Đăm Săn là một kết tinh toàn vẹn tính cách anh hùng sử thi Ê đê” [38;27] Nhìn một cách tổng thể, các công trình trên đều hướng đến nội dung cơ bản về hình tượng nhân vật người anh hùng
Trang 2liệu, kết quả trong luận văn là trung thực, những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Học viên thực hiện
Trương Hồng Phúc
Trang 3PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh - người trực tiếp hướng dẫn đề tài, cùng các
thầy cô giáo Trường Đại học Quy Nhơn đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho
tôi hoàn thành luận văn cao học này
Bình Định, ngày 30 tháng 8 năm 2020
Học viên thực hiện
Trương Hồng Phúc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 4
7 Bố cục của luận văn 5
Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.1 Giao tiếp và quá trình giao tiếp 6
1.1.1 Khái niệm giao tiếp 6
1.1.2 Quá trình giao tiếp 6
1.2 Mội số vấn đề về hội thoại 8
1.2.1 Các vận động hội thoại 8
1.2.2 Các quy tắc hội thoại 12
1.2.3 Thương lượng hội thoại 16
1.2.4 Cấu trúc hội thoại 17
1.3 Sử thi Đăm Săn 23
1.3.1 Khái quát về sử thi Đăm Săn 23
1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong sử thi Đăm Săn 25
Tiểu kết 26
Chương 2 - CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN 27
Trang 52.1.2 Cấu trúc của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 28
2.1.3 Vai giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 30
2.1.4 Hoàn cảnh giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 32
2.1.5 Mục đích giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 34
2.1.6 Nguyên tắc hội thoại của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn 36
2.2 Đặc điểm của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 38
2.2.1 Số lượng nhân vật của các đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 38
2.2.2 Cấu trúc của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 40
2.2.3 Vai giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 41
2.2.4 Hoàn cảnh giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 44
2.2.5 Kết quả giao tiếp của đoạn thoại trong Sử thi Đăm Săn 48
2.3 Cấu trúc của cặp thoại trong Sử thi Đăm Săn 50
2.3.1 Cặp thoại một tham thoại 50
2.3.2 Cặp thoại hai tham thoại 53
2.3.3 Cặp thoại ba tham thoại 54
2.4 Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 57
2.4.1 Nghĩa tường minh của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 57
2.4.2 Nghĩa hàm ẩn của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 59
Chương 3 - HÌNH THỨC HỘI THOẠI SỬ THI ĐĂM SĂN 65
3.1 Hình thức liên kết hội thoại trong Sử thi Đăm Săn 65
3.1.1 Liên kết phẳng 65
3.1.2 Liên kết chéo 70
3.1.3 Liên kết lồng 73
Trang 63.2.2 Hội thoại mang tính cá nhân 77
3.2.3 Hội thoại mang tính dí dỏm, hài hước 80
3.3 Vận dụng lí thuyết hội thoại vào phân tích đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trong chương trình Ngữ văn bậc Trung học phổ thông 81
Tiểu kết 89
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (bản sao)
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ,
nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Vấn đề nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại được diễn ra ở nhiều lĩnh vực, từ đời sống xã hội đến giao tiếp văn chương Đối với văn học, hội thoại được xem là một yếu tố quan trọng trong việc phân tích tác phẩm văn chương Nếu văn học viết phân tích hội thoại để đánh giá về phong cách tác giả thì văn học dân gian nghiên cứu hội thoại nhằm cảm nhận về những nét văn hóa đặc trưng được thể hiện trong tác phẩm; đặc biệt trong các thể loại Truyền thuyết, Truyện cổ tích, Truyện cười, Sử thi
Sử thi Đăm Săn là một trong những tác phẩm tiêu biểu của văn học dân
gian Việt Nam à thể loại văn học được sáng tạo từ trí tưởng tượng phong phú, bay bổng, lãng mạn của đồng bào Ê-đê ở Tây Nguyên thời cổ đại
Góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm, chính là sự quan sát và miêu tả tỉ mỉ, cách sử dụng ngôn từ mộc mạc, giản dị nhưng đầy sáng tạo, đặc biệt là những lời thoại rất đa dạng trong đời sống xã hội người Ê-đê cổ truyền Thông qua hội thoại ta nhận ra được tâm lí, tính cách của từng kiểu nhân vật, đồng thời chính ngôn ngữ hội thoại đã phác họa nên bức tranh đời sống của cộng đồng người Ê-đê ở Tây Nguyên Đó là lí do thứ nhất chúng tôi chọn đề
tài “Hội thoại trong Sử thi Đăm Săn” để nghiên cứu
Thứ hai, vấn đề phân tích Ngữ dụng học ở Việt Nam đã được vận dụng
để nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học từ nhiều góc độ: chiếu vật và chỉ xuất, hành vi ngôn ngữ, lập luận, hội thoại, nghĩa tường
minh và nghĩa hàm ẩn (trong tác phẩm của Nguyễn Khải, Kim Lân, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Biểu Chánh ) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào
Trang 8nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về hội thoại trong sử thi nói chung và đặc biệt
trong Sử thi Đăm Săn nói riêng
Lí do thứ ba, chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu để làm rõ cấu trúc và
hình thức của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn; qua đó thấy được bản sắc văn
hóa của người Ê-đê trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Kết quả nghiên cứu
có thể bổ sung nguồn tài liệu cho chuyên ngành ngôn ngữ - văn hóa
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hội thoại trong sử thi Đăm Săn” để nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
Có thể nói, người đặt nền móng cho việc nghiên cứu dụng học hội thoại
là Giáo Sư Đỗ Hữu Châu với các công trình nghiên cứu như: “Giản yếu về ngữ dụng học” [Nxb Giáo dục, 1995], “Đại cương Ngôn ngữ học - Tập 2: Ngữ dụng học” [Nxb Giáo dục Việt Nam, 2001] Ngoài ra còn có công trình
“Ngữ dụng học tập 1” - Nguyễn Đức Dân [Nxb Giáo dục, 1998]; Nguyễn Thiện Giáp với “Dụng học Việt ngữ” [Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007] Dựa trên cơ sở lý thuyết mà các học giả nghiên cứu, ngày càng có nhiều đề tài, luận văn tìm hiểu tác phẩm văn học trên bình diện ngôn ngữ hội thoại:
Hội thoại trong “Dế Mèn phiêu lưu ký” - Giáp Thị Thủy - Đại học Thái
Nguyên, 2009 Luận văn đã khảo sát đặc điểm ngôn ngữ hội thoại được thể hiện
trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài và đi đến nhận xét về sự thể hiện những quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự trong Dế Mèn phiêu lưu ký Ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp -
Lê Thị Trang - Đại học Vinh, 2013 Thông qua khảo sát, tác giả luận văn đã tìm ra những đóng góp của Nguyễn Huy Thiệp trong việc sử dụng ngôn ngữ hội thoại
Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao - Mai Thị Hảo Yến - Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2001 Đề tài này lại tập trung hướng đến hình thức thoại dẫn trong truyện ngắn của Nam Cao
Trang 9Sử thi Đăm Săn đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu chủ yếu ở
góc độ văn hóa và văn học Chẳng hạn:
Trong Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam GS Phan Đăng Nhật đã khẳng định: “ Trong môi trường văn hoá dân gian sử thi là một tác phẩm văn hoá nghệ thuật tổng hợp Nó thu hút hầu hết các giá trị văn hoá nghệ thuật vốn có của dân tộc như: thơ ca, thần thoại, truyền thuyết, âm nhạc, diễn xướng (…) không riêng gì Đăm San mà các Khan khác của đồng bào Tây Nguyên đều chung một khát vọng ( ) Tất cả đều nhằm một lý tưởng là đem lại cho xã hội sự hoà hợp, giàu có hùng mạnh và yên vui” [25;114]
Nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ trong bài viết Phương thức tự sự chủ yếu của sử thi Đăm Săn thì cho rằng: “Về phương diện nội dung, quả là tác phẩm Đăm Săn đã đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất của thời đại anh hùng
Đó là những biểu hiện của đời sống tinh thần, các quan hệ gia đình, sự đoàn kết của một cộng đồng trong sản xuất, hoà bình và tranh đấu Có thể coi đây
là thời đại anh hùng đặc thù của Tây Nguyên” [18;9]
Tác giả Vũ Anh Tuấn trong Giảng văn văn học Việt Nam khi bàn về giá trị tác phẩm Đăm Săn đã nhấn mạnh: “Đăm Săn vừa là người anh hùng văn hoá vừa là người anh hùng trận mạc Đăm Săn phi thường quả cảm, và luôn luôn chiến thắng ở cõi người với lí do hiển nhiên Đăm Săn tài giỏi và nhạy cảm trước số phận cả bộ tộc trong lao động rừng núi ( ) Đăm Săn là một kết tinh toàn vẹn tính cách anh hùng sử thi Ê đê” [38;27]
Nhìn một cách tổng thể, các công trình trên đều hướng đến nội dung cơ bản về hình tượng nhân vật người anh hùng Đăm Săn hoặc đặc điểm của ngôn ngữ hội thoại trong văn học viết Việt Nam chứ chưa quan tâm về hội thoại trong tác phẩm văn học dân gian, đặc biệt ở thể loại sử thi Từ việc tiếp thu ý
