... trò, hiệu lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại thấy xuyên thấm phong cách, độc đáo phong cách thơ Ngô Văn Phú nên lựa chọn đề tài: Hiệu sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại thơ Ngô Văn. .. loại lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại thơ Ngô Văn Phú Chương 3: Giá trị nghệ thuật việc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại thơ Ngô Văn Phú NỘI DUNG CHƯƠNG Cơ SỞ LÝ LUẬN 1.1 .Phong cách. .. LỚP TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ NGỒ VĂN PHỦ 2.1 Bảng thống kê Các lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngừ hội thoại Sử dụng từ khâu ngữ Tổng Sử dụng lối nói dẫn thành ngữ, tục ngữ,
Trang 1NGUYẺNTHỊ NHÀN
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỚP TỪ, NGỮ THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NGÔ VĂN PHÚ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Ngôn ngữ họcNGUYÊN THỊ NHÀN
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI
TRONG THƠ NGÔ VĂN PHÚ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
• • • •
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Ngưòi hưóng dẫn khoa học: ThS GVC Lê Kim Nhung
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, tôi đã nhận được sự giúp đõ’ tận tình của
cô giáo hướng dẫn Lê Kim Nhung - Tố Ngôn ngữ; sự quan tâm, động viên khích lệ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường ĐHSP Hà Nội 2 Khóa luận được hoàn thành vào ngày 28 tháng 4 năm 2015.
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Kim Nhung cùng toàn thế các thầy cô giáo trong Khoa đã tạo điều kiện giúp đờ tôi hoàn thành khóa luận này.
Trong khuôn khố thời gian có hạn nên đề tài khó tránh khỏi những hạn chế Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các Thầy Cô cùng bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện trong quá trình học tập và giảng dạy sau này.
Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2015 Người thực hiện
Nguyễn Thị Nhàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không trùng lặp với bất kỳ khóa luận hay đề tài nghiên cứu khác.
Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 28 thảng 4 năm 2015 Người thực hiện
Nguyễn Thị Nhàn
MỤC LỤC
TÀI LỆƯ THAM KHẢO
Trang 4MỎ ĐÀU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Văn chương lấy ngôn từ làm chất liệu đế phản ánh hiện thực, phản ánh đời sống thông qua hình tượng nghệ thuật Cũng như vậy, nhà văn, nhà thơ dùng ngôn ngữ đế thế hiện tình cảm, cảm xúc, đưa người đọc đến với cuộc sống muôn màu Ngôn ngừ là một trong những yếu tố góp phần thế hiện tư tưởng và làm nên giá trị của tác phẩm, khẳng định tài năng của người nghệ sĩ Có những tác phấm ấn tượng bởi ngôn từ trang nhã, mĩ lệ, bóng bấy Nhưng cũng có những câu thơ, trang văn với ngôn từ mộc mạc, giản dị đã đế lại trong lòng người đọc bao rung cảm thẩm mĩ Có thể nói rằng sự kết hợp đan xen, hòa quyện của ngôn ngữ vừa trau chuốt, bóng bấy, vừa gần gũi, đời thường trong một tác phẩm là một hiện tượng đặc biệt Nó làm cho tác phấm dễ hiếu, dễ đi vào lòng người, nhiều khi diễn tả được cái khoảnh khắc của tạo vật, cái xúc cảm của lòng người mà vẫn mang màu sắc thấm mĩ Trong sáng tác, nhiều nghệ sĩ đã rất khéo léo, tài tình khi đưa lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại vào tác phấm làm cho ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân nhưng vẫn mang đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật Việc sử dụng yếu tố mang màu sắc khấu ngữ giúp tác giả thế hiện tình cảm, tâm trạng một cách chân thực, tự nhiên và góp phần khắng định phong cách của nhà thơ.
Chính vì vậy việc tìm hiểu hiệu quả sử dụng của lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại giúp chúng ta tìm hiểu được cái hay cái đẹp của tác phẩm cũng như tài năng của người nghệ sĩ dưới cái nhìn từ góc độ ngôn ngữ nghệ thuật Đặc biệt, đây là việc làm cần thiết đế thấy được sự xuyên thấm phong cách trong ngôn ngữ học.
1.2 Ngô Văn Phú là nhà thơ đương đại có phong cách độc đáo, riêng biệt Tuy tác phẩm của ông chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhưng ông đã đánh dấu được vị trí của mình trên văn đàn Ngô Văn Phú viết nhiều và viết khỏe Ông thành công ở nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, biên khảo, dịch thuật đặc biệt là mảng thi ca với hơn 300 bài thơ
đã góp phần tạo dấu ấn riêng về phong cách của tác giả trên thi đàn Phần lớn ông được độc giả biết đến với tâm hồn thơ đồng nội, một nhà thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn
Trang 5Văn Cừ và Nguyễn Bính Thơ ông là tiếng thơ đồng nội giản dị, hồn hậu, chân chất yêu thương.
1.3 Lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại xuất hiện nhiều trong thơ Ngô Văn Phú Chính điều này đã góp phần thể hiện những cảm xúc chân thực, sâu lắng và tạo nên một nét riêng độc đáo cho nhà thơ - nhà thơ của vùng quê trung du Bắc bộ Thơ Ngô Văn Phú là một mảnh hồn trung du nhiều màu sắc: khi thì đậm đà như đất đồi đá ong, khi thì dịu nhẹ như khói sương thung lũng, khi lại mát đằm như lá tre rừng cọ Ngô Văn Phú viết về quê hương, con người bằng cả tâm hồn thương yêu, trong trẻo của một thi sĩ.
Nhìn nhận được vai trò, hiệu quả của lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại cũng như thấy được sự xuyên thấm phong cách, sự độc đáo trong phong cách thơ Ngô Văn Phú nên tôi lựa chọn đề tài: “Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú”.
2 Lịch sử vấn đề
2.1. N g h i ê n c ứ u c á c y ế u t ố n g ô n n g ữ t ro n g p h o n g c á c h h ộ i
t h o ạ i Phong cách ngôn ngừ hội thoại bước đầu đã được một số nhà ngôn ngữ học, người nghiên cứu tìm hiểu, đề cập đến.
