1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của ma văn kháng

79 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng
Tác giả Lê Thanh Sơn
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lượng Ma Văn Kháng Phong Lê, Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn Lã Nguyên, Một cây bút văn xuôi sung sức, một đời văn cần mẫn Nguyễn Ngọc Thiện, Cảm nghĩ nhỏ nhân đọc Cỏ dại

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN

- -

LÊ THANH SƠN

Ngôn ngữ hội thoại trong truyện

ngắn của Ma Văn Kháng

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

Thế mà!

Lâu nay, hầu như giới Việt ngữ học chỉ quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ gọt giũa, văn hóa, mà ít chú trọng tới ngôn ngữ hội thoại, khiến cho nó từ chỗ

là lời ăn, tiếng nói hằng ngày lại trở nên xa lạ Các tài liệu khoa học rất ít

quan tâm đến ngôn ngữ hội thoại, hoặc có viết cũng chỉ tản mạn, lẻ tẻ ở một vài cuốn sách hay giáo trình Điều đó là chưa xứng đáng so với những gì mà ngôn ngữ hội thoại đã đem lại cho cuộc sống con người suốt mấy ngàn năm

qua Xuất phát từ thực tế ấy, chúng tôi thực hiện đề tài “Ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng”, trước hết để đề xuất một cái nhìn về ngôn ngữ truyện ngắn Ma Văn Kháng, sau đó là vun chút phù sa cho mảnh đất vốn đang nghèo nàn, xa lạ kia Hơn nữa, khi hoàn thành đề tài này sẽ giúp

tôi có thêm kiến thức về tiếng Việt nói riêng và kiến thức về ngôn ngữ nói chung Điều đó là rất bổ ích cho công việc dạy học sau này của tôi

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Ma Văn Kháng là một cây bút

truyện ngắn xuất sắc Các công trình nghiên cứu về Ma Văn Kháng như: Trữ

Trang 3

Lượng Ma Văn Kháng (Phong Lê), Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn (Lã Nguyên), Một cây bút văn xuôi sung sức, một đời văn cần mẫn (Nguyễn Ngọc Thiện), Cảm nghĩ nhỏ nhân đọc Cỏ dại (Đỗ Quyên), Truyện ngắn San Cha Chải, bài ca của thuyết tính thiện (Hoàng Yến), Dung lượng đời sống trong “San Cha Chải” (Vũ Châu Quán), Một chiều dông gió, một

bài ca lao động, một niềm tin ở con người và sự sống (Đặng Hiền)…xuất hiện

nhiều trên các tạp chí văn học - ngôn ngữ Nhưng trên thực tế, các công trình này nghiêng hẳn về phương diện nội dung, chủ đề, tư tưởng…mà rất ít đề cập tới phương diện ngôn ngữ, nghệ thuật Trong khi đó vấn đề ngôn ngữ hội thoại trong truyện ngắn Ma Văn Kháng thì dường như chưa có công trình nào nghiên cứu chính thức Một mặt, đây là khó khăn khi thực hiện đề tài bởi nguồn tài liệu tham khảo khá nghèo nàn, nhưng mặt khác, điều đó cũng là một thuận lợi cho người viết khỏi bị ảnh hưởng bởi quan điểm của người đi trước và có được sự tự tin, mạnh dạn khi khai thác vấn đề

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, đối tượng được tập trung nghiên cứu là: Từ ngữ hội thoại và cú pháp hội thoại trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng Ở đây, đối tượng từ ngữ - cấu trúc hội thoại được xét là hai yếu tố thuộc bình diện nghiên

cứu của Phong cách học chứ không nghiên cứu theo lí thuyết cấu trúc hội thoại của Ngữ dụng học

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng

được in trong các tập Cỏ tơ (2000), Một chiều dông gió (2010) và Văn mới 5 năm 2006 – 2010 (2010)

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau:

Trang 4

- Phương pháp khảo sát, thống kê: Được sử dụng để xác định số lượng,

tần suất các đơn vị từ ngữ và cú pháp hội thoại xuất hiện trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng

- Phương pháp miêu tả - phân tích: Được sử dụng để miêu tả và phân

tích cụ thể các đơn vị từ ngữ, cú pháp hội thoại xuất hiện trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng

- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng khi đưa ra những nhận định tổng

hợp và kết luận đề tài

5 Bố cục của khóa luận

Trong đề tài này, ngoài phần Mở đầu và Kết luận, chúng tôi tập trung làm rõ phần Nội dung bao gồm các chương:

Chương I: Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương II: Khảo sát, miêu tả từ ngữ hội thoại và cú pháp hội thoại trong

truyện ngắn của Ma Văn Kháng

Chương III: Vai trò của từ ngữ hội thoại và cú pháp hội thoại đối với

thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng

Trang 5

NỘI DUNG

CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ hội thoại dưới ánh sáng Phong cách học

1.1.1 Phong cách chức năng ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

Ðứng về mặt ngôn ngữ học thì việc phân loại và miêu tả các phong cách chức năng ngôn ngữ là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất kì ngôn ngữ nào đã và

đang ở thời kì phát triển – trong đó có tiếng Việt Tất cả những nét phong phú

và sâu sắc, thâm thuý và tinh tế hay những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều thể hiện trong và qua PCCNNN

Trên thực tế thì việc phân chia PCNN vẫn còn nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng đều dựa trên những cơ sở chung tương đối thống nhất như: chức năng giao tiếp, hình thức thể hiện, hoặc phạm vi giao tiếp Ở đây, chúng tôi đưa ra cách phân loại các PCCNNN trong tiếng Việt của tác giả Hữu Đạt:

PC Văn học nghệ thuật (sáng tác văn học, kích bản văn học)

PC Khẩu ngữ tự nhiên

PC ngôn ngữ nói

PC Khoa học Chính luận PC Báo chí PC

PC Hội thảo

PC Diễn xuất sân khấu, điện ảnh

Trang 6

Sơ đồ 1: Phân loại các PCCNNN tiếng Việt [6, tr84]

Theo Hữu Đạt [6, tr84] thì tiếng Việt bao gồm hai PCCNNN lớn: PC

ngôn ngữ nói và phong cách ngôn ngữ viết Mỗi PCCNNN lớn lại bao gồm

các trong nó các PCCNNN nhỏ hơn Giữa các PCCNNN đều có mối quan hệ nhất định, thậm chí có một số PCCNNN có thể chuyển hóa (hoặc dung hợp) lẫn nhau Đây chính là cơ sở về lí luận để chúng tôi thực hiện đề tài này

(2) Cù Đình Tú quan niệm rằng:

“Phong cách khẩu ngữ tự nhiên còn gọi là phong cách khẩu ngữ sinh hoạt, phong cách khẩu ngữ hằng ngày vì nó được dùng trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi cá nhân: một mẩu tâm sự, một câu hỏi thăm người thân (…) một phản ứng tức thì trước tin “sốt dẻo” trong cuộc sống hằng ngày, v.v Tất

cả đều được diễn đạt bằng phong cách khẩu ngữ tự nhiên” [18, 92-93]

(3) Tác giả Đinh Trọng Lạc định nghĩa như sau:

“Phong cách sinh hoạt hằng ngày (PCSHHN) là khuôn mẫu thích hợp

để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày Nói cụ thể hơn, đó là vai của người ông, người bà, vai của bố, mẹ, con (…) tất cả những ai với tư cách cá nhân trao đổi tư tưởng, tình cảm của mình đối với người khác” [10, 102 – 103]

(4) Hoàng Tất Thắng có quan niệm về PC khẩu ngữ tự nhiên gần giống

với tác giả Cù Đình Tú [đd] Theo ông, “Phong cách khẩu ngữ tự nhiên giới hạn ngôn ngữ được dùng trong sinh hoạt hằng ngày của mỗi cá nhân như:

Trang 7

(5) Tác giả Hữu Đạt (2011) cho rằng:

“Có người gọi phong cách khẩu ngữ tự nhiên là phong cách ngôn ngữ nói hằng ngày hay phong cách ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày Phong cách này tồn tại trong cộng đồng người Việt với tư cách là một kiểu giao tiếp mang tính phổ thông nhất Nó được hình thành từ tập quán, thói quen ngôn ngữ của cộng đồng và chủ yếu là qua con đường tiếp xúc tự nhiên giữa các thành viên trong gia đình, trong cộng đồng đối với nhau chứ không phải qua con đường sách vở”[6, 86]