kiến của những người đi trước, chúng tôi nghiên cứu “Hội thoại trong sử thi
Đăm Săn”
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu và phân tích ngôn ngữ hội thoại
trong Sử thi Đăm Săn để làm rõ các đặc trưng nổi bật về ngôn ngữ nhân vật
Đồng thời thể hiện vai trò, ý nghĩa của ngôn ngữ hội thoại trong sử thi nói chung
và Sử thi Đăm Săn nói riêng Qua đó thấy được dấu ấn văn hóa của cộng đồng
người Ê-đê được bộc lộ trong ngôn ngữ hội thoại và giao tiếp hàng ngày
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là xác định hệ thống cơ sở lí luận của hội thoại Trên cơ sở ấy, chúng tôi tiến hành khảo sát và phân loại tư liệu từ
Sử thi Đăm Săn Sau đó, dựa vào kết quả khảo sát - thống kê chúng tôi thực hiện miêu tả cấu trúc và hình thức liên kết của hội thoại trong Sử thi Đăm Săn
để từ đó phân tích, lí giải các yếu tố văn hóa cộng đồng của người Ê-đê
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Hội thoại trong sử thi Đăm Săn”
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: “Sử thi Đăm Săn” được in trong
“Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam”, tập 3, quyển 2, Trung tâm
khoa học xã hội và nhân văn quốc gia - Viện văn học, NXB Đà Nẵng, 2002
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp, thủ pháp nghiên cứu liên ngành trong mối liên quan bổ trợ lẫn nhau:
- Phương pháp, thủ pháp, thao tác nghiên cứu ngôn ngữ đặc thù: thống
kê phân loại: Dùng để thống kê ngôn ngữ hội thoại trong Sử thi Đăm Săn và
phân loại hội thoại theo các nhóm: cấu trúc hội thoại, liên kết hội thoại
- Phương pháp miêu tả và phân tích: Chúng tôi phân tích những đặc trưng về ngôn ngữ hội thoại trong Sử thi Đăm Săn để khái quát được những
đặc điểm cơ bản nhất về hội thoại trong tác phẩm sử thi
6 Đóng góp của luận văn
Với mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn hướng đến những đóng góp sau:
- Về lí luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ những đặc điểm của lí thuyết
Trang 11hội thoại trong giao tiếp tiếng Việt
- Về thực tiễn, luận văn sẽ cho thấy mối quan hệ giữa hội thoại và văn hóa giao tiếp của người Ê-đê Đồng thời bổ sung nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa - văn học
7 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được bố cục thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chúng tôi trình bày những vấn đề chung về giao tiếp và lí thuyết hội
thoại làm cơ sở định hướng nghiên cứu hội thoại trong Sử thi Đăm Săn
Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong Sử thi Đăm Săn
Trong chương này, chúng tôi miêu tả đặc điểm của các thành phần trong cấu trúc hội thoại Dựa vào kết quả khảo sát và thống kê ngữ liệu trong
Sử thi Đăm Săn, chúng tôi rút ra những đặc điểm trong cấu trúc của cuộc
thoại, đoạn thoại, cặp thoại, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Chương 3: Hình thức hội thoại trong Sử thi Đăm Săn
Chúng tôi phân tích các hình thức liên kết hội thoại; từ đó đánh giá
những biểu hiện văn hóa giao tiếp của người Ê-đê qua hội thoại trong Sử thi Đăm Săn Dựa trên cơ sở của lí thuyết hội thoại, chúng tôi vận dụng để phân
tích đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trong chương trình Ngữ văn ở
trường THPT
Trang 12Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Giao tiếp và quá trình giao tiếp
1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp
Tác giả Nguyễn Như Ý đã định nghĩa: “Giao tiếp là sự thông báo hay truyền đạt thông báo nhờ một hệ thống mã nào đó” [39;101]
Để duy trì quá trình giao tiếp, con người cần sử dụng phương tiện giao tiếp, bao gồm: ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Cả hai phương tiện giao tiếp này đều quan trọng và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình giao tiếp: với các mối quan
hệ gần gũi thì giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng nhiều hơn, còn trong các mối quan hệ xã giao thì giao tiếp phi ngôn ngữ thường làm nền cho giao tiếp ngôn ngữ
1.1.2 Quá trình giao tiếp
Quá trình giao tiếp được hiểu là sự mã hóa thông điệp của người nói (Sp1), sau đó gửi đến người nghe (Sp2) Sp2 sẽ giải mã và phản hồi thông tin theo quan điểm của họ Thông điệp khi mã hóa phải rõ ràng, súc tích, chính xác, liên quan đến người nhận, kịp thời và có ý nghĩa, phù hợp với tình huống
Quá trình giao tiếp được thể hiện cụ thể qua sơ đồ sau:
Người gửi
Hoàn cảnh giao tiếp
Trang 13Từ mô hình trên ta thấy, để có thể giao tiếp, con người phải có những
mối quan hệ nhất định với nhau, đó là quan hệ giao tiếp “Quan hệ giao tiếp được xây dựng trên hệ thống các mối quan hệ xã hội nói chung, trên cấu trúc
xã hội đó và trên các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, hoặc nhóm người trong xã hội đó” [39;102] Vì vậy, muốn quá trình giao tiếp đạt hiệu quả cần
đảm bảo các yếu tố sau: nhân vật giao tiếp (người gửi và người nhận), nội dung giao tiếp (thông điệp), hoàn cảnh giao tiếp (môi trường giao tiếp rộng và hẹp), phương tiện giao tiếp (hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ), mục đích giao tiếp (mong muốn của người gửi)
Nhân vật giao tiếp là “những người tham gia vào quá trình giao tiếp” [15;213]; trong vai người nói (người viết) hoặc người nghe (người đọc)
Trong hội thoại giữa các nhân vật giao tiếp thường có sự đổi vai và luân phiên lượt lời với nhau
Nội dung giao tiếp là “hiện thực, thực tế khách quan (bao gồm cả thế giới hiện thực, thế giới tưởng tượng; bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần) được các nhân vật giao tiếp đưa vào cuộc giao tiếp” [15;217]
Hoàn cảnh giao tiếp là “môi trường giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp” [15;220] Bao gồm hoàn cảnh giao tiếp hẹp
(thời gian, không gian diễn ra cuộc giao tiếp) và hoàn cảnh giao tiếp rộng (hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa của dân tộc, của đất nước)
Phương tiện giao tiếp là “hệ thống tín hiệu mà các nhân vật giao tiếp
sử dụng trong quá trình giao tiếp” [15;220] Đó là tất cả những yếu tố con
người dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và những biểu hiện khác của mình trong quá trình giao tiếp; bao gồm: phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ
Mục đích giao tiếp là “ý đồ, ý định mà các nhân vật giao tiếp đặt ra trong một cuộc giao tiếp nhất định” [15;222] Đây là yếu tố quan trọng nhất
Trang 14trong hoạt động giao tiếp, nó chi phối việc lựa chọn các yếu tố còn lại và toàn
bộ cách thức tiến hành giao tiếp
Thông qua hội thoại, các yếu tố trên thực hiện vai trò của mình trong sự kết hợp chặt chẽ với nhau Cuộc thoại thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào sự chi phối của các yếu tố này
1.2 Mội số vấn đề về hội thoại
Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến trong
sự hành chức của ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu thì “thuật ngữ hội thoại sẽ được dùng cho mọi hình thức hội thoại nói chung ( ) và đối thoại cho hình thức hội thoại tích cực mặt đối mặt giữa những người hội thoại ( ) Trong đối thoại lại có đối thoại tay đôi, đối thoại tay ba, tay tư, nói chung là đa thoại Kiểu đối thoại tay đôi được gọi là song thoại Song thoại là hình thức hội thoại nguyên mẫu của mọi cuộc đối thoại và hội thoại.” [5;540]
Từ đó ta thấy, dạng cơ bản của hội thoại là dạng “song thoại” (dialogue) tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên hội thoại
có thể có dạng tam thoại (ba nhân vật) và nói chung là đa thoại (nhiều nhân vật)
Để có cơ sở cụ thể nghiên cứu về hội thoại trong Sử thi Đăm Săn, chúng tôi sử dụng khái niệm hội thoại của tác giả Nguyễn Như Ý: “Hội thoại chính là dạng hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” [39;122]
1.2.1 Các vận động hội thoại
Vận động giao tiếp của ngôn ngữ thông thường bao gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác
Trang 15Khi nói về hội thoại, tác giả Đỗ Hữu Châu: “dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại, Sp1 là vai nói, Sp2 là vai nghe Sp1, Sp2 và Spn là các đối tác hội thoại” [5;540]
Trao lời: Là vận động người nói Sp1 nói ra và hướng lời nói của mình
về phía người nhận Sp2 Thông thường, Sp1 khác người nhận Sp2 trừ trường
hợp độc thoại thì có thể đồng nhất Cho nên, “Trao lời là vận động mà Sp1 nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía Sp2 nhằm làm cho Sp2 nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành cho Sp2”
[5;540]
Ví dụ 1:
Trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, nhân vật Chí Phèo đã độc
thoại nội tâm: “Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo?
Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: Có ai nấu cho mà ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa!”
Có những vận động cơ thể (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt) hướng tới người nhận hoặc tự hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực…) bổ sung cho lời của người nói Đây là kiểu hội thoại theo dạng thức phi ngôn ngữ
Đoạn miêu tả Chí Phèo ăn vạ tại nhà Bá Kiến đã cho chúng ta thấy rõ
điều này: “Ối làng nước ôi! Cứu tôi với Ối làng nước ôi! Bố con thằng Kiến
nó đâm chết tôi! Thằng lí Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ôi!” - kèm theo lời kêu la ấy của Chí là hình ảnh “Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt Máu ra loe loét trông gớm quá!”
Tình thế giao tiếp trao lời ngầm ẩn rằng người nhận Sp2 tất yếu phải có mặt, “đi vào” trong lời của Sp1 Ngay trước khi Sp2 đáp lời, anh ta, ngôi thứ hai, đã được đưa vào trong lời trao của ngôi thứ nhất “tôi” và thường xuyên kiểm tra, điều hành lời nói của Sp1 Cũng chính vì vậy, ở phía người nói, người trao lời, nói năng có nghĩa là “lấn trước” vào người nghe Sp2, phải dự
Trang 16kiến trước phản ứng của người nghe để chọn lời cho thích hợp, để làm sao cho có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào Sp2
Trao đáp: Cuộc hội thoại chính thức hình thành khi Sp2 nói ra lượt lời
đáp lại lượt lời của Sp1, sẽ có sự lần lượt thay đổi vai nói, vai nghe giữa các nhân vật giao tiếp Chúng ta đã biết lời là sản phẩm của các hành động ngôn ngữ Tất cả các hành động ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự đáp ứng Cũng như
sự trao lời, sự trao đáp có thể thực hiện bằng các yếu tố phi lời hoặc bằng lời, thông thường thì hai loại yếu tố này đồng hành cùng nhau
Khi Sp1 phát ra một tín hiệu ngôn ngữ thì luôn mong muốn nhận được
sự hồi đáp của Sp2 Nếu không nhận được sự trao đáp từ Sp2 thì Sp1 sẽ rơi vào tình trạng “nói vào chỗ trống”; đồng thời Sp2 “cũng tự cảm thấy áy náy, cảm thấy sự tàn nhẫn, sự thiếu lịch sự của mình” [5;543] Cho nên trong hội
thoại, cả người nói và người nghe đều sử dụng những tín hiệu điều hành vận động trao đáp; được thể hiện trong sơ đồ sau:
Tương tác: Các nhân vật giao tiếp ảnh hưởng lẫn nhau, tác động lẫn
nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại
Trong hội thoại, nhân vật hội thoại cũng là nhân vật liên tương tác Họ
Tín hiệu điều hành vận động trao đáp
Tín hiệu bằng lời
Tín
hiệu
phi lời
Tín hiệu kèm lời
Tín hiệu bằng lời
Tín hiệu phi lời
Tín hiệu kèm lời
Trang 17tác động lẫn nhau về mọi phương diện, đối với ngữ dụng học quan trọng nhất
là tác động đến lời nói (và ngôn ngữ) của nhau “Liên tương tác trong hội thoại trước hết là liên tương tác giữa các lượt lời của Sp1 và Sp2 ” [5;544]
Như thế, lượt lời vừa là cái chịu tác động, vừa là phương tiện mà Sp1, Sp2 sử dụng để gây ra tác động đối với lời nói và qua lời nói mà tác động đến nhau
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Lượt lời là do một phát ngôn hoặc do một
số phát ngôn liên kết với nhau kể từ khi được người nói nói ra cho đến khi người này ngừng lời, tức cho đến khi gặp một vị trí chuyển tiếp quan yếu”
[5;609] Để giữ lịch sự, cần tôn trọng lượt lời của người khác, tránh nói tranh lượt lời, cắt lời hoặc chêm vào lời người khác Im lặng cũng là một cách biểu thị thái độ
Ví dụ 2: lượt lời được thể hiện rõ nét qua đoạn thoại sau giữa Liên và
An trong Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
Liên: Có phải buổi trưa em bán cho bà Lực hai bánh xà phòng không? An: Vâng, bà ta mua hai bánh còn cụ Chi lấy nửa bánh nữa
Liên: Thôi, để mai tính một thể
Giữa tương tác bằng lời và không bằng lời có sự đồng nhất về khái niệm cặp kế cận Trong hội thoại, cặp kế cận là sự đáp ứng các quy tắc hội thoại, tạo ra mạch liên kết để cuộc thoại phát triển theo chiều hướng bình thường Cặp kế cận được thiết lập bởi một tham thoại dẫn nhập và một tham thoại hồi đáp và chúng được điều khiển bởi quy tắc giữa cân bằng trong tương tác Ví dụ:
Sp1: Anh cho tôi hỏi đường đến phố Cổ Ngư
Sp2: Chị cứ đi thẳng đến ngã ba, rẽ phải là đến
Cuối cùng, trong tương tác còn có những cặp trao đáp củng cố và sửa chữa Trao đáp củng cố nhằm thiết lập hay làm vững chắc quan hệ giữa người trong cuộc để cuộc tương tác đạt hiệu quả
Trang 18Ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác là ba vận động đặc trưng
cho một cuộc hội thoại Những quy tắc, cấu trúc và chức năng trong hội thoại đều bắt nguồn từ ba vận động trên, chủ yếu là vận động tương tác
1.2.2 Các quy tắc hội thoại
Hội thoại là một hoạt động xã hội, do đó nó cũng có những quy tắc
riêng Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định ( ) những công thức siêu giao tiếp mà chúng ta thường nghe được như “Để tớ nói cái đã”, “Để tớ nói xong đã”, “Đừng chen ngang”,
“Đừng nói leo”, “Đừng ngắt lời tớ”, “Trả lời đi chứ!”, “Lại đánh trống lảng rồi”, “Đừng nói cái giọng đó với tớ” chứng tỏ rằng quy tắc hội thoại là có thực” [5;556]
Chuyên gia Ngữ dụng học người Pháp C.K.Orecchioni cho rằng quy tắc hội thoại có những tính chất như sau:
- “Các quy tắc hội thoại có bản chất hết sức đa dạng” [5;556] Do chỗ có
rất nhiều nhân tố tham gia vào hội thoại cho nên cứ mỗi loại nhân tố lại có những quy tắc tương ứng
- “Có những quy tắc tổ chức hội thoại và quy tắc chuẩn tắc” [5;556] Quy
tắc tổ chức hội thoại tức là điều hành, tổ chức các đơn vị hội thoại; quy tắc chuẩn tắc chi phối việc nói năng để đạt được mục đích của mình
- “Có những quy tắc hội thoại chung cho mọi cuộc hội thoại nhưng cũng
có những quy tắc riêng cho mỗi loại hình, mỗi kiểu hội thoại” [5;557]
- “Các quy tắc hội thoại gắn rất chặt với ngữ cảnh” [5;557]
- “Các quy tắc hội thoại thể hiện rất khác nhau tùy theo từng xã hội và từng nền văn hóa” [5;557]
- “Nhìn chung quy tắc hội thoại khá mềm dẻo, linh hoạt” [5;557]
- “Phần lớn quy tắc hội thoại được vận dụng một cách tự phát” [5;557]
Những tính chất này được thể hiện cụ thể qua những quy tắc: quy tắc
Trang 19điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc liên kết hội thoại, quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
1.2.2.1 Quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
Khi có hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhường lời cho anh ta theo cách lời người này kế tiếp lời người kia không có sự dẫm đạp lên lời của nhau Cho a là lời của Sp1 và b là lời của Sp2 thì nguyên tắc này cho ta a-b-a-b… Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau
Ví dụ 3:
Sp1: Cậu đi đâu đấy?