Cuốn “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngừ ” của ƯBKHXH Việt Nam
có bài viết: “Đặc điếm của từ vựng khấu ngữ và cách xử lí chúng trong từ điến tiếng Việt cỡ lớn” của Nguyễn Thị Thanh Nga Bài viết đã đưa ra khái niệm về phong cách khẩu ngữ (phong cách sinh hoạt hằng ngày) và đặc điểm của từ vựng khẩu ngữ, bao gồm các đặc điểm như: giá trị biếu cảm, tính ẩn dụ có thể cảm nhận được bằng trực giác, tính đa dạng của các biến thể và trong từ vựng khẩu ngữ có thành phần nghĩa đánh giá.
Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 2/1998 có bài: “Tiếng lóng trong giao thông vận tải” của tác giả Chu Thị Thanh Tâm Sau quá trình tập hợp những định nghĩa từ các từ điến giải thích, tác giả rút ra mấy định nghĩa về tiếng lóng Tiếng lóng là một từ ngữ thông tục, không mang tính truyền thống Nó là cách nói tỉnh lược và là thứ ngôn ngữ dùng đế trêu đùa, vui vẻ hoặc bí mật.
Trang 6Sinh viên Hà Thị Kim Thoa, K35B - Ngừ văn, ĐHSP Hà Nội 2 đã tìm hiểu phong cách hội thoại với đề tài: “Hiệu quả sử dụng của lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương” Với bài nghiên cứu này, Hà Thị Kim Thoa đã làm nối bật phong cách độc đáo của ba nhà thơ trung đại Việt Nam qua cách họ sử dụng biến âm đế tạo từ khấu ngữ, sử dụng từ láy mang màu sắc khấu ngữ trong thơ, vận dụng thành ngữ, tục ngữ trong các bài thơ Hồ Xuân Hương xứng đáng là “Bà chúa thơ Nôm”, Nguyễn Khuyến được mệnh danh là “Nhà thơ trào phúng, nhà thơ của dân tình, làng cảnh Việt Nam” còn Tú Xương được xem là “Bậc thần thơ thánh chữ”
- người mở đầu cho dòng hiện thực trào phúng.
Và đặc biệt, tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn: “Phong cách học tiếng Việt” đã trình bày rất khoa học về đặc điểm sử dụng của lớp từ ngữ thuộc phong cách ngôn ngừ hội thoại
và sự xuyên thấm phong cách trong ngôn ngữ nghệ thuật Theo tác giả, phong cách hội thoại
ưa sử dụng từ khẩu ngữ, ngữ khí từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ và sử dụng từ láy giàu sắc thái cụ thế, gợi hình, gợi cảm Ngoài ra người tham gia giao tiếp còn vận dụng thành ngừ, tục ngữ hoặc cách nói tắt vào lời nói của mình Và lớp từ, khấu ngừ này được nhiều nhà văn, nhà thơ đưa vào tác phâm của mình tạo ra hiện tượng xuyên thâm phong cách trong ngôn ngữ nghệ thuật.
Như vậy các tác giả, các nhà nghiên cứu đã bước đầu tìm hiểu về các lớp từ ngữ thuộc phong cách hội thoại Đây là cơ sở lý luận cần thiết, quan trọng để chúng tôi triển khai
đề tài.
2.2.Nghiên cứu về tác phẩm của nhà thơ Ngô Văn Phú
2.2.1 Nghiên cứu thơ Ngô Văn Phú từ góc độ văn học
Ngô Văn Phú là tên thật cũng là bút danh Ông là một tác giả tiêu biếu của văn học đương đại Việt Nam Độc giả biết đến ông trước hết là một nhà thơ - một hồn thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn Văn Cừ và Nguyễn Bính.
Tìm hiếu về thơ ông, các tác giả quan tâm nhiều đến phương diện nội dung của tác phẩm.
Trang 7Trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội Nhà văn, 1997, tác giả Nguyễn Hoàng Sơn đã tìm hiếu nội dung thơ Ngô Văn Phú với đề tài: ‘Wgỡ V ă n P h ú - D ấ u
ẩ n q u ê m ù a t r ê n t h i đ à n Theo ông, Ngô Văn Phú tiếp nối mạch thơ của Đoàn Văn
Cừ và tiếp nối cái mạch thơ điền viên thôn dã vốn rất được ưa chuộng trong thi ca cổ điển Trung Quốc và Việt Nam Dấu ấn quê mùa ấy được thế hiện đậm nét trong mảng đề tài về nông thôn, đó là nông thôn hợp tác hóa, cần cù, vất vả nhưng vui sống, tin tưởng Đặc biệt ở hai tập thơ: “Gió vào trận bão”, “Tháng năm mùa gặt” nhà thơ Ngô Văn Phú ca ngợi cuộc sống mới, con người mới hăng say lao động ( M â y v à b ô n g) hay khắc họa một cách ấn tượng, hóm hỉnh cuộc sống lao động còn vất vả của người bạn làm nghề nuôi cá ( T h ả m
b ạ n h ọ c c ũ ) Chất quê mùa của thơ Ngô Văn Phú còn được biếu hiện qua việc nhà thơ miêu tả về cảnh vật làng quê ( L à n g c ọ , L à n g đ ồ i ) , và cũng có khi là sự tự tin, đôi lúc kiêu ngầm trong cái vẻ xuềnh xoàng, quê mùa, lè phè của nhà thơ: “ C ũ n g c ó l ú c
n ê n C h í P h è o m ộ t c h ú t / B ở i đ ờ i đ â u l u ô n đ ư ợ c c ô n g b ằ n g / C ũ n g
c ó l ú c đ à n h n ằ m ă n v ạ / C o n c ó đ ò i , m ẹ m ớ i c h o ă n ” { C h í
P h è o )
Tác giả Ngô Quân Miện, Nxb Hội Nhà văn, 1997, khai thác “ T â m h ồ n đ ồ n g
n ộ i - c h ấ t q u ê m ù a t h ứ t h i ệ t ” trong hồn thơ Ngô Văn Phú Ngô Quân Miện cho rằng: “ N g ô V ă n P h ú c ó m ộ t t â m h ồ n t ro n g t r ẻ o m à s â u l ẳ n g T â m