(6) Thầy Bùi Trọng Ngoãn có quan niệm rằng:

“PCCNNN sinhh hoạt hằng ngày còn được gọi là phong cách khẩu ngữ

tự nhiên, phong cách khẩu ngữ là PCCN giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày/ phong cách này tồn tại trong cộng đồng với tính cách là một kiểu nói năng phổ thông, phổ biến nhất Nó được hình thành từ thói quen ngôn ngữ của một dân tộc thông qua con đường tiếp xúc tự nhiên giữa mọi người trong gia đình, trong cộng đồng xã hội [11, 8]

Nói tóm lại, các tác giả trên tuy có khác nhau đôi chỗ trong cách diễn dạt, nhưng tựu chung đều thống nhất một quan niệm rằng: PCCNNNSHHN là

những “khuôn mẫu ngôn ngữ” (hoặc mô hình ngôn ngữ) dùng trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày Những “khuôn mẫu ngôn ngữ” ấy được thực hiện giữa

người nói – nghe trong hoàn cảnh giao tiếp không chính thức và với tư cách là những cá nhân trong cộng đồng Cuối cùng, chúng tôi chọn khái niệm

Trang 8

a Tính cá thể (hay tính cá thể chủ quan theo cách gọi của nhóm Võ

Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa [17, 37])

Theo Đinh Trọng Lạc [10, 113] tính cá thể của PCCNNNSHHN thể hiện

ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi giao tiếp, trao đổi, chuyện trò…Người này thường nói từ tốn, khoan thai, nhã nhặn, người kia thường nói vội vàng, hấp tấp, qua loa; có người thích kiểu “diễn đạt” chính xác, rõ ràng, có người

chuộng cách nói bóng bẩy, đưa đẩy, tế nhị… Bởi vì, “trong mỗi lời nói đều thể hiện đặc điểm sinh lí (âm thanh, giọng điệu…), đặc điểm tâm lí (vui, buồn, nóng nảy, điềm đạm…), đặc điểm xã hội (địa phương, nghề nghiệp, vốn văn hóa…) của riêng từng người”[17, 37] Trong thực tế, không ai nói giống ai,

mỗi người có một đặc điểm riêng trong lời nói giao tiếp hằng ngày của mình Chính những nét riêng phong phú, độc đáo này được nuôi dưỡng, tích tụ qua thời gian và trở thành cái tinh túy của PCCNNNSHHN

b Tính cụ thể

Theo Đinh Trọng Lạc [10, 113] tính cụ thể là đặc điểm nổi bật của

PCCNNNSHHN PC cách này thường tránh lối nói trìu tượng, chung chung (trừ khi có mục đích, động cơ giao tiếp đặc biệt), thích lối nói cụ thể, nổi bật, làm cho sự vật không chỉ được gọi tên mà còn hiện lên với những hình ảnh,

âm thanh rõ rệt Trên thực tế, người ta còn dùng thêm cả cử chỉ, điệu bộ đi

kèm lời nói để người đối diện nhanh chóng hiểu được vấn đề Chính đặc trưng

Trang 9

(3) Anh ấy làm nhiệm vụ giữ gìn bình yên cho xã hội

Ở ví dụ trên, câu (1), (2) thường dùng trong PCCNNNSHHN, còn câu (3) phù hợp trong PCCNNN nghệ thuật

từ những tình huống giao tiếp cụ thể trong cuộc sống muôn hình muôn vẻ Chính thái độ, tình cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu chính xác nội dung

vấn đề mà người nói nhắc đến Theo Hữu Đạt [6, 89] thì “đây là một phong cách chức năng rất giàu sắc thái biểu cảm, biến hóa, linh động và phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể” Ví dụ, để chỉ hành động siêng năng, chú tâm vào

công việc của một người nào đó, PCCNNNSHHN có rất nhiều cách diễn đạt:

(4) Thằng Huy dạo này cày ghê quá!

(5) Thằng Huy dạo này trâu bò quá!

(6) Thằng Huy dạo này hì hụi suốt ngày mày ạ!

Ở đây, các câu (4),(5),(6) thường gặp trong khẩu ngữ của sinh viên Trên đây chúng tôi đã trình bày khái quát ba đặc trưng cơ bản của PCCNNNSHHN Các đặc trưng này giúp chúng ta nhận biết và phân biệt giữa PCCNNNSHHN với các PCCNNN khác trong tiếng Việt Ở phần sau, chúng

Trang 10

- Thường có hiện tượng iếc hóa (sách với siếc, học với hiếc…)

- Ưa dùng cách nói ví von, khoa trương (đen như củ súng, xấu như ma, đẹp như tiên, khỏe như voi, yếu như sên…)

- Đề tài luôn chuyển đổi, không có chủ đề nhất định

Ví dụ: Ê thằng kia! Xe mới hả?Định đi đâu đấy?

- Do quan hệ của người nói và người nghe trong thực tế nên trong khẩu ngữ phát ngôn thường có nghĩa hàm ngôn.Ví dụ:

A: - Tối nay mày rảnh không?

B: - Đi học rồi!

A: - Thế tối mai?

Trang 11

B: - Về quê!

1.1.2 PCCNNNSHHN trong ngôn ngữ nghệ thuật

Nhìn vào sơ đồ 1 [đd], chúng ta có thể thấy ngay một điều là giữa các PCCNNN đều có mối quan hệ nhất định, thậm chí có một số PCCN có thể chuyển hóa (hoặc dung hợp) lẫn nhau Việc chuyển hóa này giữa các PCCN

hoàn toàn khác với việc chuyển hóa (thay đổi) hình thức thể hiện Theo Hữu Đạt, “đây là sự phân biệt tinh tế và rất cần thiết trong khi nghiên cứu phong cách chức năng” [6, 85] Chẳng hạn, khi ta đọc một Nghị quyết Đại hội Đảng

được in trên báo cho một người khác nghe, ta thấy có sự thay đổi hình thức

thể hiện từ dạng viết sang dạng nói (chỉ thay đổi hình thức thể hiện) Nhưng khi một cặp diễn viên diễn xuất lại một cuộc đối thoại nào đó trong kịch bản,

ta thấy có sự chuyển đổi về PCCNNN (từ PCCNNN viết sang PCCNNN

nói).Tác giả Bùi Minh Toán cũng nhận xét: “Trong hoạt động giao tiếp cũng thường gặp những cách dùng linh hoạt: các từ có thể thâm nhập từ phong cách này qua phong cách khác, có thể chuyển đổi màu sắc phong cách Những sự chuyển đổi đó là dụng ý của người nói (viết) và nhằm phục vụ cho các mục đích tu từ - phong cách học” [16, 90]

Sự chuyển hóa về PCCNNN trong tiếng Việt thường được thấy giữa

PCCNNNSHHN và PCCNNN nghệ thuật Với đặc trưng dung hợp PC điển

hình của ngôn ngữ nghệ thuật và tính chất “xuyên phong cách” của khẩu ngữ

tự nhiên, khiến cho hai PCCNNN này dễ dàng chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình sử dụng Ví như, một mẩu đối thoại trong PCCNNNSHHN qua bàn tay của người nghệ sĩ có thể trở thành một đối thoại văn học Ngược lại, một đối thoại văn học ít có sự can thiệp “gia công” bởi nhà văn sẽ dễ dàng trở thành đối thoại trong sinh hoạt hằng ngày của con người

Trang 12

M.Bakhtin đã từng phát biểu: “Khi những dạng thức thi ca đạt đến hạn

độ tột bậc của chúng về phong cách, thì ngôn ngữ thi ca thường trở thành thứ ngôn ngữ quyền uy, giáo điều và bảo thủ, tự ngăn cách mình khỏi ảnh hưởng của những phương ngữ xã hội ngoài văn học”(1) Như vậy, M Bakhtin cũng

ngầm khẳng định rằng, trước khi những dạng thức thi ca (hay nói cách khác

là ngôn ngữ nghệ thuật) đạt đến giới hạn tột bậc (hoàn hảo) về PC thì nó luôn

nằm trong tầm ảnh hưởng của những phương ngữ xã hội ngoài văn học (tức là

những “khuôn mẫu ngôn ngữ” thuộc PCCNNNSHHN)