Sp2: Tớ lên thư viện đây
Sp1: Chờ tớ một chút nhé!
Sp2: Cậu cũng đi à?
Sp1: Tớ cần tìm tài liệu về Nam Cao
Các lượt lời có thể được một người điều khiển phân phối hoặc do các nhân vật hội thoại tự thương lượng một cách không tường minh với nhau
Quy tắc luân phiên lượt lời chính là cơ sở của sự liên hòa phối, vì vậy,
“phải liên hòa phối là để cho các quy tắc luân phiên lượt lời vận hành được tốt, mà các quy tắc luân phiên lượt lời có vận hành tốt thì cuộc hội thoại mới
có kết quả” [5;559]
1.2.2.2 Quy tắc liên kết hội thoại
Quy tắc liên kết không chỉ phi phối các bản ngôn đơn thoại mà chi phối
cả các lời tạo thành một cuộc đối thoại
Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phát ngôn, giữa các hành động ngôn ngữ, giữa các đơn vị hội thoại; được thể hiện trong quan hệ lập luận
Trang 20Như vậy, quy tắc liên kết hội thoại hướng đến quá trình điều phối độ dài - ngắn, tiếp tục hay không tiếp tục, tích cực hoặc tiêu cực của một cuộc hội thoại - tức ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc hội thoại; cho nên nó còn được gọi là quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại
1.2.2.3 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại điều hành cả nội dung miêu
tả và nội dung liên cá nhân, ngữ dụng của nó Cho nên, “quy tắc điều hành nội dung hội thoại phải điều hành không chỉ những nghĩa trực tiếp, theo câu chữ mà còn phải điều hành cả những nghĩa hàm ẩn, những nghĩa phải suy ra mới nắm bắt được nữa” [5;560] Hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người
tham gia phải tôn trọng một số nguyên tắc, đó là:
a Nguyên tắc cộng tác hội thoại: do Gride nêu ra từ năm 1967 và được
phát biểu một cách tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh, chị (vào cuộc hội thoại - ĐHC) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại - ĐHC) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng
Trang 21của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia vào” [5;560]
Nguyên tắc cộng tác hội thoại được Grice tách thành 4 phương châm nhỏ:
- Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có
lượng tin đúng như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại
- Phương châm về chất: Hãy làm cho phần đóng góp của anh là đúng
- Phương châm quan hệ: Hãy làm cho phần đóng góp của anh quan yếu
(pertinent) tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra
- Phương châm cách thức: Hãy nói cho rõ ràng
Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể nhận ra được những trường hợp vi phạm chúng trong hội thoại, qua đó đánh giá được kết quả của cuộc hội thoại;
điều này đã được GS Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Còn xúc phạm, vi phạm, chối bỏ (và cả treo một phương châm) là những việc làm có ý thức, cố ý “khai thác” các phương châm nhằm gài đằng sau phát ngôn trực tiếp của mình những hàm ngôn hội thoại, tạo ra những ý nghĩa không tự nhiên” [5;567]
Nếu những phương châm trên được tôn trọng thì một cuộc hội thoại sẽ đạt được tính chất cộng tác giữa những nhân vật hội thoại, đạt được tính quan yếu, đạt được yêu cầu về lượng tin và đạt yêu cầu triệt để
b Nguyên tắc tôn trọng thể diện của những người hội thoại: người tham
gia hội thoại phải khéo léo tránh xúc phạm đến thể diện của người khác cũng như cố gắng gìn giữ thể diện của mình Đó là nguồn gốc của các biện pháp tu
từ như nói giảm, nói vòng, của các công thức xã giao, của những lời nói dối vì
lịch sự…
c Nguyên tắc khiêm tốn: Trong hội thoại cần giảm thiểu sự tự khen ngợi
mình Trong giao tiếp nói chung người nào luôn luôn bộc lộ cái tôi sẽ gây khó chịu cho người đối thoại Vì vậy, cần khiêm tốn để tạo không khí hòa nhã cho cuộc giao tiếp, đó là một trong những yếu tố tạo nên sự thành công của quá trình giao tiếp
Trang 22Bên cạnh những quy tắc phổ quát đó, tùy địa phương, tùy từng cá nhân, tùy từng dân tộc mà còn có những quy tắc hội thoại “đặc ngữ” Bởi vậy sự nghiên cứu hội thoại, một mặt đi theo hướng nghiên cứu quen thuộc là tìm ra quy luật chung, mặt khác cần thiết phải đi theo con đường so sánh đối chiếu,
để tìm ra đặc thù liên văn hóa của hội thoại
1.2.3 Thương lượng hội thoại
1.2.3.1 Đối tượng thương lượng
Các nhân vật tham gia giao tiếp có thể thương lượng về: hình thức của hội thoại; cấu trúc hội thoại; lí lịch và vị thế giao tiếp của các đối tác; các yếu
tố ngôn ngữ: các nhân vật hội thoại phải thương lượng về từ ngữ được dùng, ý nghĩa của chúng và về câu cú; nội dung hội thoại
1.2.3.2 Phương thức thương lượng
Quá trình thương lượng hội thoại diễn ra tùy theo các yếu tố sau:
Về thời gian thương lượng: trong hội thoại thương lượng là quá trình
diễn ra liên tục nên không thể xác định thời gian cố định cho một cuộc thương lượng
Về thể thức thương lượng: có thể thương lượng một cách trực tiếp (nêu
đề tài trực tiếp), hoặc thương lượng ngầm, gián tiếp
Về kết quả của hội thoại: được thể hiện qua sơ đồ sau:
Kết quả hội thoại
Trang 231.2.4 Cấu trúc hội thoại
Hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc của hội thoại là: cuộc thoại (cuộc tương tác), đoạn thoại, cặp thoại (cặp trao đáp) Ba đơn vị này có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa là hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại Hai đơn vị có tính chất đơn thoại, có nghĩa là do một người nói ra là: tham thoại, hành động ngôn ngữ
1.2.4.1 Cuộc thoại
“Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm, lớn nhất” [5;626], tính từ khi
các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói cho đến lúc chấm dứt câu chuyện
Các tiêu chí để xác định một cuộc thoại:
(1) Nhân vật hội thoại
(2) Tính thống nhất về thời gian và địa điểm
(3) Tính thống nhất về đề tài diễn ngôn
(4) Tiêu chí về các dấu hiệu xác định ranh giới cuộc thoại
Tuy nhiên, bởi tính tự do của hội thoại nên các tiêu chí trên không cố định, không có tính chất chặt chẽ; vì thế C.K Orecchioni đã đưa ra một định nghĩa
dễ hiểu hơn về cuộc thoại như sau: “Để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng trong một khung thời gian - không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề có thể thay đổi nhưng không đứt quãng” [5;627] 1.2.4.2 Đoạn thoại
Về nguyên tắc, tác giả Đỗ Hữu Châu định nghĩa “đoạn thoại là một mảng ngôn bản do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng” [5;627] Về ngữ nghĩa đó là sự liên kết chủ đề: một