h ồ n đ ồ n g n ộ i ấ y t h a m đ ẫ m t ro n g n h i ề u b à i t h ơ , c â u t h o ' ” [ 12, 441] Thơ Ngô Văn Phú không lúc nào tách rời với hồn quê Đó là tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của nhà thơ trước tiếng chuông chùa gắn với buổi chiều thu, tiếng chuông và tiếng mõ trâu đồng quyện hòa vào nhau làm cho thu càng thẫm đẫm lòng người ( L ê n c h ù a ) Trong tâm hồn đồng nội ấy ẩn dấu cả sự xót xa, đồng cảm với người dân quê bởi vùng đất trung du Bắc bộ còn cằn cỗi, bạc màu, trơ tầng sỏi đá ( Tr u n g d u ) Trong hồn quê của Ngô Văn Phú không chỉ có những nét đẹp, nét chân thực mà còn có cả những nỗi day dứt Ấy là khắc khoải lo âu, những suy ngẫm, nỗi niềm trước cảnh: Tr â u v â n đ i c à y, x e m á y r ộ n /
Q u ê k i ê n g đ ầ y v ơ i n é t t h ị t h à n h ’ , là sự xót xa trước hình ảnh trai làng lên thành phố đạp xích lô ( T ì n h k h ú c t r a i n g h è o ) , những trẻ em nông thôn rủ nhau ra
Trang 8thành phố không cửa không nhà ( N h ữ n g t h i ê n t h ầ n c ó c á n h ) hay là sự khắc khoải
âu lo trước sự mất mát, tàn tạ của những nét đẹp truyền thống, những di tích văn hóa vật thể như “ t h á p c ũ r ê u p h o n g đ á v ẹ t m ò n”, tượng La Hán bị “ h à i m ấ t , t a y
l o n g , á o b ụ c s ờ n ” ( v ề l à n g )
Ngoài ra còn có một vài nhận định về nét chân quê, tâm hồn đồng nội trong thơ Ngô Văn Phú như: “Đọc Tháng năm, mùa gặt” - Mã Giang Lân, “Người quê hòa nhập với hồn quê” - Thái Doãn Thiểu hay “Vẻ đẹp của hồn quê” - Lê Lưu Oanh.
Như vậy, nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình đã chú ý chất chân quê, tâm hồn đồng nội trong thơ Ngô Văn Phú để từ đó làm nối bật mạch thơ điền viên thôn dã trong tác phấm của ông.
2.2.2 Nghiên cứu tác phẩm của Ngô Văn Phú từ góc độ ngôn ngữ
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ, nhiều tác giả, người nghiên cứu đã đề cập đến một số yếu
tố ngôn ngừ của tác phẩm như hiệu quả tu từ của điệp ngữ, cách ví von, so sánh.
Tác giả Tô Hà trong “Tuyến tập thơ Ngô Văn Phú” bàn về hiệu quả tu từ của điệp ngữ trong bài: ‘Thôi mẹ đừng ra ngõ chiều nay” Theo tác giả, cái điệp khúc: “ T h ô i m ẹ
đ ừ n g r a n g õ ” qua bài thơ đưa tiễn cùng tên, cứ lặp đi lặp lại, canh cánh trong lòng người một nỗi buồn sâu xoáy Tô Hà nhấn mạnh hiệu quả của điệp ngữ trong bài thơ, nó như một nốt nhạc trầm, xoáy sâu vào lòng người về tình cảm mà người con dành cho mẹ của mình.
Nhận định về thơ Ngô Văn Phú, trong bài “Đọc Tháng năm mùa gặt”, tác giả Mã Giang Lân đã cho rằng thơ Ngô Văn Phú gần với dân gian trong cách tìm tứ, lập ý, cách ví von, so sánh Theo ông: “Thơ Ngô Vãn Phủ không cầu
kỳ trau chuốt Anh thuần hậu, thăng than bộc bạch tâm tình Mạch thơ thoải mái tự nhiên, không trầm ngâm, triết lý Suy nghĩ trong thơ anh thường h()CL tan vào hình ảnh Gần với dân gian trong cách tìm ý, lập tứ, dí dỏm, nhẹ nhàng
Cái lều vân trực ph()ng không
Đùa em người cứ nói bông: không phòng.
Trang 9Gần vói dân gian trong cách ví von, so sánh - “Những đàn chim ngói - Mặc ảo nâu đeo cưòm trên cô - Chân đẩt hồng hồng như nung qua lửa ”[12, 434].
Sinh viên Nguyễn Thị Hiền, K32B - Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội 2 khai thác: “ H i ệ u
q u ả t u t ừ c ủ a b i ệ n p h á p đ i ệ p n g ữ t ro n g t h ơ N g ô V ă n P h ủ ” Trong bài nghiên cứu, sinh viên này đã làm nối bật hiệu quả của biện pháp điệp ngữ trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và con người vùng đất trung du đồng bằng Bắc bộ cũng như trong việc thế hiện phong cách tác giả: nhà thơ vùng đất trung du Bắc bộ.
Ngoài ra còn có một số bài viết đề cập đến dấu ấn ca dao - dân ca trong thơ Ngô Văn Phú để làm rõ nội dung thơ của ông như bài: “Ngô Văn Phú dấu ấn quê mùa trên thi đàn” của Nguyễn Hoàng Sơn ơ bài này, tác giả đã nói đến thế “tỉ” quen thuộc trong ca dao truyền thống được Ngô Văn Phú sử dụng thành công khi sáng tác bài “Mây và bông” “ N h à t h o ’
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa lí luận của các nhà nghiên cứu về phong cách hội thoại,về thơ ca Ngô Văn Phú, khóa luận tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và chuyên sâu “Hiệu quả sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú” Hi vọng với đề tài này chúng tôi sẽ góp thêm tiếng nói khắng định phong cách thơ
Trang 10Ngô Văn Phú cũng như làm rõ về sự xuyên thấm phong cách ngôn ngữ trong phong cách học.
3 Mục đích nghiên cứu
- Củng cố các vấn đề lý thuyết về phong cách học văn bản.
- Góp thêm tiếng nói khắng định những đóng góp và phong cách nhà thơ đồng quê hiện đại Ngô Văn Phú.
- Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn phố thông.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tập hợp các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.
- Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét các từ ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú.
- Phân tích, xem xét chức năng và hiệu quả sử dụng các từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại thông qua các ngữ liệu Từ đó rút ra những kết luận cần thiết.
