Vận động tương tác
a Khái niệm: Tương tác là tác động vào nhau, làm cho nhau biến đổi trong quá trình hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp
Để có sự tương tác trong hội thoại thì người hội thoại phải có sự hòa phối
Sự hòa phối trước hết là sự hòa phối các lượt lời Trong quá trình hòa phối mỗi nhân vật trực tiếp thực hiện sự hòa phối, tức là tự mình điều chỉnh hành động, lượt lời của mình theo từng bước của cuộc đối thoại sao cho khớp với biến đổi của đối tác và tình huống cuộc thoại đang diễn ra Sự hòa phối có thể thực hiện nối tiếp hoặc ngắt quãng tùy thuộc vào tình huống mà có sự biến đổi phù hợp
Tương tác bằng lời chỉ là một trong những dạng tương tác giữa người với người
Tóm lại ba vận động trên là ba vận động đặc trưng của hội thoại Trong đó vận động tương tác là cốt lõi của vận động hội thoại
b Các phương diện tương tác:
* Tương tác về nhân vật giao tiếp:
Trang 11Trước khi giao tiếp, người nói và người nghe chưa có sự hiểu nhau, giữa họ có một khoảng cách nhất định về mối quan hệ thân sơ Từ đó họ có thể chọn từ xưng hô phù hợp với vai giao tiếp Dần dần, trong và sau cuộc thoại, hai nhân vật hiểu nhau hơn, trở nên thân mật hơn hoặc trở nên thù địch nhau Từ đó, họ dùng từ xưng hô thay đổi tương ứng với nội dung cuộc thoại thay đổi, diễn biến và nhận thức, hành động của họ cũng thay đổi
* Tương tác về hành vi ngôn ngữ:
Trong một đoạn hội thoại các hành vi ngôn ngữ có sự liên kết với nhau thành từng cặp tương ứng: hỏi – trả lời, ra lệnh – chấp thuận, khuyên – cảm ơn, thông báo – cảm ơn, đề nghị - từ chối, đề nghị - đáp ứng,… Sự liên kết này làm cho các hành vi ngôn ngữ tương tác với nhau để tạo thành một cuộc thoại hoàn chỉnh và cuộc hội thoại diễn ra trôi chảy, đạt được đích giao tiếp
* Tương tác về nội dung đề tài:
Hội thoại có thể ở hai cực: điều hòa nhịp nhàng hoặc hỗn độn vướng mắc Nếu
cả hai nhân vật đều có sự thống nhất trong hành vi ngôn ngữ, hành vi hỏi nêu lên nội dung gì thì hành vi đáp lời phải trả lời đúng nội dung của điểm hỏi, cuộc thoại diễn ra theo chiều thuận, nhịp nhàng, trôi chảy Nhưng nếu hai nhân vật giao tiếp có sự bất đồng về nhận thức, dẫn đến bất đồng về hành động ngôn ngữ thì cuộc thoại thường tiến triển theo chiều xấu, không nhịp nhàng mà căng thẳng, xô xát Cũng có khi hai nhân vật lúc đầu chưa hiểu nhau, giận nhau nhưng thông qua hội thoại mà họ có sự tương tác, hai nhân vật trở nên hiểu nhau và đi đến thân nhau chứ không như trước
đó
1.1.4 Khái niệm ngữ cảnh giao tiếp
Cho đến nay các nhà ngôn ngữ học đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về
ngữ cảnh Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Ngữ cảnh là: “Tổng thể nói chung những
đơn vị đứng trước và đứng sau một đơn vị ngôn ngữ đang xét, quy định ý nghĩa và giá trị cụ thể của đơn vị đó trong chuỗi lời nói Căn cứ vào ngữ cảnh giải thích nghĩa của từ” [20, tr.861]
Theo giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Ngữ cảnh là toàn bộ những hiểu biết về các
nhân tố giao tiếp, từ nhân vật cho đến hiện thực được nói tới cho đến hoàn cảnh rộng
Trang 12và hoàn cảnh hẹp, căn cứ vào đó mà chúng ta có những ngôn bản thích hợp với chúng”
Trong hội thoại ngữ cảnh ảnh hưởng đến ngữ nghĩa của câu: ngữ cảnh cho phép hiểu câu đơn nghĩa, hiểu một câu vừa có nghĩa hiển ngôn vừa có nghĩa hàm ngôn; ngữ cảnh khác nhau thì có những câu trả lời khác nhau cho cùng một câu hỏi
Vì thế việc xét ngữ nghĩa lời hội thoại không thể bỏ qua yếu tố ngữ cảnh
1.1.4.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, các diễn ngôn qua đó mà tác động vào nhau
Đó là những người tương tác bằng ngôn ngữ Giữa các nhân vật giao tiếp có quan hệ vai giao tiếp và quan hệ liên cá nhân
Vai giao tiếp: trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luôn đảm nhận vai giao tiếp khác nhau Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ nhất với tư cách là vai trao lời (Sp1) tác động đến vai nhận (hoặc vai đáp lời – Sp2), đến lượt mình vai nhận lại trở thành vai trao và vai trao lại trở thành vai đáp Cứ như thế chúng làm thành cặp trao - đáp luân phiên nhau tạo thành các cuộc thoại Trong giao tiếp các nhân vật luôn có sự tương tác qua lại, tạo thành cặp thoại hô ứng về nội dung và hình thức
Quan hệ liên cá nhân: là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ liên cá nhân có thể xét theo hai trục là trục tung và trục hoành Trục tung là trục vị thế xã hội hay trục quyền
uy Đây là trục thể hiện mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp xét theo sự định vị có tính chất xã hội, được xã hội chấp nhận và cấp cho giá trị này Trục hoành
là trục của quan hệ khoảng cách hay còn gọi là trục thân cận Đây là trục thể hiện sự gần gũi hay xa lạ giữa các nhân vật giao tiếp xét theo quan hệ thân tộc, quan hệ tình cảm, quan hệ cộng tác, sự hiểu biết lẫn nhau Quan hệ liên cá nhân chi phối tiến trình, nội dung và hình thức giao tiếp Mỗi cá nhân có một vị thế xã hội khác nhau, người nào chủ động nêu đề tài diễn ngôn, lái cuộc thoại theo hướng của mình thường thuận lợi hơn người bị động Về hình thức giao tiếp quan hệ liên cá nhân chi phối mạnh mẽ đến việc sử dụng đại từ xưng hô
1.1.4.2 Hiện thực ngoài diễn ngôn
Trang 13Loại trừ diễn ngôn và các đối ngôn, tất cả những cái tạo thành môi trường cho cuộc giao tiếp được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn Hiện thực ngoài diễn ngôn là một nhân tố lớn, bao trùm được chia thành các hợp phần:
Hiện thực đề tài được nói tới: cuộc giao tiếp và các diễn ngôn được tạo ra
trong giao tiếp phải nói về một cái gì đó trong hoàn cảnh giao tiếp Cái gì được nói tới
có thể là một hay những yếu tố ngoài ngôn ngữ, ngoài diễn ngôn, cũng có thể là những yếu tố của chính ngôn ngữ, những yếu tố thuộc những diễn ngôn có trước hay đang tạo nên các diễn ngôn đang được sử dụng Các yếu tố được nói tới trong diễn ngôn tạo nên cái gọi là hiện thực – đề tài
Hoàn cảnh giao tiếp: Bao gồm tổng thể các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử với các thiết chế các công trình, các tổ chức… tương ứng, tạo nên cái gọi là môi trường xã hội – văn hóa – địa lí cho các cuộc giao tiếp
Thoại trường: Đó là không gian, thời gian của cuộc giao tiếp Không gian và thời gian cụ thể nơi diễn ra Những hiểu biết thoại trường quy định người ta nói cái
gì, nói như thế nào, viết như thế nào,…
Ngữ huống giao tiếp: Quan hệ liên cá nhân, các tiền giả định bách khoa, thoại trường của một cuộc giao tiếp không phải nhất thành bất biến đối với một cuộc giao tiếp Những yếu tố của các nhân tố, nhân vật giao tiếp, của hiện thực ngoài diễn ngôn thay đổi liên tục suốt trong quá trình giao tiếp Cho t1, t2, t3, tn… là những thời điểm