Có thể nói, sự chuyển hóa giữa PCCNNNSHHN và PCCNNN nghệ thuật là hiện tượng phổ biến của các ngôn ngữ trên thế giới Tùy vào đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp (của ngôn ngữ) và đặc điểm truyền thống về văn hóa, giao tiếp, ứng xử (của xã hội) của các dân tộc mà sự chuyển hóa về PC này ở những mức độ và phạm vi khác nhau Bởi vì, xét đến cùng thì ngôn ngữ trong

sinh hoạt đời thường chỉ khác ngôn ngữ nghệ thuật ở ngữ cảnh (bối cảnh) giao tiếp mà thôi! Đối với ngôn ngữ sinh hoạt đời thường là ngữ cảnh trực tiếp và ngôn ngữ nghệ thuật là ngữ cảnh gián tiếp Khi ranh giới giữa ngữ cảnh trực tiếp và gián tiếp bị xóa bỏ (hoặc cố tình làm mất) thì sự phân biệt

về phong cách chức năng của ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ nghệ thuật là rất mờ nhạt Mà theo Trần Đình Sử, ngôn ngữ nghệ thuật (đúng hơn là các

nghệ sĩ) đã “thủ tiêu đặc trưng trực tiếp của ngữ cảnh” [12, 200] để có thể

“dung nạp” thật nhiều ngôn ngữ sinh hoạt vào trong các tác phẩm văn học – nghệ thuật

Sự có mặt của các “khuôn mẫu ngôn ngữ” thuộc PCCNNNSHHN trong

các sáng tác văn chương có tác dụng rất to lớn Nó không những làm phong

( 1 ) Nguyên văn: “The language of poetic genres, when they approach their stylistic limit, often becomes authoritarian, dogmatic and conservative, sealing itself off from the influence of

extraliterary social dialects” [Mikhail Mikhailovich Bakhtin, The Dialolgic Imagination (bản dịch

Anh ngữ của Caryl Emerson & Michael Holquist), Nxb University of Texas Press, 1981, 287]

Trang 13

phú thêm vốn từ vựng - cú pháp nghệ thuật mà còn “làm mới” những cách diễn đạt văn chương vốn đã quá nhàm chán, cũ kĩ Một số nhà văn, nhà thơ rất chú trọng đến việc vận dụng các lời nói - cách nói dân gian để bổ sung vào quá trình sáng tác, nhờ đó tạo nên được sự tươi mới, cuốn hút trong tác phẩm của mình

Trên nền văn học thế giới, chúng ta có thể kể đến những bậc thầy về

sáng tạo ngôn ngữ như A.Puskin, E Hemingway, Mark Twain…Là người đầu tiên đặt nền móng cho chủ nghĩa hiện thực Nga - Puskin rất chú trọng đến việc xây dựng cốt truyện, đặc biệt là ngôn ngữ trong sáng tác Khác với những nhà thơ, nhà văn Nga thế kỉ XVIII như Giucốpxki, Đécgiavin, Caramdin…- Puskin đưa vào trong tác phẩm của mình rất nhiều ngôn ngữ đời thường của cuộc sống hiện thực Nga trong những năm 20 của thế kỉ XIX Chính điều này đã làm cho các sáng tác của ông đến gần với bạn đọc hơn và tác động trực tiếp vào tư tưởng, tình cảm của rất nhiều tầng lớp trong xã hội Nga bấy giờ

Trong nền văn học Việt Nam, sự chuyển hóa của ngôn ngữ sinh hoạt đời

thường vào các tác phẩm văn học là một hiện tượng khá phổ biến Tùy vào từng thời kì lịch sử, đặc điểm xã hội – văn học nghệ thuật có thay đổi nên mức độ của sự chuyển hóa này cũng khác nhau

Trước thế kỉ XX (thuộc thời kì văn học Trung đại), các nhà văn, nhà thơ

thường chú trọng đến yếu tố ngôn ngữ nghệ thuật Đối với họ, ngôn ngữ trong văn chương phải trải qua sự chọn lọc, gọt giũa kĩ càng của người cầm bút

Ngôn từ càng “cầu kì, bóng bẩy” bao nhiêu thì lời văn sẽ càng “trang trọng, đài các”, và phải như thế mới “Lời lời châu ngọc hàng hàng gấm thêu”(2) Trong xu hướng chung đó, vẫn có một số tác giả chú trọng việc đưa ngôn ngữ

( 2) Câu thứ 1316 trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Trang 14

sinh hoạt đời thường vào trong tác phẩm của mình như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du…Đọc Hồ Xuân Hương, người ta dễ bắt gặp sự xuất hiện của

những từ ngữ đời thường, mà đôi khi là thông tục Điều đó đã tạo nên những

tầng ý nghĩa sâu xa và màu sắc phong cách khá đậm nét trong thơ bà Đến với Nguyễn Du, người đọc không chỉ được “thưởng thức” thứ ngôn ngữ “đài các, ước lệ”, mà còn được tiếp xúc với lớp từ vựng – cú pháp khẩu ngữ rất đặc trưng trong giao tiếp hằng ngày Nghiên cứu Truyện Kiều, Trần Đình Sử nhận

thấy tài năng tuyệt diệu của Nguyễn Du thể hiện ở việc “đập vỡ”(3) cấu trúc

ngôn ngữ hàng ngày để tạo thành ngôn từ nghệ thuật Chẳng hạn:

Mặt sao dày gió dạn sương, Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!

(câu 1237 – 1238, Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Chính cách diễn đạt mới mẻ và đầy biểu cảm này đã góp phần làm cho Truyện Kiều dễ dàng thấm sâu và in đậm trong tâm thức của rất nhiều thế hệ người Việt

Thời kì cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam có sự

chuyển biến theo hướng hiện đại Trong thời điểm “giao thoa” này, một số nhà văn đã có ý thức “làm mới” ngôn ngữ văn chương bằng cách đưa ngôn ngữ sinh hoạt đời thường vào trong sáng tác của mình - trong số đó phải kể đến tác giả Hồ Biểu Chánh Cùng thời với Hồ Biểu Chánh, nhiều tác giả khác như Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng

Thuật vẫn giữ nguyên cung cách gọt giũa cẩn thận từng câu chữ Vì thế họ

chưa tạo được nét mới về ngôn ngữ trong sáng tác văn chương Ngôn ngữ trong tác phẩm của họ có điểm chung là xa lạ với tiếng nói hàng ngày của quần chúng, rất kiểu cách, cầu kì Hồ Biểu Chánh đã không đi theo con đường

( 3) Chữ dùng của Trần Đình Sử (2003), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, 306

Trang 15

“sáo mòn” đó Sự xuất hiện của từ khẩu ngữ với tần số cao đã khiến cho tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có sự gần gũi, quen thuộc với công chúng bình dân Người đọc có cảm giác như được nghe chính tiếng nói của mình, được chia

sẻ, được cảm thông Tác giả Cù Đình Tú đã từng nhận xét: “Phong cách của

Hồ Biểu Chánh là phong cách viết như nói, nói tiếng mà dân chúng Nam bộ thường dùng hàng ngày vào đầu thế kỉ 20 ( ) Điều cần phải ghi nhận ở văn

Hồ Biểu Chánh qua cả vạn trang tiểu thuyết của ông là: ông viết tiểu thuyết bằng tiếng của dân chúng vùng đồng bằng sông Cửu Long Lẽ tự nhiên ai cũng hiểu đó vẫn là tiếng Việt, nhưng đó là tiếng Việt ở một vùng cư dân đông đúc tại nơi phía Nam của Tổ quốc với những đặc sắc riêng của nó” [18,

310]

Thời kì 1945 – 1975 - để phục vụ cho công cuộc kháng chiến chống xâm

lược và xây dựng Xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc - nền văn học Việt Nam chủ yếu hướng tới đối tượng là quần chúng nhân dân Đặc điểm này phần nào khiến cho ngôn ngữ văn chương tiến sát hơn đến ngôn ngữ đời thường Nói cách khác, sự xuất hiện các lớp từ vựng – cú pháp khẩu ngữ trong tác phẩm văn học thời kì này khá phong phú và đa dạng Các nghệ sĩ đã tự ý thức được việc đưa tác phẩm của mình tới gần và sâu trong quần chúng nhân dân, vì thế

sử dụng các “khuôn mẫu ngôn ngữ” mang PCCNNNSHHN vào sáng tác là điều cần thiết Nghiên cứu thơ Tố Hữu, Trần Đình Sử nhận ra rằng: thơ của

nhà thơ cách mạng này không có gì độc đáo về mặt từ ngữ “Tố Hữu không có những tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, mà dường như chỉ sử dụng những gì sẵn có trong vốn ngôn ngữ toàn dân” [14, 236] Những thứ “sẵn có” ấy chính là

những từ ngữ, những cách nói, cách diễn đạt trong sinh hoạt hằng ngày của quần chúng nhân dân, được Tố Hữu lựa chọn và đưa vào trong thơ rất tinh tế,

