1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải đoán hàm ý hội thoại trong truyện kể lớp 4

65 622 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong cuộc hội thoại không phải tất cả những gì muốn diễn đạt người ta đều có thể nói ra trực tiếp hiển ngôn mà nhiều lúc người nói sử dụng cách nói hàm ý đòi hỏi người nghe p

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐỖ THỊ HỒNG

GIẢI ĐOÁN HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KỂ LỚP 4

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Sơn La, năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐỖ THỊ HỒNG

GIẢI ĐOÁN HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG TRUYỆN KỂ LỚP 4

Chuyên ngành: Khoa học giáo dục

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: TS Vũ Tiến Dũng

Sơn La, năm 2015

Trang 3

Lời cảm ơn

Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Vũ Tiến Dũng,

người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến khi đề tài khóa luận được hoàn thành

Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Đại học, Phòng Đào tạo, Thư viện, Ban chủ nhiệm khoa Tiểu học – Mầm non Trường Đại học Tây Bắc, các bạn sinh viên lớp K52 ĐHGD Tiểu học A, trường Tiểu học Giao Châu đã tạo điều kiện cho em thực hiện và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này

Lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học giáo dục nên đề tài khóa luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo trong Hội đồng khoa học, Phòng Đào tạo Đại học cùng các bạn sinh viên để đề tài khóa luận của em thêm hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Tác giả

Đỗ Thị Hồng

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

HS : Học sinh SGK : Sách giáo khoa TGĐ: Tiền giả định

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài khoá luận 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp điều tra 4

5.2 Phương pháp khảo sát 4

5.3 Phương pháp thống kê phân loại 5

5.4 Phương pháp phân tích diễn ngôn 5

6 Ý nghĩa của khóa luận 5

6.1 Ý nghĩa lí luận 5

6.2 Ý nghĩa thực tiễn 5

7 Cấu trúc của khóa luận 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Hành động ngôn ngữ 7

1.1.1 Định nghĩa 7

1.1.2 Các hành động ngôn ngữ 7

1.1.2.1 Hành động tạo lời 7

1.1.2.2 Hành động mượn lời 8

1.1.2.3 Hành động tại lời 9

1.1.3 Điều kiện thực hiện hành động tại lời 11

1.2 Lí thuyết hội thoại 13

1.2.1 Mở đầu 13

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hội thoại 14

1.2.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 15

1.3 Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn 18

1.3.1 Nghĩa hiển ngôn 18

1.3.2 Nghĩa hàm ngôn 19

1.3.2.1 Tiền giả định 19

1.3.2.1.1 Định nghĩa và thuộc tính của tiền giả định 19

Trang 6

1.3.2.1.2 Về việc sử dụng tiền giả định 19

1.3.2.2 Hàm ý 21

1.3.2.2.1 Khái niệm hàm ý 21

1.3.2.2.2 Phân loại hàm ý 22

1.4 Hàm ý hội thoại 23

1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại 23

1.4.2 Đặc điểm của hàm ý hội thoại 25

1.4.3 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp 25

1.4.3.1 Hoàn cảnh giao tiếp 25

1.4.3.2 Nhân vật giao tiếp 27

1.5 Thực trạng của việc giảng dạy – học phân môn kể chuyện ở trường Tiểu học Giao Châu 28

TIỂU KẾT 29

CHƯƠNG 2: HÀM Ý HỘI THOẠI TRONG MỘT SỐ TRUYỆN KỂ LỚP 4 30

2.1 Giải đoán hàm ý trong một số truyện kể cho học sinh lớp 4 30

2.1.1 Võ sĩ Bọ Ngựa 30

2.1.1.1 Cuộc thoại chứa hàm ý 33

2.1.1.2 Nội dung hàm ý 33

2.1.1.3 Bài học được rút ra 34

2.1.2 Chú bé tí hon và con cáo 34

2.1.2.1 Cuộc thoại chứa hàm ý 36

2.1.2.2 Nội dung hàm ý 36

2.1.2.3 Bài học được rút ra 37

2.1.3 Những chú bé không chết 37

2.1.3.1 Cuộc thoại chứa hàm ý 38

2.1.3.2 Nội dung hàm ý 38

2.1.3.3.Giáo dục tư tưởng 38

2.1.4 Ếch và Chẫu Chàng 39

2.1.4.1 Cuộc thoại chứa hàm ý 39

2.1.4.2 Nội dung hàm ý 40

2.1.4.3 Bài học được rút ra 40

2.1.5 Cáo và Gà Trống 40

Trang 7

2.1.5.1 Cuộc thoại chứa hàm ý 41

2.1.5.2 Nội dung hàm ý 41

2.1.5.3 Bài học được rút ra 42

2.2 Tác dụng của giải đoán hàm ý 42

TIỂU KẾT 43

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 44

3.1 Một số giáo án thực nghiệm trong các tiết kể chuyện lớp 4 44

3.2 Thực nghiệm sư phạm………51

3.2.1 Mục đích nghiên cứu……… 51

3.2.2 Nội dung thực nghiệm……….……51

3.2.3 Đối tượng thực nghiệm 51

3.2.4 Tổ chức thực nghiệm……… ……….51

3.2.5 Kết quả thực nghiệm 51

TIỂU KẾT 53

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài khoá luận

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người, là công cụ của tư duy Con người muốn trao đổi nhận thức, tình cảm… của mình đến người khác không thể không qua ngôn ngữ Trong một cuộc giao tiếp các nhân vật tham gia giao tiếp có sự tác động qua lại lẫn nhau để cùng hướng về một mục đích nhất định

Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giao tiếp dựa vào hình thức hoạt động căn bản này Hội thoại không chỉ diễn ra trong cuộc sống mà còn có trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, trong cuộc hội thoại không phải tất cả những gì muốn diễn đạt người ta đều có thể nói ra trực tiếp (hiển ngôn) mà nhiều lúc người nói sử dụng cách nói hàm ý đòi hỏi người nghe phải tự suy nghĩ ra qua phát ngôn để hiểu được nội dung mà người nói muốn truyền đạt; tức là người nói đã vi phạm nguyên tắc cộng tác, khi đó hàm ý hội thoại xuất hiện Cuộc thoại xuất hiện hàm ý sẽ tạo ra nhiều điều lí thú trong giao tiếp

Cuộc thoại không chỉ xuất hiện trong giao tiếp hằng ngày mà còn khá phổ biến trong những câu chuyện đươc kể ở tiểu học Những câu chuyện sẽ góp phần giáo dục các em một cách hết sức nhẹ nhàng, thoải mái Thông qua câu chuyện, vốn văn học của các em ngày càng được tích lũy, mở rộng Đồng thời, nó còn giúp cho các em hiểu biết hơn về cuộc sống xung quanh Theo đó, trí tưởng tượng và ước mơ hoài bão của các em cũng thế mà phát triển Nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy – học phân môn kể chuyện cũng như thực tế dạy – học phân môn này, tôi lựa chọn đề tài:

“Giải đoán hàm ý hội thoại trong truyện kể lớp 4” Việc giải đoán được hàm ý sẽ

làm cho các em hiểu đúng được nội dung, ý định của câu chuyện Qua đó, giúp các em phát triển một cách toàn diện hơn

2 Lịch sử vấn đề

Khái niệm “hàm ngôn hội thoại” được Herbert Paul Grice “thai nghén” từ cuối những năm 50 của thế kỷ XX rồi hoàn thiện trong phác thảo thuyết hàm ngôn mà ông đưa vào tập bài giảng William James khi đang giảng dạy tại Đại học Harvard năm 1967 Ngay

từ đầu, các vấn đề về hàm ngôn trong tập bài giảng William James đã có ảnh hưởng rất

lớn nhưng có lẽ phải một thời gian, sau khi cuốn Logic và hội thoại (1975) và bài báo Ghi

Trang 9

chú thêm về logic và hội thoại (1978) ra đời thì thuyết hàm ngôn hội thoại của Grice mới

thực sự trở thành “một trong những chuyên luận kinh điển” của ngữ dụng học

Phần lớn công trình Logic và hội thoại của Grice tập trung vào việc làm rõ sự

khác biệt (về mặt trực giác) giữa “cái được diễn tả bằng lời” trong câu nói và “cái được gợi ý” (hoặc nói bóng gió) trong câu nói Để chỉ “cái được gợi ý” này, Grice (1975; 1978) đã sử dụng các thuật ngữ mới là “hàm ý” (implicate) và “hàm ngôn” (implicature); đồng thời, ông xem phần được mã hóa ngôn ngữ của phát ngôn là “cái được nói đến” Ông cho rằng, tổng số “cái được nói đến trong câu” và “cái được hàm ý” trong cùng một câu nói đó được gọi là “các ý nghĩa biểu hiện của một phát ngôn” Cho đến nay, có thể nói các công trình nghiên cứu ngữ dụng học đã đạt được quan niệm thống nhất về hàm ý như sau:

(1) Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn (nghĩa hàm ngôn) không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩa tường minh (nghĩa hiển ngôn), TGĐ của phát ngôn và hoàn cảnh giao tiếp

Quan niệm này không chỉ được thể hiện trong các tác phẩm của Grice mà còn được thể hiện rõ trong những tài liệu vận dụng lý thuyết của ông như các công trình của O Ducrot (1972), G Yule (1997), Hoàng Phê (1989), Nguyễn Đức Dân (1996),

Hồ Lê (1996), Cao Xuân Hạo (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Hữu Châu (2005),… Chẳng hạn, O Ducrot quan niệm: “Thực chất của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, nghĩa là nói một cái gì đó mà không vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự vô can trong im lặng”[11, 98-100];

Hồ Lê (1996) viết: “Hàm ý là tất cả những ý nghĩa, tình thái hàm ẩn mà người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa hiển hiện của phát ngôn, trong

đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị”[10, 335] Nguyễn Thiện Giáp (2000) thì giải thích: “Hàm ý chính là những gì người nghe phải tự suy ra qua phát ngôn, để hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa của phát ngôn đó” [13, 136]

(2) Hàm ý là phần có giá trị thông tin thuộc nghĩa hàm ẩn, đối lập với tiền giả định (TGĐ) là phần không có giá trị thông tin

H.P.Grice (1975) phân biệt nghĩa hàm ẩn tự nhiên (natural meaning) với nghĩa hàm ẩn không tự nhiên (non-natural meaning) O Ducrot thống nhất với quan niệm của Grice nhưng thể hiện sự phân biệt đó bằng các thuật ngữ “hàm ngôn” và “tiền giả

Trang 10

định” (TGĐ) Ông coi TGĐ là một hình thức hàm ngôn quan trọng, là hàm ngôn nằm trực tiếp trong bản thân “nghĩa từ ngữ” của lời

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đều có chung quan niệm: TGĐ là loại nghĩa hàm ẩn nhưng là nghĩa hàm ẩn không có giá trị thông báo

Trong các công trình ngữ dụng học, có tình trạng cùng một hiện tượng được gọi bằng những thuật ngữ khác nhau và ngược lại, cùng một thuật ngữ lại được hiểu theo những nội dung khác nhau, phản ảnh quan niệm rộng, hẹp khác nhau ở mỗi nhà nghiên cứu Chẳng hạn, thuật ngữ “hàm ý” được dịch và hiểu tương đương với thuật ngữ

“hàm ngôn” trong ngôn ngữ học nước ngoài nhưng trong nghiên cứu, mỗi tác giả lại đặt cho loại nghĩa hàm ẩn này một tên gọi khác nhau như: “hàm ngôn”, “ẩn ý”, “ngụ ý”, “dụng ý”, “hiểu ngầm”, “ám chỉ”,… Có thể thấy rõ điều này qua các công trình của các tác giả tiên phong trong lĩnh vực ngữ dụng học ở Việt Nam như Nguyễn Đức Dân (1987), Hoàng Phê (1989), Đỗ Hữu Châu (2003),…

Cùng với những khác biệt trong sử dụng thuật ngữ, các nhà nghiên cứu ngữ dụng học còn thể hiện quan niệm khác nhau về phạm vi của hàm ý Phần đông các tác giả có

xu hướng giới hạn hàm ý ở nghĩa miêu tả (nghĩa mệnh đề) chỉ có một số ít tác giả cho rằng nghĩa tình thái cũng có thể là hàm ý

H.P.Grice và nhiều tác giả nước ngoài theo học thuyết của ông như Horn (1989), Levinson (1983; 1987b; 2000), George Yule (1997),… hay một số tác giả theo lý thuyết về tính quan yếu như D Sperber& D Wilson (1995), Carston (2002) và các nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Hoàng Phê, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân,… đều thống nhất dựa vào mức độ phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp để phân biệt hai loại hàm ý là hàm ý quy ước và hàm ý hội thoại Tuy nhiên, theo cách phân loại này, ranh giới giữa TGĐ, dẫn ý với hàm ý quy ước cũng vẫn còn là vấn đề gây tranh luận trong các thuyết giao tiếp Hậu Grice và Tân Grice,… Bên cạnh đó, sự phân biệt hàm ý quy ước với hàm ý hội thoại tuy rất quan trọng nhưng vẫn chưa phản ánh được đầy đủ các khía cạnh rất phong phú của hiện tượng hàm ý trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người Một tác giả Việt Nam là Hồ Lê đã đề xuất phân

loại hàm ýtheo khu vực tình thái mà người nói ký gửi vào phát ngôn, nhưng theo

chúng tôi, ranh giới của các loại hàm ý trong cách phân loại này rất mờ nhạt, khiến người học khó nhận diện đối tượng

Trang 11

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận

Khóa luận này hướng tới mục tiêu làm sáng tỏ hàm ý qua một số câu chuyện được kể trong phân môn kể chuyện lớp 4 Từ đó thấy được bài học đạo đức mà tác giả muốn gửi gắm cũng như đem lại nhiều xúc cảm cho các em Qua đó, hi vọng khóa luận có thể đóng góp một phần tài liệu tham khảo hữu ích, phục vụ cho việc học tập của các bạn sinh viên và quá trình giảng dạy sau này của bản thân

Với mục tiêu đề ra như vậy, khóa luận có nhiệm vụ cần nghiên cứu là khai thác hàm ý hội thoại trong một số truyện kể cho học sinh lớp 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hàm ý hội thoại trong một số truyện kể

ở phân môn kể chuyện lớp 4

Vì hiện nay có rất nhiều hình thức được đưa vào giảng dạy trong chương trình tiểu học và thời gian nghiên cứu không nhiều nên chúng tôi chọn địa bàn khảo sát ở trường Tiểu học Giao Châu huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định để có cái nhìn cụ thể hơn về việc dạy – học phân môn kể chuyện của tiếng Việt 4 Từ đó khóa luận đi giải đoán hàm ý trong một số truyện kể cho học sinh lớp 4 nhằm giúp các em nhớ

và hiểu sâu ý nghĩa câu chuyện hơn Qua đó, giúp cho việc dạy và học đạt kết quả tốt hơn

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài khóa luận này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

5.1 Phương pháp điều tra

Để tiến hành điều tra, chúng tôi sử dụng hình thức phiếu kiểm tra với các câu hỏi dạng đóng, mởxoay quanh các vấn đề về hàm ý Đối tượng là học sinh lớp 4 trường Trường Tiểu học Giao Châu tỉnh Nam Định Đồng thời nhờ sự giúp đỡ của các giáo viên chủ nhiệm, học sinh có điều kiện hiểu rõ về nội dung câu hỏi và định hướng trả lời, bên cạnh đó các giáo viên chủ nhiệm cũng đảm bảo cho tính khách quan của việc điều tra

5.2 Phương pháp khảo sát

Ở phương pháp này chúng tôi đã thực hiện thông qua hai hình thức chủ yếu: Thứ nhất,chúng tôi sẽ đến dự giờ từng tiết dạy cụ thể, quan sát khả năng kể chuyện của học sinh trong tiết kể chuyện

Trang 12

Thứ hai, chúng tôi đã phỏng vấn ngẫu nhiên một số học sinh khối 4 về hứng thú học cũng như khả năng kể chuyện của học sinh

Trên cơ sở phương pháp này chúng ta có thể khắc phục được những thiếu sót đó

và lựa chọn ra những phương pháp phù hợp nhất để bổ sung vào chương trình giảng dạy phân môn kể chuyện của tiếng Việt cho học sinh lớp 4

5.3 Phương pháp thống kê phân loại

Khi đã thu thập đầy đủ phiếu điều tra, chúng tôi tiến hành thống kê để xác định về lượng, từ đó tổng hợp hóa và phân loại Cụ thể là ở mỗi câu chúng tôi sẽ phân số lượng những câu trả lời, số câu trả lời đúng, số câu trả lời sai và chia chúng theo tỉ lệ phần trăm Sau đó, chúng tôi sẽ tổng hợp những câu trả lời sai để làm ví dụ, dẫn chứng

cụ thể trong nội dung phần khảo sát thực trạng Ngoài ra, phương pháp này còn giúp chúng tôi xử lí kết quả thực nghiệm

5.4 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Trong mỗi câu chuyện không phải bất cứ những tư tưởng, tình cảm, thái độ nào của tác giả muốn truyền đạt đến người đọc, người nghe đều có thể thực hiện được một cách rõ ràng (tường minh) qua ngôn ngữ cụ thể Nhiều khi muốn truyền đạt thông tin người nói phải căn cứ vào ngữ cảnh, vào nền tri thức, vào mối quan hệ giữa các nhân vật để hiểu được các tầng nghĩa khác nhau Nhờ phương pháp phân tích diễn ngôn mà

chúng tôi có thể hiểu được hàm ý trong mỗi cuộc thoại

6 Ý nghĩa của khóa luận

Hơn nữa trong thực tiễn đời sống và đặc biệt trong nhà trường hiện nay, việc dạy – học kể chuyện còn nhiều hạn chế Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp học sinh, sinh viên hiểu, phân tích được hàm ý trong cuộc thoại xuất hiện ở mỗi truyện Qua đó cũng giúp các em nhớ truyện và hiểu sâu ý nghĩa câu chuyện hơn