chủ đề duy nhất, và về ngữ dụng đó là tính duy nhất về đích Cũng có thể nói tiêu chí ngữ dụng của đoạn thoại là sự thực hiện mối quan hệ lập luận trong
Trang 24đoạn thoại đó
Có những đoạn thoại trong cuộc thoại ít nhiều được định hình do đó dễ nhận ra hơn các đoạn thoại khác Đó là đoạn thoại mở thoại và đoạn thoại kết thúc Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại được thể hiện như sau:
Ranh giới giữa cuộc thoại và đoạn thoại là rất mong manh, khó để xác định, đôi khi nó chỉ mang tính võ đoán Thế nhưng, trong nghiên cứu ngữ dụng nói chung, hội thoại nói riêng cuộc thoại và đoạn thoại là những yếu tố quan trọng đến việc hình thành lí thuyết hội thoại
Xét về cấu trúc nội tại, có các loại cặp thoại như sau:
Thứ nhất, cặp thoại một tham thoại: xảy ra khi người nghe thực hiện một
hành động vật lí (gật đầu, lắc đầu, xua tay, dậm chân…) thay cho hành động ngôn ngữ, hoặc người nghe im lặng, không có hành động gì cả, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng”
Thứ hai, cặp thoại hai tham thoại: được coi là dạng thông thường nhất trong hội thoại Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng
Cuộc thoại
Đoạn thoại mở thoại
Đoạn thoại kết thúc Thân cuộc thoại
Trang 25với một chức năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp” Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp hoàn toàn với một tham thoại (một tham thoại trùng khớp hoàn toàn với một hành vi ngôn ngữ) Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặp thoại trong trong hiện thực giao tiếp Nhưng trong thực tế có rất nhiều trường hợp cặp thoại gồm ba tham thoại
Thứ ba, cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia,
hoặc có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan
hệ ràng buộc lẫn nhau Có thể có những dạng cặp thoại phức tạp như sau:
- Dạng (1): oại cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp
- Dạng (2): oại cặp thoại có một tham thoại dẫn nhập, với nhiều tham thoại hồi đáp
- Dạng (3): oại cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở
cả hai phía
Xét về tính chất, có các loại cặp thoại như sau:
Thứ nhất, cặp thoại chủ hướng/ cặp thoại phụ thuộc: “Cặp thoại chủ
hướng” là cặp chủ đạo giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại Trong đoạn thoại, ngoài cặp thoại chủ hướng ra, còn có thể có nhiều cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào một cặp thoại khác, cụ thể
là phụ thuộc vào một trong các tham thoại của cặp thoại phụ thuộc, vì vậy được gọi là “cặp thoại phụ thuộc” Tính chất phụ thuộc của cặp thoại này thể hiện ở chỗ không mang đích hay chủ đề chung, mà chỉ có chức năng bổ trợ, giải thích thêm về những khía cạnh hay chi tiết nào đó của tham thoại trong cặp thoại chủ hướng Trong cặp thoại phụ thuộc thường gặp là hai loại cặp thoại: cặp thoại củng cố và cặp thoại sửa chữa
Thứ hai, cặp thoại tích cực/ tiêu cực: Khi xác định tính chất của cặp
Trang 26thoại thường phải dựa vào tính chất của tham thoại mà chủ yếu là tham thoại hồi đáp Cụ thể là: Khi tham thoại hồi đáp tích cực (thỏa mãn đích dẫn nhập), thì ta có cặp thoại tích cực; khi tham thoại hồi đáp tiêu cực (nghịch hướng đích dẫn nhập), thì ta có cặp thoại tiêu cực
Ví dụ 5: Cặp thoại tích cực:
Sp1: Cậu có thể cho tớ mượn chiếc xe đạp một lát được không?
Sp2: Cậu cứ lấy mà đi nhé!
sự tái dẫn nhập, với hi vọng của người nói muốn xoay chuyển từ tình thế tiêu cực sang tích cực, mong đạt được sự đồng thuận
Những cặp thoại sau đây được coi là tích cực: ra lệnh - tuân lệnh; yêu cầu - chấp nhận; khen tặng - tiếp nhận; mời - nhận lời; hỏi - trả lời; nhận định
- tán thành; phê bình - tiếp thu; buộc tội - thú nhận; mắng - thừa nhận…
Những cặp thoại sau đây là tiêu cực: mời - từ chối; khen tặng - khước từ; yêu cầu - từ chối; hỏi - hỏi lại, trả lời không thuận theo sự chờ đợi; mắng - cãi; phê bình - phủ nhận; chất vấn - thanh minh; buộc tội - chối, bào chữa…
Trang 27hồi đáp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, khi đó gọi là tham thoại có chức năng ghép
Chúng ta có thể phân biệt hai khái niệm tham thoại và lượt lời ượt lời
là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời, và một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại
Ví dụ 7:
(1) Sp1: Chào!
(2) Sp2: Chào cậu!
(3) Sp1: Sao? Dạo này cậu khỏe chứ?
(4) Sp2: Cảm ơn nhé! Tớ khỏe Còn cậu thì sao?
(5) Sp1: Mình khỏe lắm, béo tốt thế này cơ mà Cậu làm gì rồi? (6) Sp2: Tớ đi dạy Mới xin đi làm được hơn tháng
Ta thấy, (1) và (2) là một cặp thoại chào gồm hai tham thoại đối xứng; (3) và (4) là một cặp thoại, trong đó (3) là một lượt lời gồm một tham thoại hỏi, (4) là một lượt lời gồm 3 tham thoại (một tham thoại cảm ơn, một tham thoại đáp và một tham thoại hỏi); tương tự như vậy với cặp thoại (5) và (6)
Như vậy, “tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [5;629]
Về tổ chức nội tại, một tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Trong đó có ít nhất một hành vi chủ hướng làm nòng cốt và có thể có thêm một hoặc một số hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng đảm nhiệm vai trò quyết định mục đích giao tiếp của tham thoại chứa nó, đồng thời tham gia kết hợp với hành vi chủ hướng nằm ở tham thoại khác để tạo nên cặp kế cận Hành động phụ thuộc có vai trò làm rõ lí do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủ hướng trong quá trình hội thoại Khi tham thoại chỉ
có một hành vi thì ranh giới tham thoại sẽ trùng với ranh giới hành vi
Trang 28Trong tham thoại, hành vi chủ hướng có chức năng trụ cột, quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi đáp thích hợp của người đối thoại Còn hành vi phụ thuộc thì có nhiều chức năng khác nhau như: củng cố, giải thích, biện minh, đánh giá… nhằm hỗ trợ cho hành vi chủ hướng
Ngoài ra, trong tham thoại còn có những thành phần mở rộng Những thành phần này không đóng góp lớn cho nội dung ngữ nghĩa của tham thoại
mà chỉ thuần tuý là những hành vi có chức năng ngữ dụng, chỉ có chức năng duy trì quan hệ liên cá nhân trong hội thoại
Dựa vào vai trò, vị trí của tham thoại có thể phân loại tham thoại thành hai loại: tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp
- Tham thoại dẫn nhập có chức năng mở đầu cho một cặp thoại
- Tham thoại hồi đáp, là tham thoại có chức năng phản hồi tham thoại dẫn nhập Tham thoại hồi đáp có thể đóng vai trò kết thúc cặp thoại, vì thế còn gọi là “tham thoại hồi đáp - dẫn nhập”
Mỗi tham thoại đều có thể nằm trong quan hệ cặp thoại với tham thoại trước và sau nó, nghĩa là tham gia trực tiếp tạo nên hai cặp thoại, trừ tham thoại đầu tiên, và cuối cùng thường chỉ tham gia vào một cặp thoại
Điều đáng lưu ý là từ tham thoại thứ hai của cặp thoại thứ nhất, các tham thoại hồi đáp lần lượt trở thành tham thoại dẫn nhập trong cặp thoại tiếp theo Cứ như vậy, sự khởi phát của cặp thoại thứ nhất như một mắt xích đầu tiên để kéo theo cả chuỗi các cặp thoại khác
Mỗi tham thoại có thể nằm trong quan hệ trao đáp theo những hướng khác nhau, có thể vừa làm tham thoại hồi đáp cho một cặp thoại này, vừa đóng vai trò dẫn nhập cho cặp thoại khác, tạo ra các kiểu cấu trúc khác nhau Nói khác đi, mỗi tham thoại biểu hiện chức năng dẫn nhập hoặc hồi đáp, nhưng cũng có khi kiêm nhiệm đồng thời hai chức năng, gọi là “tham thoại có chức năng ghép”
Trang 291.2.4.5 Hành vi ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người thực hiện rất nhiều hoạt động khác nhau bằng cách sử dụng ngôn ngữ Các hành động này tuy được thể hiện hết sức đa dạng nhưng đều được gọi chung là các hành vi ngôn ngữ Dựa trên cơ sở đó,
Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm “Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Các ứng xử bằng lời (và bằng các yếu tố kèm ngôn ngữ) đều căn cứ vào các hành vi ngôn ngữ đi trước, không phải căn cứ vào các đơn vị ngữ pháp thông thường như từ và câu” [5;631]
Xét trong quan hệ hội thoại, các hành vi ngôn ngữ có thể chia thành hai nhóm: những hành vi có hiệu lực ở lời và những hành vi liên hành vi
Những hành vi có hiệu lực ở lời tức là những hành vi có hiệu lực thay đổi quyền lực và trách nhiệm của người hội thoại, theo cách hiểu của O Ducrot, là những hành vi xét trong quan hệ giữa các tham thoại của các nhân vật hội thoại với nhau Khi thực hiện một hành vi có hiệu lực ở lời trong một tham thoại, người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của mình và có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng, chẳng hạn: hỏi/ trả lời; cầu khiến/ hành động hay phản đối… Những quyền lực và trách nhiệm đó làm cho các hành vi ngôn ngữ có tính chất như các quy ước pháp lí và những đối ngôn có những tư cách pháp nhân nhất định
1.3 Sử thi Đăm Săn
1.3.1 Khái quát về sử thi Đăm Săn
Trong Văn học dân gian Ê Đê, Mơ Nông, tác giả Đỗ Hồng Kỳ đã đưa
ra khái niệm về sử thi như sau: “Người Ê Đê có thể loại văn học dân gian tổng hợp gọi là klei khan, gọi theo thuật ngữ chuyên ngành là sử thi dân gian” [19;76]
Nếu xét theo góc độ ngôn ngữ của từng nhóm người đê thì nhóm
Ê-đê Kpă gọi là khan, nhóm Ê-Ê-đê Mdhur gọi là cơ-năk, một số nhóm khác gọi là
Trang 30ghan Trong tiếng Ê-đê, klei là lời/ bài, khan là hát kể; nhưng hát kể ở đây không phải hát thông thường mà hát bao hàm ý nghĩa ngợi ca Cho nên klei khan được hiểu là một hình thức truyện kể tổng hợp, được thông qua hát kể
Sử thi Đăm Săn đã được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
quan tâm G Condominas - nhà dân tộc học nổi tiếng người Pháp đã nghiên cứu các khía cạnh về phương diện xã hội học, dân tộc học của tác phẩm Đăm
Di và Đăm Săn; ông ca ngợi khan Đăm Săn: “Người ta không thể nói về văn hóa dân gian Đông Dương nguyên thủy mà không nhớ ngay đến một cái đầu đề: Trường ca Đăm Săn Bài thơ tuyệt vời này, bài thơ lớn đầu tiên ai cũng biết trong văn học truyền miệng của các bộ tộc ở nội địa miền Trung Việt Nam, hiện nay hiển nhiên vẫn là một tuyệt tác” [45;230]
Có thể tóm tắt sơ lược Khan Đăm Săn thành bốn phần cụ thể như sau:
(1) Đăm Săn chấp nhận lấy Hơ Nhị và Hơ Bhị trong bối cảnh cả con người
và thần linh đều theo tập tục Chuê-nuê
(2) Đăm Săn tiến hành săn bắt, sản xuất, tiến đánh các tù trưởng gian tham, hiếu sắc, xác lập địa vị và danh tiếng của người giàu có, hùng mạnh (3) Đăm Săn đi chặt cây thần và cầu hôn với nữ thần Mặt Trời
(4) Đăm Săn chết trong đầm lầy và sự xuất hiện của Đăm Săn cháu
Qua đó, ta thấy Khan Đăm Săn chính là mô hình thu nhỏ của xã hội tộc người Ê-đê cổ đại Chính vì thế, Sử thi Đăm Săn đã trở thành một tuyệt tác của kho tàng văn học thiểu số Việt Nam Khan Đăm Săn xây dựng hình tượng
nhân vật Đăm Săn tài giỏi trong lao động và chiến đấu Đó là nhân vật hoàn thiện, hoàn mĩ về tất cả các mặt: sức mạnh, đạo đức, tài năng, ngoại hình, trang phục, vũ khí Đồng thời, tác phẩm cũng đề cập đến những vấn đề cơ bản của xã hội Ê-đê như: tục Chuê-nuê (nối dây, nối dòng), cuộc đấu tranh giữa các tù trưởng để giành lại vợ, lấy lại quyền uy cho gia đình, dòng họ
Điều đặc biệt, tác phẩm phản ánh hình thái chế độ mẫu hệ Ê-đê một cách
Trang 31khá chân thực và sinh động, trong đó nổi bật hình tượng các nhân vật: nhân vật người anh hùng (nhân vật trung tâm), nhân vật Mtao (tù trưởng), nhân vật
nữ tài sắc, nhân vật Aê Du, Aê Diê (ông Trời) Mối quan hệ giữa các nhân vật được biểu hiện chủ yếu qua hành động và ngôn ngữ hội thoại
1.3.2 Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong sử thi Đăm Săn
Thứ nhất, ngôn ngữ của nhân vật người anh hùng (nhân vật trung tâm):
có thể nói Đăm Săn là nhân vật tiêu biểu nhất cho kiểu nhân vật này trong
Khan Đăm Săn nói riêng, Khan Ê-đê nói chung Qua tác phẩm, ta thấy, ngôn
ngữ của Đăm Săn đầy hào sảng uy nghi, đại diện cho cuộc chiến chính nghĩa
Thứ hai, ngôn ngữ của nhân vật Mtao (tù trưởng): tiêu biểu là các nhân vật Mtao Grự và Mtao Mxây Trong cuộc chiến với Đăm Săn, các nhân vật Mtao có sự run sợ, hèn nhát của một kẻ xấu xa, tiêu biểu cho cuộc chiến phi nghĩa; tuy nhiên, vì danh dự và sĩ diện mà họ phải buông lời ngạo nghễ, trêu tức Đăm Săn
Thứ ba, ngôn ngữ của nhân vật nữ tài sắc: hiện lên trong Khan Đăm Săn với hình ảnh của chị em Hơ Nhị và Hơ Bhị Đây là những nhân vật tiêu
biểu cho văn hóa mẫu hệ của người Ê-đê, họ đại diện cho quan niệm người phụ nữ lí tưởng, vừa xinh đẹp, vừa có tài thêu dệt hơn người Chính vì vậy, ngôn ngữ của họ mang tính quyền lực, bộc lộ vai trò của người chủ trong ngôi nhà dài; ngay cả với các anh em trai của mình họ cũng thể hiện uy quyền mẫu
hệ