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. / Đối tượng nghiên cứu
Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú.
5.2 Phạm vi nghiên cún
Khóa luận tập trung nghiên cứu lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại trong 180 bài thơ của Ngô Văn Phú, được tập hợp trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú” , Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội, 1997.
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp tổng hợp
7 Đóng góp của khóa luận
-về mặt lí luận: khóa luận góp phần làm rõ vấn đề về phong cách học, về hướng tiếp cận ngôn ngữ từ góc độ lí luận Đặc biệt là hiện tượng xuyên thấm phong cách ngôn ngữ.
Trang 11-về mặt thực tiễn: khóa luận cung cấp tư liệu cho quá trình học tập, giảng dạy Ngữ văn trong nhà trường phô thông nói riêng và việc cảm thụ văn học nói chung.
8 Bố cục khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Ket quả khảo sát, thống kê, phân loại lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú
Chương 3: Giá trị nghệ thuật của việc sử dụng từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN
1.1.Phong cách ngôn ngữ hội thoại (phong cách sinh hoạt hằng ngày)
1.1.1 Định nghĩa “phong cách hội thoại”
Trong cuốn: “Phong cách học tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã khắng định : “Phong cách hội thoại (hay còn cỏ tên gọi khác là phong cách khâu ngữ, phong cách sinh hoạt hằng ngày) là khuôn mâu thích hợp đế xây dựng lớp phát ngôn (văn bản) trong đó thế hiện “vai” của nhân vật tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày ” [ 4,122].
1.1.2 Đặc trung của phong cách hội thoại
1.1.2.1 Tính cá thể
Tính cá thê của phong cách hội thoại thê hiện ở vẻ riêng của ngôn ngữ mỗi người khi trao đối, trò chuyện, tâm sự với người khác Chẳng hạn có người từ tốn, khoan thai, nghiêm túc, chính xác, có người nói hấp tấp, vội vàng, đại khái, có người thích nói “Hai năm rõ mười” thắng băng, có người chuộng cách nói bóng bấy, tế nhị
Trang 121.1.2.2 Tính cụ thể
Tính cụ thể là đặc điếm nối bật của phong cách hội thoại: “Phong cách sinh hoạt hằng ngày tránh lối nói trừu tượng, chung chung, thích lối nói cụ thê, nôi bật làm cho sự vật không phải chỉ được gọi tên mà còn được hiện lên với những hình ảnh, âm thanh
rõ nét Tính cụ thế đã làm cho sự giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày trở nên dê dàng, nhanh chóng, ngay trong trưòng hợp phải đề cập đến những vẩn đề trừu tượng ” [4,128].
1.1.2.3 Tính cảm xúc
Tính cảm xúc gắn với tính cụ thế: “ Phong cách sinh hoạt hằng ngày được sử dụng trong đời sông thực vô cùng cụ thê, sinh động truyền đạt những tư tưởng, tình cảm hết sức phong phú, đa dạng của con người Vì vậy, lời nói trong phong cách này cũng mang đến tính cảm xúc tự nhiên Chính ngôn ngữ trong phong cách hội thoại đa dạng, phong phú, nhiều tính chất tu từ là cái nguồn vô tận đã tạo nên một nền vãn học đẹp đẽ ’ [4,129].
1.1.3 Đặc điếm sử dụng ngôn ngũ'của phong cách hội thoại
1.1.3.1 Cách thức sử dụng từ ngữ
Đặc điểm nối bật trong sử dụng từ ngữ của phong cách hội thoại là sử dụng từ khấu ngữ Đó là những từ ngữ mang tính cụ thế, giàu hình ảnh và màu sắc cảm xúc Đáng lẽ nói:
“đánh đau” thì nói: “xé xác, chẻ xác, lột xác, đánh sặc tiết, thượng cẳng chân hạ cẳng tay ”
Phong cách hội thoại sử dụng nhiều ngữ khí từ, trợ từ, thán từ, tình thái từ để thực hiện chức năng tạo tiếp như đấy, nhé, nhỉ, thôi, thế thôi, ôi, ơi
Ví dụ: Anh sắp đi đâu đ ấ y ? (Đế hỏi người đang ở trước mặt)
Eo ô i \ Con rắn to quá! (Chỉ sự ngạc nhiên nhưng thường có ý trách mắng hay ghê tởm).
Phong cách hội thoại còn sử dụng các từ láy mang sắc thái khấu ngữ
“Và vì vậy đã sinh ra những từ láy giàu sắc thái cụ thế, gợi hình, gợi cảm Láy vân có tác dụng gợi cảm rất mạnh: loanh quanh, lững thững Láy âm hoàn toàn có giá trị gợi cảm, nhấn mạnh ý: sè sè, rầu rầu Những từ bốn âm tiết láy âm có tác dụng nhẩn mạnh và châm biếm: ngớ nga ngớ ngân, đủng đà đủng đỉnh ”[4,133].
Trang 13Bên cạnh đó, phong cách hội thoại cũng thường sử dụng cách nói vận dụng thành ngữ, tục ngữ (Vẽ đường cho hươu chạy, mượn gió bẻ măng ) hay cách nói tắt (“Cửa hàng bách hóa tống hợp” có thể nói tắt thành “ Bách hóa tổng hợp”).
+ Dùng kết cấu: “đã lại” thay cho “ không những mà còn”.
+ Dùng kết cấu: “động từ - gì mà - động từ” biểu thị thái độ phủ định.
1.2.Từ khẩu ngữ
1.2.1 Khái niệm
Theo tác giả Cù Đình Tú: “Trong vốn từ của bất kì người dân Việt Nam bình thường nào, bên cạnh vôn từ đa phong cách, môi con người đêu có vôn từ ngữ rất quen thuộc, rất gắn bó, đó là von từ khâu ngữ (gọi tẳt là từ khâu ngữ) Từ khâu ngữ được dùng chủ yếu cho phong cách khâu ngữ tự nhiên tiếng Việt và là công cụ riêng của phong cách này Do chúng phục vụ cho nhu cầu nói năng hằng ngày cho nên người ta còn gọi chúng là
từ khâu ngữ hằng ngày, từ khâu ngữ sinh hoạt ” [1, 133].
1.2.2 Đặc điểm
Đặc điếm nối bật của từ khâu ngữ \ầ“Tính miêu tả chi tiết và cụ thế Chúng biếu thị một cách cụ thê và chi tiết những sự vật, tính chất, hành động Từ khâu ngữ tiếng Việt rất giàu hình ảnh, giàu sắc thái biếu cảm ” [1,133].
Trang 14Ví dụ: So sánh từ khẩu ngừ so với từ ngừ khác có nghĩa tương đương ta sẽ thấy rõ sự khác biệt về tính hình ảnh và tính biếu cảm.
Chăng hạn: nỏ mồm / nói nhiều ăn đòn / bị
đánh đàn ông đàn ang / nam giới 1.2.3 Cách cấu tạo
Theo Cù Đình Tú, K h ả o s á t t ừ v ự n g t i ế n g Vi ệ t t h e o b ì n h d i ệ n
p h o n g c á c h n g ô n n g ữ (trong “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”,
Hà Nội, 1982) thì từ khấu ngữ được cấu tạo theo bốn cách sau đây:
1.2.3.1 Thêm yếu tố
Nguyên tắc cấu tạo chung của cách này là người ta thêm yếu tố đơn vào đơn vị nguyên là từ đa phong cách để tạo nên đơn vị mới là từ khấu ngữ Theo nguyên tắc chung này ta có bốn kiểu:
Kiểu 1 Mầu: n g o n thêm ơ thành n g o n ơ
chạy thêm long tóc gáỵ thành chạy long tóc gáy.
Trong bốn kiếu mẫu trên ta thấy:
Yeu tố 1 { n g o n , x e , đ à n ô n g , l o ) nguyên là từ đa phong cách không mang tính miêu tả cụ thê.
Trang 15Yếu tố 2 ( n g o n ơ , x e p h á o , đ à n ỏ n g đ à n a n g , l o m é o m ặ t) thêm vào vốn không có nghĩa khi đứng riêng, vốn không phải là một từ độc lập nhưng khi thêm vào thì làm cho đơn vị mới trở thành từ khâu ngữ, mang tính miêu tả cụ thể, giàu sắc thái biểu cảm.
Mầu: v ẫ n biến âm thành v ư ờ n
hăm mươi bảy thành hăm bảy.
Ba mươi hai thành băm hai.
Kiểu 2: Biến nghĩa.
Trang 16Mầu: c h ơ i (chơi bóng) biến nghĩa thàng c h ơ i (một vố).
n ệ n (đất, đá) biến nghĩa thành n ệ n (cho một trận).
Kiểu biến nghĩa này có sức sinh sản lớn so với các kiểu khác Hiện nay các từ khẩu ngữ mới được cấu tạo chủ yếu theo cách này.
Kiểu 3: Chuyển nghĩa.
Mầu: n g a y l ư n g biểu thị l ư ờ i (chuyển nghĩa theo hoán dụ) n í u
á o biểu thị c ả n t r ở (chuyển nghĩa theo cách ẩn dụ).
1.2.3.4 Dùng yếu tổ không lí do
Ở đây ta thấy có một số đơn vị mặc nhiên được xem là từ khấu ngữ, không cắt nghĩa được nguyên nhân cấu tạo, tương tự như các từ không có lí do khác.
Cách cấu tạo này gồm có:
Các từ khâu ngữ: béng, quách, phứa, cút, chuồn
Cấc quán ngừ khấu ngữ: của đáng tội, chết nỗi
Từ khẩu ngữ kiểu này được cấu tạo bằng những yếu tố mang tính hình ảnh, sinh động, cụ thể Nghĩa của từ khẩu ngữ được hình thành nhờ qui luật chuyển nghĩa (ẩn dụ và hoán dụ).
Việc chỉ ra đặc điểm cấu tạo hình thức và nội dung của các kiểu từ khẩu ngữ tiếng Việt nói trên sẽ giúp ta có căn cứ khách quan đế xác định từ khấu ngữ tiếng Việt trong thực tế.
1.2.4 Hiệu quả sử dụng từ khấu ngữ
Từ khấu ngữ tiếng Việt không chỉ cần thiết cho nhu cầu nói năng thân mật hằng ngày
mà còn rất cần thiết cho sáng tác văn học.
Trong nhu cầu nói năng thân mật hằng ngày, “Con người luôn tiếp xúc thăng với mọi mặt cụ thê, sinh động của cuộc song Con người bày tỏ tức khắc những phản ứng ít nhiều ở dạng cảm tính của mình từ khâu ngữ tiếng Việt giàu hình ảnh và sắc thái biêu cảm xuất hiện chính là đế đáp ứng nhu cầu diên đạt nói trên Nói năng sinh hoạt hang ngày mà thiếu từ khâu ngữ thì sự diên đạt sẽ trở nên sơ lược, tẻ nhạt, sẽ chỉ còn lại là một
Trang 17hoạt động đưa tin - nhận tin thuẫn túy không kèm theo một chút thái độ bình giá nào, bởi vì mọi chi tiết sinh động sống thực đã bị tước bỏ ” [1, 138].
1.3 Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
1.3.1 Khái niệm “phong cách ngôn ngũ'nghệ thuật”
Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng Lạc đã khắng định: “ Ngôn ngữ nghệ thuật, tức ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, lại là một mã phức tạp hơn, là một hệ thong tín hiệu thứ hai, được tạo nên từ hệ thong tín hiệu thứ nhât (từ ngôn ngữ tự nhiên), ngôn ngữ là yếu tô thứ nhất của văn học, ngôn ngữ trở thành vật liệu xây dựng nên những hình tượng diên đạt tư tưởng nghệ thuật Môi yếu tổ ngôn ngữ trong tác phâm văn học là một phương tiện biếu hiện, môi yếu tổ đó nhất thiết phải tham gia vào việc bộc lộ nội dung tư tưởng nghệ thuật của tác phấm”[ 4,137].
1.3.2 Sự xuyên thấm phong cách trong ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 18Theo Đinh Trọng Lạc trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”: “Ngôn ngữ nghệ thuật là biếu hiện đầy đủ nhất và nôi bật nhất ngôn ngữ văn hóa, và rộng hơn nữa của ngôn ngữ tocin dân Ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại dựa vào chuân mực ngôn ngữ hiện đại Song những thê loại văn học có tính lịch sử, nó vượt ra ngoài khuôn khô của chuản và
sử dụng cả những phương tiện đã cũ, trước hết là phương tiện từ vựng, như những từ cô, từ lịch sử Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cả những phương tiện ngôn ngữ không có trong ngôn ngữ hiện đại, cũng chưa có trong lịch sử của nó tức những tân từ hiếu theo nghĩa rộng Người ta gọi những tân từ này ỉà những từ tiêm năng (do nhà văn sử dụng khả năng tiêm tàng của ngôn ngữ đê cấu tạo nên) hoặc những từ ngâu họp (tức được cấu tạo một cách ngâu nhiên) Ngôn ngữ nghệ thuật trong những phạm vi nhất định, sử dụng cả những phương tiện ngoài ngôn ngữ văn hóa như những từ địa phương, những từ tiêng ỉóng, những
từ tục Ngôn ngữ nghệ thuật hiếu theo một khía cạnh nào đó giàu hơn ngôn ngữ toàn dân ”
1.4 Thơ Ngô Văn Phú
1.4.1 Cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ Ngô Văn Phú
a Cuộc đời
Ngô Văn Phú còn có bút danh là Ngô Bằng Vũ, Đào Bích Nguyên, sinh ngày 8/4/1937 tại Nam Viêm - Mê Linh - Vĩnh Phúc Ông vào đời văn khá sớm, ngay từ khi còn là
Trang 19học sinh trường Trung học Hùng Vương đã có thơ in báo Ngoài sáng tác thơ văn, ông còn dịch sách Ồng từng giữ nhiều chức vụ khác nhau: Biên tập viên báo Văn học, Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, Trưởng ban thơ, Phó giám đốc Nhà xuất bản Tác phẩm mới và hiện nay Ngô Văn Phú là Tống biên tập nhà xuất bản Hội Nhà văn Ông từng đoạt giải thơ của Tạp chí văn nghệ năm 1961, giải Ca dao của Báo chí văn học năm 1962, giải thưởng văn học 5 năm của Hội văn nghệ Hà Nội Có thế nói rằng Ngô Văn Phú là nhà thơ tài năng và có sức sáng tạo dồi dào.
1.4.2 Phong cách thơ Ngô Văn Phủ
Ngô Văn Phú có một tâm hồn trong trẻo mà sâu lắng Dù viết về đề tài nào thì những trang văn, những câu thơ của ông vẫn đằm thắm, mộc mạc Đặc biệt thơ Ngô Văn Phú là một mảnh hồn trung du mang nhiều màu sắc, khi thì đậm đặc như đất đồi đá ong, khi dịu nhẹ như khói sương thung lũng, khi mát đằm như bóng tre, rừng cọ Nhà thơ gắn vó gốc rễ với quê mình nên chặng đường thơ từ lúc mới cầm bút cho đến khi trở thành nhà thơ có độ chín
và sung sức, thơ ông không lúc nào tách rời với hồn quê ấy Thơ Ngô Văn Phú là tiếng thơ đồng nội giản dị, hồn hậu, chân chất yêu thương Và theo Ngô Quân Miện, tâm hồn Ngô Văn Phú là một tâm hồn đồng nội Là người tiếp nối mạch thơ chân quê của Nguyễn Bính, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ, Bàng Bá Lân Ngô Văn Phú đế lại ấn tượng trong lòng người đọc với một phong cách dấu ấn riêng - một tâm hồn đồng nội với tiếng thơ đa thanh, đa giọng điệu mang âm hưởng của cuộc sống thôn quê với nhiều cảm xúc, nhiều lắng đọng suy tư.
Trang 20Như vậy tất cả những phần lý thuyết về phong cách hội
thoại, về phong cách ngôn ngừ, sự xuyên thấm phong cách ngôn ngữ cũng như một vài nét khái quát về tác giả là cơ
sở lý luận quan trọng đế chúng tôi thực hiện đề tài:
“Hiệu quả sử dụng lớp từ, ngữ thuộc phong cách hội thoại trong thơ Ngô Văn Phú”
CHƯƠNG II: KÉT QUẢ KHẢO SÁT, THỐNG KÊ, PHÂN LOẠI LỚP TỪ, NGỮ
THUỘC PHONG CÁCH HỘI THOẠI TRONG THƠ
NGỒ VĂN PHỦ.
2.2 Miêu tả và nhận xét kết quả thống kê
2.2.1 Sử dụng biên âm đê tạo từ khâu ngữ’
Sự phong phú của ngôn ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ hội thoại không chỉ được thế hiện ở vốn từ tự nhiên, thông dụng mà còn được thế hiện ở
2.1 Bảng thống kê
Các lớp từ, ngữ thuộc phong cách ngôn ngừ hội thoại Tổng
Sử dụng từ khâu ngữ
Sử dụng lối nói dẫn thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Sử dụng biến âm để tạo từ khấu ngừ
Sử dụng ngữ khí
từ, trợ từ, thán
từ,đại từ
Sửdụng từ ghép sắc thái hóa
Sử dụng từ láy mang màu sắc khẩu ngữ
Sự vận dụng thành ngữ
Sự vận dụng tục ngữ
Sự vận dụng ca dao
Tỷ lệ phân
trăm(%)
Trang 21hằng ngày Trong đời sống sinh hoạt, nhiều người dân thường phát âm một cách tự nhiên, thoải mái theo một tập quán phát âm địa phương với sự thế hiện không theo chuẩn mực của phụ
âm đầu, âm cuối, thanh điệu Chính điều đó góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú về ngôn ngữ trong phong cách hội thoại.
Trong thơ Ngô Văn Phú, chúng tôi thấy hiện tượng biến âm xuất hiện nhiều Cụ thế, qua khảo sát chúng tôi thống kê được 53 phiếu (chiếm 13,25%) Như vậy, tác giả sử dụng khá nhiều biến âm đế tạo ra từ khấu ngữ làm cho tác phấm gần gũi với đời sống, lời lẽ tự nhiên như lời ăn tiếng nói hằng ngày nhưng vẫn mang giá trị thẩm mĩ cao.
- Biến âm phụ âm đầu (“d” thành “ n”).
“Vài tán bàng non xòa trước cửa Dăm
căn nhà trọ thắp đèn lồng”.
(Ga quê hương)
“Đầu vai vài cậu quấn băng trắng Chuyện
rộ dăm câu, mắc võng lên”.
(Đặc công)
- Biến âm đơn thành âm đôi (“o” thành “ oa”)
“Cần chi trèo bưởi hái hoa
Tiền “boa” anh tặng đêm ba, bốn lần”.
(Phản ca dao)
- Biến âm chính âm đôi (“ưa” thành “eo”)
“Ở đây ruộng đất hóa thần
Chòm ao, thẻo đất, xó vườn đều xanh”.
(Đong bằng)
- Biến âm chính (“ây” thành “ay”), (“u” thành “ô”)
“Bẩy mươi rồi, việc các em chị thầm đến lo toan Xong
xuôi hết mới trở về vui vẻ”.
(Chị tôi)
Trang 22“Chiều ba mươi tết khối người đọc
M ồ n g một thằng nao bóc mất rồi”.
Trang 23- Biến thanh điệu (“nào” thành “nao”)
“Chiều ba mươi tết khối người đọc Mồng một
thằng nao bóc mất rồi”.
(Tết nhớ Tú Xương) Tất cả sự biến âm đầu, vần, thanh điệu mà tác giả sử dụng không chỉ tạo nên sắc thái biếu cảm mà còn không làm mất đi nghĩa gốc của từ Cách nói biến âm càng cho thấy vẻ tự nhiên, mộc mạc trong ngôn từ của một tâm hồn đồng nội Ngô Văn Phú Với ngôn từ gần gũi, không bóng bấy, trau chuốt, độc giả càng nhận ra chân dung nhà thơ - một con người đời thường, gắn bó với quê hương làng xóm sâu nặng.
“Ta nhớ cuộc rượu đêm mèo vạc
Mấy đ ứ a xa nhà đua nói khoác”.
(Hạt bụi)
“ Làng tôi vây bọc bao đồi cọ
Sáng nào c o n sơn ca cũng bay ngang mặt trời”.
* Sử dụng đại từ
(Tết nhớ Tú
Trang 24Đại từ là lớp từ dùng đế thay thế và chỉ trỏ Trong các bài thơ, Ngô Văn Phú đã sử dụng rất nhiều đại từ bao gồm đại từ nhân xưng, đại từ chỉ định:
“Thơ này t ô i dán ngay đầu cổng
“Một thời người ấy yêu tôi
B â y g i ò ’ người của một thời nay đâu?”
(Người của một thời)
Các đại từ nhân xưng được tác giả sử dụng rất linh hoạt, khi thì thể hiện sự thân mật, khi thể hiện
sự hóm hỉnh, bông đùa Đại từ không chỉ được tác giả sử dụng cho con người mà còn dùng đế xưng hô trong thế giới loài vật làm cho chúng hiện lên sinh động như một thực thế Việc lựa chọn, sử dụng đại từ thế hiện cảm xúc và thái độ của nhà thơ trước con người và cảnh vật làng quê.
* Sử dụng trợ từ, tình thái từ, thán từ “Có khi rót nước
Trang 25“Em khẽ bảo cần gì quá khứ Cái mà em đang có
chính là anh”.
ị Cơn dông)
Có thế nói trợ từ ( m à , c h í n h , l ạ i , t h ì ) được tác giả sử dụng nhiếu nhằm nhấn mạnh đặc điểm của sự vật, hiện tượng và cả con người như biểu hiện chậm chạp, lẫn thẫn của người già hay khắng định sự tồn tại trong tình yêu: “ C á i m à e m đ a n g c ó c h í n h l à a n h ”
Ngoài trợ từ thì thán từ, tình thái từ cũng xuất hiện trong thơ Ngô Văn Phú:
“ C h a o ơ i , đời lính thèm con trẻ Như thức đêm
thèm giấc ngủ ngon”.
(Chủ bé Trường Son)
“ Tr ờ i ơ i tôi có dám yêu ai Nguyện một em thôi,
sống trọn đời”.
(Người yêu ngày trước)
“ C h ắ c h ẳ n bạn tôi mơ rất đẹp Gương mặt hiền
rạng rờ làm sao”.
(Giấc ngủ)
“ C h a o ơ i, muôn vật trong trời đất Cỏ cây còn
biết phải lòng nhau”.
(Tơ hồng và cúc tần)
Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy thán từ, tình thái từ được sử dụng khá nhiều ở các mảng đề tài: thiên nhiên, cảnh vật làng quê, người dân lao động nhưng tập trung chủ yếu là ở mảng thơ tình Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ nhiều khi được bộc lộ gián tiếp qua các hình ảnh, có khi được bộc lộ một cách trực tiếp bằng các thán từ: “ c h a o ô i , c h a o ơ i , t r ờ i ơ i ” Đó là những sự ngạc nhiên trước cảnh đẹp thiên nhiên làng quê, xúc động khi cảm nhận được khao khát bình dị của người lính hay là những tâm trạng, xúc cảm trong tình yêu.
b. S ử d ụ n g t ừ k h â u n g ữ m a n g s ắ c t h á i h ổ n n h i ê n t h ô n g t ụ c Đọc “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú” ta thấy lớp từ khấu ngữ được sử dụng thường xuyên, dày đặc nhưng được tác giả
(Tết nhớ Tú
Trang 26chọn lọc, phù hợp với đối tượng cụ thể, gắn với những ngữ cảnh nhất định Lớp từ khẩu ngữ vừa làm cho đối tượng được miêu tả chân thực hơn, vừa tạo được những liên tưởng bất ngờ, những hàm nghĩa tinh tế, sinh động Độc giả đọc các bài thơ của Ngô Văn Phú có cảm giác như nghe tiếng nói của lòng mình, như đang tiếp xúc với lời nói quen thuộc hằng ngày Đó là những từ đế xưng hô: t h ằ n g , c h ị , m à y
những lời thông tục, tiếng chửi: m ặ c t h â y, m ặ c k ệ , k ệ , t h â y hay các đại từ nhân xưng: t ô i ,
t a o , t ớ , m à y từ để hỏi, từ cảm thán: t r ờ i ơ i , c h a o ô i , n h é , n h ỉ , t h ô i , t h ế
t h ô i â u ợ c sử dụng một cách tự nhiên, thân mật.
“Mợc đ ờ i cho kẻ bon chen Dấn thân vào cuộc đỏ
đen làm gì”.
ị Chim chích, chim ri)
“ C h a o ơ i , một ván cò l â u t h ế Kéo đẫy nửa ngày
chưa thắng thua T h ì r a người đẹp thì luôn thắng M ặ c
k ệ cha bay mấy thế cờ”.
(Hội cờ người)
“Rồi có thể anh say trong quán trọ Nằm c ò n g q u e o trên
chiếc ghế đơn sơ”.
(Tết nhớ Tú
Trang 272.2.3 Sử dụng từ ghép sắc thái hóa
Trong 400 phiếu được thống kê, từ ghép sắc thái hóa được sử dụng trong 38 trường hợp (chiếm 9,5%) Nhờ các từ ghép sắc thái hóa, các sự vật, cảnh sắc thơ Ngô Văn Phú hiện lên một cách cụ thế với những đặc trung riêng biệt, giàu màu sắc tác động mạnh mẽ đến sự liên tưởng của con người.
“Cúc tần mấy rặng xanh ngắt Tơ hồng quấn
quýt sợi v à n g a u
(Tơ hồng và cúc tần)
“Tu hú kêu vàng những ruộng dưa Đ ỏ a u bãi vải,
quả đang mùa”.
(Tiếng chim tu hú)
“Người đi, đi mất không về nữa Trăng đ ỏ l ò m
soi tiếng ếch đêm”.
(Mùa hè vang bóng chim)
“Gánh rau lang ra chợ, rẻ như bèo Chị gánh đi, vai
áo vá bạc phếch”.
(Người đàn bà nghèo đi chợ)
Nhìn chung đa số từ ghép sắc thái hóa được nhà thơ Ngô Văn Phú sử dụng nhiều trong việc miêu
tả con người và cảnh vật nơi thôn quê Đặc biệt từ ghép sắc thái hóa đạt hiệu quả cao khi nhà thơ miêu tả
về người nông dân đế nói lên cuộc đời lam lũ, vất vả của họ và làm nối bật vẻ đẹp thanh bình, dân dã của cảnh vật, thiên nhiên làng quê ông.
2.2.4 Sử dụng từ láy mang màu sắc khấu ngữ
Trong thơ của mình, Ngô Văn Phú đã sử dụng rất nhiều từ láy và khai thác triệt đế hiệu quả của chúng Chúng tôi thống kê được 150 phiếu (chiếm 37,5%) nhà thơ sử dụng từ láy mang màu sắc khấu ngữ Như vậy từ láy mang màu sắc khấu ngữ được tác giả sử dụng với số lượng rất lớn Chúng tôi chia từ láy thành các tiếu loại sau:
* Từ lảy tượng thanh
(Tết nhớ Tú
Trang 28Từ láy tượng thanh là những từ mô phỏng âm thanh, là sự sao lại toàn bộ hay gần như toàn bộ những âm thanh của tự nhiên, của cuộc sống.Từ láy tượng thanh vừa gợi hình vừa gợi nhạc.
“Trời lóe sáng, ầ m ầ m sấm chớp
Mưa đầu năm tươi tốt mọi cây cành”.
(Mưa rào bất chợt)
“ Được mấy cái que rào
Quắn lưng kêu ăng ắng”.
(Cún con)
“Những mặt chữ điền vai áo vá
Giành nhau nói trạng, chuyện r â m r a n ”
(Nói trạng)
C ó thế nói từ láy tượng thanh được tác giả sử dụng nhiều trong thơ của mình nhưng chủ yếu là những bài thơ miêu tả về thiên nhiên và con người Đó là âm thanh của thiên nhiên, của cuộc sống hay chính là âm thanh của lòng người, của tiếng lòng nhà thơ trước vẻ đẹp của cảnh vật và con người vùng trung du Bắc bộ.
* Từ láy tượng hình
‘7/m/ỉ” là do ý nghĩa của từ tạo thành Từ láy tượng hình được nhiều nghệ sĩ sử dụng trong sáng tác Nó vừa làm sự vật hiện tượng hiện ra có đường nét, giới hạn, hình khối trong không gian, vừa tạo sự liên tưởng trong quá trình tiếp nhận, cảm thụ tác phấm của độc giả Từ láy tạo hình góp phần tích cực trong việc tạo hình nghệ thuật Đặc biệt là trong thơ ca
“Cống làng mấp mô còn mấy bậc Cửa tò vò,
sát mái rêu phong”
Trang 29Các từ láy “ m ấ p m ô ” , “ l ụ k h ụ ” gợi trong lòng độc giả nhiều liên tưởng
“ M ấ p m ô ” gợi sự khấp khểnh, không bằng phẳng, có nhiều mô nhở nối lên trên bề mặt Cách sử dụng từ láy tượng hình “raứ/7 m ô ” cho thấy cái nhìn tinh vi của tác giả
khi viết về cống làng Nhà thơ Ngô Văn Phú không những dùng từ láy tượng hình đế miêu tả về cảnh vật làng quê mà còn sử dụng đế khắc họa hình ảnh con người nơi đây,
đặc biệt là người nông dân chân lấm tay bùn vì vất vả, lam lũ mà “ l ư n g c ò n g , l ụ k h ụ
* Từ láy ba, láy tư độc đáo
Những từ láy ba, láy tư là những từ láy mà hình vị láy được lặp lại ba hoặc bốn lần phụ âm đầu hoặc vần Những từ láy như vậy thường được tác giả sử dụng vào tác phấm với mục đích nhấn mạnh hoặc châm biếm Những từ láy này thường mang lại hiệu quả nghệ thuật và giá trị biếu cảm cao
2.2.5. Vận dụng thành ngũ'
Trong 400 phiếu mà chúng tôi khảo sát qua “Tuyến tập thơ Ngô Văn Phú”, có 29 phiếu (chiếm 7,25%) nhà thơ vận dụng thành ngữ Nhà thơ khéo léo chọn lựa thành ngữ trong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, từ đó vận dụng đế nói về con người, thiên nhiên, sản xuất, nhân sinh quan hay về quan hệ xã hội Thành ngữ cũng được nhà thơ sử dụng để viết về tình yêu hay nói về người nông dân ở mảng thơ đồng quê Nhà tho’ đã đảo trật tự các từ trong câu thành ngữ khi đưa vào bài thơ của mình
(Tết nhớ Tú