Trang 13

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, cấu trúc của khóa luận gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn

Chương 2: Hàm ý hội thoại trong một số truyện kể ở phân môn kể chuyện lớp 4 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Hành động ngôn ngữ

1.1.1 Định nghĩa

Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hànhđộng đặc biệt mà phương tiện ngôn ngữ Đó là hành động ngôn ngữ

Như chúng ta đã biết nói năng là hành động Hành động nói là hành động được

thực hiện bằng lời nói khi nói Khi gặp một người quen, ta nói: chào anh, chào chị, tức

là chúng ta thực hiện hành động chào Khi ta cảm ơn, xin lỗi, sai khiến là chúng thực

hiện hành động cảm ơn, xin lỗi, sai khiến Trong đời sống giao tiếp, chúng ta có thể nói (hoặc viết) nhằm những đích nhất định: khuyên, hỏi, trần thuật, sai khiến, xin, hứa, mời, chào, xin lỗi, cảm ơn, giải thích, phàn nàn

1.1.2 Các hành động ngôn ngữ

J.L.Austin cho rằng có ba loại hành động ngôn ngữ lớn: hành động tạo lời (Locutinonary act), hành động tại lời (Illocutionary act) và hành động mượn lời (Perlocutionary act)

Hiện nay ở Việt Nam, chúng ta thấy có một số cách dịch khác nhau Đáng chú ý

là các cách dịch cụm từ: Locutinonary act (hành vi tạo lời, hành động tại lời, hành động tạo ngôn); Illocutionary act (hành động ngoài lời, hành vi ở lời, hành động trong lời, hành động tại lời, hành động ngôn trung); Perlocutionary act (hành động mượn lời, hành vi mượn lời, hành động sau lời, hành động xuyên ngôn)

1.1.2.1 Hành động tạo lời

Hiểu một cách đơn giản, hành động tạo ra lời nói bằng những âm (hay con chữ) theo những quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ được gọi là hành động tạo lời Nói một cách rõ hơn, hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như ngữ

âm, từ, các kiểu kết hợp từ theo một quan hệ cú pháp thích hợp thành các câu để tạo

ra một phát ngôn có nghĩa phù hợp về hình thức và nội dung của một cộng đồng ngôn ngữ nào đó Như vậy, với hành động tạo lời, chúng ta hình thành nên các biểu thức ngôn ngữ có nghĩa Hiểu theo hướng này, nếu gặp khó khăn trong việc phát âm các từ ngữ nào đó (chẳng hạn người nói là người nước ngoài hoặc người nói bị ngắn lưỡi) hoặc không tìm ra từ thích hợp, hoặc không nắm vững các quan hệ cú pháp để tổ hợp

từ ngữ thành câu mà nói rộng ra là tạo thành văn bản, thành diễn ngôn thì người nói không hoàn thành hành động tạo lời, không tạo ra các biểu thức có nghĩa để phục vụ cho hoạt động giao tiếp mà người nói có ý định đặt ra Ví dụ, có một người nước ngoài nói tiếng Việt:

Trang 15

(1) Xin lôi cac đông chi

thì như vậy chưa được coi là là hành động tạo lời (vì phát âm không đúng hệ thống ngữ âm tiêu chuẩn tiếng Việt) mà người nói hoàn thành hành động tạo lời phải nói là:

(2) Xin lỗi các đồng chí!

Giả định có một sinh viên người Việt nói tiếng Pháp:

(3) Je être étudiant (Tôi là sinh viên - nam sinh viên)

thì anh ta chưa hoàn thành hành động tạo lời Hành động tạo lời phải là:

Ví dụ:

(7) Sp1: Đóng cửa lại!

Sp2: Đứng dậy đóng cửa, khó chịu, bực tức, càu nhàu, gắt gỏng

Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có những hiệu quả mượn lời là đích cuả một hành động tại lời Hành

động vật lí: đóng cửa là hiệu quả mượn lời của hành động tại lời mệnh lệnh: Đóng cửa

lại nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành động tại lời như khó chịu, bực

tức, càu nhàu, gắt gỏng khi nghe mệnh lệnh Đây cũng là hiệu quả thuộc về hành động mượn lời

Một ví dụ khác:

(8) Khi chủ toạ nói: Tôi tuyên bố khai mạc hội nghị

thì hành động tại lời là hành động khai mạc Mọi người tham dự hội nghị lập tức trật

tự, chờ đợi nghi thức tiếp theo của hội nghị Cái giá trị này thuộc về hiệu quả của hành động mượn lời

Trang 16

Cũng vậy, một bản tin báo bão trên TV cũng có thể tạo ra những phản ứng khác nhau trong tâm lí của khán giả xem truyền hình Những cư dân ở khu vực mà bão đổ

bộ vào sẽ rất lo lắng lo phòng chống bão; còn nhiều cư dân ở ngoài khu vực bão không

đổ bộ vào, thường có thái độ thờ ơ với bản tin báo bão Hiệu quả của hành động mượn lời phụ thuộc tâm lí, điều kiện hoàn cảnh sống của người tiếp nhận, không có những quy tắc chung để nhận biết

Có thể tìm hiểu thêm ví dụ sau để thấy được tính chất phức tạp của hành động

mượn lời Trong một hội nghị ở cơ quan Y có một vị quan chức X tuyên bố: Tôi sẽ

tham gia đoàn thanh tra vụ việc tiêu cực ở cơ quan chúng ta Sau khi vị quan chức X

tuyên bố như vậy, cán bộ viên chức ở cơ quan Y có những tâm trạng rất khác nhau:

Có một bộ phận tỏ ra bình thường khi nghe vị quan chức X nói như vậy vì họ không quan tâm tới mọi diễn biến xảy ra ở cơ quan Đây là dạng cán bộ mà ngày nay, chúng ta vẫn thường hay nói tới: "Sáng cắp ô đi, tối cắp ô về" Có một bộ phận có thể ngạc nhiên vì họ không thể ngờ rằng cơ quan họ lai có vụ việc tiêu cực Bộ phận đấu tranh chống tiêu cực rất phấn khởi vì có đoàn thanh tra đến, những vụ việc tiêu cực sẽ được phanh phui và những kẻ tiêu cực, có những việc làm khuất tất sẽ bị pháp luật trừng phạt Còn những kẻ vi phạm pháp luật sẽ rất lo lắng khi những việc làm sai trái của họ sẽ bị đưa ra ánh sáng và pháp luật sẽ không dung thứ cho họ Đây đang bàn hình ảnh vị quan chức X là công bộc của dân Còn nếu hình ảnh vị quan chức ấy là vị

"quan tham", cùng phe cánh với những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y thì tâm trạng của những kẻ tiêu cực sẽ rất phấn khởi vì đã có "ô che" Những người đấu tranh chống tiêu cực sẽ rất thất vọng vì họ mất niềm tin về sự tranh đấu đúng đắn của họ

Cũng có trường hợp và chắc không phải là ngoại lệ, khi vị quan chức X nói như vậy thì những kẻ tiêu cực trong cơ quan Y sẽ nảy sinh suy nghĩ: Hay là vị quan chức này "bật đèn xanh" để cho họ lo lót chạy tội? v.v

Như vậy, hiệu quả mượn lời của phát ngôn là những hiệu quả ngoài ngôn ngữ (đúng hơn là ngoài diễn ngôn), rất phân tán, không có tính quy ước và khó tìm ra cơ chế chung nên người nói không thể tính toán, kiểm soát hết được

1.1.2.3 Hành động tại lời

Hành động tại lời (hành động ngôn trung) là hành động mà đích của nó nằm ngay trong việc tạo nên phát ngôn được nói (viết) ra Chính cái đích này phân biệt các hành động tại lời với nhau Đó là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng

Trang 17

Hành động tại lời được thực hiện nhờ hiệu lực giao tiếp của phát ngôn Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Chẳng hạn, khi ta hỏi có đích là bày tỏ mong muốn được giải đáp điều mà ta chưa biết hoặc còn hoài nghi và mong được người nghe trả lời; khi ta chào thì người nghe sẽ có hành động tương ứng là chào Thông

thường, nó lập thành một cặp thoại tương ứng: Chào - chào, hỏi - trả lời, cầu khiến -

chấp thuận (hoặc từ chối) Còn khi người nói cam kết với ai một điều gì đó tức là

người nói đã tự ràng buộc mình vào một hành động sẽ được thực hiện trong tương lai Đích của hành động tại lời được gọi là đích tại lời và nếu đích đó được thoả mãn thì ta có hiệu quả tại lời

Dấu hiệu của hiệu quả tại lời là lời hồi đáp của người tiếp nhận hành động tại lời, tức người nghe

Đặc điểm của hành động tại lời nói là có ý định (đích), có tính quy ước, có thể

chế mặc dù quy ước và thể chế không được diễn đạt hiển ngôn nhưng mọi người trong

cộng đồng ngôn ngữ vẫn tuân thủ một cách không tự giác Chẳng hạn, người Việt hỏi

là thể hiện sự quan tâm và dần dần một số câu hỏi được ước định trở thành lời chào giữa những người đã quen biết nhau Ví như khi ta gặp một người quen, ta biết họ đang trên đường đi chợ về, mang theo rau, thịt, cá , ta vẫn hỏi:

(10) - Đi chợ về đấy à? hoặc: Mua nhiều đồ ăn vậy?

Hình thức các phát ngôn ở ví dụ (10) là câu hỏi nhưng đích của các phát ngôn (10) là lời chào Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, có một số lời mời mang tính xã giao của người Việt nhưng đích của các lời mời xã giao đó trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể có thể là lời chào Chẳng hạn, ta đến nhà một người bạn quen nào đó và gia đình họ đang ăn cơm, chủ nhà mời khách:

(11) Mời anh ăn cơm với gia đình

thì đây chính là lời chào của chủ nhà khi có khách tới chơi Việc nhận ra ý định của người nói phụ thuộc vào từng tình huống giao tiếp, và có những tình huống giao tiếp

Trang 18

"độc nhất vô nhị" thì còn phụ thuộc vào sự trải nghiệm sống, sự nhạy cảm của những người tham gia giao tiếp nữa Có thể minh chứng thêm qua ví dụ sau:

Khi chúng ta nghe câu nói:

(12) Tôi vừa mới pha một ấm trà ngon

hoặc là để tạo ra một phán đoán hoặc là để mời chào hoặc là để giải thích hay vì một mục đích giao tiếp nào đó Những ý định như vậy chỉ có những người tham gia trực tiếp vào cuộc giao tiếp đó mới xác định được một cách chính xác mà thôi

Giả sử một người nói:

(13) Ở đây nóng quá

Đây là một hành động xác tín (miêu tả) nhưng ý định của người nói có thể là một hành động thỉnh cầu như hãy bật quạt, bật điều hoà lên hoặc mở cửa ra cho mát Người nghe phát ngôn này có thể đứng dậy bật quạt, bật điều hoà hoặc mở cửa sổ Hiệu quả này thuộc về hành động mượn lời và là đích tại lời của ví dụ (11)

Trong giao tiếp tiếng Anh, lời thỉnh cầu lịch sự (polite request) thường được diễn đạt dưới dạng câu hỏi Đó là quy ước về phép lịch sự của người Anh - hành động ngôn ngữ gián tiếp đồng biến với lịch sự Tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác không hoàn toàn như vậy Có thể nhận thấy điều này qua các dẫn dụ sau:

(14) Would you mind closing the door? (Phiền anh đóng hộ cái cửa lại ạ.) (15) Would you like a cup of tea? (Mời anh dùng trà ạ.)

Chú thích: Chúng tôi dịch như vậy cho phù hợp với tư duy và văn hoá người Việt Có thể dịch một cách chính xác hơn theo cách diễn đạt từ tiếng Anh sang tiếng Việt cụ thể như sau:

(14) - Phiền anh đóng hộ cái của lại có được không ạ?

(15) - Xin anh hãy vui lòng dùng chén trà này có được không ạ?

Từ những phân tích như trên, chúng ta có thể suy ra rằng nắm được một ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn phải nắm được những quy tắc điều khiển các hành động tại lời của ngôn ngữ đó Chẳng

hạn, chúng ta phải biết hỏi, biết yêu cầu, thỉnh cầu, biết xin lỗi, cảm ơn đúng lúc,

đúng chỗ, phù hợp với ngữ cảnh, mới là biết sử dụng ngôn ngữ đó

1.1.3 Điều kiện thực hiện hành động tại lời

Mỗi chúng ta, khi muốn thực hiện một hành động vật lí nào đó không phải cứ muốn là làm được Chúng ta phải xác định hội đủ các điều kiện nào đấy để có thể thực

Trang 19

hiện được hành động vật lí đó một cách có hiệu quả Chẳng hạn, chúng ta muốn chuyển một cái bàn từ phòng này sang phòng khác thì chúng ta phải ước tính trọng lượng cái bàn là bao nhiêu, phải có bao nhiêu người mới khênh được cái bàn đó và nhờ những ai, vào thời gian nào thì thích hợp

Vì cũng là hành động mà là hành động xã hội nên hành động tại lời cũng phải

có những điều kiện thích hợp mới thực hiện được và hành động mới đạt được kết quả

Mỗi hành động tại lời như xin lỗi, cám ơn, trần thuật, yêu cầu, đề nghị, sai khiến,

chào, tuyên bố, đánh cuộc, cam kết, hỏi, từ chối, bác bỏ đều có những điều kiện

riêng Những điều kiện đó nếu có chúng thì hành động tại lời mới thực hiện có kết quả được gọi là điều kiện thực hiện hành động tại lời GS Đỗ Hữu Châu cho rằng điều kiện để sử dụng các hành động tại lời là những điều kiện mà một hành động tại lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ cảnh của sự phát ngôn ra nó

(Chúng tôi gọi là hành động tại lời trong cuốn sách này thì GS Đỗ Hữu Châu gọi là:

hành vi ở lời - chú thích của tác giả - VTD)[5, 15]

J.L.Austin cho rằng các điều kiện thực hiện các hành động tại lời là các điều kiện "may mắn" (Felicity conditions) nếu chúng được đảm bảo thì hành động mới đạt được hiệu quả Các điều kiện may mắn không được bảo đảm thì sẽ không thành công, tức là thất bại Những điều kiện may mắn của J.L.Austin cụ thể như sau:

A - (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng

có tính quy ước

(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục

B - Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ

C - Thông thường thì (i) những người thực hiện hành động tại lời phải có ý nghĩ, tình cảm, và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có (Dẫn theo GS Đỗ Hữu Châu - x sđd)

Trên cơ sở phân tích hành động hứa (promise) trong tiếng Anh, Searle đã

điều chỉnh và bổ sung điều kiện thực hiện các hành động tại lời theo quan điểm của J.L.Austin Theo Searle, mỗi hành động tại lời cần phải có những điều kiện, còn gọi là những quy tắc (rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó Searle cho rằng có bốn điều kiện Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn toàn bộ điều kiện là điều kiện đủ

Trang 20

1.2 Lí thuyết hội thoại

1.2.1 Mở đầu

Giao tiếp là hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm, nhận thức giữa người này với người khác Có hai hình thức giao tiếp phổ biến trong xã hội: giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Giao tiếp một chiều là giao tiếp chỉ có một bên nói, còn bên kia tiếp nhận Hình thức này thường gặp trong mệnh lệnh quân sự, trong diễn văn, trong lời của phát thanh viên truyền thanh, truyền hình Đó là độc thoại Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và hồi đáp trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại (conversation) Hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến nhất của ngôn ngữ trong xã hội là hội thoại

Hội thoại được các nhà xã hội học, dân tộc ngôn ngữ học, xã hội ngôn ngữ học

ở Mĩ nghiên cứu và từ năm 1970, nó là đối tượng chính thức của một phân ngành ngôn ngữ học Mĩ - phân ngành phân tích hội thoại (conversation analysis) Sau đó, phân tích hội thoại được Anh tiếp nhận với tên gọi phân tích diễn ngôn (discourse analysis), ở Pháp (khoảng 1980) Ngày nay, ngôn ngữ học của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bàn đến hội thoại

Hội thoại diễn ra có thể chỉ giữa hai người (A nói, B nghe và B nói, A nghe)

Đó là song thoại (dialogue) Hội thoại có thể ba người tham gia, đó là tam thoại (trilogue) hoặc khi hội thoại có nhiều người tham gia, ta có đa thoại Chẳng hạn như lời đế từ ngoài vào trong hát chèo; hoặc cuộc tranh luận trên truyền hình của ba ứng viên tổng thống trong một cuộc tranh cử khi tranh luận công khai Cũng có thể đây là

đa thoại, vì thông qua cuộc tranh luận, các ứng viên đều hướng đến

cử tri để giành giật phiếu bầu của cử tri

Tuy nhiên trong các cuộc hội thoại thì song thoại là hình thức phổ biến nhất và lí thuyết hội thoại chủ yếu là bàn về song thoại vì song thoại là hình thức hội thoại nguyên mẫu (prototype) của mọi cuộc hội thoại

Vậy, hội thoại sử dụng ngôn ngữ nào? Đó là khẩu ngữ Khẩu ngữ có chuẩn mực không? Nhìn nhận vấn đề này, chúng ta thấy đã hình thành hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất cho rằng khẩu ngữ là biến thể của ngôn ngữ chuẩn mực Ngôn ngữ chuẩn mực chỉ tồn tại trong hệ thống và đó là quy tắc được xã hội thừa nhận trong từ, trong câu và các đơn vị trên câu như đoạn văn, văn bản Khuynh hướng thứ hai cho

Trang 21

rằng khẩu ngữ là chuẩn mực, vì chuẩn mực ngôn ngữ được tìm thấy trong ngôn ngữ hội thoại, quy luật của ngôn ngữ được tìm thấy trong tầng sâu qua bề mặt của những lời nói hàng ngày

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu hội thoại

Hội thoại chính là giao tiếp Hoạt động giao tiếp của con người bao giờ cũng phải diễn ra trong xã hội Vì vậy khi nghiên cứu hội thoại không thể bỏ qua những yếu

tố liên quan đến con người và xã hội như tâm lý, phong tục tập quán, văn hoá dân tộc Chẳng hạn, khi gia đình người Việt có khách lúc đang ăn cơm thì chúng ta thường

chào khách bằng một lời mời, đại thể như: Mời bác xơi cơm với nhà cháu ạ hoặc mời

anh ăn cơm với gia đình ạ Trong nhiều trường hợp những người quen biết nhau khi

gặp nhau thường chào nhau bằng cách hỏi mà người nghe không nhất thiết phải trả lời

vào nội dung câu hỏi đó như: Anh đi đâu đấy? Chị đi chợ về à? Bác đi làm ạ? Người

dân tộc Thái cứ gặp nhau là hỏi và hỏi chính là để chào và hành động hỏi tại thời điểm

đó được hiểu như hành động ngôn ngữ "kép" (vừa có ý nghĩa để hỏi, vừa có tác dụng

để chào) Đây được coi như là một biểu hiện độc đáo của cách ứng xử mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc

Nhiều nhà nghiên cứu về hội thoại cho rằng phương pháp tiếp cận hội thoại hiện

nay, chủ yếu là phương pháp xã hội - dân tộc học Nghiên cứu hội thoại theo phương

pháp xã hội - dân tộc học, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các nội dung sau:

Người ta đề cập đến vấn đề gì trong cuộc hội thoại?

Những vấn đề đó được đặt ra như thế nào (công khai hay ngầm ẩn?)

Phương thức thể hiện sự ngầm ẩn ấy cũng như sự nhận biết nó ra sao?

Người ta tổ chức và chi phối cuộc thoại như thế nào để đạt được nội dung đề

ra Chẳng hạn như cách thức xưng hô, các hành động cảm ơn, chào, xin lỗi của những người tham gia hội thoại giữa các dân tộc không hoàn toàn giống nhau Chẳng

hạn, tiếng Thái chỉ có cặp đại từ xưng hô điển hình: kù - mưng (tao - mày), tiếng Mường có cặp đại từ xưng hô điển hình: ho - gia (tao - mày), tiếng Anh cũng có cặp đại từ xưng hô điển hình: I - You Trong khi đó tiếng Việt có khá nhiều đại từ xưng hô

nhưng người Việt trong xưng hô lịch sự lại ít sử dụng các đại từ trong xưng hô Người Anh nói cảm ơn là lịch sự nhưng người Việt mà sử dụng quá nhiều lời cảm ơn trong giao tiếp sẽ bị nhìn nhận là khách sáo Tương tự, lời chào của người Anh, người Pháp

có tính khuôn mẫu khá cao và thường chào theo thời gian; còn lời chào của người Việt

Trang 22

thường có tính linh hoạt và uyển chuyển tùy theo ngữ cảnh và mối quan hệ liên nhân giữa các nhân vật giao tiếp

Ví dụ:

(1) Lời chào gặp mặt của người Anh

Good morning! (Chào buổi sáng)

Good afternoon! (Chào buổi chiều)

Good evening! (Chào buổi tối)

(2) Lời chào chia tay (tạm biệt) của người Anh: Good bye hoặc bye! Ngoài ra người Anh còn sử dụng các lời chào gặp mặt có tính khuôn mẫu khác như hello, hi,

how do you do

(3) Lời chào gặp mặt của người Pháp:

Bonjour! (Lời chào buổi sáng)

Bonsoir! (Lời chào buổi tối)

Bone nuit! (Lời chào buổi đêm)

Salut! (Lời chào giữa những người bạn bè)

(4) Lời chào chia tay (tạm biệt) của người Pháp:

Aurevoir!

(5) Lời chào gặp mặt của người Việt:

Cháu chào ông ạ!

Ngoài ra, người Việt còn sử dụng rất nhiều cách thức chào hỏi khác nhau như hỏi

để chào, mời để chào, và các cách thức chào linh hoạt khác nữa Người Thái thì luôn hỏi để chào khi gặp mặt v.v

1.2.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại

Trong giao tiếp, người nói luôn muốn truyền đạt nhiều hơn cái được nói Bao giờ cũng có những điều mà người ta thấy không cần phải nói ra, những điều vì một lí do tế nhị nào đó không tiện nói ra, không thể nói thẳng Với lại, không phải tất cả những gì

Trang 23

mà người ta muốn biểu đạt đều có thể nói ra được cả Nhận thức của con người vô cùng phong phú và phức tạp Làm cho người khác hiểu được đầy đủ và chính xác nhận

thức của mình không phải là một việc làm dễ dàng Trong tác phẩm Bút kí triết học,

V.I Lênin viết: "Viết một cách thông minh có nghĩa là giả định người đọc cũng thông minh, là không nói hết, là để người đọc tự nói với mình những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn - chỉ với những quan hệ, những điều kiện, những giới hạn này thì một câu mới có giá trị và có ý nghĩa." (Dẫn theo [15]) Vấn đề đặt ra là phải giải thích như thế nào để người nghe lĩnh hội được đúng ý định của người nói Grice tin rằng phải có một cơ chế chi phối việc sáng tạo và lĩnh hội những phát ngôn ấy Cái đó được gọi là nguyên tắc cộng tác (cooperative principle).Nguyên tắc này do Grice nêu ra trong bài giảng của mình ở Trường Đại học Tổng hợp Harvard năm 1967 Đến năm

1975, nó được xuất bản thành một cuốn sách với nhan đề: Logic and conversation

(Logic và hội thoại) Nguyên tắc này được phát biểu tổng quát như sau (theo cách dịch của Đỗ Hữu Châu - x sđd): "Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp

với đích, hay phương hướng của cuộc thoại mà anh tham gia vào."

Ví dụ, các nhân vật tham gia tổ chức một cuộc vũ hội vào buổi tối Có một số công việc cần phải chuẩn bị đưa ra để mọi người tham gia bàn bạc, cụ thể như sau :

1 Mượn hội trường

2 Nhạc

3 Trang trí

4 Bảo vệ

Những người tham gia hội thoại phải bàn bạc theo từng nội dung mà chủ tọa

cuộc họp nêu ra mới được đánh giá là có sự hợp tác

Nguyên tắc này được Grice chia làm bốn phương châm nhỏ:

a Phương châm về lượng: phương châm này chia làm 2 vế:

a1: Hãy làm cho đóng góp của anh có lượng tin đủ như đòi hỏi của đích cuộc hội thoại;

a2: Đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó được đòi hỏi

b Phương châm về chất: phương châm này được phát triển tổng quát như sau:

hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:

b1: Đừng nói điều gì mà anh tin là không đúng;

Trang 24

b2: Đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng chứng

Chúng tôi xin dẫn một câu chuyện để minh họa Có một người phụ nữ tới

quầy bán vé máy bay mua vé Người phụ nữ đó nói cô nhân viên bán vé:

- Cô làm ơn bán cho tôi 2 vé, trong đó có một vé 50%

Cô nhân viên bán vé tươi cười hỏi:

- Cháu nhà chị chưa đến 13 tuổi à?

Người phụ nữ trả lời:

- Vâng, ngày mai mới là sinh nhật lần thứ 13 của cháu

Cô nhân viên bán vé nói:

- Chị ơi, rất tiếc là ngày kia mới có chuyến bay

Rõ ràng, người phụ nữ khi trả lời: Vâng, ngày mai mới là sinh nhật lần thứ 13

của cháu đã vi phạm phương châm về lượng và phương châm về chất do Grice nêu ra

và tất nhiên người phụ nữ đó phải mua vé cho con mình với giá vé 100 %

c Phương châm quan hệ: (còn gọi là phương châm quan yếu) hãy làm cho phần

đóng góp của anh là quan yếu, tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra

d Phương châm cách thức: dạng tổng quát của phương châm này là: hãy nói cho

rõ ràng, đặc biệt là:

d1: Hãy tránh lối nói tối nghĩa;

d2: Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa;

d3: Hãy nói ngắn gọn;

d4: Hãy nói có trật tự

Tóm lại, các phương châm này đúng cho cuộc hội thoại chân thực, trong đó người hội thoại thực sự làm cho nó đạt kết quả một cách tường minh, trực tiếp Hạn chế của các phương châm này như chính tác giả đã nhận ra là chưa đề cập đến nội dung liên cá nhân của diễn ngôn Thứ hai, là các phương châm còn chồng chéo Chẳng

hạn, phương châm về lượng "đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nó

được đòi hỏi" trùng với phương châm quan yếu, bởi "lớn hơn yêu cầu" là không quan yếu Vế thứ ba của phương châm cách thức "hãy nói cho ngắn gọn" cũng trùng với

phương châm quan yếu và phương châm về lượng Tuy nhiên trong nhiều cuộc thoại

người ta nói với nhau một cách h hàm ẩn và các phương châm này sẽ giải thích nghĩa hàm ẩn của hội thoại Chẳng hạn, câu chuyện về một viên thuyền phó của một tàu viễn dương có thói hay say rượu Một hôm, ông thuyền trưởng phải ghi vào sổ nhật kí của

Trang 25

tàu: Hôm nay phó thuyền trưởng lại say rượu Hôm sau, đến phiên trực của mình, viên

thuyền phó đọc thấy câu này trong nhật kí của tàu, giận lắm, liền viết vào trang kia:

Hôm nay thuyền trưởng không say rượu Rõ ràng, người đọc không khó khăn lắm

cũng suy ra được hàm ý của câu: Hôm nay thuyền trưởng không say rượu có nghĩa là

các hôm khác thuyền trưởng say rượu, trong khi thuyền trưởng không hề uống rượu

bao giờ Hàm ý của câu này nằm trong ý nghĩa của từ hôm nay Chính từ hôm nay đã

hạn chế phạm vi hiệu lực của thuyền trưởng không say rượu Nếu các phương châm trên được tôn trọng thì cuộc hội thoại sẽ đạt được tính chất cộng tác giữa các nhân vật

hội thoại, đạt được tính quan yếu, có nghĩa là xoay quanh vấn đề được đưa ra trong hội thoại, đạt được tính chân thành, nghĩa là những người tham gia hội thoại thực sự muốn thành công, đạt được yêu cầu về lượng tin¸và đạt được yêu cầu triệt để, có nghĩa là nói

những điều mà người hội thoại cho là quan yếu với vấn đề được đặt ra

1.3 Nghĩa hiển ngôn và nghĩa hàm ngôn

Khi bàn về nghĩa của câu, của mệnh đề, vấn đề thường được đặt ra nằm trong thuật ngữ ‘hàm ngôn’ (implication – cách dịch của Hoàng Phê [9]), hay còn gọi là nghĩa hàm ẩn Phần nghĩa được diễn đạt bằng câu chữ ít được nhắc đến, trong tiếng Việt thường gọi phần nghĩa đó là ‘hiển ngôn’ Hàm ngôn được quan tâm bởi đằng sau tên gọi đó, qua nhiều năm, người ta phát hiện ra được những vấn đề khác nhau một cách thú vị, và cũng nhờ đó các thuật ngữ trong phạm vi này ngày càng trở nên phân minh

BẢNG SƠ ĐỒ QUAN HỆ GIỮA CÁC

“NGHĨA ĐẦY ĐỦ CỦA MỘT PHÁT NGÔN”

1.3.1 Nghĩa hiển ngôn

Nghĩa hiển ngôn (nghĩa câu chữ, nghĩa hiển hiện, hiển nghĩa, hiển ngôn, explicit meaning) được các nhà ngôn ngữ học giải thích là “ý nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại”, “nghĩa được nói rõ trong mỗi câu”, “nghĩa có thể rút ra từ nghĩa

Trang 26

nguyên văn (nghĩa đen và cả nghĩa bóng) của các từ ngữ có mặt trong câu và từ những mối quan hệ cú pháp giữa các từ ấy”, “cái nghĩa biểu hiện rõ qua nguyên văn câu nói”,…

1.3.2 Nghĩa hàm ngôn

1.3.2.1 Tiền giả định

1.3.2.1.1 Định nghĩa và thuộc tính của tiền giả định

Tiền giả định có vai trò quyết định tính đúng của câu, nó được coi là một thuộc tính của câu: “Một tiền giả định là một thuộc tính của câu, thuộc tính này làm cho câu

đó thích hợp với việc sử dụng trong một số ngữ cảnh này và không thích hợp với việc sử dụng trong những ngữ cảnh khác” (A presupposition is a property of a sentence, making that sentence fit for use in certain contexts and unfit for use in other contexts – P A M Sauren; dẫn theo [1, 121, chú thích số 2 cuối trang])

Định nghĩa về tiền giả định chung nhất có thể tìm thấy trong Hoàng Phê 1975 (in lại trong [9, 4]): tiền giả định “là điều giả định trước là đúng, điều phải được thừa nhận hoặc được chấp nhận là đúng thì một điều nói nào đó mới là có ý nghĩa” Để làm

rõ hơn bằng cách diễn đạt giản dị dưới hình thức một danh từ đếm (không phải danh từ khối), có thể dẫn định nghĩa của G Yule 1996: “Một tiền giả định là cái mà người nói cho là đúng trước khi thực hiện một phát ngôn” (dẫn theo [1, 121]) Nhà nghiên cứu Diệp Quang Ban giải thích thêm: “vậy là người nói có tiền giả định chứ không phải câu có tiền giả định” [1, 121]

Một thuộc tính quan trọng của tiền giả định được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến là ‘tính bất biến khi phủ định’, nói cách khác là khi câu nói chuyển từ hình thức khẳng định sang hình thức phủ định thì tiền giả định vẫn không biến đổi Chẳng hạn

với hai câu Bạn Hằng ốm và Bạn Hằng không ốm, thì cái tiền giả định “tồn tại một bạn

tên là Hằng” vẫn không thay đổi

1.3.2.1.2 Về việc sử dụng tiền giả định

Tiền giả định như vừa nói là cái được giả định trước là đúng để cho câu nói có nghĩa, tiền giả định không chân thực thì câu nói có thể trở thành vô nghĩa, mặc dù vẫn đúng ngữ pháp Trên thực tế, tiền giả định được sử dụng quen thuộc đến mức người nói không hề có ý thức về nó khi nói ra lời Thế nhưng, tiền giả định vẫn là cái mà người nói

có, chứ không phải từ ngữ có Điều này có thể chứng minh được bằng cách mà con người

sử dụng tiền giả định một cách chủ định nhằm đạt được mục đích của mình

Trang 27

Tiền giả định vốn không mang ‘cái mới’, không có ‘giá trị thông báo’, nhưng cách sử dụng chúng đôi khi cũng có tác dụng tìm ra ‘cái mới’, cái có ‘giá trị thông báo’ Có thể quan sát cách sử dụng tiền giả định với mục đích vừa nêu qua hai trường hợp sau đây

a Dùng tiền giả định chưa chắc là chân thực để “bẫy” người

Người nói có thể cố tình dùng một tiền giả định do mình nghĩ ra và chưa biết có chân thực hay không để ‘cài bẫy’, trường hợp này người Việt gọi là “bắt nọn” Chẳng

hạn, người nói 1 hỏi Hôm qua cậu nói gì về tôi với nó?, câu hỏi này có tiền giả định là

“hôm qua cậu đã nói chuyện về tôi với nó” Nếu người nói 2 trả lời Tôi không nói

chuyện về cậu với nó, thì tức là người nói 2 thừa nhận phần “hôm qua cậu đã nói

chuyện với nó” của tiền giả định, nhưng phủ định “về tôi” (tức là về người nói 1) trong tiền giả định của người hỏi Trong trường hợp đó, nếu người nói 1 không chứng minh được là người nói 2 có nói về mình, thì phần tiền giả định “về tôi” trong lời người nói

1 là không chân thực Như vậy, tiền giả định mà người nói 1 đưa vào câu hỏi của mình chỉ chân thật ở phần “hôm qua cậu đã nói chuyện với nó” và phần đó không bị phủ định trong lời đáp của người nói 2, còn phần “về tôi” là không chân thực, người nói đưa ra với hi vọng nó sẽ là chân thực để có thể “bắt nọn” được người nghe, nhưng trong trường hợp này người hỏi đã thất bại

Xét trong quan hệ với phương châm hội thoại, người nói đưa ra một điều không chân thực là không tuân thủ phương châm về chất Tuy nhiên ở đây người nói chưa khẳng định là điều anh ta đưa ra (“về tôi”) là hoàn toàn không chân thực, vì vậy anh ta

có khi cũng có cơ may “bắt nọn” được người nghe (sập bẫy được người nghe), nếu nó

là chân thực

b Cách thức moi tin từ tiền giả định chân thực

Trường hợp thứ hai là người nói sử dụng tiền giả định chân thực (vốn không

có giá trị thông báo), có giá trị thông báo), nhưng đối với người nghe nó lại là cái chứa nội dung thông báo cần tìm, mặc dù người nói không có ý định đưa ra thông báo đó Hiện tượng này có thể nhận ra một cách gián tiếp qua việc phân tích truyện cười

MÁNH KHOÉ[14]

MÁNH KHOÉ Hai thầy lang ngồi nói chuyện với nhau Thầy nọ hỏi thầy kia:

- Bác đi thăm bệnh, sao bất cứ bệnh nào bác cũng hỏi bệnh nhân thường ăn những gì, như vậy là nghĩa làm sao?

Thầy kia cười đáp:

Trang 28

- Có gì đâu, chẳng qua hỏi xem họ ăn uống có sang trọng hay không để sau định tiền thuốc nhiều hay ít cho nó dễ!

Từ truyện cười trên hoàn toàn có thể “khôi phục” đoạn đối thoại giữa thầy lang

2 với các bệnh nhân của thầy như sau :

Thầy lang 2 hỏi bệnh nhân:

- Nhà ta thường ăn những gì ?

Bệnh nhân đáp (một số ý giả định):

- Thưa thầy, nhà chúng tôi thường ăn các thứ A, B, C v.v

Về phía bệnh nhân, chắc hẳn bệnh nhân nào cũng cho rằng câu hỏi của thầy nhằm giúp cho việc “chẩn đoán” bệnh càng đúng càng tốt, cho nên không bệnh nhân nào lại khai không đúng sự thật Một lời khai đúng sự thật đối với câu hỏi như thế này phải được xây dựng trên một tiền giả định đúng với nội dung là các thức ăn thường được sử dụng

Trong lúc đó, về phía thầy lang 2, như chính thầy cho biết, tùy theo A, B, C

v.v thầy sẽ biết được cái “tin” đưa ra trong tiền giả định là “giàu” hay “trung bình”

hay “nghèo”, để định tiền thuốc “cho dễ”, hiểu là “có lợi nhất cho thầy” Như vậy,

đích ngôn trung của câu hỏi của thầy lang 2 là “tìm hiểu về khả năng kinh tế của con

bệnh”, nhưng ông đã không trực tiếp nêu đề tài này để hỏi, mà kín đáo khai thác nó gián tiếp qua tiền giả định của bệnh nhân trong câu trả lời mà người đó đưa ra

Nói gọn lại, thầy lang ‘giàu kinh nghiệm’ kia đã khai thác rất “điệu nghệ” thông tin

về tài sản của bệnh nhân qua tiền giả định đúng làm cơ sở cho câu trả lời của bệnh nhân đó

Xét trong quan hệ với phương châm hội thoại, việc thầy lang 2 đưa ra câu hỏi

bệnh nhân thường ăn uống những gì? là một cách không tuân thủ phương châm quan

hệ, vì câu hỏi này, theo chủ định của thầy lang, không nhằm vào đề tài chữa trị cho bệnh nhân, nó mang hàm ý “nhà ta (bệnh nhân) giàu hay nghèo” Và trên thực tế, không bệnh nhân nào giải đoán nổi hàm ý này (tức là ai cũng “sập bẫy” của thầy), kể

cả bạn đồng nghiệp của chính người nói là thầy lang 1, như được nêu ra trong truyện

1.3.2.2 Hàm ý

1.3.2.2.1 Khái niệm hàm ý

Trong các công trình nghiên cứu về dụng học, hàm ý được quan niệm như sau:

- Là phần có giá trị thông tin của nghĩa hàm ngôn đối lập với tiền giả định (TGĐ) là thành phần không có giá trị thông tin

Trang 29

- Là ý nghĩa ngầm ẩn không được thể hiện trên bề mặt câu chữ của phát ngôn nhưng được suy ra từ nghĩa hiển ngôn (ý nghĩa tường minh) và ngữ cảnh

Chẳng hạn Hồ Lê cho rằng: Hàm ý là tất cả những ý nghĩa tình thái hàm ẩn mà

người phát ngôn ký thác vào phát ngôn nhưng nằm ngoài ý nghĩa biểu hiện của phát ngôn nhưng trong đó có việc biểu thị những sở chỉ khác với những sở chỉ mà hiển nghĩa của phát ngôn biểu thị [10, 335], Nguyễn Hữu Cầu quan niệm: Hàm ý hội thoại

là ý nghĩa ngữ dụng (ý nghĩa phi vật thể), hoặc ý nghĩa chỉ được xác nhận trong quá trình giao tiếp, nó không hoàn toàn giống ý nghĩa mặt chữ” [3, 202] Trần Ngọc Thêm

với quan niệm riêng: Hàm ý là bộ phận của thuật đề, cái mới không được thể hiện

tường minh trong sản phẩm ngôn ngữ” [12, 38]

Một số nhà ngữ dụng học O.Durot, H.P.Grice, Geogre Yule, Nguyễn Đức Dân,

Đỗ Hữu Châu trong các công trình của mình không trực tiếp trình bày định nghĩa về

hàm ý nhưng cũng gián tiếp thể hiện quan niệm của mình như nhận định: Thực chất

của hàm ngôn là nói mà coi như không nói, có nghĩa là nói một cái gì đó mà không

vì thế nhận trách nhiệm là đã có nói, có nghĩa là vừa có hiệu lực nói năng vừa có sự

vô can trong im lặng (O.Durot, dẫn theo [4, 100]); “Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ng tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó, từ ý nghĩa tường minh (ý nghĩa câu chữ) cùng với tiền giả định của nó [4,367]”

Như vậy điểm thống nhất trong quan niệm về hàm ý giữa các tác giả là: Hầu hết các tác giả đều đã tìm ra ranh giới và phân biệt nghĩa tường minh với nghĩa ngầm ẩn Trong nghĩa ngầm ẩn các tác giả phân biệt rõ giữa TGĐ và hàm ngôn

1.3.2.2.2 Phân loại hàm ý

Theo Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân, hàm ngôn có thể hình thành từ hai con đường khác nhau: Có thể suy ra từ ngôn ngữ (đặc biệt là cơ chế ngôn ngữ) hoặc có thể suy ý từ hiển ngôn và hoàn cảnh tồn tại của phát ngôn Ứng với mỗi con đường hình thành hàm ngôn là một loại hàm ngôn nhất định Loại hàm ngôn không phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn ngữ học, loại hàm ngôn phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp là hàm ngôn dụng học

Cũng dựa vào mức độ phụ thuộc hoàn cảnh giao tiếp các tác giả H.P.Grice (dẫn theo [15, 381]), George Yule chia hàm ý thành hai loại:

- Hàm ý ngôn ngữ (tương ứng tên gọi hàm ý quy ước)

Trang 30

Đây là những loại hàm ý được suy ra từ nghĩa tường minh còn phát ngôn ít lệ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, thường được biểu thị bằng một số phương tiện ngôn ngữ đặc biệt

- Hàm ý ngữ dụng (tương ứng với tên hàm ý hội thoại)

Đây là loại hàm ý được hình thành từ sự vi phạm các quy tắc ngữ dụng (quy tắc chiếu vật chỉ xuất, quy tắc hội thoại…) phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh giao tiếp

1.4 Hàm ý hội thoại

1.4.1 Khái niệm hàm ý hội thoại

Giao tiếp là trao đổi những hiểu biết, tình cảm, thái độ, ý muốn, yêu cầu hành động giữa những người tham gia giao tiếp nhằm tác động lẫn nhau Sự trao đổi đó diễn ra trực tiếp bằng những phương tiện ngôn ngữ được gọi là hội thoại Nói cách khác hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên phổ biến của ngôn ngữ

Trong giao tiếp không phải bất cứ những tư tưởng, tình cảm, thái độ nào của người này muốn truyền đạt đến người kia đều có thể thực hiện được một cách rõ ràng (tường minh) qua phát ngôn cụ thể Nhiều khi muốn truyền đạt thông tin người nói phải căn cứ vào ngữ cảnh, vào nền tri thức, vào mối quanhệ giữa hai bên đối thoại và nhiều lí

do khác nữa để tạo lấy phát ngôn có chứa các tầng nghĩa khác nhau Một tầng nghĩa thể hiện trên bề mặt câu chữ gọi là nghĩa hiển ngôn, một tầng nghĩa khác ngầm ẩn đằng sau câu chữ, sau nghĩa hiển ngôn gọi là nghĩa hàm ẩn (như đã trình bày ở trên)

Các hàm ý trong hội thoại của các phát ngôn có giá trị thông tin, dùng để truyền đạt thông tin, là một bộ phận của cái được thông báo Cái quan trọng là không được nói ra, cho nên người nói có thể chối bỏ là họ không thông báo những ý nghĩ như vậy Các hàm ý hội thoại là có thể chối bỏ[5, 92] Như vậy, ngoài những lí do như đã phân tích ở trên, người nói còn tính đến khả năng chối bỏ, phủ nhận trách nhiệm đối với loại

ý nghĩa ngầm ẩn được tạo ra Loại ý nghĩa ngầm ẩn này tồn tại và gắn với ngữ cảnh nhất định Nếu thay đổi ngữ cảnh giao tiếp thì ý nghĩa này cũng thay đổi

Ví dụ:

(1) (Thầy giáo đến thăm kí túc xá, hỏi một sinh viên )

Sp1: Em tên gì?

Sp2: Thưa thầy, em tên Hồng Nhung ạ!

Sp1: Em có cái tên thật đẹp Đừng làm xấu cái tên nhé!

Trang 31

Trong ngữ cảnh này, người nghe dễ dàng nhận ra nội dung ngầm ẩn của phát ngôn mà không cần viện đến hiểu biết riêng về một ngữ cảnh nào đó Nội dung ngầm

ẩn của phát ngôn Sp2 là: phải học tốt phải sống đẹp theo đúng nghĩa của cái tên

(2) Thầy giáo hỏi học sinh khi học sinh xin phép vào lớp vì đến muộn:

- Bây giờ là mấy giờ rồi?

(3) Từ nhà cái Tí trở về, Hải Cò vừa “đưa đầu vô nhà”, ba cậu đã “đón đầu” bằng tiếng quát

- Con có biết bây giờ là mấy giờ rồi không?

Cùng là phát ngôn hỏi về thời gian nhưng ở (2) là lời nhắc nhở của thầy giáo

“Em đi học muộn quá đấy” còn ở (3) lại là lời trách mắng kèm thái độ tức giận của người làm cha khi ngóng con về muộn mà không rõ lý do

Vậy, hàm ý hội thoại là ý nghĩa ngầm ẩn thể hiện trong phát ngôn gắn với ngữ

cảnh giao tiếp cụ thể được người nghe tiếp nhận thông qua suy luận đúng như chủ đích người nói

Theo quan điểm này thì hàm ý được xác định bởi các tiêu chí sau:

- Là nội dung ngầm ẩn của các phát ngôn được suy ra từ câu nói trong một ngữ cảnh giao tiếp

- Nội dung ngầm ẩn này phải được người nghe giải đoán đúng như ý định của người nói thông qua suy ý

- Là chủ định của người nói mặc dù người nói có thể “rút lui ý kiến” hoặc phủ nhận trách nhiệm của mình về nội dung ngầm ẩn đó

Cách hiểu như vậy tránh được rắc rối đặt ra trong quá trình học tập và nghiên cứu hàm ý như:

Nếu coi nội dung suy ý của người nghe luôn độc lập với hàm ý của người nói thì mọi cuộc hội thoại sẽ rơi vào tình trạng “Ông nói gà bà nói vịt” Cuộc thoại sẽ không thành công và có xu hướng phá vỡ cộng tác

Nếu coi toàn bộ ý nghĩa ngầm ẩn mà người nói muốn hướng đến người nghe và ý nghĩa ngầm ẩn do người nghe suy ý từ phát ngôn đều thuộc phạm trù hàm ý thì phạm

vi nghiên cứu về đối tượng sẽ vô cùng lớn Như vậy bất kỳ cuộc giao tiếp nào, bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có hàm ý, kể cả những cuộc “đấu hót” chỉ với mục đích giải trí có hoặc không có chủ đề Điều này đòi hỏi người tham gia giao tiếp liên tục phải căng ra

để tư duy, để suy luận ra cái hàm ẩn trong từng phát ngôn để rồi tìm ra phương thức

Trang 32

phản lại hàm ý ấy bằng một phát ngôn có hàm ý khác Trong khi đó những hoạt động trên chỉ diễn ra trong tích tắc người giao tiếp sẽ phải luôn trong trạng thái căng thẳng Giao tiếp trở thành một cực hình đối với con người Điều này trái ngược với thực tế giao tiếp bởi lẽ không phải bất cứ hoạt động giao tiếp nào người giao tiếp cũng trao đổi thông tin với nhau bằng hàm ý Hơn nữa không ít hàm ý không có vai trò gì trong giao tiếp tức là không phải điều người phát ngôn muốn gửi gắm, cũng không phải là điều mà người nghe cần tiếp nhận hoặc nhận ra

1.4.2 Đặc điểm của hàm ý hội thoại

Tất cả những hàm ý hội thoại mà chúng ta nghiên cứu đều được đặt vào hội thoại Người nghe phát ngôn đã suy diễn để hiểu và cố gắng duy trì cuộc giao tiếp Vì nhữnghàm ý đó là một phần của cái được thông báo nhưng không được nói nên người nói thường phủ định việc họ có ý định truyền đạt những ý nghĩ như thế

Ví dụ:

Khi sắp nhượng bộ trước gã sở khanh, người thiếu phụ nói:

- Nhưng xin anh giữ thanh danh cho em, đừng bép xép nhé!

Gã sở khanh đáp:

- Người quân tử không bao giờ làm như vậy

Nhưng chỉ một tuần sau cả thị trấn đều biết chuyện Người thiếu phụ trách:

- Sao anh đã nói thế mà lại nuốt lời

- Tôi nói là người quân tử không bao giờ làm như vậy nhưng tôi không bao giờ

nói tôi là người quân tử

1.4.3 Điều kiện sử dụng hàm ý trong giao tiếp

1.4.3.1 Hoàn cảnh giao tiếp

Hoạt động giao tiếp nào cũng diễn ra trong một hoàn cảnh nhất định Hoàn cảnh

là điều kiện tồn tại của các phát ngôn, đồng thời làm cho các phát ngôn có hiệu lực ở lời và thể hiện được hàm ý Khi hoàn cảnh giao tiếp thay đổi, hiệu lực ở lời của phát ngôn cũng thay đổi, do đó, hàm ý của phát ngôn cũng không còn giữ nguyên giá trị Hiểu theo nghĩa hẹp thì hoàn cảnh giao tiếp là văn cảnh nhưng nếu hiểu theo nghĩa rộng thì nó bao gồm toàn bộ bối cảnh xã hội và thế giới tâm lý mà trong đó, ở vào một thời điểm nhất định, người ta sử dụng ngôn ngữ

Một trong số những quan niệm về hoàn cảnh giao tiếp có tính khái quát nhất là quan niệm của John Lyons Theo ông, hoàn cảnh giao tiếp bao gồm:

Ngày đăng: 01/10/2016, 16:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (2010), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học. Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
3. Nguyễn Hữu Cầu, (1999), Bình diện ngữ học trong dạy tiếng, Kỷ yếu Những vấn đề dụng học, Hội ngôn ngữ học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề dụng học
Tác giả: Nguyễn Hữu Cầu
Năm: 1999
4. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học – tập hai – Ngữ dụng học. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học – tập hai – Ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
5. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1. Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2003
6. Nguyễn Đức Dân (1996), Lôgich và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lôgich và tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
7. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học Tập một. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. TS.Vũ Tiến Dũng (chủ biên) – TS. Nguyễn Hoàng Yến (2014), Giáo trình ngữ dụng học. Trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Tác giả: TS.Vũ Tiến Dũng (chủ biên) – TS. Nguyễn Hoàng Yến
Năm: 2014
9. Hoàng Phê (2003), Logic-Ngôn ngữ học (tái bản có sửa chữa và bổ sung). Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic-Ngôn ngữ học
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học
Năm: 2003
10. Hồ Lê (1996), Quy luật ngôn ngữ (quyển II), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy luật ngôn ngữ
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1996
11. Saussure F. de (1973), Giáo trình ngôn ngữ học đại cương. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngôn ngữ học đại cương
Tác giả: Saussure F. de
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1973
12. Trần Ngọc Thêm, (1989), “Văn bản như một đơn vị giao tiếp”, TC ngôn ngữ, số (1,2) 13. Nguyễn Thiện Giáp (2004), Dụng học Việt ngữ, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản như một đơn vị giao tiếp”, "TC ngôn ngữ", số (1,2) 13. Nguyễn Thiện Giáp (2004), "Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Trần Ngọc Thêm, (1989), “Văn bản như một đơn vị giao tiếp”, TC ngôn ngữ, số (1,2) 13. Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
14. Nguyễn Hoàng Yến (2011), Hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam. Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm ý hội thoại trong truyện cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hoàng Yến
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2011
15. Yule. G (1997, bản dịch tiếng Việt 2003), Dụng học. Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG SƠ ĐỒ QUAN HỆ GIỮA CÁC - Giải đoán hàm ý hội thoại trong truyện kể lớp 4
BẢNG SƠ ĐỒ QUAN HỆ GIỮA CÁC (Trang 25)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w