kế tiếp nhau trong một cuộc giao tiếp thì các yếu tố trên ở thời điểm t1 khác, ở thời điểm t2, t3… khác Chúng ta nói tác động tổng hợp của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp là các ngữ huống của cuộc giao tiếp
1.1.5 Hành động ngôn ngữ
1.1.5.1 Khái niệm:
Nói năng là một dạng hành động: ngôn ngữ về bản chất là một dạng hành
động của con người mang tính xã hội vì ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Chính vì thế hành động ngôn ngữ được hiểu: “Vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu
tả một hiện thực nào đó, để kể lại một sự việc nào đó hay để yêu cầu, khuyên nhủ, khẳng định,…”
J.L Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ, đó là:
Trang 14Hành động tạo lời: là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm,
từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra những phát ngôn có ý nghĩa và hiểu được
Hành động mượn lời: là hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói đúng
hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính người nói
Hành động ở lời: là hành động được thực hiện bằng chính lời nói, ngay trong lời nói và gây ra được một hành động cũng bằng lời nói của người tiếp nhận
1.1.5.2 Sự phân loại hành động ở lời
b Hành động ở lời gián tiếp
Là hành động không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên, hay nói một cách khác là hành động mà trên cấu trúc bề mặt
là A nhưng gây một hiệu lực ở lời là B
Ví dụ 1: Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ? Đây là hành động hỏi trên bề mặt nhưng
hiệu lực của nó là muốn nhắc nhở với người khách đã muộn rồi, để cho người khách biết ý ra về
1.1.6 Câu phân loại theo mục đích nói
1.1.6.1 Câu trần thuật
Câu trần thuật được dùng để xác nhận về sự tồn tại của sự vật hay các đặc trưng hoạt động trạng thái của sự vật Về hình thức biểu hiện, loại này thường có ngữ điệu kết thúc câu đi xuống, trên chữ viết có dấu chấm (.) Về nội dung có thể có hai nhóm câu tường thuật khẳng định và câu tường thuật phủ định
Câu tường thuật khẳng định: thường nêu lên sự vật hiện tượng được nhận định
là có tồn tại
Câu tường thuật phủ định: thường xác nhận sự vắng mặt hay không tồn tại của
sự vật hiện tượng, hay tường thuật một sự việc nhưng theo chiều phủ định
Trang 151.1.6.2 Câu nghi vấn
Câu nghi vấn là câu được người nói dùng để nêu điều mình chưa biết và mong muốn được người nghe giải đáp Cuối câu nghi vấn thường có dấu chấm hỏi (?) Cách nhận biết câu nghi vấn qua những phương tiện biểu thị của câu nghi vấn thường là đại
từ nghi vấn, dùng các cặp phó từ, các từ tình thái chỉ sắc thái nghi vấn, ngữ điệu
1.1.6.3 Câu cầu khiến
Câu cầu khiến là loại câu dùng để bày tỏ thái độ yêu cầu, ra lệnh (bắt buộc người nghe phải thực hiện) hay để khuyên bảo, mời mọc một người nào đó
Câu cầu khiến thường sử dụng các động từ như: cút, xéo, đi, ra, vào,… kèm theo ngữ điệu mạnh nhằm thể hiện thái độ dứt khoát của người nói bắt buộc người nghe thực hiện Có khi dùng ngữ điệu kèm theo động từ, tính từ, danh từ để biểu thị một nguyện vọng, lời đề nghị hay một yêu cầu
1.1.6.4 Câu cảm thán
Câu cảm thán là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bột phát tức thì của người nói như cảm xúc đau đớn, sung sướng, ngạc nhiên, Câu cảm thán thường được dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt và trong ngôn ngữ văn chương
1.2 Vài nét về tác giả Ngô Tất Tố và sự nghiệp sáng tác
1.2.1 Ngô Tất Tố - Con người và sự nghiệp
Ngô Tất Tố sinh năm 1893 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở Lộc Hà, Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội Quê hương của nhà văn nổi tiếng với những làn điệu quan họ mượt mà đằm thắm, nơi sản sinh của nhiều câu chuyện thần thoại, truyện cổ tích thi vị
Năm 1912, Ngô Tất Tố một lần “lều chõng” thi Hương mà không đỗ Năm
1915 trong một kì thi sát hạch tại địa phương, Ngô Tất Tố đã đỗ đầu Sau cách mạng tháng Tám thành công, ông dùng ngòi bút phục vụ kháng chiến, viết cho báo Cáo quốc và báo Thông tin khu 12, phụ trách văn nghệ Liên khu 1 Năm 1948, ông gia nhập đảng cộng sản Đông Dương và ông mất ngày 20 thàng 4 năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang chỉ sau một tuần lễ trước khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi
Trang 16Ba mươi tuổi Ngô Tất Tố bước vào làng văn, làng báo và suốt ba mươi năm còn lại của cuộc đời, ông chân thành, miệt mài đem ngòi bút cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, cho nền văn hóa dân tộc Con đường ông đi là con đường thẳng, từ khởi điểm nhà Nho nghèo yêu nước, thương dân đã đến với cách mạng, đến với Đảng và trở thành nhà văn cách mạng Ba mươi năm Ngô Tất Tố hoạt động văn học cũng là ba mươi năm của những biến động, thăng trầm dữ dội của đời sống chính trị, xã hội và văn hóa dân tộc Nhưng Ngô Tất Tố không hề chao đảo, nghiêng ngả Ông tự tin và quả quyết sống hết mình, viết hết mình trong nỗ lực và mong mỏi: ngòi bút mình hữu ích cho xã hội, cho con người Thức thời nhưng không xu thời Nghèo nhưng không
hèn Vượt trên mọi hư danh cám dỗ, Ngô Tất Tố “đã biết đánh đổi cơm áo để lấy cái
quyền viết theo chỉ thị của trái tim mình”, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ông hết
lòng yêu thương, chỉ thuộc về nhân dân mà ông thiết tha gắn bó Chính đó là cái lõi
để tạo nên tài năng lớn, đa dạng nơi ông trong nhiều tư cách: một cây bút tiểu thuyết,
phóng sự xuất sắc, một nhà báo “cự phách”, “có biệt tài”, một nhà khảo cứu, dịch
thuật giàu tâm huyết và bao trùm là tư cách của nhà văn hóa lớn Chính đó cũng là cái lõi tạo nên giá trị đặc sắc riêng trong di sản văn hóa đồ sộ của Ngô Tất Tố, là cơ sở chắc chắn để khẳng định vị trí vững vàng của ông trong nền văn học dân tộc Sau 30 năm làm báo, viết văn, Ngô Tất Tố đã để lại một sự nghiệp trước tác có giá trị rất
đáng trân trọng từ tiểu thuyết, phóng sự (Tắt đèn, Việc làng, Lều chõng, Tập án cái
đình, Trong rừng nho), truyện kí lịch sử (Gia đình Tống trấn tả quân Lê Văn Duyệt, Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám), đến khảo luận, nghiên
cứu (Phê bình “Nho giáo” của Trần Trọng Kim, Mặc Tử, Lão Tử…), những công trình dịch thuật (Đường thị, Hoàng Lê nhất thống chí, Ngô Việt xuân thu) và hàng trăm bài tiểu phẩm báo chí
Tóm lại, sau 30 năm làm báo, viết văn ông đã để lại một khối lượng trang in không mỏng, gồm các sáng tác đồ sộ trên rất nhiều mặt hoạt động mà một cây bút nếu không đủ vốn, đủ hành trang, đủ nhiệt tình và bản lĩnh thì hẳn khó mà vươn tới được Năm 1996, Ngô Tất Tố đã được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
1.2.2 Vài nét về tiểu thuyết Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
Trang 17Nói đến tác phẩm xuất sắc nhất của Ngô Tất Tố và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất viết về nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, không thể không đề
cập đến Tắt đèn “một cuốn tiểu thuyết có luận đề xã hội… hoàn toàn phụng sự dân
quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác, tòng lai chưa từng thấy” (Vũ Trọng Phụng)
Ngô Tất Tố viết Tắt đèn năm 1937, trong ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Dân
chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tắt đèn tố cáo tội ác của chế độ thực dân phong kiến ở nông thôn Việt Nam
một cách tập trung nhất, điển hình nhất Là một nhà nho có nhân cách, Ngô Tất Tố đã đứng trên quan điểm đạo đức bình dân, phê phán gay gắt thói vô đạo của bọn thống trị Đó là những ông lý, ông chánh cho đến bọn tri phủ Tư Ân nhưng điển hình nhất vẫn là nghị Quế Tất cả bọn chúng có chung một bản chất tàn bạo, đểu cáng dâm đãng, bẩn thỉu Sự thối nát, vô đạo đức của chúng được thể hiện một cách công khai trơ tráo Từ một trí thức Tây học, Ngô Tất Tố lại có cái nhìn của một tiểu tư sản có học để phát hiện cái lỗi thời, cái lố bịch của những tên quan lại, địa chủ phong kiến giàu có nhưng vô học ngu dốt
Tắt đèn là đỉnh cao của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam, đặc biệt đi
sâu vào hình tượng nhân vật chị Dậu “cái đốm sáng đặc biệt của Tắt đèn” (Nguyễn Tuân), vào nghệ thuật xây dựng nhân vật chị Dậu và nghệ thuật “kể chuyện, cách
dựng truyện” tài tình của Ngô Tất Tố, một trong những yếu tố quan trọng góp phần
tạo nên sự rung động, sức hấp dẫn và giá trị của cuốn tiểu thuyết Tắt đèn
Sau thành công của Tắt đèn, Ngô Tất Tố viết tiểu thuyết Lều chõng, “một
quyển sách có giá trị… khơi gợi ngọn lửa tàn của một thời đại khoa cử của ông cha
ta thưở xưa” Ngay từ khi ra đời, tác phẩm đã tạo được sự chú ý trong công luận Lều chõng dựng lại bức tranh chân thật, xám ngoét, vừa bi thảm, vừa khôi hài về thực chất
chế độ giáo dục nhồi sọ và nền khoa cử mục nát dưới triều Nguyễn, đồng thời phản ánh tấn bi kịch đau xót của trí thức Nho học dưới chế độ phong kiến
Có thể nói, hiếm có nhà văn nào lại có thể nhạy cảm, lại sớm sáng suốt nhìn thấu và mạnh dạn phê phán, luận rõ công tội của chế độ khoa cử phong kiến, của hũ
nho đến như Ngô Tất Tố Đặt trong hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, Lều chõng thực
sự là “tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai đang khao khát muốn trở về với cái thời
Trang 18đại hoàng kim của kẻ sĩ”, là đòn giáng trả mạnh mẽ vào chế độ phong kiến và những
kẻ muốn lấy đạo Nho làm nền tảng để “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
CHƯƠNG II: CÁC KIỂU TƯƠNG TÁC VỀ HÀNH VI HỎI – ĐÁP QUA LỜI
THOẠI TRONG TẮT ĐÈN VÀ LỀU CHÕNG CỦA NGÔ TẤT TỐ
Trong lời thoại của các nhân vật bao giờ cũng có lời trao và lời đáp Thông thường lời trao là câu hỏi, lời đáp là câu trả lời Chính vì vậy hỏi – đáp là một cặp hội thoại tương tác Trước mỗi câu hỏi có thể có nhiều cách trả lời khác nhau Tuy vậy, các cách trả lời đó đều thuộc một trong hai phương thức cơ bản của hành vi trả lời trực tiếp và hành vi trả lời gián tiếp Trả lời trực tiếp là cách trả lời bằng hiển ngôn, đáp ứng trực tiếp vào điểm hỏi Trả lời gián tiếp là cách trả lời hàm ngôn, người nghe phải thông qua suy diễn ngữ nghĩa mới rút ra được thông tin mà người nói muốn truyền đạt Trong đề tài khóa luận này chúng tôi sẽ đi vào khảo sát, phân tích những
hành vi hỏi – đáp trực tiếp và hành vi hỏi – đáp gián tiếp trong tiểu thuyết Tắt đèn và
Lều chõng của Ngô Tất Tố
Ngô Tất Tố là một nhà văn lớn, một trong những cây bút bậc thầy, ông đã đưa vào trong tác phẩm của mình lời ăn tiếng nói hằng ngày và biến thứ ngôn ngữ đời thường thành những tín hiệu thẩm mỹ Ngô Tất Tố đã xử lí rất sắc sảo ngôn ngữ của
nhân vật nên trong Tắt đèn và Lều chõng của ông chúng ta bắt gặp rất nhiều tình
huống hội thoại có sử dung hành vi hỏi – đáp Với việc đưa hành vi hỏi – đáp vào trong tác phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã làm cho ngôn ngữ của ông gần gũi với người đọc, không có gì cầu kì, khó hiểu và cuộc sống sinh hoạt đời thường đã được tái hiện một cách sinh động qua từng trang văn của ông
Trang 19Hai tiểu thuyết Tắt đèn và Lều chõng với 447 trang có 128 đoạn hội thoại,
chúng tôi đã khảo sát được 490 hành vi hỏi – đáp Tuy nhiên số lượng giữa hành vi hỏi – đáp trực tiếp và hành vi hỏi – đáp gián tiếp là khác nhau Cụ thể như sau:
Hành vi hỏi - đáp Tắt đèn Lều chõng Tổng Tỉ lệ
Hành vi hỏi- đáp trực tiếp 73 180 253 52 %
Hành vi hỏi- đáp gián tiếp 163 74 237 48 %
Có thể nói trong 490 hành vi hỏi – đáp mà chúng tôi khảo sát được thì tỉ lệ giữa hành vi hỏi – đáp trực tiếp và hành vi hỏi – đáp gián tiếp là tương đương nhau Khi đi vào tìm hiểu hành vi hỏi – đáp trực tiếp, chúng tôi xét sự tương tác ở nội dung
đề tài, hình thức của hành vi hỏi – đáp và vai giao tiếp của chúng Còn đối với hành
vi hỏi – đáp gián tiếp chúng tôi chỉ xem xét sự tương tác ở đích giao tiếp mà hành vi hỏi - đáp đó hướng tới Có một số hành vi mang tính lưỡng thoại vừa là hành vi hỏi vừa là hành vi đáp lời
2.1 Sự tương tác của hành vi hỏi - đáp trực tiếp
2.1.1 Sự tương tác vai giao tiếp giữa hành vi hỏi và hành vi đáp
Trong giao tiếp có sự phân vai rõ ràng, đó là vai nói và vai nghe, họ là đối ngôn của nhau Trong giao tiếp luôn có sự quy chiếu giữa vai nói và vai nghe sao cho thích hợp Chúng luôn xuất hiện thành cặp tương tác Để có được sự quy chiếu, đòi hỏi người nói có sự hiểu biết nhất định về vai nghe như tuổi tác, thân sơ, trình độ văn
hóa… Qua khảo sát, chúng tôi thấy trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố có sự
tương tác của vai giao tiếp ngang hàng và sự tương tác của vai giao tiếp không ngang hàng Cụ thể là trong 253 hành vi hỏi – đáp trực tiếp thì có 170 hành vi thể hiện vai giao tiếp ngang hàng và 83 hành vi thể hiện vai giao tiếp không ngang hàng Sự tương tác vai giao tiếp thể hiện trước hết ở việc lựa chọn từ xưng hô Từ xưng hô xuất hiện thành cặp hoặc có thể nói trống không
2.1.1.1 Sự tương tác của vai giao tiếp ngang hàng
Vai giao tiếp ngang hàng là vai giao tiếp mà giữa người hỏi và người đáp là
bạn bè, cùng tuổi tác, cùng địa vị xã hội và có trình độ học vấn như nhau Trong Tắt
đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố ta bắt gặp những vai giao tiếp ngang hàng, bình
Trang 20đẳng như: vai giao tiếp của vợ chồng anh Dậu, vai giao tiếp giữa Văn Hạc, Khắc Mẫn
và Đốc Cung, vai giao tiếp của vợ chồng Văn Hạc,… được thể hiện qua những cặp xưng hô như tao/mày, anh/tôi, ông/tôi, hoặc lối nói trống không
Ví dụ: Chị Dậu đến nhà cụ nghị để hỏi bán cái Tí rồi đi ra thăm chồng, anh Dậu hỏi:
- Thế nào? U nó đã sang nhà cụ nghị Quế hay chưa?
- Đã! Tôi ở bên ấy về đây!
- Cụ bằng lòng đấy chứ?
- Bằng lòng! Nhưng người ta bắt viết văn tự và bắt đèo thêm…
(Tắt đèn, trang 44) Trong đoạn hội thoại trên anh Dậu gọi chị Dậu là “u nó” đây là cách xưng hô
quen thuộc của người nông dân, cách xưng hô thay cho con cái và anh Dậu tự xưng
hô về phía mình là “tôi” Cách xưng hô “u nó/tôi” bày tỏ tình cảm yêu thương, gần
gũi của vợ chồng anh Dậu Đó cũng là cách xưng hô mang đậm nét văn hóa của người dân Bắc Bộ Ngoài ra, vai giao tiếp trong cuộc hội thoại trên là ngang hàng nên trong các hành vi hỏi – đáp tiếp theo các nhân vật nói trên có thể vận dụng lối xưng
hô trống không
Trong Lều chõng, Văn Hạc, Đốc Cung và Khắc Mẫn là bạn bè, trình độ học
vấn như nhau nên trong quá trình giao tiếp thường sử dụng các cặp xưng hô như tao/mày, anh/tôi
Ví dụ:
- Nếu không có tên tao, chúng bay làm sao?
- Không có tên anh, chúng tôi sẽ xin cắp tráp cho anh suốt đời
(Lều chõng, trang 430)
Ở hành vi hỏi – đáp trên Khắc Mẫn sử dụng cặp xưng hô “tao/chúng mày” để
biểu lộ thái độ tức giận khi anh thấy mình bị hỏng ở kì thi tam trường này Còn Văn
Hạc lại xưng hô với Khắc Mẫn là “anh/chúng tôi” tỏ thái độ nghiêm túc để cho Khắc
Mẫn tin vào lời thề của anh
Như vậy, từ xưng hô trong đoạn hội thoại trên có sự luân phiên, đổi ngôi Khi
Khắc Mẫn giữ vai ngôi thứ nhất anh xưng hô là tôi còn Văn Hạc và Đốc Cung ở ngôi thứ hai nên gọi là chúng bay Ngược lại, khi hai người kia ở vai ngôi thứ nhất thì
Trang 21xưng hô là chúng tôi và Khắc Mẫn ở ngôi thứ hai nên xưng hô là anh Sự luân phiên,
đổi ngôi của từ xưng hô tạo nên sự tương tác trong hội thoại
2.1.1.2 Sự tương tác của vai giao tiếp không ngang hàng
Trong hội thoại thì các thoại nhân đều là những thành viên trong xã hội nhưng
họ có địa vị xã hội cao thấp khác nhau, chức vụ mỗi người một khác, học vấn, tuổi tác cũng vậy Qua cách xưng hô của các nhân vật trong hội thoại chúng ta xác định được
cấp bậc trong vai giao tiếp Trong hai tiểu thuyết Tắt đèn và Lều chõng cũng vậy, các
vai giao tiếp có sự chênh lệch về tuổi tác, vị thế xã hội và trình độ học vấn được xác định qua việc sử dụng từ xưng hô
a Cách xưng hô thể hiện sự khác nhau về địa vị xã hội:
Ví dụ: Bà nghị Quế hỏi chị Dậu:
- Sao bảo nhà mày có con chó cái khôn lắm?
- À! Thưa cụ có! Nhưng nó mới đẻ, con nó hãy còn non lắm, có bán không ai mua, nếu có người mua cho, chúng con đã không phải bán cháu!
(Tắt đèn, trang 35)
Ở hành vi hỏi - đáp trên bà nghị Quế thuộc tầng lớp địa chủ giàu có, còn chị Dậu là hạng người nghèo khổ cùng đinh trong xã hội Địa vị xã hội khác nhau chi
phối đến việc sử dụng từ xưng hô của các nhân vật, bà nghị Quế gọi chị Dậu “nhà
mày” nhằm tỏ thái độ khinh bỉ, miệt thị, coi thường chị Dậu Chị Dậu sử dụng cặp
xưng hô “cụ/chúng con” Cách xưng hô “cụ” cùng với lời thưa gửi “thưa” tỏ thái độ kính trọng, lễ phép đối với bà nghị và xưng hô về phía mình là “chúng con” thể hiện
thân phận thấp hèn của chị
b Cách xưng hô thể hiện sự chênh lệch về tuổi tác:
Ví dụ:
- Nhà bác chạy đã đủ sưu chưa?
- Thưa cụ, nhà cháu mới nộp một suất, còn một suất nữa ạ!
- Sao đóng hai suất?
- Thưa cụ, một suất thầy con cháu và một suất chú Hợi nó
- Anh Hợi chết rồi, còn phải đóng sưu nữa à?
- Vâng, cháu thấy các ông ấy bảo chú nó chết dở năm tây, nên còn phải đóng
sưu năm này Nếu nó chết chẵn năm tây thì mới được trừ
Trang 22(Tắt đèn, trang 88)
Ở hành vi hỏi đầu tiên, bà lão gọi chị Dậu là “nhà bác” để mở đầu đoạn hội
thoại và hướng đến chủ thể tiếp nhận là chị Dậu Đồng thời, cách xưng hô đó biểu thị thái độ thân mật, gần gũi của tình cảm láng giềng Còn ở các hành vi hỏi tiếp theo bà lão sử dụng lối xưng hô trống không vì bà là người lớn tuổi hơn chị Dậu Về phía chị Dậu là người ít tuổi hơn bà lão nên trong các hành vi đáp lời của mình, chị Dậu
thường sử dụng các cặp xưng hô “cụ/nhà cháu, cụ/cháu” Ngoài ra, chị Dậu còn sử dụng lời thưa gửi “thưa” và tình thái từ “ạ” để thể hiện thái độ tôn trọng, lễ phép
c Cách xưng hô thể hiện sự chênh lệch về trình độ học vấn:
Thằng bếp là thân phận tôi tớ không được học hành còn Văn Hạc là sĩ tử có
trình độ học vấn nên trong hội thoại thằng bếp xưng hô “con/ông” để bày tỏ thái độ
tôn trọng, lễ phép đối với Văn Hạc
Như vậy, trong hội thoại các vai giao tiếp có sự tương tác lẫn nhau Vai giao tiếp chi phối đến việc lựa chọn từ xưng hô và ngược lại qua từ xưng hô có thể xác định được vai giao tiếp của các nhân vật
Hội thoại là một quá trình luôn vận động Vì vậy các nhân vật luôn có sự tác động lẫn nhau, làm cho nhau biến đổi Đồng thời, trong hội thoại một trong hai nhân vật không đạt được đích giao tiếp thì cuộc thoại trở nên căng thẳng, mâu thuẫn dẫn đến họ sẽ thay đổi cách xưng hô một cách linh hoạt
Ví dụ: Đoạn hội thoại giữa chị Dậu và tên cai lệ trong tiểu thuyết Tắt đèn, ta
thấy từ xưng hô có sự thay đổi linh hoạt trong lời thoại của chị Dậu
Anh Dậu bi ốm nặng nhưng tên cai lệ vẫn định trói anh Dậu lôi ra đình làng Chị Dậu xám mặt, vội vàng đặt con bé con xuống đất, chạy đến đỡ lấy tay hắn:
- Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho?
- Tha này! Tha này!
Trang 23Vừa nói, hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu
Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại:
- Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ!
Cai lệ tát vào mặt chị một cái đánh bốp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu Chị Dậu nghiến hai hàm răng:
- Mày trói chồng bà đi, bà cho mày xem!
(Tắt đèn, trang 92)
Lúc đầu để năn nỉ, van xin tên cai lệ tha cho chồng, chị Dậu sử dụng từ xưng
hô về phía mình là “nhà cháu, cháu”, chị Dậu xưng hô dưới hàng người nghe và gọi tên cai lệ là “ông” Chị Dậu sử dụng cách xưng hô dưới hàng người nghe
“cháu/ông” để thể hiện thái độ tôn trọng, lễ phép của một người nông dân đối với
người làm công cho nhà nước và mong muốn cai lệ tha cho anh Dậu Tuy nhiên lời yêu cầu, van xin của chị Dậu không được tên cai lệ đáp ứng nên ở lời thoại tiếp theo
chị Dậu sử dụng cặp xưng hô “tôi/ông” đây là cách xưng hô ngang hàng, từ vai giao
tiếp dưới hàng chị Dậu đã nâng mình lên ngang hàng với tên cai lệ để tỏ thái độ bực
tức trước hành động của y Lần thứ ba chị Dậu gọi tên cai lệ là “mày” và xưng hô về phía mình là “bà” Cách xưng hô “mày/bà” là cách xưng hô trên hàng, bây giờ chị
Dậu đã nâng vai giao tiếp của mình lên trên vai giao tiếp của tên cai lệ cho thấy nỗi uất ức, căm phẫn của chị Dậu đã lên đến đỉnh điểm, chị không thể kiềm chế được trước sự lộng hành, tàn bạo của bọn sai nha Cuộc hội thoại trở nên căng thẳng, mâu thuẫn Như vậy, ở đoạn hội thoại này, từ xưng hô được chị Dậu sử dụng thay đổi một cách liên tục và vai giao tiếp của các nhân vật cũng thay đổi Chị Dậu từ vai giao tiếp của một kẻ bề dưới đã nâng dần lên ngang hàng và cuối cùng là chị đứng trên hàng so với cai lệ và còn tên cai lệ thì ngược lại Hoàn cảnh giao tiếp thay đổi, đích giao tiếp thay đổi nên từ xưng hô cũng thay đổi cuộc hội thoại diễn ra trong không khí căng thẳng, chị Dậu là người chủ động lái cuộc hội thoại về phía mình còn tên cai lệ hoàn toàn bị động
Tóm lại, qua khảo sát chúng tôi thấy trong hai tiểu thuyết Tắt đèn và Lều
chõng của Ngô Tất Tố từ xưng hô khá phong phú và đa dạng xuất hiện thành từng
cặp như tao/mày, anh/tôi, cụ/con,… đặc biệt là cách nói trống không chiếm số
Trang 24lượng khá lớn Vì nó thể hiện vai giao tiếp ngang hàng, đồng thời đó là cách xưng
hô của những người có địa vị xã hội cao hơn hay lớn tuổi hơn đối với những người thấp kém về vị thế xã hội hay ít tuổi hơn họ Trong quá trình hội thoại, các vai giao tiếp luôn có sự tương tác lẫn nhau biểu hiện qua cách sử dụng từ xưng hô Đồng thời, qua cách xưng hô thể hiện rõ sự tương tác của vai giao tiếp
2.1.2 Sự tương tác ở nội dung đề tài của hành vi hỏi - đáp
Dù cuộc thoại hình thành dưới bất kì hình thức nào thì vẫn hướng tới một nội dung đề tài nhất định Một cuộc thoại được xem là hiệu quả khi đáp ứng được đích giao tiếp của từng thoại nhân Sự tương tác ở nội dung đề tài của hành vi hỏi – đáp chính là hành vi hỏi chứa đựng một trọng điểm hỏi cố định và hành vi đáp chỉ hướng đến trọng điểm hỏi đó chứ không đi lạc trọng điểm hỏi, đó là những hành vi hỏi – đáp chủ hướng Ngoài ra, khi hành vi hỏi nêu lên một vấn đề gì đó hành vi đáp lời vừa đáp đúng vào trọng điểm hỏi vừa đưa ra hành vi phụ thuộc làm rõ lí do, bổ sung nghĩa cho hành vi chủ hướng hoặc nó cung cấp thông tin mới để kéo theo hành vi đáp lời của người nói ở trên Đây cũng là một phương diện tương tác rất quan trọng, nó có tác dụng liên kết tạo nên sự trao qua đáp lại luân phiên giữa các hành vi ngôn ngữ và kéo dài cuộc hội thoại đi đến đích nhất định Tuy nhiên, do điều kiện có hạn nên trong
đề tài này chúng tôi đi theo hướng xem xét các hành vi đáp lời chủ hướng đặt trong
sự tương tác với hành vi hỏi Đi vào khảo sát Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
chúng tôi nhận thấy có những kiểu tương tác về nội dung đề tài cụ thể như sau:
Các kiểu tương tác ở nội dung đề tài của hành vi hỏi - đáp Số hành vi Tỉ lệ Hành vi đáp lời cho cả nòng cốt của hành vi hỏi 116 46 %
Hành vi đáp lời khẳng định cung cấp thông tin mới 40 16 % Hành vi đáp nhằm hướng vào trọng điểm là những
đối tượng mà hành vi hỏi đặt ra
Hành vi đáp lời không hết nội dung của hành vi hỏi 10 4 % Hành vi đáp lời khẳng định nhưng mức độ còn lấp lửng 9 3,6 %
Trang 25Qua bảng thống kê trên chúng ta thấy trong các kiểu tương tác về nội dung đề tài của hành vi hỏi – đáp trực tiếp thì hành vi đáp lời cho cả nòng cốt của hành vi hỏi chiếm tỉ lệ lớn nhất 46%, hành vi đáp lời cho vị ngữ hạt nhân chiếm tỉ lệ 17,4 %, hành vi đáp lời khẳng định cung cấp thông tin mới là 16%
2.1.2.1 Hành vi đáp lời cho cả nòng cốt của hành vi hỏi
Hành vi hỏi hỏi về một sự vật, sự việc, một lí do nào đó và hành vi đáp gồm một bộ phận xác nhận thông tin, một bộ phận để biện hộ, giải thích, trình bày lí do:
Ví dụ: Bà lão láng giềng ái ngại hỏi anh Dậu:
- Khốn nạn! Bác lại lên cơn sốt đấy ư?
- Vâng! từ nãy đến giờ, cháu thấy trong mình gây gấy, hình như nó lại sắp sửa
lên cơn sốt rồi đấy
(Tắt đèn, trang 100) Hành vi đáp lời của anh Dậu bằng một từ “vâng” thể hiện sự tiếp nhận thông
tin từ hành vi hỏi của bà cụ Hành vi đáp lời tiếp theo nhằm cung cấp thêm thông tin cho bà cụ hiểu
Hay khi Đức Chính hỏi Văn Hạc:
- Ồ lạ thế! Sao chữ “văn” trong câu “đối sĩ văn” ở đầu quyển lại không phải đài? Nó cũng là “nghe” chứ gì
- Phải! Hai chữ “văn” nghĩa là nghe cả Nhưng chữ “văn” trên nghĩa là mình
nghe, nên không phải đài Còn chữ “văn” này thì là vua nghe, nếu không đài, ấy là bất kính! Người ta đập vào đầu ấy
Hành vi đáp lời của Văn Hạc chỉ với một từ “phải” để khẳng định hành vi hỏi
của Đức Chính là đúng Những hành vi đáp lời tiếp theo của Văn Hạc nhằm giải thích cho Đức Chính hiểu rõ hơn về ý nghĩa khác nhau của từ “văn”
Khảo sát Tắt đèn và Lều chõng chúng tôi thấy trong sự tương tác về nội dung
đề tài của hành vi hỏi – đáp thì kiểu tương tác này chiếm tỉ lệ lớn nhất (46%) trong số các kiểu tương tác
2.1.2.2 Hành vi đáp lời cho vị ngữ hạt nhân
Hành vi hỏi nêu lên một nội dung sự việc nào đó nhưng thái độ của người nói vẫn có phần nghiêng về khẳng định Hành vi đáp lời lặp lại một bộ phận của vị ngữ ở hành vi hỏi để khẳng định cho nội dung của hành vi hỏi
Trang 26Ví dụ:
- Thế nào? U nó đã sang nhà cụ nghị Quế hay chưa?
- Đã! Tôi ở bên ấy về đây!
anh Dậu nhấn mạnh ở các vị ngữ “đã, bằng lòng” và hành vi đáp lời lặp lại các vị
ngữ hạt nhân đó để khẳng định những sự việc đó đã diễn ra
Hay trong Lều chõng khi các cụ chuẩn bị cho buổi rước ông nghè của làng
Đào Nguyên, mọi người tất bật chuẩn bị công việc cho ngày mai, lý trưởng mới hỏi:
- Những ai đi rước? Đã cắt cử xong chưa?
- Bẩm đã! Tất cả hơn một trăm suất, toàn là người làng, chúng con không dám
cắt đến ông nào trong quan họ
(Lều chõng, trang 314) Hành vi đáp lời của anh phó lễ lặp lại vị ngữ của hành vi hỏi “đã” để nhấn
mạnh mọi việc đã hoàn tất
2.1.2.3 Hành vi đáp lời khẳng định cung cấp thông tin mới
Hành vi hỏi để hỏi về các phạm vi như vị trí, nguyên nhân, mục đích, thời gian, số lượng, cách thức, và hành vi đáp hướng đến các trọng điểm hỏi đó nhằm
cung cấp thông tin mới cho hành vi hỏi Trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
chúng tôi khảo sát được một số kiểu câu sau:
a Hành vi đáp cung cấp thông tin về mục đích của hành động:
Ví dụ: Văn Hạc thi xong đang đứng trước cổng trường thì thấy thằng bếp nhà trọ, chàng hỏi:
- Anh đến đây làm gì?
- Ông chủ con sai con ra đón lều chõng cho các ông Sao ông lại không đem
đồ đạc gì về thế này?
(Lều chõng, trang 447)
Trang 27Hành vi đáp lời của thằng bếp cho biết mục đích đến đó của nó là ra đón lều chõng của Văn Hạc, Đốc Cung, Khắc Mẫn về nhà trọ cho các ông ấy
b Hành vi đáp cung cấp thông tin về nguyên do:
Ví dụ: Khi nghe chị Dậu nói nhà chị phải đóng một suất sưu cho chú Hợi nữa,
bà cụ ngạc nhiên hỏi:
- Anh Hợi chết rồi, còn phải đóng sưu nữa à?
- Vâng, cháu thấy các ông ấy bảo chú nó chết dở năm tây, nên còn phải đóng suất sưu năm này Nếu nó chết chẵn năm tây thì mới được trừ
(Tắt đèn, trang 88)
Hành vi đáp lời của chị Dậu nhằm giải thích cho bà cụ hiểu vì chú Hợi chết dở năm tây nên phải đóng suất sưu năm này
c Hành vi đáp lời cung cấp thông tin về thời gian:
Ví dụ: Cô Ngọc là một người phụ nữ thông minh hay chữ khi nghe cô ấy đọc truyện cho mọi người nghe, chị hai ngạc nhiên hỏi:
- Thím đi học được bao nhiêu năm?
- Tám năm tất cả Em đi học từ năm lên sáu Vì thầy, mẹ em hiếm hoi lúc đẻ
em, thầy mẹ em không xâu lỗ tai
(Lều chõng, trang 390)
Hành vi đáp lời cung cấp thông tin về thời gian đi học của cô Ngọc là tám năm
d Hành vi đáp lời cung cấp thông tin về số lượng:
Ví dụ: Văn Hạc sắp đi thi mẹ của cô Ngọc hỏi cô:
- Thế chị đưa tiễn anh tư bao nhiêu?
- Thưa mẹ năm quan Và năm quan của mẹ cho nữa là mười
(Lều chõng, trang 461)
Văn Hạc chuẩn bị đi thi, cô Ngọc lễ mễ vác mấy quan tiền ra đếm để đưa cho chồng, thấy thế bà đồ mới hỏi và hành vi đáp lời của cô Ngọc cho biết số tiền mà cô đưa thêm cho chồng đi thi là năm quan
e Hành vi đáp lời cung cấp thông tin về vị trí:
Ví dụ: Chị Dậu bán cái Tí vẫn không được hai đồng để nộp sưu chị đành phải bán cả con chó cái mới đẻ Thấy con chó cái giống tốt bà nghị hỏi chị Dậu:
Trang 28- Con chó nhà mày mua ở đâu thế?
- Bẩm của mẹ con mua ở Lầu Cai đem về cho con
(Tắt đèn, trang 64)
Hành vi đáp lời của chị Dậu cung cấp thông tin cho bà nghị biết xuất xứ của con chó cái này là ở Lào Cai đem về
f Hành vi đáp lời cung cấp thông tin về sự kiện:
Ví dụ: Khi thấy Tiêm Hồng, Đốc Cung, Đoàn Bằng và Văn Hạc ngồi bàn tán chuyện thi cử, ông chủ nhà trọ mới hỏi:
- Vì bận sai bảo chúng nó làm mấy món ăn, cho nên từ nãy đến giờ, tôi chưa
kịp hỏi chuyện các ngài Thế nào? Bốn ngài được “vào” cả chứ?
- Cả ba ông này đều “vào”, chỉ có một mình tôi hỏng Đúng như lời ông nói từ
sáng ngày, tôi bị nêu ra bảng con thật!
(Lều chõng, trang 511)
Hành vi đáp lời của Đốc Cung nhằm cung cấp thông tin về sự kiện là cả Văn Hạc, Đoàn Bằng và Tiêm Hồng đều thi đỗ chỉ có mình anh ta hỏng trong kì thi tam trường này
Khảo sát Tắt đèn và Lều chõng, chúng tôi thấy trong số các hành vi đáp lời
cung cấp thông tin mới thì hành vi đáp lời cung cấp thông tin về sự kiện, thời gian chiếm số lượng nhiều nhất
2.1.2.4 Hành vi đáp nhằm hướng vào trọng điểm là những đối tượng mà hành vi hỏi đặt ra
Hành vi hỏi, hỏi về một đối tượng là một người, một sự vật, sự việc nào đó Hành vi đáp cũng hướng vào đối tượng đó
a Hành vi đáp lời cho đối tượng là chủ ngữ:
Ví dụ: Trong Tắt đèn khi chị Dậu đi ở vú tại nhà quan cụ, vào một đêm chị
Dậu đang thiu thiu ngủ thì lão quan cụ định hiếp chị Chị Dậu liền hỏi:
- Ai đấy?
- Taào! Taào đây! Cụ đây! Nằm im
(Tắt đèn, trang 122) Hành vi hỏi sử dụng đại từ nghi vấn “ai” và hành vi đáp hướng vào trọng điểm hỏi đó để đáp lại là “taào, cụ”
Trang 29Hay ở trong Lều chõng khi tên lính hỏi:
b Hành vi đáp lời cho định ngữ của danh từ:
Ví dụ: Khi hai anh trai đến quán mấy cô hát ả đào tìm Văn Hạc, con Nhài thấy lên mách với cô Phượng thì Văn Hạc hốt hoảng hỏi:
- Người như thế nào?
- Hai người ấy cùng mặc áo the, nước da trắng trẻo, một ông độ ba tư, ba
nhăm, một ông độ hai bảy, hai tám
(Lều chõng, trang 421) Văn Hạc hỏi về đặc điểm của hai người đó “như thế nào” và con Nhài đã miêu
tả đặc điểm của hai người đó “mặc áo the, nước da trắng trẻo, một ông độ ba tư, ba
nhăm, một ông độ hai bảy, hai tám” để Văn Hạc nhận diện xem đó có phải là hai anh
trai của anh không
c Hành vi đáp lời cho đối tượng là vị ngữ:
Ví dụ: Quan phủ không biết tên Hợi là ai mà gia đình anh Dậu phải nộp thuế thay nên ông hỏi:
- Tên Hợi là tên nào? Sao thằng Dậu lại phải nộp sưu cho nó?
- Bẩm quan lớn, tên Hợi là em ruột anh Dậu Hắn chết từ đầu tháng giêng Vì
tên Dậu là thân nhân của hắn, cho nên chúng con bắt phải nộp thay
(Tắt đèn, trang 96) Hành vi hỏi, hỏi cho đối tượng là vị ngữ “tên nào” nhằm thể hiện sự thắc mắc
của quan phủ về mối quan hệ giữa tên Hợi với anh Dậu Hành vi đáp lời nhằm hướng
vào trọng điểm hỏi đó “em ruột anh Dậu” để cung cấp thông tin cho quan phủ biết
d Hành vi đáp lời cho đối tượng là kết quả của sự lựa chọn:
Ví dụ: Khi Văn Hạc đi thi về, cô Ngọc – vợ của Văn Hạc mới hỏi:
- Mình ở Hà Nội về hay ở bên Đào Nguyên sang?
- Tôi ở bên Đào Nguyên sang
Trang 302.1.2.5 Hành vi đáp lời chưa đáp ứng hết nội dung của hành vi hỏi
Hành vi đáp lời không hết ý, người nói cố tình bỏ lửng để người nghe tự suy ý nhưng cũng có thể do người đáp ngập ngừng khó nói Hành vi trả lời không hết ý được thể hiện ở dấu ba chấm ( )
Ví dụ: Gia đình anh Dậu không biết kiếm đâu ra tiền để nộp sưu, anh Dậu đành nghĩ đến việc bán cái Tí cho cụ nghị
- Khốn nạn! Ấy ông cậu đấy! Ông cậu giàu có nứt đố đổ vách cả đời cháu mới
hỏi vay mấy đồng, còn nỡ nhiếc móc như thế, trách chi người ngoài! Thế bây giờ
thầy em đã định vay đâu hay chưa?
- Tôi đã nói với cụ nghị Quế ở thôn Đoài Hay là bán quách
- Học không học! Chỉ chòng nhau Sao mà những của khó dạy làm vậy? Thôi
cho ra phản Mỗi đứa ngồi riêng một xó
- Thưa thầy hôm qua anh Ất ra đường chửi nhau để cho chúng nó
Đứa học trò thưa với thầy giáo nhưng ngập ngừng không dám nói vì sợ thầy mắng
Trang 31Ví dụ: Bà lão láng giềng hỏi anh Dậu:
- Thôi! Còn phải kể! Bạc thì dân, bất nhân thì lính, tục ngữ nói có sai đâu Ấy
là nhà bác không có gì nữa Chứ nếu trong nhà còn có con gà con chó, chúng nó cũng
đập chết mà ăn với nhau, không tha cho đâu Bây giờ những đứa ấy còn ở đây hay là
qua tổ hợp từ tình thái “hình như thì phải”
Hay khi Đốc Cung hỏi Đức Chính là Văn Hạc đỗ thủ khoa thì anh trả lời ở dạng không chắc chắn:
- Cậu biết anh Hạc đỗ à?
- Vâng, có lẽ anh Hạc sẽ đỗ thủ khoa
(Lều chõng, trang 551)
Như vậy, hành vi đáp lời của Đức Chính cho thấy thông tin Văn Hạc đỗ thủ
khoa là chưa chắc chắn Điều đó được thể hiện qua tình thái từ “có lẽ”
Tóm lại, hành vi trả lời lấp lửng được thể hiện qua từ, tổ hợp từ thể hiện tình
thái lấp lửng Trong Tắt đèn và Lều chõng chỉ có 9 hành vi hỏi – đáp thể hiện kiểu
tương tác này, chiếm 3,6%
Trên đây là những kiểu hành vi đáp lời trong sự tương tác với hành vi hỏi Qua
khảo sát Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố thì kiểu tương tác về nội dung đề tài
này có tác dụng làm cho lời thoại của nhân vật ngắn dọn, cuộc thoại diễn ra nhanh
chóng, đạt hiệu quả nghệ thuật cao
2.1.3 Sự tương tác biểu hiện về mặt hình thức giữa hành vi hỏi và hành vi đáp
Sự tương tác về hành vi hỏi – đáp trong Tắt đèn và Lều chõng của Ngô Tất Tố
không chỉ thể hiện ở vai giao tiếp; nội dung đề tài mà còn được thể hiện rõ ở phương diện hình thức của hành vi hỏi – đáp Sự tương tác về hình thức của hành vi hỏi – đáp
trong Tắt đèn và Lều chõng được thể hiện ở các phương tiện liên kết như: sử dụng
cặp phụ từ ở hành vi hỏi, sử dụng đại từ, phương tiện lặp từ vựng, sử dụng quan hệ
Trang 32từ, sử dụng ngữ điệu ở hành vi hỏi, Sau đây chúng tôi xin đi vào một số phương tiện liên kết tiêu biểu
2.1.3.1 Sự tương tác biểu hiện ở hành vi hỏi sử dụng cặp phụ từ
Hành vi hỏi có những yếu tố từ vựng chứa đựng những thông tin nhất định và cặp phụ từ: có phải không? có không?, đủ chưa? tạo sắc thái nghi vấn về sự tồn tại hiện thực của một điều gì đó Hành vi đáp lời bị chi phối bởi khung cấu trúc và
ý nghĩa từ vựng của hành vi hỏi Vì vậy ở hành vi đáp có thể sử dụng hai hình thức đáp lời là có hoặc không về sự tồn tại của thông tin đó
Ví dụ: Bà lão hỏi chị Dậu về tình hình sức khỏe của anh Dậu:
- Bác trai đã khá rồi chứ?
- Cảm ơn cụ, nhà cháu đã tỉnh táo như thường Nhưng xem ý hãy còn lề bề, lệt
bệt chừng như vẫn mỏi mệt lắm
(Tắt đèn, trang 89) Hành vi hỏi của bà lão sử dụng cặp phụ từ “đã rồi chứ?” Hành vi đáp lời
của chị Dậu nhằm khẳng định là anh Dậu đã khá hơn rồi Nếu hành vi đáp lời trên là
đã khá rồi thì lặp lại yếu tố từ vựng ở hành vi hỏi nhưng hành vi đáp lời của chị Dậu không lặp lại yếu tố từ vựng đó mà người nghe vẫn có thể hiểu được anh Dậu đã khá hơn rồi là nhờ vào ngữ cảnh của cuộc hội thoại
Hay khi Văn Hạc hỏi Khắc Mẫn về cô Ngọc con ông đồ Vân – trình, anh cũng
vận dụng cặp phụ từ “có phải không?” để hỏi:
- Có phải cái cô vẫn bán giấy bút ở chợ Kim – bảng đó không?
- Phải đó
(Lều chõng, trang 341) Hành vi đáp lời của Khắc Mẫn lặp lại yếu tố từ vựng “phải” để xác định hành
vi hỏi của Văn Hạc về cô Ngọc là đúng
Sử dụng cặp phụ từ ở hành vi hỏi nhằm tạo sắc thái nghi vấn về sự tồn tại của một hiện thực khách quan nào đó Hành vi đáp lời có nhiều cách và cấu trúc lời thoại của nhân vật súc tích, dễ hiểu
2.1.3.2 Sự tương tác biểu hiện ở hành vi hỏi sử dụng đại từ
a Sử dụng đại từ nghi vấn ở hành vi hỏi:
Trang 33Hành vi hỏi có trọng điểm hỏi rơi vào đại từ nghi vấn kéo theo hành vi đáp hướng vào trọng điểm hỏi đó Hành vi đáp sử dụng phương tiện từ vựng đưa từ bên ngoài vào có quan hệ ngữ nghĩa với trọng điểm hỏi nhằm cung cấp những thông tin
bộ phận do hành vi hỏi đặt ra
Ví dụ:
- Mày định cấy trả nhà tao bao nhiêu?
- Con xin cấy trả hầu ông một mẫu
(Tắt đèn, trang 52)
Hay: Cái Tí hỏi mẹ:
- Vậy thì bữa sau con ăn ở đâu?
- Con ăn ở nhà cụ nghị thôn Đoài
(Tắt đèn, trang 56)
Ví dụ: Chị hai hỏi cô Ngọc:
- Thế thím đã học được những sách gì?
- Cũng như những học trò con trai, vỡ lòng em học Tam tự kinh, rồi đến Sơ
học vấn tân, rồi đến Minh đạo gia huấn, rồi đến Ấu học ngũ ngôn thi, rồi đến Hiếu kinh, rồi đến Luận ngữ chính văn
(Lều chõng, trang 390) Trong các hành vi hỏi – đáp trên ta bắt gặp các từ để hỏi như “bao nhiêu, ở
đâu, sách gì” và hành vi đáp cũng hướng vào trọng điểm hỏi đó để tạo nên sự tương
tác giữa hành vi hỏi và hành vi đáp
b Sử dụng đại từ xưng hô:
Trong hội thoại khi vai giao tiếp giữa các nhân vật không ngang hàng, người đáp nhỏ tuổi hơn, hoặc ở vị thế thấp hơn người hỏi thì thường trả lời có cả từ xưng hô thể hiện vị thế thấp hơn của mình nhằm bày tỏ thái độ kính trọng, lễ phép với người nói
Ví dụ: Khi lý cựu hỏi:
- Có phải ba mẫu bốn sào năm thước ba thốn hay không?
- Vâng! Ông tính kỹ cho Ruộng nhà cháu có đâu mà được ba mẫu!
(Tắt đèn, trang 15)
Trang 34Ở hành vi hỏi - đáp trên lý cựu là người có chức có quyền trong làng, còn chị Thị Quy là người nông dân nghèo, sự khác nhau về địa vị xã hội đã chi phối đến việc
sử dụng từ xưng hô của chị, chị gọi tên lý cựu là “ông” và tự xưng mình là “nhà
cháu”
Ví dụ: Cụ nghè Quỳnh – lâm hỏi Văn Hạc:
- Vậy thì cậu đỗ hay hỏng?
- Bẩm cụ, con hỏng tuột, và bị cách cả thủ khoa
(Lều chõng, trang 618)
Nhân vật Văn Hạc là người ít tuổi hơn cụ nghè nên khi đáp lời anh sử dụng
cặp từ xưng hô “cụ/con” cùng với lời thưa bẩm “bẩm” ở đầu câu đáp để tỏ thái độ
tôn trọng, lễ phép đối với người nói
2.1.3.3 Sự tương tác biểu hiện ở hành vi đáp lặp lại một số từ của hành vi hỏi:
Hành vi đáp lặp lại một hoặc một số từ đã có ở hành vi hỏi Phần lặp lại ở hành
vi đáp mang ý nghĩa là làm sáng tỏ điều mà hành vi hỏi đặt ra theo kiểu khẳng định hoặc phủ định
Ví dụ: Đến gần trưa khi thấy bụng đã đói cồn cào, Khắc Mẫn mới hỏi Văn Hạc:
- Anh đã ăn uống gì chưa?
- Đã! Từ nãy đến giờ, tôi vẫn vừa viết vừa ăn Nhịn ăn mà viết thì chịu sao
nổi!
(Lều chõng, trang 390) Hành vi đáp lời của Văn Hạc lặp lại từ “đã” để nhằm khẳng định việc ăn trưa
đã diễn ra rồi Những hành vi tiếp theo để lí giải cho hành động đó
Hay khi bà lão láng giềng hỏi chị Dậu:
- Lá dành lá duối phải không?
Chị Dậu đáp:
- Phải Cháu thấy người ta mách rằng: những người sốt rét, cứ lấy hai thứ ấy
vò ra, phơi sương mà uống, bệnh nặng đến đâu cũng khỏi Vậy cháu thử làm cho nhà cháu uống xem sao
(Tắt đèn, trang 101)
Trang 35Hành vi đáp lời của chị Dậu lặp lại từ “phải” để khẳng định hành vi hỏi của bà
lão là đúng Ngoài ra còn cung cấp thêm thông tin cho bà lão biết tác dụng của loại cây thuốc này
Trong Tắt đèn và Lều chõng số lượng hành vi đáp có một số từ được lặp lại ít
hơn so với hành vi đáp lời không có yếu tố từ lặp lại Nguyên do là loại hành vi này dùng đại từ để hỏi thường là đại từ nghi vấn: sao, bao nhiêu, mấy, gì, ai đòi hỏi
hành vi đáp lời cung cấp thông tin từ bên ngoài
2.1.3.4 Một số phương tiện khác biểu hiện sự tương tác
Ngoài những phương tiện liên kết thể hiện sự tương tác về hình thức trên còn
có một số phương tiện tương tác khác thể hiện sự tương tác như: dùng ngữ điệu, sử
dụng quan hệ từ lựa chọn hay, hay là ở hành vi hỏi
a Hành vi hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn: hay, hay là:
Hành vi hỏi sử dụng quan hệ từ lựa chọn hay, hay là thể hiện sự nghi vấn một
trong hai khả năng của thông tin đưa ra Hành vi đáp bị khống chế bởi cấu trúc và yếu
tố từ vựng của hành vi hỏi nên chỉ lặp lại một yếu tố từ vựng trong cấu trúc lựa chọn
đó
Ví dụ: Vào làm bài thi Khắc Mẫn hỏi Văn Hạc:
- Thế thì bài kinh anh làm kinh Thi hay kinh Dịch?
- Có lẽ tôi sẽ làm cả
(Lều chõng, trang 406) Hành vi hỏi của Khắc Mẫn sử dụng quan hệ từ hay để biểu thị sự lựa chọn một
trong hai bài đó Hành vi đáp lời của Văn Hạc đưa yếu tố từ vựng bên ngoài vào, tuy nhiên nó vẫn bị chi phối bởi khung cấu trúc của hành vi hỏi
b Hành vi hỏi sử dụng phương tiện ngữ điệu:
Loại hành vi hỏi này dùng ngữ điệu cao giọng ở cuối câu (trên hình thức chữ viết được thể hiện bằng dấu chấm hỏi) được gắn chặt với một ngữ cảnh cụ thể Hành
vi đáp lời cũng bị chi phối bởi khung cấu trúc đó để tạo nên sự tương tác giữa hành vi hỏi và hành vi đáp
Ví dụ: Khi nghe bọn cai lệ bẩm báo vợ chồng anh Dậu trốn thuế lại còn đánh
cả lính, quan phủ dương đôi mắt và hỏi anh Dậu:
- Mày định trốn thuế nhà nước? Thằng kia