Thứ tư, ngôn ngữ của nhân vật Aê Du, Aê Diê (ông Trời): đây là hai vị thần tối cao của người Ê-đê, là thần sáng tạo và cai quản muôn loài Ngôn ngữ của nhân vật này được bộc lộ chủ yếu dưới dạng lời khuyên mang tính răn đe;
trong Khan Đăm Săn, Aê Du, Aê Diê chính là nhân vật can thiệp, quyết định
những vấn đề hệ trọng của con người, luôn chế ngự cái ác, đem lại may mắn
và hạnh phúc cho mọi người
Trang 32Để phân tích hội thoại nói chung cũng như trong một tác phẩm văn học
dân gian như Khan Đăm Săn, trước hết, chúng ta phải quan tâm đến những
khái niệm cơ bản của hội thoại dưới góc độ ngữ dụng học như: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại và hành vi ngôn ngữ Từ những tiêu chí nhận diện, đặc điểm về hình thức và chức năng của các yếu tố hội thoại ta có thể xác định rõ vai trò của hội thoại trong tác phẩm văn học Đồng thời, cùng
với những hiểu biết về Sử thi Đăm Săn và một số đặc điểm ngôn ngữ cơ bản của từng loại nhân vật trong Khan Đăm Săn, ta có thể dễ dàng lí giải được
cách thức tổ chức hội thoại trong tác phẩm này; qua đó tìm ra những giá trị
đặc trưng về hội thoại trong Sử thi Đăm Săn đối với văn hóa độc đáo của cộng
đồng người Ê-đê
Sự tìm hiểu lí thuyết về hội thoại và ngôn ngữ nhân vật trong Sử thi Đăm Săn nhằm xác lập cơ sở nghiên cứu hội thoại trong Sử thi Đăm Săn, để
tiếp cận cách sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật, ở những hoàn cảnh cụ thể
và hướng tới những mục đích khác nhau
Trang 33Chương 2 - CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG SỬ THI ĐĂM SĂN
2.1 Đặc điểm của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
2.1.1 Hình thức cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Khảo sát Sử thi Đăm Săn chúng tôi thu được tất cả 70 cuộc thoại Dựa
trên cơ sở sự tham gia của các nhân vật giao tiếp, chúng tôi phân loại hình thức các cuộc thoại theo 3 tiêu chí: song thoại, tam thoại, đa thoại Cụ thể như sau:
Các cuộc thoại trong Sử thi được diễn biến một cách linh hoạt, đa dạng: ban đầu là giao tiếp mang tính chất song thoại giữa giữa hai nhân vật, sau đó
có sự xuất hiện của nhân vật khác làm cho cuộc thoại chuyển từ song thoại sang tam thoại hoặc đa thoại
Ví dụ 8: Cuộc thoại giữa Hơ Nhị và Hơ Âng:
Hơ Nhị: Ơ đuk, ơ đuk, có thấy em đuk ở đây không?
Hơ Âng: Cậu ấy còn đi đâu nữa, đuk? Đang nằm trong buồng của cậu
ấy kia kìa Cô cậu lại có chuyện với nhau phải không? Cãi nhau hả?
Hơ Nhị: Nào có chuyện gì mà cãi nhau, đuk? Hơ Bhị chỉ gọi anh ấy về
ăn cơm thôi
ồi Hơ Nhị đi thẳng vào buồng Đăm Săn
Trang 34Hơ Nhị: Ơ nuê, ơ nuê, về nhà chúng ta nào
Đăm Săn: Tôi về mà làm gì? Các cô đâu có cần tôi mà tôi về? Các cô
đã không cần, sao tôi lại về nhỉ? [42;60]
Hình thức song thoại được sử dụng chủ yếu với 39 cuộc chiếm 55,7%, tiếp theo là 20 cuộc theo hình thức đa thoại chiếm 28,6% và ít nhất là hình thức tam thoại 11 cuộc chiếm 15,7%
Số lượng nhân vật đã góp phần ảnh hưởng đến dung lượng cuộc thoại,
đa phần những cuộc thoại dài đều là do có nhiều nhân vật tham gia, chẳng hạn: cuộc thoại 22 gồm 3 đoạn thoại với sự tham gia của các nhân vật: Hơ Nhị, Đăm Săn, Prong Mưng, cùng tôi tớ, dân làng Hay cuộc thoại 50 gồm 4 đoạn thoại với sự tham gia của các nhân vật: Mtao Mxây, Đăm Săn, Y Suh, Y Sah, các tù trưởng và tôi tớ, dân làng
2.1.2 Cấu trúc của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Trong Sử thi Đăm Săn, đa số là những cuộc thoại gồm từ một đến ba đoạn
thoại (67 cuộc thoại), chỉ có 3 cuộc thoại có cấu trúc 4 đoạn thoại Cụ thể:
- Cuộc thoại chỉ có thân thoại
Ví dụ 9:
Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?
Trang 35Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ Tốt rồi đấy, ông ạ Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ [42;51]
- Cuộc thoại chỉ gồm một đoạn thoại, trong đó:
+ Đoạn thoại chỉ gồm một cặp thoại, vừa đóng vai trò phần thân vừa đóng vai trò phần kết; phần mở thoại được kể bằng lời trần thuật
Ví dụ 10:
Hơ Nhị, Hơ Bhị bỏ váy cũ mặc váy mới Váy này thấy chưa đẹp, lại lấy váy kia Cả hai chị em đều mặc váy sọc điểm hoa kơ-ụ, mặc áo điểm hoa êmiê, những váy áo từ trên cao ông trời đã ban cho, từ trên cao ông trời đã thả xuống
Hơ Nhị: Hỡi bọn trẻ làng ta xem ta đẹp chưa nào?
Tôi tớ: Đẹp rồi đấy bà ạ Sang rồi đấy, bà ạ [42;52]
+ Đoạn thoại đóng cả ba vai trò: mở, thân và kết thoại
Ví dụ 11:
Hơ Bia Điêt Kluich: Ơ cái anh chàng chim ưng con, có chuyện gì mà anh đến đây anh liệng? Ơ cái chàng chim hia con, có chuyện gì mà anh đến đây kêu Anh đem đến cho tôi quách hoa hòm vẽ đấy phải không?
Đăm Săn: Ơ em, xin em đừng giận Thế là từ nay cơm ta ăn đã khác nồi khác mâm, rượu ta uống đã khác cần khác ché, nước ta gội đầu đã khác păm pli (bồ kết), gội chung với ta đã là một kẻ khác, cả miếng thịt trâu thị bò cũng đã khác con, mời nhau ăn không còn là ta với nhau nữa rồi! [42;55]
+ Đoạn thoại không có phần mở và kết thoại
Ví dụ 12:
Đăm Săn: Ơ các con, ơ các con, các con hãy đem cái đầu của hắn bêu ngoài cổng làng, đem cái hàm của nó móc ngoài bãi cỏ để cho kiến đen, kiến gió chúng bâu! [42;75]
Nguyên nhân hình thành các trường hợp trên là do: nội dung được diễn
Trang 36đạt bằng lời kể, không thể hiện bằng lời thoại Có thể thấy trong Sử thi Đăm Săn ở rất nhiều trường hợp tác giả dân gian đã kết hợp rất hài hòa giữa lối văn
trần thuật với hội thoại Lời kể có thể thay thế cho mở và kết thoại
Ngoài ra còn có một lí do khác, đó là trường hợp thoại hẫng tức chỉ có một nhân vật nói, phát ngôn thành lượt lời của người nói mà không có lượt lời của người nghe Thường được diễn ra khi người nghe ở vai dưới hoặc trong hoàn cảnh tiếp nhận bị động Tuy nhiên phần lớn các cuộc thoại trong tác phẩm đều có đầy đủ ba phần, trong đó nhiều cuộc thoại phần thân thoại có nhiều đoạn thoại
Qua thống kê, ta thấy: đa số là các cuộc thoại ngắn (1 - 2 đoạn thoại),
có đến 37 cuộc thoại một đoạn thoại, 25 cuộc thoại hai đoạn thoại, số lượng thoại dài (3 đoạn thoại trở lên) rất ít - 8/70 cuộc thoại, gồm: 5 cuộc thoại ba đoạn thoại và 3 cuộc thoại bốn đoạn thoại Từ đặc điểm này, có thể khẳng định tác giả dân gian thường sử dụng các cuộc thoại ngắn
2.1.3 Vai giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn gồm cả vai giao
tiếp: vai trên - vai dưới (43 cuộc thoại) và ngang vai (21 cuộc thoại) Cụ thể:
Trang 37môn lại đến với kẻ tiện ti, bỗng dưng anh em hạ cố đến nhà tôi lần này vậy?
Y Đhing: Ấy, xin người chị em đừng vội dấp rừng chầm lối Từ nay hai nhà chúng ta lại đi lại làm thân, chúng ta lại cùng nhau kẻ mua người bán Bên này làng ta, bên kia cũng làng ta [42;46]
Nhưng trong mối quan hệ với Đăm Săn lại là quan hệ vai trên - vai dưới
Trong Sử thi Đăm Săn còn có hiện tượng có thể một nhân vật đóng nhiều
vai giao tiếp trong cùng một cuộc thoại, thường trong tam thoại hoặc đa thoại
Ví dụ 15:
Đăm Săn: Ơ Hơ Lị, ơ chị Hơ Âng, sao cứ đứng đấy mà nhìn con nhà người ta đứng ở xó củi hả? Chứ không thấy người ta vố đã gác trên xà nhà, bành đã hạ xuống sàn hiên, voi đã đang quạt tai phần phật, chân đang giậm đất hay sao?
Hơ Âng: Đuk ơi, đuk vào đây! Mời đuk ngồi vào chiếu
Hơ Bia Điêt Kluich: Đứng đây cũng được, đuk à Tôi phải đâu là khách
mà ngại! Người ta kia mới là khách [42;56]
Xét mối quan hệ giữa Hơ Âng với Đăm Săn là vai trên - vai dưới, còn với Hơ Bia Điêt Kluich lại là ngang vai
Thông thường cuộc thoại mà các nhân vật giao tiếp nằm ở mối quan hệ vai trên - vai dưới thì người có vị thế trên sẽ có vai trò giao tiếp mạnh hơn, ngược lại người kia có vị thế giao tiếp yếu hơn Người có vị thế giao tiếp mạnh có phần lấn lướt người có vị thế giao tiếp yếu, và người có vị thế giao tiếp yếu cũng vì thế mà ngại đưa ra ý kiến, ngại giãi bày hết lí lẽ, làm cho các
Trang 38cuộc thoại trở nên ngắn đi Tuy nhiên, ở Sử thi này thì khác; có những trường hợp nhân vật giao tiếp ở vai giao tiếp dưới nhưng lại có vai trò giao tiếp mạnh, không bị chi phối bởi vai trên, thậm chí còn có phần lấn lướt vai trên trong giao tiếp
Ví dụ 16: Cuộc thoại 42 giữa Mtao Mxây và tôi tớ của làng Đăm Săn:
Mtao Mxây: Ơ các con, ơ các con, đầu bến nước này là ai, ai là con chim chút mẹ, ai là đốt dây êdung, đốt dây êmiêng ở cái làng này
Tôi tớ: Quyền cao nhất ở đây cũng gốc từ cây mđơk, chức lớn nhất ở đây cũng gốc từ cây êboa Chủ là chúng tôi, mà tớ cũng là từ chúng tôi
[42;79]
Trong trường hợp này, vai giao tiếp trên của tù trưởng Mtao Mxây đã
bị tôi tớ làng Đăm Săn hạ thấp xuống ngang vai Cho nên Mtao Mxây không đạt được mục đích giao tiếp (đích tiêu cực)
Điều này đã khẳng định sự ảnh hưởng của vai giao tiếp đến đề tài và đích giao tiếp của cuộc thoại Ở những cuộc thoại có cả hai dạng quan hệ vai,
đề tài thường được mở rộng, nhiều đoạn thoại được triển khai, dung lượng những cuộc thoại này vì thế mà lớn hơn Như vậy, một lần nữa thấy được vai giao tiếp và vị thế giao tiếp đã chi phối đến dung lượng cuộc thoại
Quan hệ vai trong các cuộc thoại của Sử thi Đăm Săn chủ yếu là quan
hệ vai trên - vai dưới, tiếp theo là quan hệ ngang vai, quan hệ vừa vai trên vừa vai dưới vừa ngang vai có số lượng ít hơn Qua đó, ta thấy quan hệ thứ bậc
trong Sử thi Đăm Săn chiếm phần đa trong những cuộc giao tiếp
2.1.4 Hoàn cảnh giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Hoàn cảnh và vai giao tiếp chi phối rất lớn đến việc lựa chọn ngôn từ,
cấu trúc của hội thoại nói chung, hội thoại trong Sử thi Đăm Săn nói riêng
Trong Sử thi Đăm Săn, có 42/70 các cuộc thoại nằm trong hoàn cảnh
giao tiếp mang tính chất cộng đồng diễn ra tại không gian sinh hoạt chung
Trang 3927/70 cuộc thoại là hoàn cảnh giao tiếp mang tính chất riêng tư như cuộc tâm tình trò chuyện, hỏi han, khuyên nhủ Chỉ có 1/70 cuộc thoại vừa mang tính riêng tư, vừa mang tính cộng đồng, lúc đầu là hoàn cảnh chỉ có hai anh em Hơ Nhị và Y Đhing diễn ra trong nhà của Hơ Nhị nhưng ở đoạn cuối của cuộc thoại lại chuyển hoàn toàn sang không gian cộng đồng Sau đây là bảng thống
kê hoàn cảnh giao tiếp trong Sử thi Đăm Săn:
Hoàn cảnh giao tiếp Tần số Tỉ lệ (%)
Xét ở góc độ có nghi thức và không nghi thức thì phần lớn các cuộc
thoại trong Sử thi Đăm Săn thuộc hoàn cảnh có nghi thức Khan Đăm Săn là
bức tranh rộng lớn về cuộc sống vật chất và tinh thần của người Ê-đê, nội dung cơ bản của khan là kể chuyện các nhân vật anh hùng trong mối quan hệ
với con người và thần linh Vì thế hoàn cảnh giao tiếp của Khan Đăm Săn
mang tính nghi thức, biểu hiện văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Ê-đê ở Tây Nguyên Điều này góp phần tạo nên tính sinh động của tác phẩm
Sở dĩ các cuộc thoại diễn ra chủ yếu ở hoàn cảnh cộng đồng là do Sử thi Đăm Săn “được xem là bức tranh toàn cảnh về không gian địa lí và không gian xã hội của tộc người Ê-đê truyền thống Ở đấy, từ khung cảnh của ngôi nhà dài, bến nước, nương rẫy, rừng cây, sông suối, đến trang phục, ăn uống, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ, cưới xin, xử kiện, trò chơi dân gian, đàn hát đều được nói đến một cách khá chân thực và sinh động” [19;118]
Ví dụ 17:
Đăm Săn: Ơ các con, ơ các con, lấy nước nồi bung nồi bẩy cho ta rửa tay, lấy nước chén hoa bát sứ cho ta rửa mặt nào!
Trang 40Đăm Săn tháo khố cũ, quấn khố mới o này chưa vừa lòng, chàng lấy
áo kia Chàng quấn một cái khố sọc rằn gấp bỏ múi, mặc một áo dày nút, đi
đi lại lại từ nhà trong ra nhà ngoài, chân hất khoan thai, theo sau là bốn năm người tôi tớ
Đăm Săn: Bớ bọn trẻ làng ta, xem ta đã đẹp chưa nào?
Tôi tớ: Đẹp rồi đấy, ông ạ Tốt rồi đấy, ông ạ Đẹp như thế là vừa, đẹp từng ấy là đủ, ông ạ [42;51]
Chỉ trong hoàn cảnh cộng đồng thì nhân vật Đăm Săn mới bộc lộ hết được bản chất văn hóa của người Ê-đê, từ cách sinh hoạt cho đến phong tục tập quán
2.1.5 Mục đích giao tiếp của cuộc thoại trong Sử thi Đăm Săn
Qua khảo sát, ta thấy trong Sử thi Đăm Săn có 58 cuộc thoại có mục
đích giao tiếp, chủ yếu là các cuộc thoại tích cực - 41/70 cuộc (cuộc thoại nhằm tạo lập và duy trì quan hệ xã hội), 17/70 cuộc thoại tiêu cực; còn lại là các cuộc thoại hẫng 12/70 cuộc thoại Cụ thể: