Sử thi Tây Nguyên từ lâu đã là một di sản văn hóa phi vật thể có sức sống lâu đời, nằm trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam nói chung và cộng đồng các tộc người Tây Nguyên nói riên
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA NGỮ VĂN -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ai đã từng một lần đến mảnh đất Tây Nguyên hùng vĩ chắc hẳn không khỏi ngỡ ngàng trước những rừng cà phê bạt ngàn, những hồ tiêu hay những rừng cao su ngạt ngào mùi nhựa mới vào những sớm ban mai Đất đỏ Tây Nguyên bao đời vẫn thế, đẹp, đầy sức sống và nuôi dưỡng trong mình bao giá trị truyền thống cao đẹp Mọi người đến với Tây Nguyên không chỉ để nhìn cuộc sống và con người nơi đây
mà ẩn sâu trong đó là sự tìm về với nguồn cội, với những tộc người thuộc dòng dõi con cháu Lạc Rồng Và cũng như một điều hiển nhiên, chúng ta tìm về với sử thi Tây Nguyên như một cách để thể hiện tình yêu, sự quan tâm đến đời sống tinh thần
của các tộc người anh em nằm trong cộng đồng vùng văn hóa Tây Nguyên
Sử thi Tây Nguyên từ lâu đã là một di sản văn hóa phi vật thể có sức sống lâu đời, nằm trong tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam nói chung và cộng đồng các tộc người Tây Nguyên nói riêng Vùng sử thi Tây Nguyên đã được xác định trùng khớp hoàn toàn với vùng văn hóa Tây Nguyên Có thể nói, sử thi đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sinh sống của các tộc người Tây Nguyên
Đó là niềm vui tinh thần, niềm tự hào của nhiều tộc người nơi đây Đọc sử thi ta nhìn thấy một nền văn hóa đặc sắc đã và đang tồn tại, khám phá rõ đặc điểm, vai trò của con người Tây Nguyên trong quá trình sinh sống
Nhân vật nữ trong sử thi là bước hoàn thiện tiếp theo từ nhân vật nữ trong truyền thuyết, đó là một sự phát triển rất đáng ghi nhận trong quá trình sáng tạo văn học Nhân vật nữ trong văn học nói chung và nhân vật nữ trong sử thi nói riêng đều
là những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giới nghiên cứu Bản thân tôi
là một người con được sinh ra, sống và học tập ngay trên mảnh đất Tây Nguyên, hơn ai hết tôi hiểu được phần nào lối sống, phong tục của người dân Tây Nguyên nói chung và hình mẫu những người phụ nữ Tây Nguyên nói riêng ngay thời điểm hiện tại Đó phải chăng là điều kiện then chốt để có thể nghiên cứu nhân vật nữ trong sử thi một cách có cơ sở và đầy đủ hơn Tất cả những lí do hội tụ trên đã thôi
thúc tôi lựa chọn đề tài Nhân vật nữ trong sử thi Tây Nguyên (Khảo sát trong hai sử
Trang 3thi Đam San và Mdrong Dăm), nhằm làm rõ vai trò của người phụ nữ trong đời
sống cũng như trong xã hội Tây Nguyên
Có thể nói, bài luận được coi như chính tâm huyết, sự chân thành thực sự của một người con Tây Nguyên muốn hướng về đất mẹ thiêng liêng- Tây Nguyên hùng
vĩ Đề tài là nền móng vững chắc hỗ trợ cho việc nghiên cứu tiếp theo về bước phát triển của nhân vật nữ trong tiến trình văn học dân gian Mặt khác, đề tài còn giúp tôi nâng cao hiểu biết về sử thi và nhân vật sử thi nhằm phục vụ cho việc giảng dạy văn
học nói chung và sử thi trong nhà trường nói riêng
2 Lịch sử vấn đề ngiên cứu
Sử thi Tây Nguyên đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Trong các đợt nghiên cứu diễn ra từ năm 1985- 1987, một đoàn cán bộ nghiên cứu của viện văn hóa dân gian và Sở văn hóa thông tin ĐakLak đã tiến hành một đợt sưu tầm, nghiên cứu tại chỗ, kết quả là họ đã có một công trình văn học dân gian Êđê do Đinh Thế Lệ chủ biên và Ngô Đức Thịnh cùng tập thể tham gia biên soạn Công trình này không tìm hiểu bất kì một khía cạnh nào về nhân vật nữ trong
sử thi Tây Nguyên mà chỉ dừng lại ở việc tái hiện lại các trận đánh
PGS Võ Quang Nhơn trong những công trình nghiên cứu nổi bật của ông là
Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1983 đã cho người đọc có cái nhìn tổng quan về đặc điểm xã hội,
văn hóa của các tộc người trên mảnh đất Tây Nguyên Ông đã đưa ra một số ý kiến nhận định về nhiều vấn đề trong sử thi, tuy nhiên công trình chỉ đi vào khai thác và đưa ra những ý kiến khái quát chung chung, chưa chú trọng đi sâu tìm hiểu về sự xuất hiện của nhân vật nữ trong sử thi
Công trình Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam- Tập 9-
Sử thi Êđê, NXB Khoa học xã hội, 2009 đã đóng góp rất lớn trong việc tổng hợp các
thể loại trong văn học dân gian của các dân tộc ít người Đặc sắc trong công trình này là vấn đề tìm hiểu khá cụ thể về sử thi của người Êđê thông qua đời sống tinh thần và vật chất của đồng bào nơi đây Đến với công trình này chúng ta có cơ hội tìm hiểu về đời sống sử thi trong cộng đồng người Tây Nguyên: “Khan sử thi Tây
Trang 4Nguyên là gia tài văn hóa, trước hết là văn học dân gian quý giá của đất nước” [26, tr.99] Song vấn đề chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu sử thi Tây Nguyên mà chưa đi sâu tìm hiểu về nhân vật nữ
Công trình Văn hóa dân gian Êđê-Mơnông, Trương Bi, Sở văn hóa thông tin DakLak, 2003 ngoài việc giới thiệu, đánh giá nội dung và nghệ thuật văn học dân
gian của hai dân tộc Êđê và Mơnông còn khai thác thêm về đặc trưng cơ bản của văn học dân gian cũng như nguồn gốc, lịch sử của hai dân tộc này Tuy nhiên việc tìm hiểu về đề tài nhân vật nữ trong sử thi của hai dân tộc Êđê, Mơnông chỉ là sự giới thiệu sơ lược
Tuy nhiên với đề tài: Nhân vật nữ trong sử thi Tây Nguyên (Khảo sát trong hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm) hầu như lại chưa có một tác giả nào đi sâu
nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện, có chăng cũng chỉ là những cái nhìn tổng quát về xã hội mẫu quyền cũng như nói đến sự xuất hiện mờ nhạt của nhân vật nữ trong sử thi Tất cả chỉ dừng lại ở tầm khái quát
Với tấm lòng say mê, muốn khám phá về nhân vật nữ trong sử thi đã sống và tồn tại như thế nào, đối sánh với nhân vât anh hùng ra sao, tất cả đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài này Tôi mong rằng vấn đề nghiên cứu của mình sẽ có thêm nhiều điều mới mẻ, góp phần làm rõ bước phát triển hình tượng nhân vật nữ từ truyền thuyết sang sử thi, làm tiền đề cho những nghiên cứu về sau của kho tàng sử thi Tây Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Nhân vật nữ trong sử thi Tây Nguyên (Khảo sát trong hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nhân vật nữ trong hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm Tôi tiến hành khảo sát trong cuốn sách Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, Sử thi Êđê (tập 9), Viện Khoa học xã hôi Việt Nam-
Viện nghiên cứu văn hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận nghiên cứu về Nhân vật nữ trong sử thi Tây Nguyên (Khảo sát trong hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm), tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
Chương Một: Lịch sử xã hội và sử thi Tây Nguyên
Chương Hai: Đặc trưng hình tượng nhân vật nữ trong sử thi Đam San, Mdrong Dăm
Chương Ba: Phương thức nghệ thuật biểu thị nhân vật nữ trong sử thi Đam San, Mdrong Dăm
Trang 6
CHƯƠNG MỘT
LỊCH SỬ XÃ HỘI VÀ SỬ THI TÂY NGUYÊN
1.1 Giới thiệu về sử thi và sử thi anh hùng
1.1.1 Giới thiệu về sử thi
Người Ấn độ có câu nói nổi tiếng: “Cái gì không có trong hai bộ sử thi Mahabharata và Ramayana thì không thể tìm thấy ở đâu trên đất nước Ấn Độ”, còn chúng ta- những người Việt Nam lại tự hào mà nói rằng: “Cái gì có trên đất Tây Nguyên thì không thể không tìm thấy trong sử thi Tây Nguyên” Vâng! Sử thi Tây Nguyên là một cuốn bách khoa toàn thư về Tây Nguyên, đọc sử thi chúng ta sẽ tìm lại trong đó cuộc sống, con người, tất cả các phong tục tập quán của một cộng đồng Điều thú vị và hấp dẫn làm nên sử thi Tây Nguyên là những giá trị lịch sử, giá trị văn hoá của nó với những cứ liệu lịch sử đầy thuyết phục về một giai đoạn lịch sử của dân tộc, mà theo một số nhà nghiên cứu, sử thi Tây Nguyên có thể ra đời vào khoảng thế kỷ XVI, khi xã hội Tây Nguyên có những thay đổi to lớn do các cuộc chiến tranh của các buôn làng…Cũng theo một số tài liệu lịch sử, sử thi Tây Nguyên đã được biết đến từ khá lâu, từ thời Pháp thuộc, đầu những năm hai mươi của thế kỷ trước, nhưng đến gần đây, mới được nghiên cứu, khai thác một cách quy
mô, sâu rộng
Khái niệm sử thi là một khái niệm không dễ dàng được thống nhất, cho đến ngày nay giới nghiên cứu vẫn đang miệt mài tìm hiểu để có thể đi đến một khái
niệm chính xác nhất và chung nhất Theo Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 1999 do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử đồng chủ biên, quan niêm về sử thi như sau: “Thể loại tác phẩm tự sự (thường là thơ) xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi bình minh lịch sử” [6, tr.285]
Theo cuốn Lí luận văn học, Nxb Đại Học Sư Phạm, Hà Nội, 2002 do Phương
Lựu chủ biên cũng đã quan niệm về sử thi “Sử thi là thể loại tự sự miêu tả các sự
Trang 7kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của nhân dân và dân tộc Đó là những sự kiện quá khứ, đã lùi sâu vào dĩ vãng nhưng trong ý thức của nhân dân và dân tộc chúng vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống hiện tại, vẫn được xem là niềm tự hào vẻ vang hay bài học lịch sử lớn lao của dân tộc” [11, tr.130]
Trong cuốn Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, 1997 do Phương Lựu, Trần
Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, Lê khắc Hòa đồng chủ biên, quan niệm
về sử thi đồng nhất với quan niệm về Anh hùng ca, theo đó sử thi: “Là thể loại tự sự thể hiện tập trung cho loại chủ đề lịch sử dân tộc” [23, tr.380]
Sử thi có hai loại là sử thi anh hùng và sử thi thần thoại, trong đó sử thi anh hùng có nhiều nét đặc sắc, lột tả được nhiều đặc điểm về sử thi mà chúng ta sẽ được
được tìm hiểu ở phần mục sau Nhận thấy, sử thi Đam San và Mdrong Dăm là hai
viên ngọc sáng của sử thi Êđê Trong quá trình khảo sát hai tác phẩm này, tôi nhận thấy rõ ràng rằng tư duy văn học của người Êđê thật sự có bước phát triển mạnh
Đam San và Mdrong Dăm, cả hai đều là tác phẩm tiêu biểu cho hình tượng nhân vật anh hùng trong sử thi, trong đó Đam San là một tác phẩm nổi bật với hình tượng
Đam San anh hùng Trong các năm 1996-1998, GS.TSKH Phan Đăng Nhật thực
hiện đề tài Vùng sử thi Tây Nguyên, với đề tài này tác giả cũng đã khẳng định Đam San là một kiệt tác của sử thi Tây Nguyên, cần được lưu truyền rộng rãi
Trên Tạp chí văn học, số 6 (năm 1982) tác giả Lê Văn Khoa đã đưa ra những phân tích xác đáng nhằm đi đến khẳng định Đam San là một bản anh hùng ca của Việt Nam, bên cạnh đó tác giả còn so sánh sử thi anh hùng Đam San với Iliat và Ođixe, từ đó cho thấy được nét đặc sắc của sử thi này ở Việt Nam Tác giả nhấn
mạnh rằng: “Không có một dũng sĩ nào trong các anh hùng ca lại có những hoạt động diễn ra trên nhiều bình diện như Đam San Chàng là hiện thân lí tưởng của toàn bộ tộc, trong chiến đấu, trong sản xuất, trong khát vọng hạnh phúc tự do, là hiện thân của bước đi tới của thời đại xã hội thị tộc phụ quyền Cháu Đam San sinh
ra, chỉ thôi khóc khi mang tên Đam San, sau khi vui vẻ nối dây cho cậu, không phải
Trang 8là dấu hiệu yên sóng lặng gió, luẩn quẩn trở lại thời đại cũ, mang tên Đam San, cậu
bé sẽ đi tiếp con đường mà Đam San đã mở ra” [8, tr.115]
Mdrong Dăm cũng là một nhân vật anh hùng xuất chúng trong sử thi, ngay
tên gọi của tác phẩm (Mdrong Dăm) cũng đã nói lên khát vọng, sự ngưỡng mộ của
cộng đồng Êđê gửi gắm qua nhân vật này Trong tiếng Êđê, “Mdrong” ám chỉ sự giàu có còn “Dăm” chỉ chàng trai hùng mạnh, tài giỏi, khái quát lại thì tên gọi Mdrong Dăm mang ý nghĩa là: “một chàng trai giàu có, tài năng và có sức mạnh” Những nghệ nhân của sử thi đã khéo léo xây dựng nên một Mdrong Dăm khác thường lẫn phi thường: “Nghệ nhân khan đã dồn hết cái khác thường và phi thường vào nhân vật Mdrong Dăm Từ ngoại hình, trang phục, vũ khí, đến bước đi, dáng đứng, sức mạnh đều nổi trội hơn người Mdrong Dăm là người thông minh, tài trí, tài cưỡi ngựa, săn bắn, giỏi múa khiên, lia đao, chàng còn là người rất tài nghệ trong đàn hát” [26, tr.72] Như vậy chúng ta có thể thấy được nét đặc sắc, tài nghệ của
nhân vật Mdrong Dăm trong sử thi Mdrong Dăm, chính sự đặc sắc đó đã làm nên
một sử thi Êđê khó phai nhòa trong lòng độc giả
Nói tóm lại, Đam San và Mrong Dăm là hai sử thi có thể được xếp vào “kiệt
tác” của sử thi Êđê Hai sử thi đã dày công xây dựng nên những hình mẫu anh hùng
lí tưởng, những anh hùng này xuất sắc, siêu việt phi thường, nhưng không tách rời, không đối lập với cộng đồng của mình Hơn nữa các anh hùng lại gắn bó mật thiết với toàn thể các thành viên trong công đồng, với tôi tớ, dân làng, anh em, bè bạn
Và chính sự siêu việt, phi thường của các nhân vật anh hùng trong sử thi chính là niềm vui, niềm tự hào, là sự mong ước của toàn thể làng buôn trong cộng đồng người Tây Nguyên
1.1.2 Giới thiệu về sử thi anh hùng
Sử thi anh hùng là những áng văn tự sự có quy mô hoành tráng, miêu tả và ca ngợi những người anh hùng dũng cảm, có phẩm chất tốt đẹp, tài trí hơn người, lập được nhiều chiến công hiển hách, biết hi sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ cho cộng đồng Đọc sử thi anh hùng chúng ta có thể tái hiện lại cuộc sống, con người cũng như các cuộc chiến đấu của các anh hùng như Đam San, Xinh Nhã để từ đó thấy
Trang 9được vẻ đẹp ngoại hình, tình thần trượng nghĩa của các nhân vật Sử thi anh hùng chiếm một số lượng lớn trong kho tàng sử thi Tây Nguyên, người ta sử dụng nhiều tên gọi khác nhau về loại sử thi anh hùng này như “khan”, “bài ca”, “trường ca”
Căn cứ vào hình thức, nghệ thuật diễn xướng, trong công trình nghiên cứu: Võ Quang Nhơn tuyển tập, nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn đã nhận định một cách có
cở sở và chắc chắn về tên gọi của các sử thi trong kho tàng sử thi Tây Nguyên: “Để vừa phản ánh được tính chất loại hình của thể loại văn học dân gian đang được đề cập, cũng như vừa khu biệt được các tác phẩm khan với các tác phẩm anh hùng ca
cổ điển trên thế giới (như Iliát, Ôđixê), chúng tôi nghĩ rằng thuật ngữ sử dụng thích
hợp hơn cả là sử thi anh hùng” [19, tr.287]
Để hiểu rõ thêm về thể lọai sử thi anh hùng này, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu cụ thể về vẻ đẹp của nó, nổi bật trên hai phương diện là nội dung và nghệ thuật thể hiện Về phương diện nội dung, sử thi anh hùng đã dày công miêu tả và ca ngợi những người anh hùng dũng cảm, có phẩm chất tốt đẹp, tài trí hơn người, lập được nhiều chiến công hiển hách, biết hi sinh lợi ích cá nhân để bảo vệ cộng đồng Những đề tài chính được sử thi anh hùng sử dụng, miêu tả là chiến đấu chống quái vật để cứu người đẹp và dân làng, người anh hùng đi hỏi vợ hoặc sự chống đối, trả thù của dòng họ này với dòng họ khác nhằm mục đích nâng cao sức mạnh, thể hiện
uy lực trong cộng đồng lúc bấy giờ Nói đến điều này, không thể không nhắc đến
Đam San- một nốt thăng trong bản nhạc chung về sử thi anh hùng Tây Nguyên, tác
phẩm đã tái dựng lại đời sống đầy biến động của cộng đồng người Êđê xưa qua hàng loạt những chiến công của người anh hùng Đam San: đánh thắng các tù trưởng Sắt, Kên Kên, mở mang buôn làng, chặt cây Sowmuk, bắt ông Trời phải làm theo mình, và sau đó là chinh phục Nữ thần mặt trời Nhân vật anh hùng được miêu tả bằng những ngôn từ phóng khoáng nhằm mục đích xây dựng một mẫu anh hùng lí tưởng, đó là sự chủ động, tự tin, bình tĩnh, dũng cảm, chiến đấu kiên cường, hành động kiên quyết Chàng Đam San múa khiên rất khỏe, rất đẹp và cũng rất nhanh Mỗi lần múa khiên của chàng là mỗi lần cây cối xug quanh chết rụi, đồi núi thì rạn nứt, bao nhiêu đồi tranh bật rễ bay tung Còn vẻ đẹp của chàng Đam San thì sao?
Trang 10Vẻ đẹp ấy đã được hình tượng hóa, làm nên một hình mẫu anh hùng lí tưởng mà dường như chỉ xuất hiện trong sử thi: “Đến gần chiều Đam San đi làm rẫy về Nhìn chàng thật đẹp, đằng sau như có người tạc, đằng trước như có người chạm, nhìn cả một buổi sáng cũng không chán Râu mép Đam San như mây song bột, râu cằm như mây song đá, râu quai nón mọc từ cằm đến tận sát tai Lông chân thì quăn, lông đùi thị rậm, lông mi cong, mặt mũi đỏ hồng như có men rượu nồng, như say rượu nước chát, mắt như mắt rắn, mắt cá trê Một chàng trai dũng cảm, hung hăng, khỏe mạnh, như nắng mùa khô không biết có bóng râm Quả là một người chủ đất, một bàn tay
quản cả rừng, xứng là kẻ giữ tổ ong trên cành cây cổ thụ” [26, tr.384]
Như vậy sử thi anh hùng đã khắc họa thành công nhân vật anh hùng, hình mẫu ấy còn thực sự trở nên hoàn thiện hơn qua mối gắn kết của nhân vật anh hùng với cộng đồng Mối tương quan ấy thể hiện phần nào tính tập thể, sự gắn kết của cộng đồng trong sử thi Tây Nguyên Cụ thể là sau khi chiến thắng, chàng Đam San
đã không tiến hành giết chóc đẫm máu mà thuyết phục, kêu gọi tôi tớ của Mtao Mxây theo chàng Thái độ kêu gọi của chàng rất nhiệt thành, chàng trực tiếp đến gõ cửa từng nhà để kêu gọi Lời kêu gọi thể hiện tư tưởng muốn thống nhất buôn làng, khát vọng xây dựng một buôn làng giàu mạnh, phồn vinh Cuộc chiến đấu đã mang lại cho ta những cái nhìn độc đáo về người anh hùng Đam San trong chiến công bảo
vệ buôn làng, đem lại bình yên cho thị tộc
Không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các hình mẫu anh hùng cũng như mối gắn kết của họ với buôn làng, sử thi anh hùng còn tập trung miêu tả đến các cuộc giao tranh giữa các dòng họ với nhau mà nguyên nhân chủ yếu là giành dật lại người đẹp Trong tiềm thức của các bậc anh hùng và cộng đồng Tây Nguyên, người nào, dòng họ nào bị người khác cướp mất vợ là một sử sỉ nhục lớn cho dòng họ Chiến tranh nổ ra như một cách để họ dành lại danh dự, nếu không dành được chiến thắng, không cướp lại được người đẹp là coi như người đó đã bị thất thế, sức mạnh
đã bị đè bẹp một cách nhục nhã Và một cách ngẫu nhiên, những người phụ nữ trở thành món hàng, vật trao đổi trong các cuộc giao tranh Họ chỉ là vật trung gian để các nhân vật anh hùng sử dụng trong việc phô trương sức mạnh và cứu vớt danh dự
Trang 11Chiến tranh giành dật lại người đẹp thể hiện rõ trong sử thi quen thuộc của người
Êđê là sử thi Đam san Đam San giao chiến với tù trưởng Mtao Mxây và Mtao Grư
để dành lại người vợ tên Hơ nhí Trong sử thi Đăm Di Đi Săn của người Êđê cũng
vậy, anh em Đăm Di đã đánh bại anh em Ca Rơ Bú để cứu mẹ và vợ Rõ ràng tình yêu, hôn nhân đã được đặt chung với lợi ích của tập thể và sử thi anh hùng đã có công trong việc tái hiện lại một cách sâu sắc mối quan hệ đó- mối quan hệ giữa cộng đồng và cá nhân trong xã hội Tây Nguyên
Về phương diện nghệ thuật, sử thi anh hùng có sức sống, sức trường tồn trong lòng văn hóa dân gian Việt lâu đời như thế có lẽ một phần cũng do cách sáng tạo về câu chữ, ngôn từ lẫn phong cách thể hiện Sử thi anh hùng đã kết hợp hài hòa giữa chất hoành tráng, hào hùng của khí thế chiến trận với sự nên thơ, tha thiết của tình yêu lứa đôi Bằng việc sử dụng ngôn ngữ cổ, chất hành động và táo bạo của nhân vật, là xu hướng ngợi ca và khẳng định Sử thi anh hùng Tây Nguyên còn nổi trội với việc kết hợp các yếu tố ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca, âm nhạc và kể
cả ngôn ngữ sân khấu Ngôn ngữ sân khấu gắn liền với quá trình diễn xướng trong
sử thi anh hùng Diễn xướng có hai hình thức là diễn xướng động và diễn xướng tĩnh, không chỉ kể hát thông thường mà người ta còn kèm theo vũ đạo để minh họa Khi diễn xướng về sử thi anh hùng, khi kể đến những đoạn chiến đấu hay mô tả dáng đi uyển chuyển của các cô gái thì nghệ nhân tự đứng dậy minh họa, có khi bằng động tác, có khi lại bằng vũ đạo Có nghệ nhân vừa đổi giọng đối thoại, vừa làm điệu bộ diễn xướng sân khấu phù hợp riêng với khí thế của từng câu chuyện rất hay, điều đó đã làm nên nét đặc sắc của sử thi anh hùng Ví dụ như khi hát kể về các trận đánh nhau của nhân vật anh hùng với các tù trưởng tham lam chuyên đi cướp
vợ của người khác, lúc này giọng nghệ nhân biểu thị sự gấp gáp, nhanh, mạnh mẽ, mang âm hưởng của anh hùng ca Nhưng trái lại khi diễn tả một cảnh sắc nào đó vô cùng tươi đẹp giọng nghệ nhân lại lắng xuống nhẹ nhàng, rồi ngay cả những đoạn nói lên hành vi cướp vợ của các tù trưởng xấu xa giọng người kể chuyện lại mang
âm hưởng trách móc, chê bai kèm theo là thái độ căm phẫn Chính những điều trên
đã làm tăng thêm tính chất anh hùng trong sử thi
Trang 12Nói tóm lại, sử thi anh hùng Tây Nguyên luôn có những đặc điểm riêng biệt, khác lạ Chính sự khác biệt ấy lại làm nên kho tàng sử thi Tây Nguyên sống mãi đến
ngày hôm nay Hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm được coi như là hai kiệt tác của
sử thi Êđê, bởi lẽ ngoài những hình thức nghệ thuật đặc sắc hai sử thi này còn mang những giá trị nhân văn, văn học to lớn Hai sử thi thực sự xứng đáng là những hình mẫu tiêu biểu của sử thi anh hùng
1.2 Xã hội Tây Nguyên và sử thi anh hùng
1.2.1 Đặc trưng xã hội Tây Nguyên trong sử thi
Tây Nguyên nói chung và cộng đồng dân tộc người Êđê nói riêng luôn mang trong mình một nét riêng, nét riêng đó trở thành đặc trưng Có thể nói, sử thi đã thâu tóm toàn bộ đời sống của xã hội Tây Nguyên vào trong những sáng tác của mình, làm nên một sử thi sống động, đậm chất Tây Nguyên
Xã hội Tây Nguyên có nhiều nét đặc sắc trong đời sống, các dân tộc ở khu vực này trước kia sống trong một dạng xã hội hầu như tương tự nhau, đó là chế độ
xã hội cộng đồng vào giai đoạn cuối thời kì nguyên thủy Các thành viên trong cộng đồng xã hội Tây Nguyên không rải rác từng cá nhân mà sống theo tập thể, theo từng cụm nhà ở các sườn đồi, ven núi Đó cũng chính là một biểu hiện nhỏ thể hiện khá
rõ tính tập thể cộng đồng của các dân tộc Tây Nguyên Chế độ “xã hội công xã láng giềng” của các dân tộc ở Tây Nguyên có tính chất cộng đồng, bình đẳng tương trợ trong sản xuất cũng như trong sinh hoạt Về căn bản, ở các tộc người sống theo chế
độ cộng đồng như trên thì sự phân hóa giai cấp chưa thực sự rõ ràng Tuy nhiên do cuộc sống của nội bộ cộng đồng xã hội phát triển hoặc do sự tác động của xã hội ở các dân tộc phát triển, ở một số dân tộc bắt đầu có hiện tượng phân hóa giai cấp Tầng lớp những nhân vật như tù trưởng, người giàu ngày càng tích lũy được nhiều của cải có giá trị, trong khi đó một số người nghèo lại chấp nhận với cuộc sống nô
lệ Sự phân hóa giai cấp này còn thể hiện rõ hơn ở hành động: Khi chết các tù trưởng, những nhân vật giàu có được gia đình chôn cất theo với rất nhiều của cải và một số nô lệ để phục dịch cho những người đó ở thế giới bên kia
Trang 13Không dừng ở đó, xã hội Tây Nguyên còn nổi bật với hình thức xã hội mẫu
hệ Ngày xưa, vùng đất cao nguyên mênh mông, núi rừng hùng vĩ, chói chang ánh
mặt trời, đầy mưa rừng, thú dữ, để tồn ta ̣i và thích nghi, ho ̣ phải phát rừng, làm rẫy,
săn bắn để ăn, trồng bông, dê ̣t vải để mă ̣c Muốn ổn đi ̣nh, phát triển lâu dài họ phải
biết quản lý, phân phối sức lao đô ̣ng, nuôi da ̣y con cái, phải có người trụ cô ̣t trong
gia đình và không ai khác đó là người phu ̣ nữ Tài sản duy nhất của mỗi gia đình là
sự đoàn kết và tương trợ, đối với ho ̣ không có sự cô đơn và bỏ rơi Mo ̣i người phải
đều thấm nhuần tư tưởng: Chỉ hưởng thu ̣ vừa phải, đừng tham lam, phải điều đô ̣ và
chan hòa về tình cảm Những khuôn mẫu đó do người phu ̣ nữ, người vợ trong gia
đình tiết chế Với người đàn ông, hãy trang bi ̣ cho ho ̣ đầy đủ vũ khí sắc bén để ho ̣
lăn xả vào cuô ̣c chiến đấu lớn, khốc liê ̣t với kẻ thù, thù tô ̣c, thú dữ rình râ ̣p Phận
đàn bà là sinh nở, nuôi da ̣y con cái, trồng tro ̣t, chăn nuôi, đem la ̣i sự ổn đi ̣nh trong
gia đình, bô ̣ tô ̣c Do vâ ̣y, gia đình phải để ho ̣ cai quản, đây là quyền lợi và nghĩa vu ̣
cao cả của người phu ̣ nữ, đă ̣c biê ̣t là người me ̣ giữ vai trò lãnh đa ̣o và đầy quyền
lực
Ngày nay, chế đô ̣ mẫu hê ̣ vẫn còn tồn ta ̣i trong cuô ̣c sống và ý thức của tô ̣c
ngườ i Tây Nguyên như Êđê, Gia-rai, Cơ-ho Ở một số dân tộc khác đã có sự
chuyển tiếp quá độ giữa dạng mẫu hệ sang phụ hệ, có một số dân tộc đã chuyển
sang hẳn phụ hệ như Xơ-đăng, Ba-na, Mơ-nong Tuy nhiên, trải qua những biến
thiên của lịch sử, do sự tác động của những yếu tố như chiến tranh, loạn lạc…các
chế độ xã hội ấy đã bị vỡ vụn, không còn nguyên dạng như lúc ban đầu nữa Mặc dù
vậy, theo như tôi tìm hiểu thì sự “sót lại” của chế độ mẫu hệ ngày nay ở các dân tộc
Tây nguyên là một nét văn hóa đặc sắc, nó như lưu giữ được nhiều bản sắc văn hóa
rất riêng và đô ̣c đáo, góp phần vào sự đa da ̣ng, phong phú chung trong văn hóa của
các dân tô ̣c ở vùng đất đầy nắng, đầy gió, vùng đất của lễ nghi, phong tu ̣c, lễ hô ̣i
Nghiên cứu về xã hội Tây Nguyên thật sự có nhiều điều thú vị, kể cả trong
lối sinh hoạt đến tín ngưỡng thường ngày của họ Nhận thấy, cộng đồng người Tây
Nguyên sống theo từng vùng, từng tộc người, mỗi tộc người lại chia thành những
buôn nhỏ khác nhau Ví dụ như những buôn làng của tộc người Êđê chẳng hạn, mỗi
Trang 14buôn từ vài chục đến trăm nóc nhà dài, có phạm vi đất cư trú, đất sản xuất và chăn nuôi, được giới hạn một cách rất rõ ràng và còn có sự thừa nhận chung của tất cả mọi người Xã hội Tây Nguyên nói chung và tộc người Êđê nói riêng đều là những
cư dân nông nghiệp lâu đời, họ thường làm rẫy, trên rẫy chủ yếu là trồng lúa, ngoài
ra còn trồng thêm ngô, khoai, bầu, bí Đồng bào Tây Nguyên còn lấy chăn nuôi làm công việc chính trong thu nhập của mình, họ chăn nuôi trâu, lợn, bò Bên cạnh những hoạt động từ trồng trọt, chăn nuôi cộng đồng người Tây Nguyên còn rất chăm chỉ trong việc “thu nhập” từ thiên nhiên như lấy mật ong, săn thú, đánh bắt cá
từ những ao, hồ trong buôn làng gần hoặc xa Mỗi buôn làng lại có một hệ thống nhà sàn riêng, thường hệ thống nhà sàn ở đây dài và lớn, có sức chứa nhiều thế hệ của một gia đình Có thể thấy điều này ở hệ thống nhà sàn của người Êđê, nhà sàn là một đặc trưng của tộc người này, sự giàu có của một đại gia đình thể hiện rất rõ qua
nhà sàn Điều này đã được đưa vào sử thi Đam San và tái hiện lại một cách rõ nét:
“Nhà chàng Đăm Săn dài hết một tiếng chiêng ngân, hiên nhà dài bằng một hơi ngựa chạy Bọn trẻ nối nhau nhóm đi lên nhóm đi xuống, người vác ché tuk, ché đuê, lên xuống cầu thang, vào cửa cũng không ai đụng ai Quả là cái nhà thật to lớn của người giàu! Nóc nhà gian trong buộc chỉ đỏ, nóc nhà gian ngoài buộc chỉ vàng Đàn chim bhi, chim sáo bay qua lượn lại quanh nhà Đầu hiên tạc hình mặt trăng, đầu cầu thang tạc hình đôi vú, hình con chim cu Cái cầu thang rộng vừa trải một chiếc chiếu Ba người cùng lên, ba người vác ché Ju, ché Jan cũng không đụng vào nhau” [26, tr.383]
Mỗi tộc người ở Tây Nguyên có một trang phục đặc thù riêng Với phụ nữ Êđê, họ quấn váy dài chớm gót, mặc áo chui đầu ngắn trên gai hông, có hoa văn ở vai, nách và cổ tay, trang phục của nữ giới nhìn chung màu mè và bắt mắt Riêng với đàn ông, họ đóng khố, cởi truồng, chỉ khi nào thời tiết lạnh hoặc có dịp đặc biệt
họ mới mặc áo có họa tiết Áo mặc chui đầu, thân sau dài quá mông với mảng vải
đỏ giữa ngực, có đường hoa văn dọc hai bên nách và ngang gấu áo thân sau kèm theo là những tua sợi thắt nút lồng hạt cườm
Trang 15Tây Nguyên nói chung và tộc người Êđê nói riêng nổi tiếng với những ché rượu cần Đồng bào uống rượu cần vào những dịp cúng thần, lễ tết hay khi bạn bè khách quý tới nhà Nếu khách lớn thì có ché rượu lớn, khách nhỏ thì có ché rượu nhỏ hơn, tùy vào mức độ thân sơ hay tầm quan trọng của khách mà người chủ nhà
đưa ra những ché rượu riêng Điều này hiện diện rõ trong sử thi Đam San, khi hai
anh em Y Đhing, Y Ling đến hỏi chồng cho hai em gái Khi đến nhà, Đam San đã mời hai anh em những ché rượu khác nhau: “Sao các anh nói khoác tài thế, knai Y Đhing, Y Ling? Ơ chim chích một ngàn, chim cu một trăm, đầy tớ bốn năm! Các con hãy đi lấy rượu cột cho knai Y Đhing, Y Ling uống Các con cột cho người anh một ché tang, cột cho người em một ché ba Ba đứa trẻ hãy đi bẻ lá, năm đứa trẻ hãy
đi lấy nước, cột rượu cho knai Y Đhing, Y Ling uống ngay đi!” [26, tr.388]
Một đặc điểm cơ bản nữa của xã hội Tây Nguyên (thời kì hình thành sử thi)
là chưa trải qua giai đoạn hình thành nhà nước, tổ chức tương đối hoàn chỉnh của xã hội là buôn, plây (một kiểu làng) với già làng Xu hướng xã hội là vươn lên liên minh với nhiều làng có tên là Tơrưng nhưng chưa phát triển thì bị chặn lại bởi làn sóng xâm lược của thưc dân Pháp Xã hội này gắn liền với sử thi cổ sơ Sự nghiệp của nhân vật anh hùng trong xã hội Tây Nguyên lúc bấy giờ được chia làm hai lớp Lớp thứ nhất làm nhiệm vụ trực tiếp trước mắt: báo thù, đòi nợ, giành lại người vợ
bị cướp Đó chính là một trong những nhiệm vụ của anh hùng thời kì sử thi cổ sơ Nhưng lớp thứ hai ăn sâu không được tuyên bố rõ ràng là qua chiến tranh làm cho làng buôn giàu mạnh, thu phục nhân lực và đất đai, tiến tới mở rộng liên minh Như vậy, tất cả những yếu tố từ hoàn cảnh, đặc điểm xã hội trên đã thúc đẩy
sự hình thành sử thi, sử thi đã gói gọn tất cả, phản ánh tất cả đời sống cũng như con người và xã hội Tây Nguyên Điều đó chứng tỏ sử thi Tây Nguyên mang giá trị đời sống rất cao, tất cả những gì có ở bên ngoài đời sống cộng đồng đều được tái hiện lại một cách sâu sắc trong những áng sử thi đầy màu sắc
1.2.2 Không gian văn hóa sử thi
Sử thi Tây Nguyên ẩn chứa nhiều điều mới lạ, trong sử thi tồn tại một nền văn hóa lâu đời của cộng đồng các tộc người, đó là những tập quán, nghi thức sinh
Trang 16hoạt cũng như lối sống dân dã thường ngày…Nói tóm lại thì sử thi Tây Nguyên đã phản ánh một cách trung thực, sinh động, đời sống sinh hoạt cộng đồng Tất cả
những gì gần gũi ấy đã làm nên một “Không gian văn hóa sử thi” đặc sắc của mảnh
đất Tây Nguyên hùng vĩ nói chung và tộc người Êđê nói riêng
Tộc người Tây Nguyên sống thành cộng đồng lớn và tổ chức cộng đồng thành xã hội Những con người trong cùng một cộng đồng này có những hoạt động văn hoá tập thể dựa trên một hệ thống các giá trị và chuẩn mực chung cho cộng đồng mà họ đang sống Những hoạt động này không những liên kết họ thành một khối mà còn làm cho họ mang những nét chung trong đời sống văn hoá của mỗi người và những sản phẩm từ các hoạt động văn hoá của họ cũng mang những nét chung đặc trưng cho cộng đồng
Một vòng đời người Tây Nguyên phải trải qua nhiều nghi lễ, tham gia nhiều
lễ hội Bắt đầu từ thuở ban sơ cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ hứng nước sương làm
lễ thổi tai, đặt tên, đến tuổi vị thành niên phải qua lễ cắt việc, rồi cưới chồng, dựng nhà, cầu chúc sức khỏe, sản xuất, săn bắn, hái lượm…cho đến khi đi về “bến nước ông bà”, về cõi mang lung, từ giã hẳn cộng đồng trong lễ bỏ mả Cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên có rất nhiều những hoạt động lễ hội khác nhau cùng rất nhiều những tập tục truyền thống như lễ cúng bến nước Lễ cúng bến nước là một trong những nghi lễ rất quan trọng đối với người Êđê Nước còn quan trọng hơn cả cơm
ăn, áo mặc Người Êđê quan niệm rằng không ăn cơm còn sống được cả tháng trời, không có áo mặt thì chỉ bị lạnh thôi, còn không có nước thì chết liền Chính vì vậy
mà người Êđê thờ thần nước như thờ tổ tiên nhà mình, cúng bến nước là để cầu cho nước sạch, nước trong, mang lại sức khỏe cho buôn làng Đó là một trong những tục
lệ không thể thiếu của tộc người Êđê trong cộng đồng người Tây Nguyên Cũng giống như người kinh thờ phụng tổ tiên, các tộc người Tây Nguyên có những cách thờ phụng tâm linh thần bí của họ Đó là những tập tục như nhà mồ, lễ cúng bỏ mã Nhà mồ Tây Nguyên có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của họ, những gì có ở nhà mồ không chỉ dành cho người đã chết mà còn là niềm tin cho người đang sống Người Ba-Na, Gia-Rai tin rằng linh hồn người chết sẽ biến hóa
Trang 17những thứ để trong nhà mồ sẽ có thêm nhiều hơn nữa, như tượng các con vật nuôi, những dao rựa, cung nỏ săn bắn v.v…phù hộ cho người sống gặp may mắn khi nuôi súc vật, đi rừng hay săn bắn Lễ cúng nhà mồ là một nghi thức tín ngưỡng độc đáo hấp dẫn được diễn ra trong ba ngày đêm liền, và được chuẩn bị từ mấy tháng trước Tất cả mọi người khi đến dự lễ đều phải biết múa Rông Chiêng, biết đánh cồng chiêng, gõ trống, chơi đàn Tơ rưng, họ nhảy múa quanh ché rượu hò reo, vui mừng
Họ diễn tả các động tác làm nương, may vá thêu thùa, và điệu múa khiên của thanh niên trình diễn các động tác săn bắn hay chiến trận Vì vậy trong ngày lễ hội nhà mồ diễn tả rất nhiều hoạt động sinh động và có ý nghĩa Tất cả tạo nên không gian văn hóa trong sử thi Tây Nguyên
Có thể nói, văn hóa buôn làng của các tộc người Tây Nguyên đã sản sinh ra rất nhiều văn hóa lễ hội Lễ hội dân gian này nhằm mục đích tôn vinh ý nghĩa, vai trò cũng như quyền uy to lớn của các vị thần Và như một điều hiển nhiên, nhà Rông đã trở thành một biểu tượng không gian văn hóa trong sử thi, trở thành địa điểm sinh hoạt văn hóa Trong ngôi nhà sàn bé nhỏ đã diễn ra không ít các hoạt động truyền thống Đó là những lễ thức, phong tục, tập quán, các loại hình diễn xướng và âm nhạc dân tộc, trang phục, ngôn ngữ Nhà Rông được coi là linh hồn của làng, nơi hội tụ khí thiêng của đất trời, sông núi, là nơi lưu giữ những giá trị thiêng liêng của buôn làng Buôn làng có nhà Rông như được tiếp thêm sức sống Theo tư duy truyền thống của đồng bào các dân tộc thì nhà Rông là một thành tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng Nhà Rông là hình ảnh thu nhỏ của các thành tố văn hóa truyền thống của một làng, một tộc người Nó chiếm giữ vị trí quan trọng bậc nhất trong tư duy và hiện thực đời sống sinh hoạt của tất cả các thành viên trong cộng đồng Đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số thì “Dân tộc – Làng – Nhà Rông” là mối quan hệ không thể tách rời, cũng như làng của người Kinh gắn với cây đa, bến nước, sân đình Hình tượng nhà Rông mang biểu hiện sức mạnh của một cộng đồng làng, thể hiện tinh thần thượng võ, đầy uy quyền, khẳng định chủ quyền, lãnh địa của làng
Trang 18Không gian văn hóa Tây Nguyên đã sản sinh ra văn hóa lễ hội và văn hóa nhà Rông Lễ hội dân gian truyền thống tôn vinh quyền uy của nhà Rông còn nhà Rông lại là điều kiện và môi trường để thể hiện lễ hội Cả hai đều có ý nghĩa duy trì lẫn nhau và nằm trong nhau Lễ hội là đất sống của gần như tất cả các loại hình văn hóa, văn nghệ dân gian cổ truyền từ các lễ thức, phong tục, tập quán đến các loại hình diễn xướng dân gian, nhạc cụ dân tộc, trang phục, ngôn ngữ, ứng xử Bởi thế nên nhà Rông lại càng có vị trí hết sức quan trọng trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Nhà Rông vừa có giá trị văn hóa vật thể vừa có giá trị văn hóa phi vật thể Những hình ảnh bếp lửa bập bùng, những ghè rượu cần cột thành dãy hai bên bếp,
âm thanh trầm hùng của cồng chiêng, của các già làng, các chàng trai cô gái trong lễ hội ở nhà Rông thể hiện một không gian văn hóa hết sức mộc mạc, đầm ấm, quây quần trong sự cấu kết cộng đồng không thể tách rời Tất cả làm nên bản sắc phong phú, độc đáo của văn hóa truyền thống dưới mái nhà Rông Và cũng chính trong ánh lửa bập bùng ấy đã hiện lên những hình thức diễn xướng mới lạ, hấp dẫn, thể hiện được phong tục của người Tây Nguyên Những nghệ nhân diễn xướng bằng các hình thức múa hát Họ chủ yếu dùng ngôn ngữ và giọng điệu để biểu đạt nội dung truyện kể Tùy theo nội dung cụ thể của truyện kể mà nghệ nhân có giọng điệu sao cho phù hợp với mục đích đưa lại hiệu quả thẫm mĩ cao nhất cho người đọc
Rõ ràng môi trường diễn xướng của sử thi là lễ hội, và đi kèm theo các lễ hội
là tất cả các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian tổng hợp của nền văn minh lúa rẫy Tất cả những điều ấy đã làm nên một không gian văn hóa Tây Nguyên đậm đà bản sắc, một không gian văn hóa đã trở thành biểu tượng lâu đời của các tộc người Tây Nguyên
1.3 Xã hội mẫu quyền và vai trò của người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền 1.3.1 Xã hội mẫu quyền
Sử thi không chỉ tái hiện cho chúng ta về không gian văn hóa đặc sắc, về những phong tục lễ hội…mà còn tái hiện lại cả một chế độ của một tộc người, và đó
chính là chế độ mẫu hệ hay gọi khác đi là xã hội mẫu quyền Chế độ mẫu hệ hay xã
hội mẫu quyền là một hình thái tổ chức xã hội trong đó người phụ nữ, đặc biệt là
Trang 19người mẹ, giữ vai trò lãnh đạo, quyền lực và tài sản được truyền từ mẹ cho con gái Chế độ mẫu hệ được đưa vào dòng mẹ, mọi việc trong gia đình phụ thuộc vào người phụ nữ Khi đi thì người phụ nữ phải đi trước, người đàn ông phải luôn theo sau, muốn quyết định công việc gì trong gia đình, người đàn ông phải hỏi phụ nữ trước Vai trò của người đàn ông là hỗ trợ đằng sau cho người vợ Người phụ nữ ngoài việc bếp núc họ còn phải đảm đang, thu xếp tất cả các mối quan hệ trong một đại gia đình, người đàn ông đứng sau lưng người phụ nữ và làm những công việc săn bắt Trong việc kế thừa tài sản, người Êđê quan niệm quyền thừa hưởng và quản lý gia sản là thuộc về người con gái cả Trong xã hội người Êđê truyền thống, phụ nữ cũng chính là người chủ động cưới chồng, đàn ông cư trú phía nhà vợ, con cái thuộc dòng mẹ, mang họ mẹ
Ngày nay, xã hội mẫu hệ người Êđê mặc dù vẫn được đánh giá là xã hội mẫu
hệ khá điển hình ở Việt Nam nhưng đang biến đổi khá sâu sắc thể hiện trong sự biến đổi về hôn nhân, mô hình nơi cư trú, các quan hệ gia đình Một đặc điểm bao trùm lên đời sống xã hội của các tộc người Tây Nguyên là văn hóa mẫu hệ Văn hóa mẫu hệ thể hiện những đặc trưng của một xã hội mẫu quyền Và những bộ luật tục Tây Nguyên được bà con vận dụng như là một hình thức quản lý xã hội bằng mẫu quyền Chúng thể hiện uy tín, sức mạnh, quyền lực của mẫu quyền trong việc điều hành, tổ chức, quan hệ và quản lý cộng đồng, nhằm bảo vệ sự sống còn của gia
đình Lấy điển hình trong xã hội Êđê, chức chủ buôn chỉ nằm trong tay một dòng
họ, không bao giờ truyền sang dòng họ khác, đặc biệt chỉ truyền theo dòng nữ tức là theo chế độ mẫu quyền và người này trao lại cho người chồng đảm nhiệm, điều hành mọi công việc chung của buôn Nếu ly dị nhau, người chồng- chủ buôn sẽ mất chức chủ buôn, người vợ đảm nhận cho đến khi có chồng khác và trao lại cho người chồng kế tiếp đó Nếu vợ chồng chủ buôn chết, gia đình không có con gái thì chức chủ buôn phải trao lại cho em gái vợ hay cháu gái gần nhất (con của chị hoặc em gái vợ) Xã hội mẫu quyền là một xã hội mang nét đặc trưng của cộng đồng người Tây Nguyên Tuy nhiên trên thực tế, ở một phương diện khác, có thể bắt gặp những thân phận đàn ông thật bi đát là hệ quả của chế độ xã hội mẫu hệ Tây Nguyên
Trang 20Như vậy, chúng ta có thể thấy được xã hội mẫu quyền là một đặc trưng nổi
bật của cộng đồng người Tây Nguyên Hiểu rõ về khung cảnh xã hội mẫu quyền của
người Êđê cũng như cộng đồng các tộc người dân tộc Tây Nguyên là một trong những khởi đầu nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trên địa bàn Tây Nguyên Đây còn là một trong những móc xích quan trọng giúp chúng ta nhận diện rõ hơn sự tồn tại của thiết chế gia đình mẫu hệ người Êđê nói riêng và một số
tộc người Tây Nguyên nói chung trong bối cảnh kinh tế, xã hội và văn hóa hiện nay
1.3.2 Vai trò của người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền
Ngay từ lúc xưa, con người ta đã biết đề cao vai trò của người phụ nữ trong cộng đồng người, người phụ nữ được nói đến là những vị nữ thần Nữ thần có vai trò to lớn trong việc kiến tạo trời đất, sáng tạo ra các giá trị văn hóa truyền thống và còn sản sinh ra con người, thế giới vạn vật xung quanh Những vị nữ thần luôn chiếm vị trí quan trọng trong điện thần, vượt xa hẳn với các nam thần Tất cả những điều đó đều được nói đến trong thể loại thần thoại, thần thoại đề cao vai trò của người phụ nữ, tôn vinh họ là những vị thần tối cao, những con người có sức mạnh
cải tạo cuộc sống, vạn vật Trong thần thoại Sự tích cây lúa, người Mơ Nông đã
sáng tạo ra thần Ka Lôm Bà Ka Lôm đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người lúc bấy giờ, bà dạy dân cách làm ra lửa, bà sản sinh ra muối cho người dân
Không dừng lại ở Sự tích cây lúa, vai trò to lớn của người phụ nữ còn được đề cao
thông qua thể loại truyền thuyết, ngoài công lao to lớn là sinh ra bọc trăm trứng, Âu
Cơ còn có vai trò quan trọng trong đời sống của cộng đồng người khi biết dạy dân cấy lúa, làm lụng, nàng còn dẫn 50 người con lên vùng núi cao Rõ ràng, đây là dấu hiệu rõ nét nhất cho việc đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội xưa, không phải chờ đến thời kì sử thi ra đời người ta mới thấy rõ vai trò của người phụ nữ mà trước đó, từ thể loại thần thoại đến truyền thuyết vai trò của người phụ nữ đã được
đề cập và tôn vinh Hơn thế, hình tượng người phụ nữ trong sử thi lại được kế thừa
từ thể loại thần thoại, cho nên nói đến vai trò to lớn của người phụ nữ trong sử thi, đặc biệt hơn là xã hội mẫu quyền là một điều dễ hiểu đối với người đọc
Trang 21Xã hội Tây Nguyên là xã hội của chế độ mẫu quyền, chế độ mẫu quyền đã xác lập vai trò của người phụ nữ trong mọi lĩnh vực: con cái mang họ mẹ, người phụ nữ phân công lao động, phân chia tài sản, làm chủ bếp lửa và các hình thức tế
lễ, nói tóm lại người phụ nữ luôn trong tư cách là người làm chủ, là người khai phá, người tạo lập và làm chủ mọi hoạt động trên vùng đất của mình
Xã hội mẫu quyền đề cao vai trò của người phụ nữ, những việc lớn nhỏ trong gia đình lẫn ngoài xã hội Tất cả đều do người phụ nữ nắm giữ, thân phận đàn ông trở thành những cái bóng nấp sau lưng phụ nữ Một số đàn ông ở đồng bào Tây Nguyên sau khi vợ chết đã không còn nhận được sự kính trọng của những người trong gia đình Họ cho rằng đàn ông là những người yếu thế, chỉ có phụ nữ mới làm
được mọi việc, từ khó đến dễ Trong sử thi Đam San, chúng ta dễ dàng bắt gặp hình
ảnh “hình đôi vú”- một biểu tượng của người phụ nữ ngay trước cửa nhà sàn, biểu
tượng đó đã phần nào khắc sâu hơn nữa vai trò của người phụ nữ trong gia đình:
“Đầu hiên tạc hình mặt trăng, đầu cầu thang tạc hình đôi vú, hình con chim cu Cái
cầu thang rộng vừa trải một chiếc chiếu Ba người cùng lên, ba người vác ché Ju, ché Jan cũng không đụng vào nhau” [26, tr.383]
Xã hội Tây Nguyên là một xã hội sống tổ chức theo dòng họ, trong một nhà chung sống nhiều thế hệ, từ đời này sang đời khác cho nên những vấn đề bất hòa trong sinh hoạt là điều dễ nhận thấy Người phụ nữ lớn tuổi nhất trong gia đình sẽ đóng vai trò cai quản gia đình Người này chỉ huy mọi con cháu làm những công việc cần thiết cho đại gia đình Người đàn ông đứng sau lưng người phụ nữ, họ chỉ được đóng góp ý kiến và là người thực thi công việc, không phải là người ra lệnh,
do đó xã hội mẫu quyền đã ít nhiều làm phai nhạt vị trí của người đàn ông
Trong xã hội mẫu quyền, vai trò của người phụ nữ đóng một vai trò quan trọng, đó là điều không ai có thể phủ nhận Tuy nhiên trong thời đại sử thi, theo quan niệm của cộng đồng thì người phụ nữ đã không còn giữ vị trí hàng đầu đúng như vị trí “mẫu quyền” trước đây Mặc dù người phụ nữ vẫn được tôn trọng với những giá trị truyền thống nhất định, song ý thức xã hội đã dần dà làm nổi bật vai trò của người đàn ông Trong cộng đồng người Êđê, không ai có thể phủ nhận vai
Trang 22trò của người phụ nữ trong gia đình, song vai trò này đã không còn được tuyệt đối hóa mà đã đặt dưới sự cai quản của một vị cao niên, người đàn ông đứng tuổi nhất trong gia đình, những công việc to lớn, trọng đại đều do người đàn ông quyết định
Nếu trước đây, xã hội mẫu quyền đề cao tuyệt đối vai trò của người phụ nữ, cho phép người phụ nữ có quyền đi hỏi chồng, được lấy chồng khác sau khi làm lễ
bỏ mã cho người chồng đã chết…Thì giờ đây, họ không còn được giữ quyền lực tối cao, chi phối người đàn ông nữa mà đã bắt đầu nhận được sự công bằng Người phụ
nữ không còn giữ vai trò quyết định, quan trọng, tối cao, do đó họ cũng có thể nhận được bất cứ hình phạt nào từ phía cộng đồng nếu làm sai nguyên tắc mà cộng đồng
đã đặt ra
Do đó, trong sử thi Tây Nguyên, đặc biệt là trong sử thi Êđê, người phụ nữ vẫn tiếp tục được miêu tả nhưng không còn giữ vị trí quan trọng như trước đây Họ không phải là nhân vật trung tâm của sử thi mà làm nền cho những nhân vật anh
hùng trong sử thi Xung quanh Đam San, Xinh Nhã, Mdrong Dăm…đều có những
“bóng hồng” của riêng họ, tuy nhiên những “bóng hồng” này không được miêu tả
cụ thể, tỉ mỉ mà chỉ sơ lược, khái quát
Không ai có thể phủ nhận vai trò của người phụ nữ trong xã hội mẫu quyền, đặc biệt là trong tộc người Êđê, một xã hội với chế độ mẫu hệ đã tồn tại lâu đời Sử thi đã không bỏ qua đặc điểm xã hội nổi bật này, không đánh mất vai trò của người phụ nữ trong hoàn cảnh người đàn ông đang dần xác lập được vị thế quan trọng của mình trong cộng đồng Và đó phải chăng là cách thức sử thi giữ lại những hình thức
mô tả chung về người phụ nữ nhưng đã thổi vào cái xác đó tinh thần của thời đại
Tiểu kết: Nghiên cứu lịch sử xã hội Tây Nguyên quả thật có nhiều điều thú
vị, đó là sợi dây liên kết quan trọng để chúng ta có thể tìm về với sử thi Tây Nguyên Sử thi Tây Nguyên đã thâu tóm toàn bộ khung cảnh xã hội, đặc điểm sinh hoạt, đời sống văn hóa của các tộc người nơi đây mà nổi bật hơn hết vẫn là xã hội-
tộc người Êđê Đam San và Mdrong Dăm là hai sử thi đã mô tả lại một cách đầy đủ
những đặc điểm cơ bản của chế độ xã hội Tây Nguyên, đó là một chế độ mẫu quyền, chế độ này đã xác lập vai trò cũng như vị thế quan trọng của người phụ nữ
Trang 23Giá trị người phụ nữ nằm trong chế độ mẫu hệ, được bao bọc bởi cơ chế của chế độ này và ở đó lợi ích của người phụ nữ được chú trọng, đề cao Tuy nhiên, song hành với quyền của người phụ nữ trong xã hội mẫu hệ là nghĩa vụ của họ đối với quyền được tạo ra bởi xã hội này, đó cũng chính là nỗi bất hạnh mà người phụ nữ trong xã hội Tây Nguyên phải gánh chịu, điều này chúng ta sẽ được tìm hiểu rõ hơn ở chương hai của bài luận
Trang 24
CHƯƠNG HAI
ĐẶC TRƯNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ
TRONG SỬ THI ĐAM SAN, MDRONG DĂM
2.1 Vẻ đẹp nhân vật nữ trong sử thi Đam San, Mdrong Dăm
tố không thể thiếu khi miêu tả về người phụ nữ trong sử thi
Nhân vật nữ không phải là nhân vật trung tâm của sử thi mà chỉ làm nền cho nhân vật anh hùng Tuy nhiên chính những mô tả về nét đẹp ngoại hình, nguyên nhân của những hành động tranh chấp, đánh cướp đã khiến nhân vật nữ có một tầm quan trọng nhất định trong sử thi Những miêu tả về nét đẹp ngoại hình của nhân vật
nữ đã khiến sử thi Tây Nguyên nói chung và hai sử thi Đam San, Mdrong Dăm nói
riêng trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết
Trong sử thi Đam San, Hơ Nhí và Hbhi là những nhân vật nữ vô cùng xinh
đẹp, ngay những đoạn đầu của sử thi, vẻ đẹp của hai nàng đã được nghệ nhân sử thi đúc kết: “Hai chị em răng đã mọc, miệng đã lớn, vú căng, ngực nở Đó là bầu vú căng của người con gái đã lớn, cái vú ngà trên ngực đã tròn, thân mềm dẻo như
bông vải, tròn như đọt cây chuối non Cái váy dệt hoa văn sặc sỡ…” [26, tr.353]
Trang 25Những hình ảnh như “vú căng”, “ngực nở”, “thân mềm dẻo” đã phần nào mô tả được vẻ đẹp phổng phao của những cô gái tuổi dậy thì Hơ Nhí và Hbhi thật sự xinh đẹp hơn nữa trong những bộ trang phục truyền thống Các nàng đã ý thức được
vẻ đẹp của mình và biết cách thể hiện nét đẹp ấy: “Các nàng mặc áo bó ngực, mặc váy bó mông” [26, tr.353] Không dừng ở những miêu tả đó, nghệ nhân sử thi còn làm nổi bật thêm vẻ đẹp của nhân vật nữ khi đi miêu tả một cách toàn diện về thân thể, làn da, mái tóc, đôi môi, đùi Những gì thuộc về cơ thể của một người phụ nữ đều được nghệ nhân sử thi “soi” và tái hiện một cách sinh động Vẻ đẹp đó được mô
tả lại qua lời nói của ông Diê: “Thì cháu hãy đi xem mặt H’Ni, H’Bhi đi! Thân thể các nàng rất xinh đẹp, cháu ạ! Nhìn sau lưng như người ta tạc, nhìn đằng trước tựa người ta vẽ Nhìn hết cả buổi sáng vẫn không chán Da các nàng trắng vàng như hoa cây đay rừng, chân trắng như hoa your, đầu tóc bóng như con dế ruồi, đùi đẹp như
củ nghệ, đôi môi cong như có người uốn uốn đẹp như mỏ con vẹt Con trai buôn phía đông, buôn phái tây đều muốn đến nhìn Cô gái Mơ Nông không sánh kịp Thân thể các nàng đẹp như hoa xoài rừng, trắng phau như hạt quả cây knia Thân thể H’Ni, H’Bhi đầy đặn như bò cái mới đẻ một con Sắc đẹp của H’Ni, H’Bhi đáng
giá cái chiêng cổ” [26, tr.362] Đây là đoạn ông Diê đang thuyết phục Đam San lấy
hai chị em Hơ Nhí, Hbhi làm vợ Qua miêu tả của ông Diê, Hơ Nhí và Hbhi là những cô gái đẹp một cách toàn diện, nét đẹp như ai đó tạc, ai đó vẽ, thật khó lòng cưỡng lại được
Người Êđê cũng quan niệm, cái đẹp phải gắn kiền với sự khỏe mạnh, chắc chắn, do đó nhân vật nữ được mô phỏng lại trong sử thi đều là những người phụ nữ
“đầy đặn” Người phụ nữ đẹp, khỏe đủ sức gánh vác trọng trách trong gia đình là điều không thể thiếu trong sử thi, cho dù vẻ đẹp của các nàng được mô tả bằng những hình ảnh mong manh như hoa your, knia…thì ẩn đằng sau đó vẫn là một sự khỏe mạnh, rắn chắc của núi rừng
Ở một đoạn khác sắc đẹp của Hơ Nhí và Hbhi lại được miêu tả qua mái tóc, qua bầu ngực và lẫn tiếng cười, tiếng nói: “Các nàng búi tóc tròn như trứng họa mi, như quả bồ hòn, cài tóc gió thổi không lay, bão quật không bay Tóc các nàng dài
Trang 26quật chết đàn ông đang bay, đàn mối đang bò, đung đưa như hoa Ktro yui Vú hai nàng vươn ra đằng trước, vú ngọc, vú ngà của bà xưa để lại Tiếng các nàng cười to, người giàu muốn bắt chước, cười nhỏ, kẻ sang phải học theo Nghe tiếng cười của H’Ni, H’bhi, con tê giác rớt sừng, con voi rớt ngà Nghe tiếng cười của nàng, cơm trong tay chú bác rung rung” [26, tr.458]
Hai nàng đẹp, vẻ đẹp của hai nàng lúc nhảy múa với Hbia Băng Êra được miêu tả rất kĩ: “H’Ni, H’Bhi có chân vàng như chân chim cu, móng chân như cái móng con diều hâu Dáng người thon thả, ngực nở vươn ra phía trước, bầu vú căng
cả áo Thân thể họ mềm mại như bông vải, mơn mởn như trái mướp non, làm ai
cũng muốn vuốt ve Tôi tớ gái chừng này cũng không ai sánh kịp” [26, tr.463]
Hơ Nhí và Hbhi, hai nàng thật xinh đẹp, Đam San trước đây một mực từ chối nay cũng phải liếc trộm hai nàng: “Dăm Săn nhìn thấy H’Ni bước vào sàn hiên, chàng vội vàng đi vào trong buồng, lấy chăn trùm khắp người Dăm Săn khoét một cái lỗ to bằng ống điếu để nhìn H’Ni, H’Bhi Nhìn từ xa hai nàng như con heo nái, nhìn gần các nàng như con heo thin Khuôn mặt H’Ni, HBhi sáng như ánh sao đêm , đùi các nàng trắng bóng, đôi vú vươn ra phía trước Nhìn đằng trước như có
ai tạc, nhìn sau lưng như có ai uốn, cả buổi sáng nhìn hai nàng cũng không chán mắt Làn da các nàng vàng như hoa aring downg, chân trắng như hoa knia, thân
hình đầy đặn như con dế ruồi” [26, tr.459] Chàng Đam San cứ đắp chăn nhìn trộm
hai nàng mãi, nhìn say sưa, có lẽ vì Hơ Nhí và Hbhi xinh đẹp quá
Không riêng gì vẻ đẹp của hai chị em Hơ Nhí, Hbhi mới khiến người anh hùng dũng mãnh Đam San bị lay động mà vẻ đẹp của một Hbia Lỗ Mnang lẳng lơ cũng khiến ai đó có phút xao lòng: “Hbia Lỗ Mnang xinh đẹp như bông hoa nở buổi chiều, nhìn đằng trước như người ta tạc, nhìn đằng sau như có người uốn Chân trắng như êyuôr, thân hình đầy đặn như con dế cái, đùi vàng như củ nghệ chẻ đôi, mồm như người ta tạc, phía dưới giống như cô gái Mơ Nông, phía trên như mỏ con vẹt Tóc xõa xuống làm chàng trai buôn phía đông liếc nhìn, búi tóc nhỏ bằng trứng chim họa mi, búi tóc to bằng quả bồ hòn Mái tóc dài đủ đập chết đàn mối đang
bay” [26, tr.517] Vẻ đẹp đó khiến chàng Đam San dũng mãnh cũng phải ghé mắt
Trang 27liếc nhìn: “Đam San liếc trộm Hbia Lỗ Mnang Môi nàng đỏ như mỏ chim bhi, da
sáng như lông chim băng your, thân hình đầy đặn như con dế cái, da thơm mùi hoa rừng” [26, tr.517]
Rõ ràng, trong sử thi Đam San, nhân vật nữ đều được miêu tả giống nhau
trong một khuôn thước nhất định, từ người phụ nữ giàu có như Hơ Nhí, Hbhi đến nhân vật nữ có phần lẳng lơ là Hbia Lỗ Mnang thì các nàng đều có những mô tả về nét đẹp ngoại hình giống nhau Nàng nào cũng có đôi môi đỏ, đôi chân trắng, mái tóc dài, cặp vú nở và kèm theo là một thân hình đầy đặn Những mô tả chung đó không ngoài mục đích tôn vinh vẻ đẹp của nhân vật nữ trong sử thi Chúng ta còn
bắt gặp liên tiếp những mô típ miêu tả quen thuộc đó trong sử thi Mdrong Dăm, đó
là vẻ đẹp của nàng Hbia Knhi: “Hbia Knhi xinh đẹp không có ai sánh bằng, da nàng ửng như nghệ pha tro, như màu quả cà chín, mặt mũi như quả trứng gà vừa lọt ổ Thân thể nàng như nặn mà nên, ngón tay thon như lông nhím, chân bước, tay đưa nhịp, uốn mình như con cá trê lượn dưới nước, nàng uốn người đung đưa như diều mừng gặp gió lên Hbia Knhi thật là xinh đẹp, các chàng trai buôn phía đông, làng phía tây, thấy nàng ai ai cũng ưng lòng vừa ý” [26, tr.779]
Hbia Knhi quá đẹp, vẻ đẹp dường như không phải cha mẹ sinh mà do một ai
đó nặn lên theo ý thích của bản thân Không ai có thể sánh nổi sắc đẹp của nàng, ngón tay nàng thon, da mặt nàng lúc nào cũng ửng hồng, cả thân hình, điệu đi, dáng đứng đều phác thảo lên chân dung một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp và hoàn thiện Chính vẻ đẹp đó khiến Dam Bhu có lần đã phải cầu khấn thần linh để chàng
có cơ hội một lần được gặp nàng đi tắm ở bến nước Tại bến nước này Dam Bhu đã
có dịp chiêm ngưỡng thân hình ngọc ngà của Hbia Knhi, nàng thật sự đẹp: “Dam Bhu núp trong bụi rậm nhìn trộm Hbia Knhi Nàng xinh đẹp quá Thân hình nàng vừa vặn, cao không cao, lùn chẳng lùn, thân nàng thon thon, không mập cũng không gầy Da nàng Hbia Knhi như quả cà trắng, mặt hồng hào, da mỏng dính như quả trứng gà vừa lọt xuống ổ Bắp chân trơn, bắp đùi trắng, ngực nở nang” [26 ,tr.783]
Hbia Knhi như bông hoa rừng mới nở, vẻ đẹp của nàng khiến chàng Dam Bhu bối rối, dường như tim chàng đập nhanh hơn, mạnh hơn, chàng vừa ngượng lại
Trang 28vừa thích Có lẽ ngượng vì chưa bao giờ được nhìn thấy một cô gái tắm trần, đặc biệt hơn là với một cô gái xinh đẹp như Hbia Knhi, thích vì Hbia Knhi đẹp quá, có
vẻ như nàng còn đẹp hơn những cô gái Mơ Nông mà sử thi vẫn thường nhắc tới Nàng Hbia Knhi như được ông Du, ông Die tạc ra vậy! Nghệ nhân sử thi đã không ngại ngần khi phô trương cả một cỏ thể trần truồng của nàng Hbia Knhi để mọi người cùng chiêm ngưỡng, đó là vẻ đẹp ngoại hình hoàn mĩ và có chút nguyên sơ Dường như thân thể của những cô gái Tây Nguyên nói chung và Êđê nói riêng đã được các nghệ nhân khắc tạc vào sử thi một cách nghệ thuật, có tính thẫm mĩ cao
Đó là cách tôn vinh cái đẹp người phụ nữ của chính cộng đồng mình mà người Tây Nguyên vẫn thường làm Và sử thi chính là cầu nối để chuyển tải sự tôn vinh đó
Xuất hiện trong sử thi còn có hình ảnh của Hbia Hlui, cháu gái của bà Duon Gung, nàng Hbia Hlui cũng xinh đẹp vô cùng, nàng khiến cho anh trai Hbia Knhi là Prong Mưng Hdang không cưỡng lại được Nàng xinh đẹp như thần linh đã định trước từ trong bụng mẹ Nàng đã đẹp lại còn biết làm duyên làm dáng khiến nàng lại càng đẹp thêm, ngay cả tiếng nói, nụ cười của nàng cũng rất đáng yêu Tất cả đã làm Prong Mưng Hdang mê mệt, chàng quên ngay việc mình đến đây là để mời bà
đỡ, mời thầy bói cho em gái đang đau đẻ ở nhà Vẻ đẹp của Hbia Hlui khiến Prong
Mưng Hdang “say” như người đã uống rượu, quên tất cả mọi chuyện: “Họ mãi ngồi
nói chuyện, vui chơi với nhau Prong Mưng Hdăng, miệng nhai trầu, tay ôm chặt
Hbia Hlui Miệng chàng nói chuyện, tay sờ nắm đôi vú của nàng” [26, tr.812]
Ngay đến cả cháu của Prong Mưng Hdang là Mdrong Dăm, một con người ngang tàng, bướng bỉnh, khi bắt gặp vẻ đẹp của nàng Hbia Sun xinh đẹp cũng phải thảng thốt giật mình, cơn nóng giận trong người bỗng dưng tan biến Chúng ta có thể quan sát thấy sự thay đổi diễn biến tâm trạng của Mdrong Dăm từ một trạng thái hùng hổ, tay lăm lăm con dao đến việc ngại ngùng, bỏ chạy ngay tức khắc khi vừa
nhìn thấy nàng Sun xinh đẹp: “Mdrong Dăm rút con dao, cậy sàn nhà, nhìn thử xem
ai ở trong buồng Chàng nhìn thấy Hbia Sun xinh đẹp Vẻ đẹp của nàng ánh ra loang loáng cả xà ngang, xà dọc Mdrong Dăm nhanh tay lấy con quay và liền chạy
về nhà” [26, tr.857] Mdrong Dăm về nhà nhưng trong lòng nặng trĩu, chàng đắp
Trang 29chăn nằm ngủ, bỏ ăn mấy ngày liền, vì quá yêu nàng Hbia Sun Mê đắm trước vẻ đẹp của nàng mà chàng thơ thẩn, quên hết mọi việc, người chàng đau ê ẩm, chân tay
rã rời, mềm như lúc mới lọt lòng Chàng khiến cha mẹ lo lắng, cuối cùng chàng nói với mẹ cha muốn được lấy Hbia Sun xinh đẹp làm vợ, muốn nàng là người cùng lên rẫy, lên nương Chàng quyết định xin cha mẹ bát đồng tổ con diều hâu, tổ vàng chim chèo bẻo, là của cải của ông bà xưa để lại để lên đường đến nhà nàng Hbia Sun xinh đẹp Tuy nhiên, xưa nay người đời vẫn nói “Mĩ nhân dễ cản đường quân tử” quả không sai Trên đường đến nàng Sun xinh đẹp, Mdrong Dăm gặp lại những
cô gái đang ngồi dệt vải, đó là nàng Gông Guê và nàng môi đỏ, họ đều là những cô
gái xinh đẹp: “Nàng Gông Guê, nàng môi đỏ, mặt tròn sáng như sao hôm Nàng
Gông Guê và nàng môi đỏ, thân như cây mây, chân tay tròn lắm như cây mía đỏ, tiếng nói cười như đàn chuột con kêu trong ổ dưới hang, đôi vú non tơ trên bộ ngực đẹp, bắp vế nõn nà như cây măng non, nhìn từ xa các nàng đẹp như con heo chưa thiến, nhìn gần như con heo đẻ, nhìn phía trước như heo non, nhìn sau lưng như heo
nái, bắp đùi, bắp vế như bẹ cây môn” [26, tr.863] Gông Guê, nàng môi đỏ thực chất
đều là những cô gái nô lệ song họ lại hết sức xinh đẹp, các nàng cũng không kém gì nàng Hbia Sun có tiếng nhất vùng Mdrong Dăm bị vẻ đẹp của những cô gái làm cho mê mệt, trong phút chốc chàng bỗng quên mình đang đi tìm nàng Hbia Sun, chàng vui vẻ bên những cô gái nô lệ: “Ăn trầu, hút thuốc bao lâu Mdrong Dăm và nàng môi đỏ véo nhau, nói cười bấy lâu Mdrong Dăm tay cầm vú, tay sờ mặt, rồi lần sờ áo cô gái” [26, tr.865] Đến lúc tỉnh rượu, giật mình, chàng mới bối rối tự vấn chính mình rằng: làm sao chàng lại vào nằm với các cô gái nô lệ Chàng đã quá say
bò đến những cô gái nô lệ, ai ai cũng có một vẻ đẹp nguyên sơ, thuần khiết của núi
Trang 30rừng Trong hai sử thi không có một người phụ nữ nào bị miêu tả xấu, các cô gái theo một mô típ quen thuộc, đều xinh đẹp giống nhau Họ đứng sau những người anh hùng là Đam San, Mdrong Dăm và làm nổi bật sức mạnh của họ Đó thật sự là những người phụ nữ lí tưởng của thời đại sử thi anh hùng
2.2.2 Vẻ đẹp tâm hồn tính cách
Tâm hồn tính cách mới thực sự là nhân tố quyết định làm nên một người phụ
nữ toàn diện, những mô tả trong sử thi cũng không nằm ngoài những yêu cầu đó Với những người phụ nữ Tây Nguyên nói chung và Êđê nói riêng (cụ thể là trong
hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm), kéo sợi, dệt vải, làm những công việc nấu
nướng, chăm sóc trong gia đình là điều không thể thiếu Vẻ đẹp tâm hồn tính cách được hiểu là những gì thuộc về bản chất bên trong con người Người siêng năng, chăm chỉ, hiền lành, có tài…đều được coi là người có vẻ đẹp tâm hồn, tính cách
Hơ nhí và Hbhi đều là những cô gái hết sức xinh đẹp, các nàng mặc váy áo nào cũng hợp cũng xinh nhưng nổi bật hơn hết vẫn là tài năng mà các nàng thể hiện,
đó đều là những người con gái siêng năng, tháo vát công việc gia đình: “H’Ni, H’ Bhi rất xinh đẹp, họ mặc bộ váy nào cũng đẹp, họ mặc bộ váy áo nào cũng hợp Bàn tay khéo léo, biết dệt vải bằng sợi nhiều màu, ngón tay biết dệt hoa văn, biết kéo sợi
se chỉ, họ thật là những người con gái siêng năng” [26, tr.353]
Hơ Nhí và Hbhi làm việc không những chăm chỉ mà còn rất khéo léo Các nàng đẹp không ai hơn mà giỏi giang cũng không ai bằng, cái miệng nói chuyện khiến người ta yêu nhiều hơn là ghét Hai nàng làm việc chăm chỉ, từ ngày này qua ngày khác mà không hề biết mỏi mệt Những tấm vải được hai chị em dệt nên vô cùng tinh xảo, sự tinh xảo ấy đã thể hiện được phần nào bản chất tỉ mỉ, cần cù của con người làm ra tấm vải ấy: “Bàn tay luôn dệt vải, thêu thùa, bàn tay suốt ngày cầm bông vải cầm chỉ để dệt, không có ngày nào là nghỉ Họ thêu hoa gạo nở tròn, thêu lá lúa, cây lúa cao bằng ba cây nối nhau Nàng H’Ni, H’Bhi kéo chỉ to bằng sợi lưng con trâu để dệt váy, xe chỉ to bằng lưng con bò để dệt áo Ba cô con gái giỏi giang cũng không bằng, đàn ông không có người nào được như hai chị em nàng.” [26, tr.354]
Trang 31Khi đến nhà Đam San hỏi chồng, hai chị em Hơ Nhí và Hbhi không chỉ thể hiện mình là một con người đẹp về ngoại hình mà tài năng, sự tháo vát còn rất nổi trội Hai nàng đã từ chối lời mời của Hbia Băng Êra, người tình của Đam San khi nàng ấy mời nhảy với sự khiếm tốn thể hiện ngay ở lời nói: “Ơ Hbia Băng Êra, chị
em tôi không biết múa Chúng tôi như tre non, như măng mới mọc, như đứa trẻ mới
lớn, vẫn ngồi trên đùi cha, trên tay mẹ” [26, tr.463] Ấy vậy mà khi được Hbia Băng
Êra mời lần nữa, đúng hơn là thách đố thì hai chị em lại thể hiện là một con người khác Hai chị em khiêm tốn thể hiện tài năng, điệu múa nhẹ nhàng, khiến bao người ngỡ ngàng Tài năng ấy khiến bọn trẻ, con trai, con gái đều vỗ tay, đến cả con gà trên sàn, con heo dưới chân cũng muốn ngẩng đầu lên xem, đặc biệt: “Khách người
Kur xa xôi đứng nhìn H’Ni, HBhi múa đến khô cả mắt” [26, tr.463] Trong khi đó,
Hbia Băng Êra lại thể hiện mình là một cô gái thiếu dịu dàng, thiếu kinh nghiệm, điệu múa của nàng vụng về đến nỗi khiến vỡ bầu đựng nước, bầu đựng cơm và cả
hũ nước Chính sự đối lập này càng làm nổi bật lên tính cách lẫn tâm hồn của hai chị em Hơ Nhí và Hbhi Họ không chỉ đẹp về ngoại hình mà còn rất khiêm tốn, tài
năng, đó thực sự là một tâm hồn đẹp
Nàng Hbia Sun trong sử thi Mdrong Dăm cũng là một nhân vật nữ được
miêu tả với sự hoàn thiện trong ngoại hình lẫn tính cách Nàng Hbia Sun của chúng
ta không những đẹp mà còn rất khéo léo, đảm đang trong công việc gia đình Nàng quả thật là cô gái chăm chỉ: “Nàng tự tay giã, sàng, gạo chưa trắng, gạo chưa trong thì giã tiếp, sàng tiếp Hbia Sun mãi miết giã gạo, sàng sẩy cho đến khi chỉ còn hạt gạo tròn, thật trắng, nàng mới nghỉ tay Hbia Sun đem gạo ngâm Đến lúc tiếng gà gáy sáng thì nàng dậy lấy nồi bỏ gạo hấp hơi Khi cơm nếp đã chín, Hbia Sun lấy lá chuối hơ héo rồi gói cơm Gói xong năm gói cơm nếp, nàng mới nghĩ tay ăn cơm” [26, tr.883]
Hơ Nhí, Hbhi, Hbia Sun…đều là nhưng cô gái xinh đẹp, không chỉ sở hữu một ngoại hình xinh xắn, các nàng còn trau dồi cho mình một tâm hồn tính cách đẹp, đó là sự chăm chỉ, tháo vát công việc gia đình, xã hội Không phải là nhân vật trung tâm của sử thi, chỉ đứng sau nhân vật anh hùng, nhân vật nữ đóng vai trò làm
Trang 32vợ, làm người quản lí những công việc nhỏ trong gia đình, trở thành hậu phương vững chắc cho chồng Nhìn chung, trong sử thi, người anh hùng có thể dễ dàng hơn một lần “sa chân” trước những người đẹp khác không phải là vợ mình nhưng riêng với nhân vật nữ, họ vẫn một mực thể hiện tấm lòng chung thủy của bản thân qua những cuộc đánh cướp giữa các vị tù trưởng giàu có Có thể thấy, không một của cải vật chất nào có thể làm thay đổi sự chung thủy của các nàng, hình tượng nhân vật nữ Hơ Nhí, Hbia Sun đã phần nào minh chứng được điều đó
Vẻ đẹp tâm hồn tính cách là một trong những nhân tố quan trọng làm nên sự hoàn thiện của nhân vật nữ nói chung và nhân vật nữ trong sử thi nói riêng Sự hoàn thiện trong tâm hồn tính cách đã đẩy hình tượng nhân vật nữ lên một giá trị mới, đó được xem như là một chuẩn mực để những người phụ nữ cộng đồng Tây Nguyên học tập và phát huy Vẻ đẹp tâm hồn tính cách của nhân vật nữ trong sử thi đã phần
nào hoàn thiện nét “công-dung-ngôn-hạnh” của người phụ nữ Việt Nam nói chung
2.2 Vị thế và vai trò của nhân vật nữ trong sử thi Đam San, Mdrong Dăm
2.2.1 Vị thế và vai trò của nhân vật nữ trong gia đình
Người phụ nữ xuất hiện trong sử thi là người phụ nữ của gia đình, của công việc nội trợ như nấu cơm, giã lúa, dệt vải…Sử thi Tây Nguyên nói chung ít nói đến vai trò đứng đầu của người phụ nữ trong gia đình Nhân vật nữ, là những người bị thất thế, trở thành nhân vật đối sánh với nhân vật anh hùng Họ chấp nhận là người đứng sau, có trách nhiệm “nâng khăn sữa túi” cho chồng
Nhân vật nữ trong hai sử thi Đam San, Mdrong Dăm có một vai trò nhất định
trong công việc nội trợ, của những ý tứ, nền nếp thường ngày Ví trí của nhân vật
nữ trong gia đình không được đặt ngang hàng với nhân vật anh hùng, họ chỉ đứng phía sau Hai chị em Hơ Nhí và Hbhi đã đóng vai trò làm chủ, đúng với tính chất của một xã hội mẫu hệ khi đi cướp Đam San về làm chồng Tuy nhiên khi đã là vợ chồng, vị thế trong gia đình của hai chị em lại lùi lại phía sau Đam San, quyền cai quản gia đình, quyết định mọi việc lại do chính Đam San quyết định Hơ Nhí và Hbhi chỉ đóng vai trò là những người phụ nữ nội trợ trong gia đình, điều đó khiến Đam San “thật sung sướng, vì sớm có người nấu cơm, đưa canh, có người dệt khố,
Trang 33vá áo” [26, tr.490] Hơ Nhí và Hbhi là những người phụ nữ biết suy nghĩ, sau khi
cưới được Đam San, hai nàng trở nên vui vẻ lạ thường, không ai bảo ai, họ chuyên
tâm vào công việc dệt vải của mình thường ngày một cách chăm chỉ Riêng với
Đam San, chàng lại gánh vác những công việc mang tính chất “ngoài gia đình” hơn,
đó là: “chàng lo làm rẫy, trồng dưa, tỉa bắp, chàng mong hạt mau nảy mầm, lúa nhanh tốt, cây thuốc hút mọc khắp rẫy Chiêng đầy gian ngoài, knah đầy gian trong, nồi bảy, nồi ba đầy một gian rộng” [26, tr.491]
Nhân vật nữ trong sử thi đều là những người phụ nữ đảm đang, tháo vát, sau những lần đi hỏi chồng, các nàng lại yên ổn với vai trò làm vợ trong ngôi nhà Rông rộng lớn Không chỉ riêng những cô gái nô lệ mới đảm đang, mới biết gùi nước, dệt vải mà ngay cả những người phụ nữ có quyền lực, đứng đầu trong gia đình cũng
biết làm tất cả những công việc thường ngày trong gia đình Sử thi Đam San và Mdrong Dăm đã miêu tả vị thế và vai trò của nhân vật nữ đúng như quan niệm của
người Êđê nói chung về hình mẫu một người phụ nữ lí tưởng Với người Êđê, quan niệm một người phụ nữ lí tưởng phải là người vùa xinh đẹp, vừa có tài thêu dệt hơn
người Đa phần nhân vật nữ trong sử thi đều gắn với tài thêu dệt
Người phụ nữ ở nhà còn có vai trò nấu nướng, họ nấu ăn nhanh nhẹn, chỉ thoáng một chốc mà cơm đã ngon, canh đã ngọt Lúc hai anh em Y Đhang, Y Lang đến nhà Đam San để hỏi chồng cho em gái, hai người chị của Đam San là H’Ơng và H’Li đã thể hiện công việc nội trợ tài giỏi của mình, điều này thể hiện rất rõ qua lời thoại của Đam San: “Ơ chị H’Ơng, chị H’Li, các chị hãy đi nấu cơm cho anh Y
Đhang, Y Lang ăn!” [26, tr.399] Trong khi Đam San đi bắt con gà mái đang ấp,
đập con gà mái để làm thịt thì hai chị em Y Đhang, Y Lang chăm chỉ nấu cơm Chỉ một thoáng: “Nấu cơm, canh, một lần nhổ nước bọt, một lần nhã bã trầu chưa kịp
khô là cơm đã chín, canh đã mềm” [26, tr.399] Các nàng không những đảm đang
mà còn khéo léo với vai trò một người phụ nữ trong gia đình, mọi công việc các nàng làm đều rất khéo tay, tỉ mỉ, chăm chút từng ít một: “Cái bát đựng cơm có hình hoa mướp rừng, bát múc canh có hình hoa cải Thịt gan bò đựng trong cái mầm to, thịt gan trâu đựng trong thau lớn Mùi thơm của cơm canh tỏa khắp núi rừng, tỏa
Trang 34đến tận rừng sâu Họ dùng bát đen có hình hoa bên trong, cái đĩa đen có hình hoa phía ngoài” [26, tr 399]
Trong sử thi Mdrong Dăm cũng vậy, xuất hiện hình ảnh cô dệt vải, cô gái
môi đỏ, các nàng đều là những cô gái có tài thêu dệt, chăm chỉ, đảm đang công việc gia đình, cũng tài năng và khéo léo trong cách dệt vải: “Tấm dệt của các cô Gơng,
cô Guê thêu đàn chim Bhi nối đuôi nhau bay, thêu hình chim djao xinh xắn, hình
chim cu đậu trên ngọn cây le” [26, tr.861] Mdrong Dăm miêu tả hình ảnh nàng
Hbia Sun xinh đẹp, tài giỏi và tháo vát việc nhà Nàng tự tay nấu cơm, làm gà cho Mdrong Dăm thưởng thức và cũng chính nàng tự giã gạo để đến nhà Mdrong Dăm hỏi cưới: “Nàng tự tay giã, sàng, gạo chưa trắng, gạo chưa trong thì giã tiếp, sàng tiếp Hbia Sun mãi miết giã gạo, sàng sẩy cho đến khi chỉ còn hạt gạo tròn, thật trắng, nàng mới nghỉ tay Hbia Sun đem gạo ngâm Đến lúc tiếng gà gáy sáng thì nàng dậy lấy nồi bỏ gạo hấp hơi Khi cơm nếp đã chín, Hbia Sun lấy lá chuối hơ héo rồi gói cơm Gói xong năm gói cơm nếp, nàng mới nghĩ tay ăn cơm” [26, tr.883]
Rõ ràng, Đam San và Mdrong Dăm là hai sử thi đã làm nổi bật ít nhiều vai
trò của người phụ nữ trong gia đình Đó là những con người của bếp núc, nội trợ Nấu cơm, giã gạo và dệt những tấm vải thật đẹp…là tất cả những công việc mà họ
phải làm trong ngôi nhà của mình Nhân vật nữ trong hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm đã phần nào khắc họa rõ nét hơn về vị trí của họ trong một xã hội mẫu
quyền Từ đó đưa đến cho chúng ta những khám phá bất ngờ về vai trò của một người phụ nữ trong vai trò là một người đứng đầu gia đình và rộng hơn là ra ngoài
xã hội
Tuy vậy, dù là xã hội mẫu quyền song người phụ nữ Êđê vẫn luôn mong muốn tìm cho bản thân một chỗ dựa vững chắc sau lưng người đàn ông Cho đến nay, xã hội Êđê về cơ bản vẫn là xã hội mẫu hệ Trong phạm vi ngôi nhà dài, những việc trong nội bộ gia đình người phụ nữ có uy quyền hơn người đàn ông Tuy nhiên hình thức “mẫu quyền” đang dần vỡ vụn, thai nghén trong đó là sự lớn mạnh của người đàn ông Xã hội “mẫu quyền” đang dần bị phai nhạt, vai trò của người phụ nữ
Trang 35cũng dần tụt lại phía sau người đàn ông Giờ đây đàn ông mới là người thực sự làm chủ gia đình và xã hội
2.2.2 Vị thế và vai trò của nhân vật nữ trong xã hội
Nhận thấy, các dân tộc ở Tây Nguyên còn có nhiều nét cộng đồng sâu sắc trong đời sống xã hội Các dân tộc Tây Nguyên trước đây đa phần đều sống trong dạng thức xã hội cộng đồng vào giai đoạn cuối thời kì nguyên thủy Với chế độ xã hội này thì người phụ nữ đóng vai trò trụ cột trong gia đình cũng như trong xã hội Theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ đứng đầu quyết định mọi việc trong gia đình và
ra ngoài xã hội họ cũng không nằm ngoài vai trò đó Sử thi Đam San và Mdrong Dăm ít nhiều đã thể hiện được vị thế lẫn vai trò của nhân vật nữ trong xã hội Hơ
Nhí, Hbhi, Hbia Sun…đều là những người phụ nữ song họ đã tự quyền quyết định hạnh phúc của mình bằng cách đi hỏi chồng Hơ Nhí, Hbhi đã tỏ rõ vị trí to lớn của bản thân khi ra lệnh cho anh em trai đến nhà Đam San thuyết phục chàng về làm chồng Nhân vật Hơ Nhí thể hiện rất rõ uy quyền “mẫu hệ” đối với các anh em trai:
“Y Đhing, Y Ling đã vất vả thuyết phục Đam San lấy Hơ Nhí mãi không thành, lúc trở về họ bị em gái nói nặng lời: Ơ các anh, óc trâu, gan bò các anh đã ăn, rượu đắng các anh đã uống xong Em tin nên nhờ anh trai đi chọn cây gỗ, mà các anh như
không có mắt” [26, tr.395] Đến lượt anh trai Y Đhang, YLang không thuyết phục
được Đam San làm chồng Hơ Nhí, Hbhi, hơn nữa họ lại nhận cái chiêng Đam San đền mang về, thế là họ cũng bị Hơ Nhí trách móc: “Ơ anh Y Đhang, Y Lang, chàng Đam San đâu rồi? Sao chàng không đến? Các anh mang bộ chiêng bằng về làm gì,
em bảo các anh đón chàng về nhà mình cơ mà?” [26, tr.410] Mặc dù rất bực tức nhưng những người anh trai của Hơ Nhí vẫn phải đấu dịu với nàng
Rõ ràng, cơ sở xã hội sử thi Đam San phản ánh là xã hội mẫu hệ còn trong
thời kì hưng thịnh của nó, người phụ nữ không chỉ có uy quyền hơn người đàn ông trong phạm vi ngôi nhà dài mà còn thể hiện ra ngoài xã hội Hơ Nhí và Hbhi đã thể hiện quyền lực to lớn của mình khi ra lệnh cho con cháu đi đến nhà anh em trai để kêu gọi các anh đến nhà Đam San, dạm hỏi Đam San làm chồng Lời nói của hai chị
em có giá trị khiến cho mỗi anh em trai khi nhận được lệnh đều phải tức tốc thúc
Trang 36ngựa đi, khi bị hai chị em khiển trách thì chỉ biết im lặng Điều đó chứng tỏ vai trò
và vị thế của nhân vật nữ trong xã hội vào thời kì này Việc Hơ Nhí, Hbhi đi hỏi Đam San làm chồng nhưng phải năm lần bảy lượt mới được cũng đã phần nào chứng tỏ sức mạnh của Hơ Nhí, Hbhi, hai nàng không chịu để yên mà nhất quyết phải dành được Đam San Hết mời Y Đhing- Y Ling, Y Đhang- Y Lang đến Y Đăl-
Y Lăc, Y Shu Sah…tất cả đều một mực nghe lời hai chị em Hơ Nhí Rõ ràng, vị thế của nhân vật nữ đã rất được đề cao trong xã hội “mẫu quyền” lúc bấy giờ, người phụ nữ yêu cầu, ra lệnh quyết định mọi việc là điều không có gì mới lạ
Tuy nhiên, ở thời đại sử thi, trong quan niệm của cộng đồng và xã hội, người phụ nữ không còn giữ vị trí hàng đầu, quan trọng bậc nhất nữa Mặc dù người phụ
nữ vẫn còn được tôn trọng nhất định vì những giá trị truyền thống và tạo nên sức ảnh hưởng của nó trong thời đại sau nhưng địa vị của họ đã mất dần sự quan trọng
và chi phối xã hội Người phụ nữ không phải là nhân vật trung tâm của sử thi Vị trí thủ lĩnh của cộng đồng được chuyển sang những người đàn ông đầy sức mạnh, với
lý tưởng và nhiệm vụ bảo vệ, phát triển, đưa cộng đồng tiến lên
Tuy Đam San và Mdrong Dăm là hai sử thi đã miêu tả nhân vật nữ trong thời
kì xã hội “mẫu quyền”, song ẩn chứa trong đó vẫn là sự hiện diện quan trọng của nam giới Hầu như các nhân vật nữ chỉ xuất hiện với vai trò và vị thế quan trọng trong những công việc nội trợ gia đình như giã gạo, nấu cơm, dệt vải, rất ít khi thấy người phụ nữ được miêu tả như những vị thủ lĩnh tối cao, quyết định mọi việc trong
xã hội Họ chỉ được miêu tả trong một mô típ quen thuộc là xinh đẹp, tài năng, giỏi việc gia đình, là hậu phương vững chắc đứng sau lưng người đàn ông Nhân vật nữ chỉ được ngồi ở nhà, bó hẹp trong khuôn khổ ngôi nhà dài, mọi công việc nặng nhọc lẫn quan trọng trong xã hội đều do người đàn ông gánh vác Do đó, không chỉ riêng
hai sử thi Đam San và Mdrong Dăm mà hầu như tất cả mọi sử thi đều có một khuôn
khổ miêu tả chung về vị thế và vai trò của người phụ nữ trong gia đình lẫn xã hội
Xã hội cộng đồng đã cố gắng phô trương dần vai trò và sức mạnh của người đàn ông, bỏ qua vị thế và vai trò của nhân vật nữ trong xã hội Dường như người phụ nữ