đa dạng, giàu sắc thái biểu cảm Nhờ đó, thơ Tố Hữu đã nhanh chóng đi vào quần chúng và tác động mạnh mẽ tới tâm thức của mỗi người

Trang 16

Thời kì sau 1975 tới nay, văn học Việt Nam có sự chuyển biến mạnh mẽ

và tiến sát tới hiện thực của đời sống Mấy chục năm qua, nền văn học của

chúng ta đang trải qua hành trình ngược trong việc sáng tạo ngôn ngữ văn chương Sự cá biệt hoá hay cách tân về ngôn ngữ nghệ thuật thường bị xem

là lập dị, ngoại lai, xa rời đời sống…Ngược lại, những nhà thơ, nhà văn mở rộng biên độ ngôn ngữ văn chương để dung nạp đủ thứ ngôn ngữ bình dân, khẩu ngữ, ngôn ngữ vỉa hè lại được cổ vũ và ca ngợi Trong số các tác giả này phải kể đến Dương Hướng, Bảo Ninh…và đặc biệt là Ma Văn Kháng Họ đã biết cách đưa ngôn từ khẩu ngữ tự nhiên, đôi khi là thông tục vào trong sáng tác của mình Quá trình “dung nạp” đó không hề gượng ép, sống sượng mà ngược lại người đọc cảm nhận được sự chân thực, giản dị và vô cùng tự nhiên trong trang văn của họ Trong giới hạn của đề tài, chúng tôi sẽ làm sáng tỏ đặc điểm nổi bật này của văn xuôi Ma Văn Kháng thông qua một số truyện ngắn đặc sắc của ông

1.1.3 Từ ngữ hội thoại (4)

Trên lí thuyết, chúng ta có thể phân chia vốn từ vựng tiếng Việt về mặt PCCNNN Cở sở của sự phân loại này là sự tồn tại của những PCCNNN khác nhau Phong cách chức năng của ngôn ngữ là những biến thể của ngôn ngữ được hình thành song song với quá trình phát triển của lịch sử - xã hội Mỗi phong cách chức năng phục vụ cho một mặt, một lĩnh vực nào đó của đời sống xã hội Mỗi PC sử dụng những phương tiện ngôn ngữ - mà trước hết là các từ, cú pháp tiêu biểu, đặc trưng cho PC của mình [3, 284]

1.1.3.1 Quan niệm chung về TNHT

(1) Nhóm tác giả Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái

Hòa, quan niệm về TNHT như sau:

( 4 ) Thuật ngữ này tương đương với các cách gọi “từ vựng khẩu ngữ”, “từ vựng hội thoại”…

Trang 17

“Ta nhận thấy có một số từ ngữ chỉ được dùng trong phong cách khẩu ngữ tự nhiên Thí dụ: Ô hay! Hoài của! Này, Phải gió(…) Đó là những từ mang sắc thái khẩu ngữ tự nhiên, gọi tắt là từ khẩu ngữ Ngoài phần nội dung

cơ bản, từ khẩu ngữ còn gợi cho ta liên tưởng đến tính chất thân mật, tự nhiên, sinh động của sự giao tiếp phi chính thức xã hội” [17, 61]

(2) Tác giả Nguyễn Thiện Giáp quan niệm rằng:

“Từ vựng hội thoại được dùng trong các cuộc nói chuyện tự nhiên hằng ngày Về mặt lịch sử, nó hình thành trước từ vựng sách vở và không phụ thuộc vào tự vựng sách vở” [7, 285]

Như vậy, TNHT là những từ, ngữ được sử dụng trong sinh hoạt tự nhiên hằng ngày Nó tồn tại trong hoàn cảnh giao tiếp không chính thức giữa các cá nhân với nhau Ngoài phần nội dung thông báo, TNHT còn gợi cho ta liên tưởng tới tính chất thân mật, sinh động và nhiều khi là suồng sã trong giao tiếp hằng ngày

1.1.3.2 Đặc điểm của TNHT

(1) Nhóm tác giả Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái

Hòa [17, 81- 83] quan niệm từ khẩu ngữ có những đặc điểm nổi bật sau:

- Từ khẩu ngữ rất giàu hình ảnh Những từ ngữ khô khan ít màu sắc, ít

sinh động tỏ ra không phù hợp với cách nói năng sinh hoạt hằng ngày.(…)Tóm lại, cái hiện ra trước mặt mọi người trong giao tiếp thân mật

hằng ngày là luôn luôn cụ thể VD: nỏ mồm, xoen xoét…

- Từ khẩu ngữ giàu sắc thái biểu cảm Từ khẩu ngữ giàu hình ảnh đồng

thời cũng chứa đựng sắc thái biểu cảm phong phú Những hình ảnh ở từ khẩu ngữ bao giờ cũng gắn với một cái nhìn riêng của chủ quan người nói

VD: - các thán từ, trợ từ tình thái, ngữ khí từ: ô, ư, à, ô hay…

- các từ đưa đẩy: khí không phải, khí vô phép, của đáng tội…

Trang 18

(2) Cù Đình Tú [18, 205 – 213] phân tích khá rõ đặc điểm và một số

kiểu cấu tạo thương gặp của từ khẩu ngữ như sau:

- Từ khẩu ngữ là những từ có tính chất miêu tả chi tiết, cụ thể Đó còn

là vốn từ ngữ giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm

- Cấu tạo của từ khẩu ngữ rất đa dạng (…) có tới hàng chục ngàn đơn

vị nhưng từ khẩu ngữ tiếng Việt được cấu tạo theo 4 cách sau:

 Cấu tạo bằng cách thêm yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là người nói thêm yếu tố (không mang nghĩa) vào đơn vị nguyên mẫu là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ mang PC khẩu ngữ Mô hình chung của kiểu này là:

VD: Trắng + phau trắng phau Trắng + toát trắng toát…

 Cấu tạo bằng cách bớt yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là người nói bỏ bớt yếu tố ở đơn

vị nguyên mẫu là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ mang PC khẩu ngữ Hiện tượng này do ảnh hưởng của thói quen ưa thích lối nói tắt (tỉnh lược) trong giao tiếp hằng ngày của người Việt

VD: Tất nhiên – nhiên tất Hâm mộ - hâm mộ…

 Cấu tạo bằng cách biến yếu tố

Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là người nói thay đổi yếu tố (ngữ

âm, ngữ nghĩa) ở các đơn vị nguyên mẫu là từ đa phong cách để tạo nên đơn

vị mới là từ mang PC khẩu ngữ Hiện tượng này do ảnh hưởng của thói quen

ưa thích lối nói mới mẻ, khác lạ, đôi khi do cách phát âm thiếu chính xác trong giao tiếp hằng ngày của người Việt

 Kiểu biến âm: VD: Chẳng chả Hai mươi lăm hăm nhăm

 Kiểu biến nghĩa: VD:

Từ đa phong cách + yếu tố không mang nghĩa = Từ mang PC khẩu ngữ

Trang 19

(7) Chăn gối gì mà bẩn và hôi quá!

(8) Tấc là thế, ngoài chuyện chăn gối ra, hắn chẳng yêu chiều vợ

gì hết [22, 119]

Ở câu (7), từ chăn gối được dùng với nghĩa nguyên trong từ điển chỉ các vật dụng phục vụ cho sinh hoạt thường nhật của con người Ở câu (8), từ chăn gối ám chỉ chuyện quan hệ vợ chồng Ở đây đã xuất hiện hiện tượng biến

nghĩa (chuyển nghĩa) của từ đa phong cách

 Cách cấu tạo bằng cách dùng các yếu tố ngẫu nhiên

Trong giao tiếp hằng ngày của người Việt, ta thấy xuất hiện một số từ, ngữ cố định (quán ngữ) mặc nhiên được coi là TNHT Hiện tượng này do ảnh hưởng của ngữ cảnh giao tiếp trực tiếp, dẫn tới sự phản ứng “nhất thời” trong

tư duy ngôn ngữ của người giao tiếp VD:

 Từ khẩu ngữ(5): béng, phứt, quách…

 Quán ngữ khẩu ngữ: khí không phải, của đáng tội, chết nỗi…

Riêng phần quán ngữ khẩu ngữ, chúng tôi sẽ trình bày kĩ hơn ở phần sau

(3) Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu – Hoàng Trọng Phiến

[3, 261] cho rằng:

- Về mặt cấu trúc hình thức, các từ ngữ thuộc lớp từ khẩu ngữ khi đi vào hoạt động giao tiếp, ít nhiều có thể “tự do, phóng túng” nếu điều kiện cho phép Nói cách khác, chúng có nhiều khả năng biến đổi cấu trúc vốn có của mình VD:

 Kiểu láy từ: Nhạt phèo nhạt phèo phèo Ồn ồn ồn…

 Kiểu lặp từ: Đàn ông đàn ông đàn ang…

 Kiểu láy và lặp từ: Học hành học học hành hành…

( 5 ) cách gọi này chỉ có tính chất khu biệt một số từ mặc nhiên được coi là TNHT, chứ không bao gồm tất cả các từ ngữ thuộc PCCNNNSHHN như “từ vựng khẩu ngữ tự nhiên”, “từ ngữ hội thoại”…

Trang 20

- PC khẩu ngữ tự nhiên rất ưa dùng các thành ngữ, quán ngữ để đưa

đẩy, rào đón hoặc để diễn đạt cho sinh động:

181-182] Ở đề tài này, chúng tôi chỉ khảo sát quán ngữ khẩu ngữ

VD: Của đáng tội Khí không phải…

(4) Tác giả Đỗ Hữu Châu [4, 69 – 70] cho rằng, trong lời nói sinh hoạt

hằng ngày thường xuất hiện những biến thể của từ vựng Những biến thể này không tạo nên từ mới cho vốn từ vựng, mà chỉ là những đơn vị ngôn ngữ có nghĩa lâm thời trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định VD:

 Kiểu biến thể lồng chéo: quét dọn nhà cửa quét nhà dọn cửa…

 Kiểu biến thể rút gọn và gộp: độc ác + tai hại ác hại…

(5) Thầy Bùi Trọng Ngoãn [11, 10] cho rằng:

- Đặc điểm từ vựng của PCCNNNSHHN là ưa dùng những từ tượng thanh, tượng hình VD: cốc, lăn kềnh…

- Sự xuất hiện với tần số cao của các từ địa phương, từ thông tục, tiếng lóng cũng là một đặc điểm nổi bật của TNHT:

 Từ địa phương

Trang 21

Từ địa phương là những từ thuộc một phương ngữ nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi địa phương đó (tức là bị giới hạn bởi phạm vi sử dụng) [11, 31] Chúng thường xuất hiện trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày của người dân địa phương Đôi khi chúng cũng được dùng trong

các tác phẩm văn chương với mục đích tu từ - phong cách học VD: chun (dây cao su), ngái (xa)…

 Từ thông tục

Từ thông tục là những từ chỉ dùng trong lời nói miệng của giao tiếp khẩu ngữ, mang tính suồng sã, có khi thô thiển.(…) Mặc dù phạm vi sử dụng của từ thông tục là ngôn ngữ hội thoại nhưng nó không nằm trong từ vựng của ngôn

ngữ văn hóa [11, 30] VD: rực mỡ, con mẹ, thằng cha…

(6) Tác giả Nguyễn Đức Dân [5, 210 – 212] đã khảo sát những lời nói

sinh hoạt hằng ngày và chỉ ra những cách kết hợp từ sai logic Hiện tượng

này xuất hiện phổ biến trong khẩu ngữ tự nhiên (đôi khi cả sách vở) Nguyên nhân là do nhận thức chủ quan của người nói, hoặc do tác động trực tiếp từ ngữ cảnh giao tiếp…Trên thực tế, biết mình dùng từ thiếu chính xác, thậm chí sai ngữ nghĩa nhưng mọi người vẫn chấp nhận nó (nhất thời) như một cách nói đúng Theo chúng tôi, hiện tượng này không thuộc đặc điểm diễn đạt của PCCNNNSHHN, mà thuộc đặc điểm từ vựng của PC này Lí do chúng tôi đưa ra là:

Trang 22

- thứ nhất, các từ này được sử dụng như một đơn vị ngôn ngữ thuần túy

trong phát ngôn của người nói

- thứ hai, tuy không phải là từ mới nhưng các từ này đều mang nghĩa lâm thời mà người phát ngôn cho nó là đúng

VD: (9) Ê mày, cầm lấy túi bánh mà ăn đường này!

(10) Hôm nay chúng tôi đi ăn hiệu

Ở câu (10), từ ăn hiệu mà người nói sử dụng muốn ám chỉ tới việc thực hiện hành động ăn ở một của hiệu nào đó, chứ không phải là ăn ở nhà…Nhưng theo từ điển, ăn là một động từ chỉ hành động đưa thức ăn vào miệng của động vật và hiệu là một danh từ chỉ nơi diễn ra hoạt động mua – bán, trao đổi…Như vậy, hiệu không thể là bổ ngữ của ăn như trong cách nói

ăn hiệu ở câu (10) Đúng ra, câu (10) phải được diễn đạt như sau: “Hôm nay chúng tôi đi ăn ở hiệu”

1.1.3.3 Kết luận về TNHT

Trên thực tế, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và PC học tiếng Việt cũng chưa có một công trình khoa học nào khảo sát triệt để các lớp từ mang màu sắc PCCNNNSHHN Do đó, trên cơ sở tổng hợp 6 quan niệm của các tác giả đã được trình bày – chúng tôi đi đến kết luận về TNHT như sau: TNHT là những từ, ngữ được dùng phổ biến trong sinh hoạt hằng ngày của các cá nhân trong cộng đồng và không bị ràng buộc bởi hoàn cảnh giao tiếp chính thức.TNHT giàu hình ảnh và sắc thái biểu cảm Ngoài phần nội dung thông báo, TNHT còn gợi cho ta liên tưởng tới tính chất thân mật, sinh động và nhiều khi là suồng sã trong giao tiếp hằng ngày

Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và miêu cả các lớp từ mang màu sắc PCCNNNSHHN trong một số truyện ngắn của Ma Văn Kháng

Cụ thể:

 Về thực từ

Trang 23

 Từ hội thoại

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến yếu tố:

+ Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm

+ Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy từ

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu lặp từ

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy và lặp từ

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến thể lồng chéo

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu rút gọn và gộp

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu kết hợp từ sai logic – khách quan

- Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu gọi tên đối tượng kèm theo đặc điểm nhận dạng

Trang 24

1.1.4.1 Quan niệm chung về CPHT

Theo chúng tôi, CPHT là những kiểu câu được dùng phổ biến trong sinh hoạt giao tiếp hằng ngày của các cá nhân trong cộng đồng CPHT tồn tại trong ngữ cảnh giao tiếp không chính thức nên chúng không bị ràng buộc bởi các quy tắc chung về ngữ pháp văn bản Do tác động của tư duy chủ quan, vì thế CPHT có thể là câu dư yếu tố, lược yếu tố hoặc câu sai logic khách quan, miễn sao người nói và người nghe hiểu được và chấp nhận

1.1.4.2 Đặc điểm của cú pháp hội thoại

Trên thực tế, CPHT chưa được nghiên cứu kĩ càng Hầu như các dẫn liệu trong các công trình đều được lấy ra từ tác phẩm văn chương, tức là đã qua thao tác biên tập, hiệu đính của nhà văn Sau đây, chúng tôi trình bày một

số quan niệm về đặc điểm CPHT của các nhà nghiên cứu

(2) Thầy Bùi Trọng Ngoãn [11, 10] cho rằng:

- Trong giao tiếp, đôi khi người nói không quan tâm nhiều đến cách tổ

chức câu nói, vì vậy hiện tượng vi phạm logic – khách quan vẫn khá phổ

biến Hiện tượng này xuất hiện phần lớn do nguyên nhân chủ quan, đôi khi do tác động trực tiếp của ngữ cảnh giao tiếp Nó làm cho câu nói thêm phần sinh động, “hài hước”, nhưng nhiều khi cũng gây nên tình trạng khó hiểu cho người tiếp nhận VD:

Trang 25

(11) Cấm không được hút thuốc ở đây!

(12) Nếu nói sai thì tôi không là người!

- Do đối thoại trực tiếp, có ngữ cảnh nên câu thường có hiện tượng tỉnh lược Hiện tượng này cũng bị ảnh hưởng một phần bởi tâm lí ưa thích

cách nói ngắn gọn, tắt te trong giao tiếp của người Việt VD:

(13) - (Mày) Làm gì thế?

(14) - (Tao) Chơi!

- Cũng do đối thoại trực tiếp mà trong câu của PCCNNNSHHN thường

có yếu tố dư (hoặc không kịp lựa lời, hoặc cần nhấn mạnh vấn đề) VD:

(15) – Mày làm gì thì làm đi!

(16) – Nó siêng lắm chứ!

(17) – Huy khùng, mày đi đâu thế?

(3) Tác giả Đinh Trọng Lạc [10, 120 – 121] đưa ra những kiểu câu có

kết cấu riêng trong PCCNNNSHHN sau đây:

- Dùng câu có kết cấu “…đã X lại Y(6)” thay cho kết cấu “…không những X mà còn Y” để nhấn mạnh một vấn đề nào đó VD:

(18) Con bé ấy đã đẹp lại học giỏi nữa

- Dùng câu có kết cấu “…gì mà …” để biểu thị thái độ phủ định VD:

(19) Cỡ như mày thì làm gì mà làm!

(20) Con bé ấy thì đẹp gì mà đẹp!

Ngoài ra, theo chúng tôi, trong giao tiếp hằng ngày của người Việt còn

xuất hiện những kiểu câu dùng lệch mục đích nói Chẳng hạn, hình thức là

câu hỏi nhưng mục đích là đề chào, để phủ định vấn đề…Hiện tượng này do ảnh hưởng của đặc điểm văn hóa nông nghiệp và lối sống gần gũi, thân mật

( 6 ) Ở đây, X – Y có thể là từ, là ngữ hoặc một kết cấu chủ - vị

Trang 26

1.1.4.3 Kết luận về cú pháp hội thoại

Trên thực tế, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chính thức về ngữ pháp trong PCCNNNSHHN Do đó, trên cơ sở tổng hợp quan niệm của các nhà nghiên cứu – chúng tôi đi đến kết luận về CPHT như sau: CPHT là những kiểu câu được dùng phổ biến trong sinh hoạt giao tiếp hằng ngày của các cá nhân trong cộng đồng CPHT tồn tại trong ngữ cảnh giao tiếp không chính thức nên chúng không bị ràng buộc bởi các quy tắc chung về ngữ pháp văn bản Thông thường, ngoài nội dung thông báo chính thức, CPHT còn thể hiện tâm lí, tình cảm, thái độ của người phát tin đối với người nhận tin hoặc nội dung nhắc tới trong phát ngôn của mình

Trong đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát và miêu tả các cú pháp mang màu sắc PCCNNNSHHN trong một số truyện ngắn của Ma Văn Kháng

Cụ thể:

- Câu có hiện tượng tỉnh lược:

+ Tỉnh lược thành phần chủ ngữ

+ Tỉnh lược thành phần vị ngữ

- Câu có chứa yếu tố dư

- Câu vi phạm logic – khách quan

Trang 27

Ma Văn Kháng sinh ngày 1 tháng 12 năm 1936 tại trấn Sơn Lộc, tỉnh Sơn Tây, nhưng trong sâu thẳm trái tim - ông luôn coi mảnh đất Kim Liên là quê hương, là gốc tích của mình! Kim Liên – vùng quê nghèo khó, lam lũ nơi nội thành chật chội nhưng ấm chặt tình người đã sống mãi trong tâm thức của chàng trai Đinh Trọng Đoàn – mà sau này, đã lấy bút danh là Ma Văn Kháng Thời niên thiếu, Ma Văn Kháng cùng gia đình đi lập nghiệp tại Sơn Lộc, tỉnh Sơn Tây cũ Thời kì trước 1945, Ma Văn Kháng đã từng miệt mài với con chữ, cây bút ở các ngôi trường như: trường Thiếu nhi Việt Nam, Đội Thiếu nhi nghệ thuật, Đội Văn nghệ truyền bá Vệ sinh, trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Đến những năm đầu của thập niên 50, Ma Văn Kháng theo học tại một trường Trung cấp Sư Phạm ở Quảng Tây (Trung Quốc) Năm

1954, sau khi rời xa giảng đường đại học, Ma Văn Kháng đã tình nguyện đến với mảnh đất Tây Bắc xa xôi Mười chin tuổi – anh giữ trọng trách Hiệu trưởng của một trường cấp I, II trên thị xã Lào Cai Với tình yêu con trẻ và nhiệt huyết mạnh mẽ của người thanh niên – anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người thầy, một người anh, một người đồng chí Anh hăng hái tham gia vào các hoạt động của người dân bản địa và cảm nhận được sự trong sáng, thuần khiết của vùng đất Tây Bắc hoang sơ nhưng ấm áp tình người! Nơi đây, anh đã gặp được người cán bộ trẻ mẫu mực Ma Văn Nho Ma Văn Nho đã dìu dắt anh ở những bước đi đầu đời Kể từ đây, người thầy giáo mang tên Đinh Trọng Đoàn không còn nữa, thay vào đó là cái tên Ma Văn Kháng như để kỉ niệm cho một sự đổi thay!

Cái tên Ma Văn Nho với mảnh đất Lào Cai đã đi vào tâm hồn ông nhẹ nhàng mà thân thiết vô cùng! Mãi tới sau này, năm 1961, khi Ma Văn Kháng trở về Hà Nội và theo học ở trường Đại học Sư phạm, trong nỗi nhớ của ông chưa khi nào vắng cái tên Lào Cai và anh chàng cán bộ Ma Văn Nho Năm

1963, ông trở lại Lào Cai và làm hiệu trưởng một trường cấp III Bốn năm

Trang 28

sau, ông làm thư kí riêng cho đồng chí Trường Minh – lúc ấy đang đương nhiệm chức vụ bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Đến 1968, Ma Văn Kháng chuyển sang làm tại Báo Lào Cai Một phần tư cuộc đời gắn bó - Ma Văn Kháng đã mang ơn mảnh đất này Lào Cai đã trở thành quê hương thứ hai của Ma Văn Kháng tự lúc nào

Từ năm 1976, Ma Văn Kháng trở về Hà Nội Tại đây, ông đã giữ nhiều chức vụ quan trọng của hội nhà báo, nhà văn Việt Nam

1.2.2 Ma Văn Kháng – “hành trình” từ Tây Bắc tới “thủ đô”

Đinh Trọng Đoàn – người thầy giáo trên mảnh đất Lào Cai năm nào đã trở thành một nhà văn với bút danh Ma Văn Kháng như một mối lương duyên của trời đất Thế mà, ở cương vị nào – ông vẫn cho người đời thấy được sự cần mẫn và xuất sắc lạ thường!

Khởi nghiệp bằng truyện ngắn Phố cụt, in trên báo Văn học năm 1961,

cái tên Ma Văn Kháng khi ấy còn quá xa lạ Nhưng cũng chỉ cần sáu năm, Ma Văn Kháng đã chứng tỏ được rằng – mình là một nhà văn thực sự! Năm 1967,

khi truyện ngắn Xa phủ đạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác do báo Văn nghệ

tổ chức, Ma Văn Kháng đã được người đọc đón nhận như một hiện tượng của dòng văn học bấy giờ Được khơi nguồn từ những tình cảm thiêng liêng với mảnh đất Tây Bắc, Ma Văn Kháng đã viết nên những trang văn không thể hay

hơn về bản sắc và con người nơi đây Các tập truyện như Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973)…lần lượt ra đời và nhận được sự khen ngợi từ

phía người thưởng thức Đó chính là nguồn động viên dồi dào và thiết thực nhất để Ma Văn Kháng tự tin bước trên con đường “Tây Bắc” trong sự nghiệp

sáng tác của mình Những tập “Đại thành” như Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, tùy bút Sông Đà của Nguyễn Tuân…tưởng chừng như đã làm cho đề tài về

Tây Bắc trở nên cũ kĩ và xa tầm bút của các nhà văn sau này Nhưng Ma Văn

Kháng đã khiến “Tây Bắc được “sống” lại lần nữa trên văn đàn dân tộc Đồng

Trang 29

bạc trắng hoa xòe (1979), Vùng biên ải (1983)…đã đánh thức một “Tây Bắc”

im lìm trong sương trắng, đã mang cả không gian hoang sơ, xa lạ nơi đây về chốn thành thị tấp nập, xô bồ Người ta cứ nghĩ Tây Bắc là xa lắm, cao lắm nhưng khi đọc truyện của Ma Văn Kháng – họ cảm thấy Tây Bắc như đang hiện hữu trước mắt với tất cả vẻ đẹp thuần khiết của nó Bỏ ra hai tiếng để

thưởng thức Vùng biên ải, nhiều khi còn thích thú hơn việc “hì hục” hai tháng

để đi thực tế nơi đây!

Ma Văn Kháng – đọc cái tên thôi người ta cũng đã nghe thấy “mùi” Tây Bắc Nhưng thật lạ! Cũng con người ấy, cũng tâm hồn ấy khi “ngược lên” vùng cao đã “tận bút” mà “lần xuôi” về đồng bằng cũng chân thực vô cùng

Những Mùa lá rụng trong vườn (1985), Côi cút giữa cảnh đời (1989), Heo may gió lộng (1992), Trăng soi sân nhỏ (1994), Một chiều dông gió (1999)…đã ghi lại một phần của cuộc sống chốn thành thị, miền xuôi Những

nhốn nháo, xô bồ; những ngột ngạt, tù túng; những bon chen, tính toán và cả những tình cảm cao đẹp giữa dòng đời xuôi ngược đã được Ma Văn Kháng đem vào sáng tác của mình một cách tự nhiên, sống động lạ thường

Một đời miệt mài với con chữ và văn chương, Ma Văn Kháng đã nhận được rất nhiều giải thưởng như: Giải thưởng loại B của Hội Nhà văn Việt

Nam năm 1986 cho quyển tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn, Giải thưởng

của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 cho tập truyện

ngắn Trăng soi sân nhỏ, Giải thưởng Văn học ASEAN…nhưng có lẽ với ông,

“giải thưởng” tuyệt vời nhất vẫn là sự ngưỡng mộ và trân trọng của hàng triệu bạn đọc trong suốt thời gian qua!

1.2.3 Ma Văn Kháng qua đánh giá của các nhà nghiên cứu

Ma Văn Kháng – cái tên không quá nổi bật và màu mè trong dòng văn học Việt Nam, nhưng cũng đủ để người ta phải quan tâm, chú ý suốt mấy chục năm qua Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn góp phần làm mới

Trang 30

nền văn học ở những năm 80 của thế kỉ trước Văn của ông vừa trữ tình, vừa hiện thực – vừa sâu lắng, vừa ồn ào…Những cung bậc cảm xúc quyện hòa trong hởi thở của cuộc sống đã đi vào các sáng tác của Ma Văn Kháng tự

nhiên và sống động lạ thường GS Lã Nguyên đã nhận xét:“Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiểu sâu tâm hồn…truyện ngắn Ma Văn Kháng có diện mạo, hình hài riêng vì ngay từ những sáng tác đầu tay người cầm bút đã đến với bạn đọc trong tư cách một nhà văn có ý thức về chỗ đứng trong vương quốc văn chương, nghệ thuật” [dẫn theo 19] Theo GS Phong Lê, văn chương Ma

Văn Kháng “giàu tính trữ lượng” trước hết ở cái ngôn ngữ đa dạng và lối viết

độc đáo của mình [dẫn theo 19] Với Đoàn Minh Tâm, “Ở Trốn nợ, thêm một lần nữa ta thấy được được cái tài của cây bút truyện ngắn sung mãn, lực lưỡng và cái tình Ma Văn Kháng với con người, với văn chương” [dẫn theo

19] Tác giả Đỗ Phương Thảo, khi nhận xét về Ma Văn Kháng đã viết: Sáu mươi lăm tuổi đời, bốn mươi năm cầm bút và một gia tài gồm 10 tiểu thuyết,

19 tập truyện ngắn đó chỉ là những con số – nhưng là những con số biết nói – gợi về nhà văn Ma Văn Kháng hôm nay, một Ma Văn Kháng đang thời sung sức, đang hứa hẹn những vụ mùa bội thu hơn sau giải thưởng văn học ASEAN năm 1998 Với tâm niệm “Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn chứ đâu phải là hớt lấy cái váng bọt nổi trên bề mặt của ngoại vật”, nhà giáo – nhà văn Đinh Trọng Đoàn đã đem đến cho người đọc bao nỗi băn khoăn, day dứt, trăn trở về thế sự nhân sinh qua những tác phẩm in đậm phong cách của một cây bút văn xuôi này, xem nó là một trong những yếu tố cần thiết, quan trọng tạo nên sự hấp dẫn riêng trong truyện ngắn của ông [dẫn theo 19] Còn Nguyễn Văn Chỉ thì khẳng định rằng:

“nhà văn phản ánh cuộc sống người dân lao động vùng xuôi, đô thị chân thực

và sống động quả đã khó Phản ánh cuộc sống người dân lao động ở vùng sâu, vùng xa còn khó hơn nhiều Với Cỏ dại - Truyện ngắn của nhà văn Ma

Trang 31

Văn Kháng đã thành công, có sức cuốn hút và thuyết phục bạn đọc”[dẫn theo

19] Tác giả Đặng Hiền không giấu nỗi sự ngưỡng mộ về Ma Văn Kháng đọc

xong Một chiều dông gió: “Ma Văn Kháng là nhà văn thiên về chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt nhưng ở văn ông vẫn dạt dào cảm xúc và cả chất lãng mạn,

nó cuốn hút chính bản thân tác giả và tất nhiên, cùng với sự mới lạ của tình tiết, cũng cuốn hút luôn người đọc Những đoạn văn tả cảnh dông gió, hình ảnh cánh bướm đậu trên dây phơi có bộ quần áo xinh đẹp duyên dáng của cô gái, rồi khuôn trăng đầy đặn vừa nhô lên sau những trảng cát trắng dịu trong bữa cơm ăn của Tua, Thoa và đồng đội cùng vầng trăng, khối vàng tròn đầy

lơ lửng trong câu truyện của Tua về thời thơ ấu, là những chi tiết đẫm chất lãng mạn, chất thơ ”[dẫn theo 19]

Quả thực, Ma Văn Kháng đã viết và đã sống như một người phi thường! Ở cái tuối “xưa nay hiếm”, lại bị hành hạ bởi căn bệnh tim tai quái – nhưng Ma Văn Kháng vẫn miệt mài bên trang sách và liều “tăng lực” là những thứ thuốc trợ tim! Con người nghệ sĩ ấy đã khiến cho chúng ta thấy rằng: văn chương là một tình yêu đích thực, có năng khiếu mà thiếu đi đam

mê, tâm huyết thì cũng giống như bông hoa bay giữa dòng đời…đẹp đấy, nhưng liệu có ai biết mà níu giữ cùng thời gian!

Trang 32

CHƯƠNG II: KHẢO SÁT, MIÊU TẢ TỪ NGỮ HỘI THOẠI VÀ CÚ PHÁP

HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA MA VĂN KHÁNG

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã chọc ra 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng để tiến hành khảo sát Bao gồm:

Trang 33

 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố

Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi

đã tìm ra 48 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố Dưới đây là bảng

số liệu cụ thể:

suất

Từ điển (tr.) STT Từ HT Tần

suất

Từ điển (tr.)

Trang 34

Bảng 2.1 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu thêm yếu tố xuất hiện khá phổ biến trong từng trang truyện của tác giả Ma Văn Kháng Xuất phát từ thực tế giao tiếp cùng với vốn từ vựng phong phú của mình, tác giả đã sáng tạo nên những cách nói, cách diễn đạt khá mới mẻ, khiến cho người đọc cảm thấy thú vị và được mở mang thêm vốn từ của mình

 Một số từ hội thoại đã được từ điển giải nghĩa:

- ngọt xớt (tt) [giọng nói] rất ngọt và dịu dàng, dễ nghe, nhưng thường

không thật, nhằm mục đích không tốt [21, 850]

(11) Hắn gọi nàng là em và xưng anh ngọt xớt [22, tr15]

- tươi rói (tt) rất tươi với vẻ sinh động, hấp dẫn [21, 1335]

(12) Nhưng trí nhớ lão thì vẫn còn tươi rói hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp năm nào.[22, 38]

 Một số từ ngữ được Ma Văn Kháng sử dụng rất sáng tạo mà trong từ điển chưa nhắc tới:

- to sều (tt) kích thước lớn, nặng nề, gây cảm giác vướng víu, khó chịu

Trang 35

 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố

Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi

đã tìm ra 11 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố Dưới đây là bảng

Tần suất STT Từ HT

Từ nguyên mẫu

Tần suất

Bảng 2.2 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu bớt yếu tố

Kiểu cấu tạo này xuất hiện khá ít và phụ thuộc rất nhiều vào ngữ cảnh cụ thể, bởi có thể làm người nghe khó hiểu hoặc hiểu sai nội dung mà nó truyền tải Nhưng trong tác phẩm của mình, Ma Văn Kháng đã tỏ ra khá tinh tế và thành thục trong việc sử dụng từ với cách cấu tạo này, khiến người đọc nhiều chỗ cảm thấy khá lạ lẫm và lí thú Ví như:

- hành hạ - hạ hành

(15) Mà sao hai anh em nhà ông hành người ta quá thể thế? [22, 154]

Trang 36

Ở đây, từ hành được dùng tương đương với từ hành hạ (đg): là làm cho phải đau đớn, khổ sở [21, 526]

- gián điệp – gián điệp

(16) Việt gian tức là bọn điệp ngầm [22, 136]

Ở đây, từ điệp được dùng tương đương với từ gián điệp (dt): là kẻ do

địch cài vào để do thám tình hình và phá hoại [21, 488]

 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm

Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi

đã tìm ra 16 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm Dưới đây là bảng số

liệu cụ thể:

STT Từ HT

Từ nguyên mẫu

Tần suất STT Từ HT

Từ nguyên mẫu

Tần suất

Bảng 2.3 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến âm

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này xuất hiện khá nhiều ở các

phương ngữ Chúng được hình thành trong quá trình giáo tiếp hằng ngày giữa các cá nhân Thoạt đầu, đa số chúng thuộc phạm vi của từ ngữ toàn dân (từ nguyên mẫu), nhưng qua biến đổi về mặt ngữ âm, chúng dần chuyển sang phương ngữ Sự biến đổi về mặt ngữ âm, một mặt do chịu ảnh hưởng từ cách

Trang 37

phát âm của cá nhân trong quá trình giao tiếp, nhưng mặt khác chúng lại tạo nên “dấu ấn” địa phương rất đậm nét trong các tác phẩm văn chương Về cơ bản, chúng đều giữ nguyên nghĩa từ vựng so với từ nguyên mẫu Ví dụ:

- hẻm biến âm hủm (dt): lối đi hẹp, hai bên có vách núi cao [21, 538]

(17) Kia kìa, bác ấy còn đang trồng mom ở vũng lầy trong hủm ấy [22,

84]

- lỡ biến âm nhỡ (kt): biểu thị điều sắp nêu là một giả thuyết cần tính đến

về điều không hay có thể xảy ra [21, 724]

(18) Nhỡ không phải lão Cấu thì sao? [22, 190]

 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa

Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi

đã tìm ra 14 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa Dưới đây là bảng

số liệu cụ thể:

suất STT Từ HT

Tần suất

5 chuyện chăn gối 1 12 già lửa 1

Bảng 2.4 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu biến nghĩa

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này cũng xuất hiện khá phổ biến trong giao tiếp hằng ngày Chúng xuất phát từ nhận thức chủ quan, cộng thêm với thói quen ưa nói hay, hài hước trong giao tiếp của người Việt Trên thực

tế, từ hội thoại kiểu này đã tạo ra những cách nói, cách diễn đạt khá mới mẻ

Trang 38

và tạo nên hứng thú cho nội dung cần diễn đạt Ban đầu, chúng đều là những

từ đa phong cách, nhưng qua quá trình chuyển nghĩa – chúng trở thành những

từ mang màu mắc PCCNNNSHHN Trong sáng tác của mình, Ma Văn Kháng đã chịu khó tìm tòi và sử dụng chúng rất linh hoạt, tự nhiên, từ đó mang lại sức hấp dẫn cho câu chuyện Ví dụ:

(18) Bác đã từng được tôn vinh là giọng ca vàng [23, 128]

Theo từ điển, vàng (dt) 1 Kim loại có màu vàng óng ánh, dễ dát mỏng

hoặc kéo sợi, thường dùng làm đồ trang sức 2 Cái rất quý giá, ví như kim

loại vàng [21, 1356] Trong câu (18), tác giả sử dụng từ vàng theo nghĩa thứ

2, tức là đã biến nghĩa Ở đây, người phát tin muốn cho người nhận tin biết rằng, mình đã từng sở hữu giọng hát rất hay và có giá trị

(19) Tấc trái lại, đã già giặn ở tuổi ba mươi, trai tỉnh lẻ…[22, 117] Theo từ điển, lẻ (tt) 1 [Số nguyên] không chia hết cho 2, phân biệt với

chẵn 2 Phép chia không hết, còn dư 3 Có số dư ngoài số tròn [từ hàng chục trở lên] 4 Có phần dư ngoài đơn vị được nói đến [21, 690] Trong câu (19),

tác giả sử dụng từ lẻ theo nghĩa thứ 4, tức là đã biến nghĩa Ở đây, người phát

tin muốn cho người nhận tin biết rằng, nhân vật Tấc sống ở một đơn vị hành chính nhỏ lẻ, nằm ở ngoại vi trung tâm lớn

 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy từ

Sau khi tiến hành khảo sát 10 truyện ngắn của Ma Văn Kháng, chúng tôi

đã tìm ra 30 từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy từ Dưới đây là bảng số

liệu cụ thể:

Tần suất

Trang 39

Bảng 2.5 Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy từ

Từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu này khá nhiều và có nhiều dạng thức

láy khác nhau Có thể láy lại toàn bộ từ nguyên mẫu (hoe hoe sáng…), có thể láy phần phụ âm của từ nguyên mẫu, còn phần vần thì biến đổi chút ít (tập tọng, bận bịu…), có thể láy toàn bộ từ nguyên mẫu và chỉ thay đổi thanh điệu (choi chói, trong văn vắt…) Trong đề tài này, chúng tôi gộp chung những

dạng thức trên vào từ hội thoại được cấu tạo theo kiểu láy từ Về mặt từ vựng, chúng không phải là một từ mới trong hệ thống ngôn ngữ mà chỉ mang nghĩa lâm thời trong một phát ngôn nhất định của một cá nhân cụ thể Về mặt ngữ

âm, chúng có thay đổi so với từ nguyên mẫu (có thể được nhân đôi hoặc biến đổi) Về mặt ngữ nghĩa, cơ bản chúng đều mang nghĩa của từ nguyên mẫu, song có đôi chút thay đổi về mức độ, sắc thái (có thể tăng lên hoặc giảm đi)…và đặc biệt, chúng mang thêm nghĩa tình thái, thể hiện rất rõ thái độ, tình cảm của người phát tin Ví dụ:

(20) Chưa lấy chồng, nghĩ đến thấy sờ sợ…[22, 119]

Ngày đăng: 08/05/2021, 20:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam–Phần câu, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam–Phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
3. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1992), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học "và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
Năm: 1992
4. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng–ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội 5. Nguyễn Đức Dân (2010), Nỗi oan thì, là, mà, NXB Trẻ, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng–ngữ nghĩa tiếng Việt", NXB Giáo dục, Hà Nội 5. Nguyễn Đức Dân (2010), "Nỗi oan thì, là, mà
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng–ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội 5. Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
6.Hữu Đạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
16. Bùi Minh Toán (2008), Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dẫn luận ngôn ngữ học
Tác giả: Bùi Minh Toán
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2008
17. Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa (1982), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Phong cách "học tiếng Việt
Tác giả: Võ Bình - Lê Anh Hiền - Cù Đình Tú - Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
18. Cù Đình Tú (2003), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt
Tác giả: Cù Đình Tú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
20. Nguyễn Lân (2006), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2006
21. Hoàng Phê (chủ biên) (2009), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng *Nguồn ngữ liệu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng *Nguồn ngữ liệu
Năm: 2009
22. Ma Văn Kháng (2010), Một chiều dông gió, NXB. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chiều dông gió
Tác giả: Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB. Hội nhà văn
Năm: 2010
23. Nhiều tác giả (2010), Văn mới 5 năm 2006 – 2010, NXB. Hội nhà văn, Hà Nội 24. Ma Văn Kháng (2000), Cỏ tơ, NXB Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn mới 5 năm 2006 – 2010", NXB. Hội nhà văn, Hà Nội 24. Ma Văn Kháng (2000), "Cỏ tơ
Tác giả: Nhiều tác giả (2010), Văn mới 5 năm 2006 – 2010, NXB. Hội nhà văn, Hà Nội 24. Ma Văn Kháng
Nhà XB: NXB. Hội nhà văn
Năm: 2000
19. Website: www.mavankhang.com *Tài liệu tra cứu Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm